2023
Cho Ði Tất Cả
27.11Thứ Hai trong tuần thứ Ba Mươi-Tư Mùa Quanh Năm
St 1:1-6,8-203; Lc 21:1-4
Cho Ði Tất Cả
Vào thời xưa cũng như thời này, có những giai tần bị loại ra bên lề. Họ có thể là những người mắc bệnh không có thuốc chữa, họ có thể là những người nghèo không một xu dính túi. Trong số những người nghèo bị gạt ra bên lề xã hội, có các bà góa; nhất là trong hệ thống tổ chức xã hội xưa kia tại Israel, phụ nữ khi kết hôn phải cắt đứt giây liên hệ với gia đình ruột thịt, và từ lúc chồng chết cũng là lúc mọi tiếp tế vật chất từ nhà chồng bị đình chỉ.
Bà góa nghèo trong Tin Mừng hôm nay có thể nói là một người nghèo tuyệt đối. Qua nghĩa cử đơn sơ của bà, Chúa Giêsu đã khám phá ra sự quảng đại cao cả và lòng cậy trông phó thác tuyệt đối của bà vào Thiên Chúa. Mặc dù chỉ đóng góp hai đồng tiền nhỏ có giá trị 1/4 xu, nhưng bà đã cho đi tất cả những gì mình có để nuôi sống; vì thế bà xứng đáng được Chúa Giêsu khen ngợi. Tuy nhiên sự kiện và lời khen ngợi này có thể nêu lên hai vấn nạn: thứ nhất, liệu chúng ta phải nghèo về vật chất để được thuộc về Nước Thiên Chúa chăng? thứ hai, liệu người nghèo phải cho đi tất cả, kể cả những nhu yếu phẩm nếu họ muốn được Chúa khen ngợi chăng?
Ðã hẳn trong Tin Mừng, người nghèo được chúc phúc, trong khi theo cách diễn tả của Chúa Giêsu người giầu có khó vào được Nước Trời. Thật ra, người nghèo được gọi là có phúc, không phải vì họ nghèo, cũng như Tin Mừng không bao giờ đề cao sự nghèo khổ, vì sự nghèo túng tự nó không làm cho ai nên thánh, có chăng chỉ những người nghèo biết chấp nhận thân phận của mình để chờ đợi từ người khác và cậy trông phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa. Nói khác đi, cái nghèo vật chất không phải tự nó biến sự túng thiếu thành nguồn ơn phúc, nhưng chính tinh thần nghèo khó, chính ý thức sự lệ thuộc của mình vào người khác, nhất là đặt trọn niềm tín thác vào Thiên Chúa, mới làm cho những người nghèo trở nên giầu tình người và đậm đà tình Chúa.
Câu chuyện người đàn bà góa nghèo nàn đoạn Tin Mừng của thánh Luca thuật lại hôm nay, gây nhiều ấn tượng cho nhiều người. Vì đồng xu nhỏ bà góa bỏ vào hòm tiền trong nhà thờ là tất cả sản nghiệp của bà. Đó là số tiền bà dành dụm để nuôi sống chính bản thân mình. Bà bỏ vào hòm tiền dâng cúng hoàn toàn khác với những đồng tiền của những người giàu dâng cúng đồng tiền dư thừa, còn bà góa bỏ vào hòm tiền đồng tiền nhỏ nhoi ít ỏi.
Chúa quan sát việc người ta dâng cúng vào thùng tiền trong đền thờ, Ngài thấy một bà góa túng thiếu bỏ hai đồng tiền kẽm như mọi người, Chúa liền gọi các môn đệ đến chỉ cho họ thấy người đàn bà góa ấy, đã bỏ vào thùng tiền đền thờ nhiều hơn tất cả mọi người. Bà đã cho đi không phải bằng phần dư dả, nhưng đã cho đi tất cả phần sống để nuôi thân. Khi dâng cúng hai đồng cuối cùng, bà đã không nghĩ đến bữa ăn tối hôm nay sẽ ra sao. Việc làm của bà hôm nay đã được Thiên Chúa chúc phúc. Ngài đã nhận thấy nơi bà góa một tấm lòng hảo tâm tuyệt đối, cho đi nhưng không và đặt niềm tin tưởng, với lòng thành phó thác trọn vẹn vào Thiên Chúa.
Bà góa nghèo trong Tin Mừng hôm nay chỉ có hai đồng tiền nhỏ để sinh sống, nhưng bà đã dâng cúng trọn vẹn cho Chúa. Có lẽ bà có được hai đồng tiền đó là do lòng hảo tâm của người khác và bà muốn biểu lộ sự tín thác của mình vào sự quan phòng của Thiên Chúa qua việc cho đi tất cả.
Vấn đề đáng suy nghĩ là liệu hành động của bà góa nghèo này có giá trị trong xã hội ngày nay, nếu không phải là tạo thêm sự nghi kỵ trong xã hội? Sống trong một xã hội cạnh tranh như hiện nay, còn có một mô thức của xã hội nơi bài giảng trên núi của Chúa Giêsu được đem ra thực hành, để không ai còn bị tiền tài, danh vọng, quyền lực chi phối, nhưng mọi người đều thực hành tình liên đới, yêu thương, chia sẻ. Với lời khen ngợi hành động của bà góa nghèo, Chúa Giêsu một lần nữa muốn đảo lộn trật tự xã hội, vì Ngài không những kêu gọi sự thay đổi của từng cá nhân, nhưng còn muốn đẩy mạnh tiến trình đổi mới xã hội, nơi mọi người đóng góp tất cả những gì mình có để xây dựng và phục vụ xã hội.
Với câu chuyện của bà góa hôm nay Đức Ki-tô muốn nhắc nhở ta điều gì? Đó là lòng quảng đại. Nếu giúp đỡ ai, hãy giúp một cách thành tâm, sống hết lòng, hãy dâng theo khả năng của mình. Chúa luôn yêu quý, đánh giá cao khi con người biết dâng lên Thiên Chúa với tấm lòng thành. Dù chỉ những sự đơn sơ, mộc mạc nhỏ bé dưới mắt người đời, nhưng đối với Thiên Chúa đã được ghi nhận trên trời.
Mỗi người chúng ta cũng hãy tự chất vấn lòng mình : Tôi có tinh thần nghèo khó để ý thức sự lệ thuộc của tôi vào người khác và vào Thiên Chúa không? Tôi đã và đang làm gì để góp phần xây dựng một xã hội mới. Ước gì mẫu gương của bà góa nghèo phản ánh tình yêu Thiên Chúa, Ðấng trao ban tất cả cho con người, giúp chúng ta mạnh tiến trên con đường xây dựng Nước Chúa giữa lòng xã hội.
2023
Vua tình yêu
26.11 Lễ Chúa Kitô Vua
Ed 34:11-12,15-17; Tv 23:1-3,3-4,5-6; 1 Cr 15:20-26,28; Mt 25:31-46
Vua tình yêu
Ông có phải là vua không? Đó là câu hỏi Philatô đặt ra cho Chúa Giêsu trong một phiên toà xét xử. Ông là Tổng Trấn đại diện cho chính quyền Rôma. Trong vụ việc này, ông là Thẩm phán và Chúa Giêsu là “bị can”. Câu trả lời không dễ. Nếu Đức Giêsu không phải là vua, thì Người cũng chỉ như mọi vĩ nhân đã từng hiện hữu trong lịch sử và đã qua đi. Nếu còn lại thì chỉ là những giáo huấn như di sản cho hậu thế. Nhưng, nếu Người là Vua thì sao? Chấp nhận Người là Vua sẽ làm đảo lộn cả thế giới. Tuyên xưng Người là Vua sẽ làm cho lòng người day dứt khôn nguôi. Bởi lẽ vị Vua ấy sẽ xét xử mỗi người chúng ta, không chỉ vào lúc tận cùng của thời gian, nhưng mỗi giây mỗi phút của cuộc đời.
Philatô chỉ lấp lửng trả lời theo kiểu nghi vấn:“Tôi là người Do thái sao?”. Quả là một câu nói khinh thường và vô trách nhiệm. Và phải chăng đó cũng là lối sống và là cách hành động của ông? Xem ra ông là vị quan rất quyền lực, nhưng thực tế cũng chỉ là tay sai và nô lệ cho quyền thế, cố gắng giữ lấy chiếc ghế chứ không muốn xử trí mọi cái theo sự thật hay lẽ phải. Trước thái độ mập mờ của Philatô, Chúa Giêsu đã thẳng thắn xác định:“Nước tôi không thuộc về thế gian này…”.
Khi nói“Nước tôi”, Chúa Giêsu không phủ nhận mình là Vua, nhưng không phải là Vua theo kiểu người Do thái và Philatô quan niệm. Ngài là vua theo ý muốn của Thiên Chúa chứ không theo mơ ước của người đời. Rõ ràng là vương quốc của Ngài không nhắm vào mục tiêu chính trị, càng không sử dụng những phương thế trần gian như vũ khí, bạo lực, quân lực… Chúa Giêsu không phải là Đấng Mêsia theo kiểu phàm nhân, lo thực hiện công cuộc giải phóng theo kiểu phàm tục. Thật ra, Philatô biết chỉ vì ghen ghét mà người Do Thái bắt nộp Đức Giêsu. Nhưng rất tiếc, ông biết một đàng nhưng rồi làm một nẻo.
Tiếp theo đó, Chúa Giêsu còn xác định căn tính và sứ mạng của mình: “là để làm chứng cho sự thật.” vì Nước của Ngài là Nước của sự thật, vì Thiên Chúa, Cha của Ngài là Đấng Chân Thật. Chỉ có sự thật mới giải thoát con người, cho con người được sống trong bình an và hạnh phúc. Tuy nhiên, không mấy ai mà ham sống thành thật? Kẻ thành thật thường thua thiệt, lại bị coi là dại dột. Sự dối trá quỷ quyệt nhiều khi được coi là khôn ngoan. Khi sự thật bị bưng bít thì tất cả đều ra tối tăm và sự gian ác lan tràn. Chính trong ý nghĩa đó mà Chúa Giêsu mạnh dạn tuyên bố trước Philatô:“Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi”. Đó cũng là một lời mời gọi xoáy vào tận tâm não của những ai còn chút lương tri, để họ kịp nhận ra chân lý làm người. Thực tế, không mấy ai dám đứng về phía sự thật, vì sợ bị liên lụy, có khi mất cả thanh danh, sự nghiệp. Chính vì sợ như thế mà Philatô đã giao Chúa Giêsu cho binh lính hành hình, và cuối cùng giao cho người Do Thái để tử hình. Quả thật, sự dối trá đưa đến chỗ hủy diệt người công chính.
Đức Giêsu là vua vũ trụ, Đức Giêsu là vua tình yêu, lời công bố như thế chỉ có ý nghĩa, khi người ta hiểu vua vũ trụ, vua tình yêu, khác xa vua chúa quan quyền ở trần thế này. Nếu công thành danh toại là mơ ước tự nhiên của con người, hẳn sự thật mất lòng, sẽ là sự tinh tế vừa khôn vừa khéo, cha ông ta cảnh giác con cháu trong cư xử. Biết rút kinh nghiệm, nhớ được lời răn dạy: khôn ngoan đối đáp người ngoài, sẽ thích hợp hơn trong phạm vi chính trị, ngoai giao. Đức Giêsu hỏi Philatô, và còn tiếp tục hỏi chúng ta: “Quan tự ý biết tôi là vua, hay có ai khác nói với quan về tôi” ? Căn bản của thành công, phải là nói hay, làm giỏi, lý lẽ khiến người ta cúi đầu, không phản kháng, phải rõ ràng, chặt chẽ, như xã hội vẫn nói phải là tâm phục khẩu phục.
Con đường đến thành công, con đường tới hạnh phúc, dài, ngắn, sẽ chẳng ai cân đo xuể, nhưng phải bắt đầu từ bước chân của mình, từ nỗ lực bản thân, cùng với trái tim biết rung động. Đức Giêsu thành công trong việc kêu gọi nhóm 12, không phải bằng uy quyền, nhưng là bằng sức mạnh tình yêu. Đức Giêsu ở bên Philatô không phải để cầu cạnh, phân bua, đấu tranh tư tưởng về quyền lực vật chất và tinh thần. Qua cuộc đối thoại của Philatô, dám chắc mọi người đều được Đức Giêsu khai lòng mở trí, hầu biết thế giới vạn vật này, luôn có Vị Vua tình yêu hiện diện, thôi thúc mọi người đạt tới hạnh phúc thật. Tục ngữ ca dao nói rằng: không ai yêu con bằng cha, không ai yêu con bằng mẹ; mẹ yêu con bằng dòng sữa ngọt, cha yêu con bằng giọt mặn mồ hôi. Đức Giêsu nói với Philatô: “Nước tôi không thuộc về thế gian này”. Cũng có nghĩa, Nước Chúa là có thật, là sự thật, là vương quốc yêu thương.
Hôm nay, lễ suy tôn Chúa làm Vua, Giáo hội nhắc nhở chúng ta, là Kytô hữu tức là công dân của Nước Thiên Chúa chúng ta được mời gọi xây dựng nước Chúa ở trần gian bằng sự hiệp nhất yêu thương nơi những người con của Chúa có chung một Cha trên trời. Sự hiệp nhất đó phải được xây dựng từ nơi gia đình, nơi xứ đạo chúng ta. Phải xóa bỏ những tị hiềm, ghen ghét, những bất công, hận thù trong cuộc sống giữa người với người. Mỗi người kytô hữu khi lãnh nhận bí tích rửa tội còn được mời gọi làm chứng cho sự thật giữa thế gian. Điều đó mời gọi chúng ta phải cùng nhau loại trừ điều gian dối, chua ngoa và xây dựng một nền công lý và sự thật giữa thế gian còn quá nhiều bất công và gian dối.
Vâng, cuộc đời hôm nay có lẽ sẽ vui hơn nếu người ta biết sống chân thành với nhau.Vợchồng chân thành với nhau trong nghĩa tình thuỷ chung. Người trong một đoàn thể, một xứ đạo sống chân thành với nhau hầu loại trừ bệnh thành tích khoe trương. Nhất là trong cuộc sống hằng ngày cần lấy chữ tín làm đầu, luôn sống chân thành trong lời nói , việc làm luôn theo chân lý và sự thật.
Ước gì mỗi người tín hữu chúng ta biết xây dựng Nước Chúa ở trần gian bằng cuộc sống chứng nhân cho tình yêu, cho chân lý và công bình giữa thế giới hôm nay.
2023
NIỀM TIN ĐỜI SAU
25.11 Thứ Bảy trong tuần thứ Ba Mươi-Ba Mùa Quanh Năm
1 Mcb 6:1-13; Tv 9:2-3,4,6,16,19; Lc 20:27-40
NIỀM TIN ĐỜI SAU
Dù cho con người ta không tin có Thiên Chúa, không tin có sự sống đời sau nhưng một sự thật vẫn hiển nhiên, bất biến. Đó là: Con người khác con vật, có linh hồn mà linh hồn thì vô hình nhưng bất tử; Điều này, Tin Mừng hôm nay chính Đức Giê-su đã xác nhận để cho mọi người được biết: “ Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng” (Lc 20, 34). Chính Đức Giê-su đã minh chứng lời Người nói đó bằng biến cố chịu tử nạn và ba ngày sau thì Người đã sống lại. Như vậy chính Đức Giê-su đã làm chứng về sự sống lại và chứng cứ của Người thì rất đáng cậy tin!
Câu Chúa nói: “Những ai xét là đáng hưởng phúc đời sau” khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, bởi lẽ, chỉ những người ăn ngay ở lành, sống thi hành những điều Chúa răn dạy thì những người ấy mới là những kẻ được Chúa xét là đáng được hưởng phúc đời sau mà thôi! Còn những ai sống bông thả, chạy theo đam mê xác thịt… kẻ ấy không được dự phần vào phần thưởng sự sống đời sau. Mà sự sống đời sau là thánh thiêng, giống như các thiên thần chứ không như cuộc sống tạm bợ ở trên trần gian này! Nên không có chuyện cưới vợ gả chồng nữa!
Tin Mừng hôm nay thuật lại một số người thuộc nhóm Xa Đốc đến gặp Đức Giêsu để hỏi về vấn đề kẻ chết sống lại. Nhóm Xa Đốc xuất thân từ giai cấp tư tế. Nhóm này được xếp vào hạng người bảo thủ bởi vì trong bộ Kinh Thánh họ chỉ nhìn nhận bộ Ngũ thư gồm: sách Sáng Thế, sách Xuất Hành, sách Lê Vi, sách Dân Số và sách Đệ Nhị Luật. Còn những sách về sau thì nhóm Xa Đốc không chấp nhận. Nhóm Xa Đốc không tin về kẻ chết sống lại, vì họ nghĩ rằng trong bộ Ngũ thư không nói về kẻ chết sống lại, cho nên khi nói về giáo lý người chết sống lại, người Xa Đốc cho rằng đó là ý niệm mơ hồ.
Nhóm luật sĩ và biệt phái tin có sự sống lại, còn nhóm Sađốc thì không. Mặc dầu nhóm Sađốc không tin vào cuộc sống đời sau, nhưng qua lời lẽ của họ, người ta thấy họ có một quan niệm hết sức vật chất về cuộc sống ấy: ở đời sau người ta cũng cưới vợ lấy chồng sinh con và hưởng thụ tất cả những lạc thú như ở đời này. Nhưng Đức Giêsu đã mạc khải cho họ có sự sống lại và cách thức sống cuộc sống đời sau. Ngài cho thấy cuộc sống ấy không còn giống như ở đời này, không còn lệ thuộc vào không gian và thời gian. Trái lại, cuộc sống của người công chính khi phục sinh sẽ được thần thiêng hoá như đời sống của các thiên thần.
Hôm nay, nhóm Sađốc đã đứng lên để bàn mưu tính kế nhằm hại Đức Giêsu. Cái bẫy mà họ đưa ra chính là câu chuyện liên quan đến sự sống lại. Vấn nạn mà họ đặt ra cho Đức Giêsu và yêu cầu Ngài trả lời: theo luật Maisen, nếu người anh lấy vợ, khi chết đi mà chưa có con, thì người em phải lấy vợ của anh mình để có con nối dõi. Vậy cả 7 anh em nhà kia lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết, sau cùng người đàn bà kia cũng chết. Vấn đề đặt ra là: khi sống lại, người đàn bà kia sẽ là vợ của người nào trong 7 anh em đó?
Để trả lời cho họ, Đức Giêsu trưng dẫn sách Ngũ kinh như ông Maisen đã gọi: “Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Abraham, Thiên Chúa của tổ phụ Isaác và Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp. Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Ngài, tất cả đều đang sống”. Thiên Chúa là sự sống. Ngài ban và duy trì sự sống ngay cả sau khi chết.
Đức Giêsu luôn luôn từ chối trả lời theo khôn ngoan thế gian, nhưng người đứng trên phương diện khác để trả lời. Câu chuyện của Sađốc đặt ra là giả tưởng, không có thật. Sự sống đời sau khi sống lại không như nhiều người Do thái tưởng là sự nối tiếp sự sống đời này. Nhưng, “những ai được xét là đáng hưởng hạnh phúc đời sau” và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ gả chồng, quả thật họ không thể chết nữa, vì họ được sống như thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa.
Xã hội tiến bộ ngày hôm nay cũng lôi kéo rất nhiều tầng lớp người, sống trên trần gian nhưng không nghĩ đến chuyện tương lai cho sự sống mình. Cuộc sống chỉ biết hưởng thụ, tìm khoái lạc, tranh chấp, bóc lột, thù hận. Những người này luôn sống trên mặt đất nhưng không nhìn trời cao, nhìn cuộc sống không phải là tạm bợ nhưng là thời gian sống để hưởng thụ, nhìn kiếp đời chỉ tồn tại trên mặt đất nhưng không nghĩ đến sự sống vĩnh cửu mãi mãi. Vì thế, không gì ngạc nhiên khi người thuộc nhóm Xa Đốc của thời đại hôm nay, họ có những suy nghĩ, lời nói và hành động theo lề thói của thế gian, nhưng không chọn mẫu gương sống của Chúa Giêsu là hành trang cho sự sống tạm bợ tại trần gian.
Đạo Công Giáo dạy ta rằng: Có Thiên Chúa là Đấng toàn năng, hằng hữu. Chính Ngài đã tạo dựng nên vũ trụ và nên con người. Chúa cho ta cuộc sống trần gian này để ta “sự đầu tư” cho cuộc sống vĩnh cửu đời sau. Do vậy chúng ta phải kiên trì, nỗ lực làm sao để có thể chiếm cứ được sự sống đó bằng cách sống sao cho đẹp lòng Chúa; sống yêu thương, bác ái phục vụ anh em và luôn tôn thờ Chúa hết dạ hết tình. Dù rằng cuộc sống ở đời này có biết bao cám dỗ và cạm bẫy, nhưng ta phải luôn biết bám vào Chúa, vì chính từ Người sẽ phát suốt ra sức mạnh để nhờ đó chúng ta sẽ chiến thắng và đạt được sự sống đời sau.
Mỗi khi suy ngẫm cái chết, chính là dịp để mỗi người sống tỉnh thức để khỏi phải lo lắng hoang mang. Suy ngẫm về cái chết sẽ giúp cho cá nhân mỗi người sống có ích hơn cho đời, sống tích cực hơn cho chính bản thân mình.
2023
DŨNG CẢM LÀM CHỨNG CHO CHÚA GIÊ-SU
24.11 Thánh Andrê Dũng-Lạc, Lm, và các bạn tử đạo Việt Nam
1 Mcb 4:36-37,52-59; 1 Sb 29:10,11,11-12,12; Lc 19:45-48
DŨNG CẢM LÀM CHỨNG CHO CHÚA GIÊ-SU
Các thánh Tử Đạo Việt Nam có lòng tin mạnh mẽ. Lòng tin của các ngài không biểu lộ trong những hành vi cuồng tín, nhưng diễn tả trong thái độ chan chứa yêu thương. Đã nhận biết Chúa, các ngài yêu mến Chúa tha thiết. Đã cảm nhận được tình yêu của Chúa các ngài mong muốn được đáp đền tình yêu đó.
Tình yêu của các ngài là tình yêu hy sinh. Nên các ngài đã từ bỏ tất cả: cuộc sống yên ổn, danh vọng tiền tài, kể cả mạng sống vì Chúa. Thánh Hồ đình Hy sẵn sàng chịu mất chức trong triều đình. Thánh Tôma Thiện vui lòng dâng hiến tuổi xuân xanh với những lời hứa hẹn chức quyền của vua quan. Thánh nữ Anê Lê thị Thành mạnh dạn từ bỏ gia đình êm ấm với những người con ngoan ngoãn dễ thương. Tất cả vì tình yêu Chúa.
Tình yêu của các ngài là tình yêu chung thuỷ. Các ngài yêu mến Chúa khi bình an, các ngài càng yêu mến Chúa trong những gian nan thử thách. Các ngài đã thực hiện lời thánh Phao-lô: Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta (Rm 8,35-39).
Tình yêu của các ngài là tình yêu cao quí. Đáp lại tình yêu của Đức Giêsu Kitô đã hiến thân vì các ngài, các ngài cũng hiến dâng mạng sống để minh chứng tình yêu với Chúa. Đúng như lời Chúa nói: Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15,13).
Các ngài là những người yêu mến cuộc sống. Không phải một cuộc sống tầm thường nhưng là cuộc sống với tất cả những chiều kích cao đẹp của nó. Cuộc sống với những giá trị thiêng liêng như lý tưởng, như tình yêu, lòng trung tín. Một cuộc sống không nô lệ cho vật chất. Một cuộc sống trung thực không giả dối. Một cuộc sống không bị đóng khung trong thế giới hữu hạn mau tàn nhưng mở ra đến vĩnh cửu. Một cuộc sống không hạ con người xuống nhưng nâng con người lên ngang với các thần thánh. Thật sự yêu mến cuộc sống nên các ngài sẵn sàng hy sinh tính mạng để làm chứng, để bảo vệ và xây dựng.
Cái chết của các ngài minh chứng một tình yêu vô biên đối với nhân loại. Các ngài không chỉ yêu mến Chúa mà còn yêu mến gia đình. Hãy nhìn cảnh thánh Lê văn Phụng hoặc thánh nữ Lê thị Thành an ủi con cháu trước khi ra pháp trường. Tình yêu thương của các ngài lan cả tới lính gác, cai tù và lý hình. Thánh Lê văn Phụng chữa bệnh cho người cai tù của mình. Tất cả các thánh vui vẻ ra đi chịu chết. Không có ai tỏ lòng oán hận. Và nhất là không có vị nào thù ghét các lý hình.
T ình yêu của các ngài phát xuất từ tình yêu Chúa nên rộng rãi toả lan tới mọi người, mọi nơi các ngài sinh sống. Tình yêu ấy là tình yêu nguyên tuyền nên không biết đến sự thù ghét, nên sẵn sàng tha thứ cho kẻ làm hại mình. Tình yêu ấy như bông hoa vẫn toả hương trong tay kẻ vò nát nó. Tình yêu ấy giống như loài gỗ quí vẫn phả hương thơm cả đến chiếc rìu bổ vào nó (Fulton Sheen).
Chúng ta hãy cùng nhau ôn lại đời sống đức tin của các thánh tử đạo Việt Nam để xem các ngài đã tuyên xưng, đã sống và làm chứng cho đức tin thế nào.
Các thánh tử đạo bị giết chỉ vì tuyên xưng lòng tin vào Chúa Giêsu. Lòng tin ấy biểu lộ qua việc tôn thờ thánh giá Chúa. Thánh Anrê Kim Thông nói với quan tỉnh: “Thánh giá tôi kính thờ, tôi giẫm lên sao được!” Thánh Têôphan Ven nói: “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được? Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!”
Chắc chắn không phải vì các ngài đã theo đạo Tây mà phản bội tổ quốc và dân tộc. Các ngài tôn trọng vua quan và hết lòng vì quê hương. Thánh linh mục Tự đối đáp với quan tòa: “Tôi kính Thiên Chúa như Thượng Phụ, kính vua như trung phụ, và kính song thân như hạ phụ. Không thể nghe cha ruột để hại vua, tôi cũng không thể vì vua mà phạm đến Thượng Phụ là Thiên Chúa được”.
Nhiều vị thánh đã ở trong hàng ngũ quân đội bảo vệ đất nước. Thánh Trần Văn Trung là một binh sĩ, đã bị giết vì khẳng khái tuyên bố: “Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất nước, nhưng bỏ đạo thì không bao giờ”. Thánh linh mục Khuông từng tuyên bố: “Đạo Giatô không những cấm tín hữu chống lại triều đình, mà còn khuyến khích để họ cầu nguyện và góp phần giúp quê hương an ninh thịnh vượng”.
Yêu nước không có nghĩa là phải thù ghét loại trừ các Kitô hữu và chống lại Kitô giáo.
Lời tuyên xưng của các thánh tử đạo không chỉ là lời tuyên bố trong một khoảnh khắc nhất thời trước khi chết, nhưng đó là hoa trái kết tinh từ một đời sống thấm nhuần Lời Chúa. Các ngài đã sống đức tin, đã thể hiện Tin Mừng yêu thương trong chính đời sống của mình.
