2023
Than khóc Giêrusalem
23.11 Thứ Năm trong tuần thứ Ba Mươi-Ba Mùa Quanh Năm
1 Mcb 2:15-29; Tv 50:1-2,5-6,14-15; Lc 19:41-44
Than khóc Giêrusalem
Cuộc hành trình đi Giêrusalem được kết thúc bằng một cuộc khải hoàn long trọng tiến vào thành. Nhưng khi đến gần, nhìn thấy thành Giêrusalem, Chúa thấy trước thành này sẽ bị tàn phá, cũng là báo trước cuộc phán xét trong ngày cánh chung, nên Chúa thốt lên những lời than tiếc cho thành Giêrusalem. Họ có lỗi bởi vì Thiên Chúa luôn yêu thương dân Người, nhưng họ đã từ chối tình thương của Thiên Chúa, từ chối ơn cứu độ và sự bình an Người mang đến cho họ. Và vì không đón nhận nên họ phải đau khổ.
Trên đường tiến về Giêrusalem, vừa thấy thành, Đức Giêsu đã khóc thương nó, vì thấy trước viễn cảnh sụp đổ bình địa của thành, vì dân thành đã không tin vào Người. Đức Giêsu đã khóc, vì dường như bất lực trước sự cứng lòng của dân Do thái thành Giêrusalem. Người làm được mọi sự, nhưng đối với sự cứng lòng của người Do thái, Người không thể làm gì trước tự do của họ. Có thể nói, Thiên Chúa dường như bất lực trước sự tự do mà Người đã ban cho con người. Người Do thái là dân Chúa chọn nên họ đáng hưởng nhiều đặc ân, nhưng thực tế họ không được gì. Bởi Chúa đã giáng sinh nơi quê hương họ để cứu chuộc họ, nhưng họ đã không đón nhận.
Khi đến gần Giê-ru-sa-lem và trông thấy thành, Đức Giê-su khóc thương mà nói: “Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được. Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp luỹ chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái đang ở giữa ngươi, và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm.”
Thành Giêrusalem tượng trưng cho dân do thái và cho tất cả những người được Thiên Chúa ưu ái nhưng đã phụ lòng Ngài nên cuối cùng phải gánh lấy số phận bi thảm.
Lỗi của nó là gì ? Là không “nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi” (câu 41); “không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm” (câu 44). Ơn Chúa ban cho nó rất nhiều, nhất là ơn “bình an” và “viếng thăm”. Nhưng nó đã coi như không, nên không nhận biết để cám ơn, không nhận biết để xử dụng, không nhận biết để hiểu xem ý Chúa muốn nó làm gì khi ban ơn cho nó.
“Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi”. Lời Chúa Giêsu rất giống với lời Thánh Vịnh đầu tiên chúng ta đọc mỗi sáng “Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người và đừng cứng lòng nữa” (Tv 94). Lời này mỗi ngày nhắc nhở chúng ta “nhận biết” tiếng Chúa nói với chúng ta suốt ngày, và chúng ta đừng cứng lòng như thành Giêrusalem xưa.
Đức Giêsu đã khóc vì đau buồn trước viễn cảnh thành Giêrusalem sẽ bị tàn phá bình địa: “không còn hòn đá nào trên hòn đá nào”. Đền thờ là nơi Ngài thường đến hành hương từng năm, nơi đầy ắp kỷ niệm thời thơ ấu, nhà của Cha Ngài, nơi linh thiêng của cả dân tộc. Vậy mà Đền thờ ấy sẽ phải bị tàn phá. Quả thật, năm 70, nhân cuộc nổi dậy của người Do thái, tướng Titô đã tàn phá bình địa thành đô, và cho cày một luống dài giữa Đền thờ, để cho thấy từ nay nơi đây đã trở thành hoang phế. Cùng với Đền thờ là biết bao người dân, trong đó có cả những trẻ thơ vô tội, bị tàn sát dưới lưỡi gươm của lính Rôma. Thế mà giờ đây, Đức Giêsu đến đem bình an cho dân thành; Ngài là Thiên Chúa đến thăm dân Ngài. Vậy mà, tiếc thay, dân thành đã dửng dưng, không đón nhận
Lời Chúa hôm nay cho thấy Đức Giêsu khóc thương Giêrusalem, bởi thành đã không nhận ra Chúa là nguồn bình an. Đức Giêsu khóc thương thành, Người cũng khóc thương những người Do thái đương thời. Họ không nhận ra Thiên Chúa đang biểu lộ tình thương giữa họ.
Trong cuộc sống, nhiều lúc chúng ta chạy theo những thứ bình an giả tạo, mà quên tìm kiếm bình an đích thực; chúng ta chối bỏ Thiên Chúa và đặt của cải, danh vọng, địa vị làm mục đích cuộc đời. Khi ấy, chúng ta cảm thấy bất an và mệt mỏi. Ngược lại, lúc chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa và bước đi trong ánh sáng của Người, chúng ta mới có bình an đích thực.
Ngày nay người do thái vẫn còn đến bên bức tường đổ nát của cổ thành Giêrusalem để than khóc cho số phận của đất nước và tiếp tục chờ mong Đấng Messia “của họ”. Nhưng trớ trêu thay lúc Đấng Messia thật đến viếng thăm họ thì họ đã chối từ và xử tử! Tại vì họ đã “không nhận biết”. Xin giúp con tỉnh táo “nhận biết” những thời giờ Chúa đến viếng thăm con.
2023
GIỮ VỮNG ĐỨC TIN
22.11 Thánh Cêcilia, Đttđ
2 Mcb 7:1,20-31; Tv 17:1,5-6,8,15; Lc 19:11-28
GIỮ VỮNG ĐỨC TIN
Mặc dù Thánh Cecilia là vị tử đạo thời danh trong Giáo Hội Rôma, những câu chuyện quen thuộc về thánh nữ thì không thấy ghi chép trong văn bản chính thức. Vào thời tiên khởi cũng không thấy dấu vết của sự tôn kính ngài. Chỉ có một mảnh đá thời thế kỷ thứ tư có ghi khắc tên của một nhà thờ mang tên thánh nữ, và ngày lễ kính được cử hành vào khoảng năm 545.
Theo truyền thuyết, Cecilia là một thiếu nữ Kitô Giáo của giai cấp quyền quý kết hôn với một người La Mã tên là Valerian. Cecilia mặc áo nhặm, ăn chay, và thường cầu khẩn các thánh, các thiên thần, các trinh nữ xin họ gìn giữ sự trinh tiết của ngài. Và thánh nữ nói với đức lang quân, “Em sẽ tiết lộ cho anh một sự thật, nhưng anh phải hứa đừng nói với ai.” Và khi ông hứa, ngài nói: “Có một thiên thần luôn trông chừng em, và gìn giữ em khỏi bị ai đụng chạm đến.” Ông nói, “Em yêu dấu, nếu đó là sự thật, hãy cho anh thấy vị thiên thần ấy,” và ngài trả lời, “Anh chỉ có thể thấy nếu anh tin vào Thiên Chúa, và được rửa tội.”
Ngài gửi đức lang quân đến gặp Thánh Giáo Hoàng Urbanô để được rửa tội; và khi ông trở về nhà, ông thấy Cecilia đang cầu nguyện trong phòng, và cạnh đó là một thiên thần với đôi cánh rực lửa, tay cầm hai triều thiên bằng hoa hồng và hoa huệ đặt trên đầu của hai người, và biến đi. Sau đó, Tibertius, người em của Valerian, bước vào phòng và ông ngạc nhiên khi ngửi thấy mùi hoa nồng nàn cũng như vẻ mỹ miều của các bông hoa.
Khi ông này được kể cho biết các chi tiết của câu chuyện, ông cũng muốn được rửa tội. Sau đó, cả hai anh em ông tận tụy hy sinh chôn cất các vị tử đạo mà thời ấy xảy ra hàng ngày, dưới quyền tổng trấn Turcius Almachius. [Không có tổng trấn nào mang tên này cả]. Họ bị bắt và bị đưa ra trước quan tổng trấn, và khi họ từ chối thờ cúng các tà thần họ đã bị chém đầu.
Trong khi đó, Thánh Cecilia, qua lời rao giảng ngài đã đưa bốn trăm người trở lại đạo và được Đức Giáo Hoàng Urbanô rửa tội. Sau đó thánh nữ bị bắt, và bị xử tử bằng cách trấn nước cho đến chết. Ngài bị dìm trong bồn nước một ngày một đêm, sau đó quan cho nổi lửa đun sôi bồn nước, nhưng thánh nữ không hề hấn gì. Khi tổng trấn Almachius nghe biết điều này, ông sai người đến chặt đầu thánh nữ ngay trong bồn nước. Lý hình chém đến ba lần mà đầu thánh nữ vẫn chưa đứt. Hắn để mặc cho máu tuôn đổ. Đám đông đổ xô đến để thấm máu trong khi ngài vẫn rao giảng cho họ. Ba ngày sau, ngài trút hơi thở cuối cùng, và được Đức Giáo Hoàng Urbanô và các phó tế chôn cất.
Vào thời Phục Hưng, người ta thường vẽ ngài với đàn vĩ cầm và phong cầm nhỏ.
Trên đường lên Giêrusalem để thi hành sứ vụ, khi còn đang lưu lại tại nhà ông Giakêu ở Giêrikhô, Chúa Giêsu đã rao giảng dụ ngôn “mười yến bạc” này. Qua đây, thánh ký gợi lên hai bối cảnh của dụ ngôn: việc tiến vào Giêrusalem và viễn ảnh về Nước Thiên Chúa vào ngày quang lâm.
Chúa Giêsu giảng dụ ngôn nén bạc tại nhà ông Dakêu, trên đường đi Giêrusalem để chịu chết.
Qua dụ ngôn này, Chúa muốn nói với chúng ta, trong thời gian chờ đợi Chúa tái lâm, chúng ta không được lười biếng, nhưng phải bắt chước những người đầy tớ tốt, ngay khi được trao phó nén bạc tức là những ơn Chúa ban phần hồn phần xác, phải mau mắn sanh lợi tức là làm sáng Danh Chúa và mưu ích cho phần rỗi bằng những công việc lành phúc đức. Trong ngày cánh chung, những người đầy tớ tốt như vậy sẽ được tham dự vinh quang Nước Trời, còn những kẻ lười biếng sẽ bị phạt nơi tối tăm đời đời.
Dụ ngôn này đề cao những người đầy tớ tốt lành và trung tín:
Biết dùng những nén bạc để sinh lời cho ông chủ : cũng vậy, biết sử dụng những ơn lành phần xác : như tài năng, sức khoẻ, tiền của,tha nhân…cũng như những ơn phần hồn: như ơn qua các bí tích, ơn qua Hội thánh chăm sóc, ơn thánh sủng và hiện sủng, ơn Chúa Thánh Thần… để tôn vinh Danh Thánh Chúa và mưu ích cho phần rỗi của mình và của tha nhân.
Giá trị sinh lời phải tương xứng với nén bạc được trao: hai thành bốn, năm thành mười: Chúa ban cho mỗi người khác nhau, nên chúa cũng đòi công phúc của mỗi người khác nhau theo tỉ lệ thuận với ơn Chúa ban.
Ý nghĩa này giúp chúng ta biết nhìn lại giá trị của nhau, không được phân bì so sánh để ganh tỵ : về địa vị, danh giá, thành công, hơn thiệt…
nén bạc được trao và số lời làm ra tuy có khác nhau, nhưng phần thưởng chủ ban cho hai người đầy tớ tốt lành lại giống nhau, đó là được hưởng sự vui mừng với chủ.
Cũng vậy, ở đời chúa ban cho mỗi người những ơn điển khác nhau, và mỗi người thành công khác nhau, nhưng cuối cùng Chúa cũng thưởng công giống nhau là được hưởng niền vui với Chúa trong Nước Trời.
Dụ ngôn nén bạc cũng cảnh giác những kẻ lười biếng không biết sử dụng ơn Chúa để sinh lời cho phần rỗi. người đầy tớ lười biếng nhận lãnh nén bạc của ông chủ, đã không làm sinh lợi chỉ vì chiều theo ý riêng của mình mà không tuân phục ý ông chủ. cũng vậy, những ơn lành chúng ta đón nhận từ Chúa mà không biết dùng theo tinh thần của Chúa thì sẽ bị mất đi và do đó chúng ta không có công mà lại bị án phạt nữa.
Lời Chúa chính là những hạt giống đã được gieo vào trong tâm hồn mỗi người, chúng ta không được phép để nó nằm yên, cũng không được chôn vùi nó trong kho tàng tri thức hay trong một vài hành vi đạo đức bên ngoài. Trái lại, chúng ta phải làm cho lời Chúa tác động vào cuộc sống của ta theo tâm tình và tinh thần của Chúa.
Mỗi người kitô hữu đã được chúa trao cho ngọn đèn cháy sáng của đức tin trong ngày lành bí tích Rửa Tội. Đó là gia tài lớn nhất để bảo lãnh cho chúng ta vào Nước Trời. vậy chúng ta phải có bổn phận giữ gìn ngọn đèn đó được cháy sáng mãi, tức là giữ vững đức tin, và làm lan tỏa ánh sáng đó ra chung quanh, tức là làm phát triển đức tin qua cuộc sống hằng ngày./.
2023
THƯA LỜI XIN VÂNG NHƯ MẸ
21.11 Lễ Đức Mẹ dâng mình và Đền Thánh
2 Mcb 6:18-31; Tv 3:2-3,4-5,6-8; Lc 19:1-10
THƯA LỜI XIN VÂNG NHƯ MẸ
Chúa Giêsu thiết lập Hội Thánh là Dân riêng mới. Dân riêng mới được quy tụ không theo tiêu chuẩn huyết thống, nhưng theo tiêu chuẩn tin và thi hành ý muốn Chúa Cha.
Lễ Đức Mẹ dâng mình và Đền Thánh phát xuất từ Đông Phương, miền truyền giáo của thánh Gioan tông đồ và có thể là nơi xuất phát lòng tôn sùng Đức Mẹ sâu sắc hơn cả. Dĩ nhiên, câu truyện Đức Mẹ dâng mình vào đền thờ không được viết trong Thánh Kinh. Phải đọc nó trong các sách bình dân không có phép của giáo quyền. Nghĩa là không có gì chắc chắn Đức Maria đã dâng mình vào đền thờ khi lên ba. Nhưng cuộc đời của Đức Mẹ là cả một lễ dâng mình kéo dài mà đỉnh cao như chúng ta sẽ nói là ở đồi Sọ, gần thập giá Đức Giêsu.
Maria sinh ra được giáo dục trong lòng đạo đức của Dân được tuyển chọn. Lớn lên, một trong những câu truyện đầu tiên cô được nghe và phải thuộc lòng, chính là câu truyện về cuộc đời của Abraham tổ phụ dân Chúa. Và Thánh Kinh kể Abraham là con người có đức tin, tin một mình Đức Chúa, tin hoàn toàn vào Lời Hứa và sự dẫn dắt của Người.
Vì Đức Chúa, để gắn bó với Người, ông bỏ quê hương, bỏ gia tộc, bỏ mọi sự, đi theo Chúa. Không phải ông không mơ ước điều nọ điều kia. Ông đi theo Chúa vì Chúa hứa cho ông một giang sơn, một dòng dõi, một đời sống hạnh phúc bất tận. Dần dần ông thấy mình được những điều đó. Đặc biệt đến tuổi 100, ông đã được Chúa ban đứa con nối dòng là Isaac. Chúng ta cứ thử nghĩ xem Isaac đối với ông quí như thế nào. Đó là sự sống của ông, sự sống sẽ được nối dài trong bao ngàn thế hệ… Thế mà Chúa lại đòi ông đi sát tế Isaac. Lòng đau như cắt, ông xin vâng, dẫn Isaac lên tế đàn…
Việc Đức Mẹ dâng mình vào Đền Thờ cũng là một vấn đề còn nhiều tranh luận. Đúng hơn, chúng ta phải hiểu chính Đức Maria là Đền Thờ sống động của Thiên Chúa. Qua tiếng thưa vâng để đáp lại ơn gọi, Đức Maria trở thành Đền Thờ của Thiên Chúa, là thành Giêrusalem viên mãn và là mẫu mực của Hội thánh Chúa Kitô.
Mẹ Maria đã thực hiện tập tục, truyền thống của người Do Thái là dâng hiến tuổi thơ mình cho Thiên Chúa Giavê trong đền thánh. Đây là tục lệ của người Do Thái là bất cứ trẻ nhỏ nào cũng được dâng vào đền thánh để được thánh hiến và sau đó sẽ ở lại đền thờ một thời gian để giúp việc và phục vụ các vị chủ tế. Mẹ Maria đã tuân theo truyền thống của người Do Thái.
Ðức Giêsu không bao giờ coi nhẹ tình cảm gia đình, Ngài càng không hề lãnh đạm với mẹ và anh em của Ngài. Tuy nhiên, Ngài luôn đề cao mối liên hệ thiêng liêng trong niềm tin và lòng yêu mến theo Tin Mừng.
Cho nên, Ngài khẳng định: “Ai làm theo ý Cha Ta trên trời, thì người ấy là anh em, chị em và là mẹ Ta vậy”, cao hơn mối liên hệ thiêng liêng dựa trên Lời Chúa mà Ngài đang mang sứ mạng rao truyền, sẽ dệt nên niềm tin và lòng yêu mến cho người lãnh nhận. Ngài khẳng định trong tương quan với nước Ngài, quan hệ máu mủ ruột thịt không quan trọng bằng niềm tin khi biểu lộ thực thi ý Chúa. Đại gia đình thiêng liêng mà các thành viên đều mang tiêu chuẩn nghe và thi hành ý Thiên Chúa.
Khi khẳng định, mẹ và anh em Ngài chính là người nghe và thực hành Lời, Chúa Giêsu muốn cho mọi người thấy Mẹ Maria chính là người lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành hơn ai hết. Thật thế, Mẹ Maria là người đầu tiên đã lắng nghe lời Chúa và đem ra thực hành khi Mẹ thưa với sứ thần đến truyền thánh ý Chúa trong cuộc đời Mẹ, khi đáp trả: “Vâng, này tôi đây là nữ tỳ của Thiên Chúa, xin hãy thực hiện nơi tôi điều Ngài truyền”, lời xin vâng đã khai mở ơn cứu rỗi và sự sống mới cho thế giới. Mẹ đã trở nên gương mẫu cho mọi người Kitô: Lắng nghe và thực hành Lời Chúa dạy.
Chính Mẹ cũng đã đi trước nêu gương và muốn cho chúng ta sống như Mẹ đã sống. Nơi tiệc cưới Cana, Mẹ truyền: “Hãy làm theo lời Ngài truyền”, hành động đó đã dọn sẵn mọi sự để Chúa làm phép lạ mang đến niềm vui cho những người chung quanh… Mẹ luôn suy gẫm trong lòng các biến cố cuộc đời Đấng Cứu Thế, đặc biệt, dưới chân thập tự, Mẹ sống đức tin vào Thiên Chúa mãnh liệt nhất. Cho nên, trên phương diện gia đình đức tin: Nghe và thực hành Lời Chúa, Đức Maria xứng đáng là Mẹ hơn ai hết.
Chúng ta cùng ý thức mình thực sự là anh chị em với Chúa, khi sống: Xin vâng theo thánh ý Chúa (Lc 1,38)
Mừng Lễ Ðức Mẹ dâng mình vào đền thánh, không gì chúng ta có thể làm đẹp lòng Mẹ hơn là học cùng Mẹ để bập bẹ thưa: “Xin vâng!”.
2023
NIỀM TIN CỦA ANH MÙ – NIỀM TIN CỦA CHÚNG TA
20.11
Thứ Hai trong tuần thứ Ba Mươi-Ba Mùa Quanh Năm
1 Mcb 1:10-15,41-43,54-57,62-63; Tv 119:53,61,134,150,155,158; Lc 18:35-43
NIỀM TIN CỦA ANH MÙ – NIỀM TIN CỦA CHÚNG TA
Tin Mừng hôm nay, thánh Luca thuật lại câu chuyện Đức Giêsu chữa lành một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường. Việc chữa lành cho người mù được thánh Luca thuật lại một cách rất ngắn gọn và nhanh chóng. Anh mù xin Đức Giêsu chữa lành cho mình: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được”. Và Đức Giêsu không chút ngập ngừng, lập tức chữa lành cho anh: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!”. Thế nhưng việc anh mù được chữa lành dường như ngay lập tức lại là cả một hành trình của đức tin.
Tin Mừng hôm nay thánh Luca thuật lại việc Chúa Giêsu đến Giê-ri-khô, có ba đối tượng mà thánh sử quan tâm trong trình thuật đó là anh mù, đám đông và Chúa Giêsu.
Trước hết là về anh mù. Đôi mắt của anh tuy không nhìn thấy, nhưng đôi tai anh vẫn nghe rõ, miệng vẫn nói được, và lòng trí anh vẫn có thể phân định rất tốt. Anh ta biết nhìn nhận hoàn cảnh ngặt nghèo của bản thân, anh ta can đảm đối diện với sự thật éo le ấy và khao khát cho mình nên hoàn hảo, ít là về mặt thể lý. Anh mù đã biết dùng những phần tốt, phần hoàn thiện còn lại của mình để tìm con đường hoàn hảo cho bản thân. Anh dùng tai để nghe về Đấng quyền năng đang đi ngang qua, anh dùng niềm tin để xác tín rằng Đấng ấy có thể chữa cho anh được sáng mắt, và anh dùng miệng để khẩn nài lòng thương xót vô biên của “Con vua Đa-vít”.
Anh này tuy mù đôi mắt, nhưng lại có lòng khiêm tốn và thành khẩn khát mong bàn tay uy quyền nào đó sẽ chữa lành cho anh. Anh mù đôi mắt, nhưng anh lại biết rõ mình, biết người và biết Chúa. Anh biết mình chưa hoàn thiện ở góc độ nào; anh biết những người khác hoàn thiện hơn mình và khiêm tốn xin họ giúp đỡ; và anh cũng nghe biết về lòng thương xót vô biên của Chúa, anh khao khát gặp Ngài và anh tha thiết nài xin Ngài cứu chữa.
Đối tượng thứ hai thánh Luca muốn đề cập là đám đông. Một số người khi anh mù hỏi đã trả lời cho anh rằng Chúa Giêsu đang đi ngang qua. Và khi Chúa đi qua anh đã kêu lớn tiếng để được Chúa cứu chữa, nhưng có một số người khác lại quát mắng kêu anh ta im. Tuy nhiên, cũng trong đám đông đó thì thánh sử Mác-cô cho biết thêm chi tiết có người đã khuyến khích anh: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!”
Phải chăng hình ảnh đám đông đối xử với anh mù cũng phản ánh đời sống của chúng ta hôm nay. Trước tình trạng yếu đuối và khiếm khuyết của anh chị em đồng loại, đôi khi chúng ta cũng có thái độ như một số người nơi đám đông ấy. Chúng ta đã không giúp đỡ mà còn cản trở không cho họ đến gần Thiên Chúa, không cho họ được chạm vào bàn tay xót thương và chữa lành của Ngài. Tất nhiên, thái độ của một số người cho anh mù biết về quyền năng Thiên Chúa là một thái độ mà mỗi người chúng ta cần phải có.
Cuối cùng là về Chúa Giêsu. Ngài đã dừng lại khi nghe tiếng nài van thành khẩn của anh mù. Ngài hiểu nhu cầu của anh, Ngài cũng hiểu lòng thành của anh. Sứ mạng của Chúa Giêsu là rao giảng Tin Mừng, nhưng đồng thời Ngài cũng có sứ mạng loan truyền lòng thương xót của Thiên Chúa. Ngài đã chữa cho anh không chỉ đôi mắt bị mù, nhưng còn chữa cho anh về lòng tin, và cho đám đông nhận biết ân sủng cứu độ của Ngài.
Ba đối tượng mà thánh Luca muốn nêu bật trong Tin Mừng hôm nay giúp chúng ta nhìn vào chính bản thân mình. Có thể tình trạng thể lý của mỗi người chúng ta không mù lòa, nhưng lại mù lòa về đức tin. Anh thanh niên trong Tin Mừng hôm nay mù về thể lý nhưng lại sáng về tinh thần, anh biết mình, biết người và biết Chúa.
Sự mù lòa thể xác và nghèo nàn vật chất không phải là một ngăn trở con người gặp gỡ Thiên Chúa và lãnh nhận ơn lành của Ngài. Từ ơn lành cho thể xác mù lòa: “Lạy Ngài, xin cho tôi nhìn thấy được”, anh mù đã tiến thêm một bước quan trọng như thánh Luca ghi lại: “Lập tức, anh ta nhìn thấy được và theo Người, vừa đi vừa tôn vinh Thiên Chúa. Thấy vậy, toàn dân cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa.” Anh mù đã sống đúng lý tưởng của người môn đệ Chúa: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Ðấng ngự trên trời.”
Hành trình của đức tin của anh mù được bắt đầu bằng việc anh ước muốn được thoát ra cảnh mù lòa của mình và anh tin Đức Giêsu có thể thỏa mãn ước muốn của anh. Vì thế, anh khao khát được gặp Đức Giêsu để Người chữa lành anh. Thế rồi thời khắc khỏa lấp niềm khao khát đã đến, anh nghe biết Đức Giêsu đang đi qua. Anh liền kêu lên rằng: “Lạy ông Giêsu, con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”. Những người đi đầu quát nạt, bảo anh ta im đi. Hành trình của đức tin của anh mù lúc này gặp thử thách. Thế nhưng những khó khăn thử thách không những không làm cho niềm tin của anh yếu đi mà lại càng làm cho anh xác tin hơn. Anh càng kêu lớn tiếng: “Lạy con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”. Với niềm tin mạnh mẽ vào Đức Giêsu – Đấng sẽ chữa lành cho anh – anh gặp được Người và anh được chữa khỏi.
Trong cuộc sống, rất nhiều lần chúng ta từng cầu xin Chúa, thậm chí hơn cả số lần mà anh mù xứ Giêrikhô van xin trong Tin mừng hôm nay. Nhưng nhiều khi chúng ta chẳng nhận được điều mình muốn xin. Vì sao thế! Trước tiên, đức tin của chúng ta còn yếu kém hơn anh mù. Quả thật, dù anh chỉ được nghe kể về Chúa và khi cơ hội được gặp Chúa đã đến và cho dù bị đám đông ngăn cản, anh vẫn can đảm vượt qua mọi rào cản để có thể gặp Chúa dù là đức tin. Chính Chúa khẳng định: “Lòng tin của anh đã cứu chữa anh”. Đồng thời, thay vì điều mà chúng ta xin nên thật đơn sơ và thực tế như anh mù: “Lạy Ngài, xin cho tôi nhìn thấy được”, chúng ta lại thường tham lam khi cầu xin nhiều thứ hơn điều chúng ta tối thiểu đang cần. Chúa Giêsu dạy rằng: “xin cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”.
