2026
Thư mời và Chương trình Hội Thảo về Thần học và văn học của HVCGVN vào ngày 11/4 tại Trung tâm Mục Vụ
Thư mời và Chương trình Hội Thảo về Thần học và văn học của HVCGVN vào ngày 11/4 tại Trung tâm Mục Vụ 
2026
Sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi
Sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi

Ngày 25/3/2026, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã công bố Sứ điệp của ngài nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi lần thứ 63, được cử hành vào Chúa Nhật, 26/4/2026. Ngài nhắc lại rằng mỗi ơn gọi là một món quà vô giá cho Giáo hội và cho những người đón nhận với niềm vui, một hồng ân nhưng không của Thiên Chúa, được gieo vào sâu thẳm tâm hồn mỗi người. Ngài mời gọi vun trồng mối tương quan cá vị với Thiên Chúa qua việc cầu nguyện hằng ngày và suy niệm Lời Chúa.
SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
NHÂN NGÀY THẾ GIỚI CẦU NGUYỆN CHO ƠN GỌI
Chúa Nhật IV Phục Sinh – 26 tháng 04 năm 2026
Khám phá nội tâm về món quà của Thiên Chúa
Anh chị em thân mến, các bạn trẻ rất thân mến!
Được Chúa Giêsu Phục Sinh hướng dẫn và gìn giữ, chúng ta cử hành Chúa Nhật IV Phục Sinh, còn gọi là “Chúa Nhật Chúa Chiên Lành”, cũng là Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi lần thứ 63. Đây là một dịp ân sủng để chúng ta cùng chia sẻ một vài suy tư về chiều kích nội tâm của ơn gọi, được hiểu như việc khám phá hồng ân nhưng không của Thiên Chúa nảy nở trong sâu thẳm trái tim mỗi người chúng ta. Vậy chúng ta hãy cùng nhau khám phá con đường cuộc sống thật sự tươi đẹp mà vị Mục Tử hướng dẫn chúng ta bước đi!
Con đường của vẻ đẹp
Trong Tin Mừng theo Thánh Gioan, Chúa Giêsu diễn tả mình là “Mục Tử tốt lành” (ὁ ποιμὴν ὁ καλός) theo nghĩa đen (Ga 10,11). Cách diễn đạt này chỉ một mục tử hoàn hảo, đích thực, gương mẫu, vì sẵn sàng hiến mạng sống cho đoàn chiên của mình, qua đó biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa. Đó là vị Mục Tử hấp dẫn: ai nhìn vào Người sẽ khám phá rằng cuộc sống thật sự tươi đẹp nếu bước theo Người. Để nhận ra vẻ đẹp này, không chỉ cần đôi mắt thể lý hay những tiêu chuẩn thẩm mỹ, nhưng cần có sự chiêm niệm và đời sống nội tâm. Chỉ những ai biết dừng lại, lắng nghe, cầu nguyện và đón nhận ánh nhìn của Người thì mới có thể tin tưởng mà nói: “Con tín thác, với Người cuộc sống thật sự có thể tươi đẹp, con muốn bước đi trên con đường của vẻ đẹp này”. Và điều kỳ diệu nhất là, khi trở nên môn đệ của Người, chính chúng ta cũng trở nên “đẹp”: vẻ đẹp của Người biến đổi chúng ta. Như thần học gia Pavel Florenskij viết, khổ hạnh không tạo nên người “tốt”, nhưng tạo nên người “đẹp”.[1] Thật vậy, nét đặc trưng của các thánh, ngoài sự thiện hảo, còn là vẻ đẹp thiêng liêng rạng ngời phát xuất từ những ai sống trong Đức Kitô. Như thế, ơn gọi Kitô hữu được tỏ lộ trong toàn bộ chiều sâu của nó: tham dự vào sự sống của Người, chia sẻ sứ mạng của Người, và chiếu tỏa chính vẻ đẹp của Người.
Kinh nghiệm nội tâm này về sự sống, đức tin và ý nghĩa cũng là kinh nghiệm của Thánh Augustinô. Trong quyển ba của tác phẩm Tự thú, khi thú nhận những tội lỗi và sai lạc thời trẻ, ngài nhận ra Thiên Chúa “ở sâu trong nội tâm hơn cả phần sâu kín nhất của chính tôi”[2]. Vượt lên trên ý thức về bản thân, ngài khám phá vẻ đẹp của ánh sáng Thiên Chúa dẫn dắt mình trong bóng tối. Thánh Augustinô nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn, và điều đó hàm ý việc hiểu và sống tầm quan trọng của việc chăm sóc đời sống nội tâm như không gian gặp gỡ với Chúa Giêsu, như con đường để cảm nghiệm vẻ đẹp và sự thiện hảo của Thiên Chúa trong cuộc đời mình.
Mối tương quan này được đặt nền tảng trên việc cầu nguyện và thinh lặng, và nếu được nuôi dưỡng, sẽ mở ra cho chúng ta khả năng đón nhận và sống hồng ân ơn gọi – vốn không bao giờ là một sự áp đặt hay một khuôn mẫu có sẵn để chỉ đơn thuần tuân theo, nhưng là một dự án của tình yêu và hạnh phúc. Do đó, chúng ta phải khẩn trương khôi phục lại sứ vụ truyền giáo và canh tân sự dấn thân của mình đối với công cuộc truyền bá Tin Mừng dựa trên cơ sở của việc chăm sóc đời sống nội tâm.
Trong tinh thần ấy, tôi mời gọi tất cả mọi người – các gia đình, giáo xứ, cộng đoàn tu trì, các giám mục, linh mục, phó tế, giáo lý viên, nhà giáo dục và anh chị em giáo dân – ngày càng dấn thân hơn nữa trong việc tạo ra những môi trường thuận lợi để hồng ân này có thể được đón nhận, nuôi dưỡng, gìn giữ và đồng hành nhằm sinh hoa trái dồi dào. Chỉ khi môi trường của chúng ta tỏa sáng bởi đức tin sống động, việc cầu nguyện kiên trì và sự đồng hành huynh đệ, thì tiếng gọi của Thiên Chúa mới có thể nảy nở và trưởng thành, trở thành con đường hạnh phúc và ơn cứu độ cho mỗi người và cho thế giới. Khi bước đi trên con đường mà Chúa Giêsu, vị Mục Tử tốt lành, chỉ dẫn cho chúng ta, chúng ta mới học nhận biết cách rõ ràng hơn về chính mình và Thiên Chúa, Đấng đã kêu gọi chúng ta.
Hiểu biết lẫn nhau
“Chúa của sự sống biết chúng ta và chiếu sáng trái tim chúng ta bằng ánh nhìn yêu thương của Người”.[3] Thật vậy, mỗi ơn gọi chỉ có thể khởi đầu từ ý thức và kinh nghiệm về một Thiên Chúa là Tình Yêu (x. 1 Ga 4,16): Người biết chúng ta cách sâu xa, đã đếm từng sợi tóc trên đầu chúng ta (x. Mt 10,30) và đã nghĩ đến một con đường thánh thiện và phục vụ độc nhất cho mỗi người. Tuy nhiên, sự hiểu biết này phải luôn mang tính hỗ tương: chúng ta được mời gọi nhận biết Thiên Chúa qua cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa, các Bí tích, đời sống của Giáo Hội và sự trao hiến cho anh chị em. Như cậu bé Samuel, trong đêm tối, có lẽ một cách bất ngờ, đã nghe tiếng Chúa và học nhận ra tiếng ấy nhờ sự giúp đỡ của ông Eli (x. 1 Sm 3,1-10), chúng ta cũng phải tạo ra những khoảng lặng nội tâm để cảm nhận điều Chúa ấp ủ cho hạnh phúc của chúng ta. Đây không phải là một tri thức trí tuệ trừu tượng hay một sự hiểu biết học thuật, nhưng là một cuộc gặp gỡ cá vị biến đổi cuộc đời.[4] Thiên Chúa ngự trong tâm hồn chúng ta: ơn gọi là một cuộc đối thoại thân mật với Người, Đấng vẫn gọi – bất chấp những ồn ào đôi khi chói tai của thế giới – và mời gọi chúng ta đáp lại với niềm vui chân thật và lòng quảng đại.
“Noli foras ire, in te ipsum redi, in interiore homine habitat veritas – Đừng đi ra ngoài chính mình, hãy trở về với bản thân, Chân Lý cư ngụ trong con người nội tâm”.[5] Một lần nữa, Thánh Augustinô nhắc chúng ta về tầm quan trọng của việc học biết dừng lại, xây dựng những khoảng lặng nội tâm để có thể lắng nghe tiếng nói của Chúa Giêsu Kitô.
Các bạn trẻ thân mến, hãy lắng nghe tiếng ấy! Hãy lắng nghe tiếng Chúa mời gọi các con sống một cuộc đời viên mãn, trọn vẹn, bằng cách làm sinh hoa kết quả những tài năng của mình (x. Mt 25,14-30) và đóng đinh những giới hạn, yếu đuối của mình vào Thập giá vinh quang của Đức Kitô. Vậy, các con hãy dừng lại trong việc chầu Thánh Thể, chuyên cần suy niệm Lời Chúa để sống mỗi ngày, tham gia cách tích cực và trọn vẹn vào đời sống bí tích và đời sống Giáo Hội. Nhờ đó, các con sẽ nhận biết Chúa và, trong sự thân mật của tình bạn, các con sẽ khám phá cách trao hiến chính mình trong con đường hôn nhân, hoặc linh mục, hoặc phó tế vĩnh viễn, hoặc đời sống thánh hiến, trong cộng đoàn tu trì hay giữa đời: mỗi ơn gọi là một hồng ân lớn lao cho Giáo Hội và cho những ai đón nhận với niềm vui. Nhận biết Chúa trước hết là học biết tín thác nơi Người và nơi sự Quan Phòng của Người, điều vốn tràn đầy trong mọi ơn gọi.
Sự tín thác
Từ sự hiểu biết nảy sinh niềm tín thác, một thái độ phát xuất từ đức tin, thiết yếu cả để đón nhận ơn gọi lẫn để kiên trì trong ơn gọi ấy. Thật vậy, cuộc sống được tỏ lộ như một hành trình liên lỉ tin tưởng và phó thác nơi Chúa, ngay cả khi kế hoạch của Người làm đảo lộn những dự định của chúng ta.
Hãy nghĩ đến Thánh Giuse, Đấng, dù đối diện với mầu nhiệm bất ngờ về việc Đức Trinh Nữ làm mẹ, vẫn tín thác vào giấc mơ đến từ Thiên Chúa và đón nhận Đức Maria cùng Hài Nhi với một trái tim vâng phục (x. Mt 1,18-25; 2,13-15). Thánh Giuse thành Nazareth là biểu tượng của sự tín thác trọn vẹn vào chương trình của Thiên Chúa: ngài vẫn tin tưởng ngay cả khi mọi sự chung quanh dường như chìm trong bóng tối và tiêu cực, khi mọi việc xem ra đi ngược lại với những gì dự tính. Ngài tin tưởng và phó thác, xác tín vào lòng nhân hậu và sự trung tín của Chúa. “Trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời mình, Thánh Giuse đã biết thưa lời ‘xin vâng’, như Đức Maria trong biến cố Truyền Tin và như Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu”.[6]
Như Năm Thánh Hy Vọng đã dạy chúng ta, cần phải nuôi dưỡng một niềm tín thác vững chắc và bền bỉ vào những lời hứa của Thiên Chúa, không bao giờ nhượng bộ trước sự tuyệt vọng, vượt qua sợ hãi và bất an, xác tín rằng Đấng Phục Sinh là Chúa của lịch sử thế giới và của chính mỗi người chúng ta: Người không bỏ rơi chúng ta trong những giờ phút đen tối nhất, nhưng đến để xua tan mọi bóng tối bằng ánh sáng của Người. Và chính nhờ ánh sáng và sức mạnh của Thánh Thần Người, ngay cả qua những thử thách và khủng hoảng, chúng ta có thể thấy ơn gọi của mình trưởng thành, ngày càng phản chiếu vẻ đẹp của chính Đấng đã kêu gọi chúng ta – một vẻ đẹp được dệt nên bởi sự trung tín và niềm tín thác, bất chấp những vết thương và những lần vấp ngã.
Sự trưởng thành
Thật vậy, ơn gọi không phải là một điểm đến tĩnh tại, nhưng là một tiến trình năng động của sự trưởng thành, được nuôi dưỡng nhờ sự gắn kết thân mật với Chúa: ở lại với Chúa Giêsu, để Chúa Thánh Thần hoạt động trong tâm hồn và trong các hoàn cảnh của cuộc sống, và đọc lại mọi sự dưới ánh sáng của hồng ân đã lãnh nhận, chính là lớn lên trong ơn gọi.
Như cây nho và các cành (x. Ga 15,1-8), toàn bộ cuộc sống của chúng ta phải trở thành một mối liên kết mạnh mẽ và thiết yếu với Chúa, để ngày càng trở thành một lời đáp trả trọn vẹn hơn trước tiếng gọi của Người, qua những thử thách và những lần cắt tỉa cần thiết. Những “nơi chốn” mà ý muốn của Thiên Chúa được tỏ lộ rõ nhất và nơi chúng ta cảm nghiệm tình yêu vô hạn của Người thường chính là những mối tương quan chân thành và huynh đệ mà chúng ta có thể xây dựng trong cuộc đời. Thật quý giá biết bao khi có một người hướng dẫn thiêng liêng vững vàng đồng hành trong việc khám phá và phát triển ơn gọi của chúng ta! Thật quan trọng biết bao việc phân định và kiểm chứng dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần, để ơn gọi có thể được thực hiện trọn vẹn trong vẻ đẹp của nó.
Vì thế, ơn gọi không phải là một sở hữu tức thời, một điều “được ban” một lần là xong: nhưng là một hành trình phát triển tương tự như đời sống con người, trong đó hồng ân đã nhận lãnh, ngoài việc được gìn giữ, còn phải được nuôi dưỡng bằng một tương quan hằng ngày với Thiên Chúa để có thể lớn lên và sinh hoa trái. “Điều này có một giá trị lớn lao, bởi vì nó đặt toàn bộ cuộc sống của chúng ta trước Thiên Chúa, Đấng yêu thương chúng ta và giúp chúng ta hiểu rằng không có gì là kết quả của một sự hỗn loạn vô nghĩa, nhưng trái lại, mọi sự đều có thể được đưa vào một hành trình đáp lại tiếng Chúa, Đấng có một kế hoạch tuyệt vời cho chúng ta”.[7]
Anh chị em thân mến, các bạn trẻ rất thân mến, tôi khích lệ anh chị em hãy vun trồng mối tương quan cá vị với Thiên Chúa qua việc cầu nguyện hằng ngày và suy niệm Lời Chúa. Hãy dừng lại, lắng nghe, tín thác: như thế, hồng ân ơn gọi của anh chị em sẽ trưởng thành, mang lại hạnh phúc cho anh chị em và sinh nhiều hoa trái cho Giáo Hội và cho thế giới.
Nguyện xin Đức Trinh Nữ Maria, mẫu gương của việc đón nhận hồng ân Thiên Chúa trong nội tâm và là bậc thầy của việc lắng nghe trong cầu nguyện, luôn đồng hành với anh chị em trên hành trình này!
Vatican, ngày 16 tháng 3 năm 2026
LÊÔ XIV
[1] “Sự khổ hạnh không tạo ra một người ‘tốt’ nhưng tạo ra một người đẹp, và đặc điểm nổi bật của các vị thánh khổ hạnh hoàn toàn không phải là ‘sự tốt lành’ của họ, điều ngay cả những người trần tục và rất tội lỗi có thể có, mà chính là vẻ đẹp tâm linh, vẻ đẹp chói lóa của con người rạng rỡ và đầy ánh sáng, hoàn toàn không thể với tới đối với con người thô tục và trần tục” (P. FLORENSKIJ, Cột trụ và Nền tảng của Chân lý, Roma 1974, 140-141).
[2] Thánh Augustinô, Tự thú, III, 6,11: CSEL 33, 53.
[3] Tông thư Một sự trung thành kiến tạo tương lai (08/12/2025), 5.
[4] X. Biển Đức XVI, Thông điệp Deus caritas est (25/12/2025), 1.
[5] Thánh Augustinô, De vera religione, XXXIX, 72: CCSL 32, 234.
[6] Đức Phanxicô, Tông thư Patris corde (8/12/2020), 3.
[7] Đức Phanxicô, Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Christus vivit (25/03/2019), 248.
2026
SỨ ĐIỆP ĐỨC THÁNH CHA MUỐN MANG ĐẾN CHO CÔNG QUỐC MONACO CŨNG NHƯ CHÂU ÂU
SỨ ĐIỆP ĐỨC THÁNH CHA MUỐN MANG ĐẾN CHO CÔNG QUỐC MONACO CŨNG NHƯ CHÂU ÂU
Thứ Bảy ngày 28/3/2026, nhận lời mời của Quốc vương Alberto II của Công quốc Monaco và của Đức tổng giám mục Dominique Marie David, Đức Thánh Cha Lêô XIV sẽ viếng thăm quốc gia này, một trong số ít đất nước có Công giáo là quốc giáo. Đây là quốc gia nhỏ thứ hai trên thế giới, sau Vatican, chỉ có diện tích 2 km2. Theo thống kê năm 2023, số tín hữu Công giáo tại đây khoảng 32.000 người, chiếm khoảng 84% trong tổng số 39.000 dân, được phân bổ trong 6 giáo xứ của một Tổng giáo phận duy nhất, trực thuộc Tòa Thánh.
Tổng giáo phận Monaco hiện được chăm sóc mục vụ bởi Đức Tổng Giám mục Dominique Marie David, 62 tuổi, gốc Pháp, người đã lãnh đạo tổng giáo phận từ năm 2020, với sự cộng tác của hơn 20 linh mục và khoảng 20 tu sĩ nam nữ.
Lịch sử Giáo hội Công giáo tại Monaco
Theo truyền thống, đức tin được truyền đến Monaco gắn liền với Thánh Devota, một vị tử đạo tại đảo Corsica vào khoảng năm 304 và thi hài của ngài được cho là trôi dạt đến vùng Gaumates. Đến thế kỷ XI, sự hiện diện Kitô giáo được xác nhận rõ ràng qua việc thành lập các cơ sở tôn giáo như nhà thờ Thánh Devota, phụ thuộc vào đan viện Saint-Pons và các nhà thờ đầu tiên tại Monaco. Tuy nhiên, lúc này Monaco chịu ảnh hưởng từ hai quyền tài phán giáo hội khác nhau (đan viện Saint-Pons và Giám mục Nice), gây ra những căng thẳng kéo dài.
Bước sang thời Trung cổ, Monaco gắn liền với các xung đột giữa phe Guelph (ủng hộ Giáo hoàng) và Ghibelin (ủng hộ Hoàng đế). Gia tộc Grimaldi, đại diện phe Guelph, đã chiếm được Monaco vào thế kỷ XIII, mở đầu cho sự cai trị lâu dài của họ. Từ đó, Monaco thể hiện lòng trung thành mạnh mẽ với Giáo hoàng, tham gia các cuộc Thập tự chinh và bảo vệ quyền lực của Tòa Thánh. Nhiều công trình tôn giáo được xây dựng, tiêu biểu là nhà thờ Thánh Nicola – tiền thân của nhà thờ chính tòa hiện nay.
Từ thời Phục hưng, Monaco đã khẳng định mình là một quốc gia Công giáo rõ nét. Các mối quan hệ với Tòa Thánh được củng cố qua các chuyến viếng thăm của các hoàng thân. Lòng sùng kính Thánh Devota phát triển mạnh, cùng với các hoạt động nghệ thuật tôn giáo như việc đặt các bàn thờ và tranh thánh. Các biến cố như đại dịch năm 1631 càng thúc đẩy đời sống đạo, dẫn đến việc thành lập các hội đoàn bác ái và tôn giáo như Hội huynh đệ “Những người sám hối áo đen”. Nhiều dòng tu và sáng kiến tôn giáo được thành lập, góp phần định hình đời sống thiêng liêng của xã hội.
Trong thời kỳ Cách mạng Pháp và Đế chế, Giáo hội tại Monaco gặp nhiều khó khăn. Monaco bị chiếm đóng, các hoạt động tôn giáo bị hạn chế và chịu sự kiểm soát của Giám mục của Nice. Tuy nhiên, sau khi phục hồi, Monaco dần tái tổ chức đời sống Giáo hội. Đến thế kỷ XIX, qua nhiều thỏa thuận với Tòa Thánh, Monaco đạt được sự độc lập về mặt giáo hội với việc thành lập giáo phận riêng trực thuộc Tòa Thánh, và sau này trở thành tổng giáo phận. Việc bổ nhiệm Tổng giám mục Monaco phụ thuộc trực tiếp vào Tòa Thánh; tuy nhiên, Chính phủ Hoàng gia vẫn tiếp tục và duy trì sự tham gia của mình vào việc quản lý các giáo xứ và công việc tôn giáo cần thiết cho sự phát triển tích cực các hoạt động của Giáo hội.
Từ thế kỷ XIX đến XX, Giáo hội tại Monaco phát triển mạnh mẽ, đồng thời thích ứng với những biến động xã hội. Nhiều dòng tu và tổ chức bác ái được thành lập, đặc biệt quan tâm đến người nghèo và người di cư. Trong Thế chiến II, một số linh mục đã tham gia cứu giúp người Do Thái. Sau Công đồng Vatican II, Giáo hội tại Monaco tiếp tục đổi mới nhưng vẫn duy trì các truyền thống lâu đời.
Theo Hiến pháp Monaco (Điều 9), Công giáo là tôn giáo chính thức của Công quốc Monaco. Đây cũng là tôn giáo của đa số dân cư. Tuy nhiên, quyền tự do tôn giáo được Hiến pháp đảm bảo.
Ngày nay, Monaco vừa giữ gìn bản sắc Công giáo vừa hội nhập với thế giới hiện đại. Các sự kiện lớn như lễ cưới của Hoàng tử Rainier và Công nương Grace Kelly hay các hoạt động liên tôn, đại kết cho thấy vai trò của Giáo hội trong đời sống xã hội. Đồng thời, Giáo hội cũng tích cực tham gia các vấn đề nhân đạo, như hỗ trợ người di cư qua tổ chức bác ái “Caritas Monaco”.
Lý do Đức Thánh Cha Lêô XIV đến thăm Công quốc Monaco
Chuyến viếng thăm Monaco của Đức Thánh Cha là một sự kiện lịch sử và chưa từng có tiền lệ; đây là lần đầu tiên một Giáo hoàng viếng thăm công quốc này trong thời hiện đại. Trong chuyến thăm kéo dài chín giờ, ngài sẽ gặp Quốc vương Alberto II, chào thăm cộng đồng Công giáo, giới trẻ và những người dự tòng, sau đó cử hành Thánh lễ tại Sân vận động Louis II.
Lý do thực sự khiến Đức Thánh Cha Lêô XIV đến thăm Công quốc Monaco là gì? Đây là câu hỏi được giới báo chí cũng như nhiều người đặt ra, câu hỏi khiến Đức Tổng Giám mục Dominique-Marie David nói rằng “như thể có những lý do bí mật đằng sau sự hiện diện của ngài vậy…”. Tuy nhiên, theo Tổng Giám mục của Monaco, đây là “một quốc gia nhỏ, độc đáo theo một nghĩa nào đó. Một đất nước nơi cuộc sống tốt đẹp và có cảm giác thoải mái, an lành, điều mà chắc chắn Đức Giáo hoàng đã nhận thấy. Tuy nhiên, đó chỉ là một hình ảnh bề ngoài… Bởi vì thực tế của Monaco đa dạng hơn nhiều và không thể bị giới hạn bởi những định kiến không phản ánh thực tế trải nghiệm của chúng tôi, ngay cả trong Giáo hội”.
Phải chăng vì Monaco là một đất nước có Công giáo là quốc giáo? Đức Tổng Giám mục David nhận định: “Tất cả điều này có vẻ lỗi thời trong bối cảnh hiện tại, đặc biệt là ở Tây Âu. Cũng bởi vì tôi phải thừa nhận rằng từ ‘chủ nghĩa thế tục’ không phù hợp ở đây”.
Quan tâm mục vụ và sứ điệp cho Công quốc Monaco và châu Âu
Do đó, chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha diễn ra trong bối cảnh chung là những lời mời của cả phía dân sự và Giáo hội, nhưng trên hết là sự quan tâm mục vụ của ngài cũng như sứ điệp ngài muốn mang đến cho Công quốc Monaco cũng như châu Âu.
Tổng Giám mục của Monaco nghĩ rằng chuyến thăm sẽ là cơ hội cho Đức Thánh Cha có một góc nhìn mới về Công quốc. Chủ đề của chuyến tông du “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống”, là lời mời gọi trở về với bản chất của đời sống Kitô giáo. Ngài giải thích: “‘Con đường’ là một hình ảnh vang vọng trong tâm trí nhiều người chúng ta. ‘Sự thật’ là điều chúng ta được yêu cầu làm chứng. Và ‘sự sống’ nói rằng một nền văn hóa chết chóc được nuôi dưỡng bởi chiến tranh và sự tàn bạo không thể ngự trị trong gia đình nhân loại”.
Bên cạnh đó, theo vị lãnh đạo tổng giáo phận Monaco, Monaco “là một quốc gia mang đậm văn hóa Kitô giáo và có một cách sống độc đáo. Chúng tôi nhận thức được rằng nhiều quốc gia láng giềng không có mối liên hệ tự nhiên và tươi vui như vậy với cội nguồn Kitô giáo của họ, điều vẫn còn rất sống động ở đây. Nhưng chúng tôi không có ý định giảng dạy cho người khác. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng Đức Giáo hoàng sẽ cảm nhận được điều này có ý nghĩa như thế nào đối với chúng tôi”.
Đức Tổng Giám mục David cũng liên kết chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha trong bối cảnh chiến tranh đang đánh động lương tâm chúng ta, bắt đầu từ những cuộc chiến ở Trung Đông và vùng Vịnh Ba Tư. Ngài nhấn mạnh: “Nhưng Monaco không phải là một vùng đất biệt lập: mọi điều xảy ra trên thế giới đều liên quan đến chúng tôi. Và tôi tin rằng từ đây, Đức Giáo hoàng sẽ mở mắt và trái tim chúng ta ra trước những bi kịch đang bao vây chúng ta. Hơn nữa, Quốc vương Alberto II hết sức tận tâm thúc đẩy công lý và hòa bình. Và Monaco đang kêu gọi sự liên đới với những người đang phải chịu đựng bạo lực và thù địch. Do đó, tôi hình dung rằng đây có thể là một trong những chủ đề trong chương trình nghị sự”.
Thách đố đảm bảo căn tính Kitô giáo không bị thu hẹp lại thành yếu tố văn hóa hay truyền thống
Liên quan đến vấn đề Công giáo là quốc giáo của Monaco, Viện phụ Christian Venard, đại diện giám mục của tổng giáo phận về truyền thông, đã chia sẻ về những lợi thế và bất lợi của đặc quyền này. Ngài nói: “Điều 9 của Hiến pháp quy định: ‘Tôn giáo Công giáo, Tông truyền và Roma là quốc giáo’. Sự công nhận này mang lại một đặc điểm đặc biệt cho giáo phận của chúng tôi. Do đó, nhà nước hỗ trợ hoạt động của Giáo hội, công nhận vai trò của Giáo hội trong các thể chế của đất nước và cung cấp hỗ trợ tài chính cho công việc của Giáo hội. Tuy nhiên, mặc cho vị thế đặc quyền được đảm bảo bởi một nhà nước Công giáo, một điểm nhức nhối, cũng như ở nhiều giáo phận khác ở châu Âu, vẫn là một hình thức thế tục hóa xã hội. Đến mức ở Monaco, số lượng trẻ em tham gia các lớp giáo lý, lễ Rước lễ lần đầu và lễ Thêm sức cũng giảm sút, cùng với sự suy yếu của các phong trào giới trẻ.
Cuối cùng, bản chất mang tính thể chế cao và gốc rễ sâu sắc của Giáo hội ở Monaco trong cộng đồng quốc gia đôi khi khiến hàng giáo sĩ và tín hữu thiếu nhiệt huyết đối với một sứ vụ truyền giáo mới. Theo nghĩa này, mọi người đều hy vọng rằng chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha sẽ mang lại sự đổi mới sâu sắc cho cá nhân và cộng đồng, trong đức tin và sứ vụ”.
Do đó, Giáo hội tại Monaco không tránh khỏi những thách thức hiện nay và thậm chí cả một mức độ thế tục hóa nhất định. Thách thức nằm ở việc đảm bảo rằng căn tính Kitô giáo không bị thu hẹp lại thành yếu tố văn hóa hay truyền thống, mà tiếp tục thể hiện mình trong đời sống xã hội và chính trị.
Vai trò của Giáo hội trong các vấn đề đạo đức
Quốc vương Monaco đã ngăn chặn việc hợp pháp hóa phá thai tại nước này và đưa ra những điều luật ủng hộ việc chăm sóc cuối đời. Bên cạnh đó, luật pháp nước này cũng thăng tiến gia đình và hôn nhân. Nhận định về mối quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội về các vấn đề đạo đức, Tổng Giám mục Monaco nói: “Nếu Công giáo là quốc giáo, thì Giáo hội có nghĩa vụ truyền cảm hứng, hướng dẫn và hỗ trợ người dân, luật pháp và các lựa chọn đạo đức của chúng ta. Khi hợp tác với chính phủ, chúng tôi nhận thức rõ rằng chỉ nêu ra các nguyên tắc là chưa đủ; chúng ta phải giải thích rằng Giáo hội không chống lại sự sống, mà ủng hộ sự sống và phẩm giá con người, và rằng giáo lý của Giáo hội coi trọng những điều tốt đẹp nhất trong nhân loại”.
Ngài cũng cho biết giữa Quốc vương Alberto II và Đức Thánh Cha Lêô XIV có những mối quan tâm chung như lòng bác ái, quan điểm toàn cầu và bảo vệ môi trường, đặc biệt là về việc bảo vệ đại dương.
Sự gia tăng các tân tòng người lớn
Chia sẻ về sự gia tăng các tân tòng người lớn, Đức Tổng Giám mục David cho biết: “Cả tôi và các anh em của tôi ở Pháp đều nhận ra rằng những gì đang xảy ra không phải là kết quả của những kế hoạch mục vụ được cân nhắc kỹ lưỡng hay tổ chức tốt. Các dự tòng, đặc biệt là người trẻ, đến với đức tin qua những con đường đôi khi xa lạ với chúng ta. Nhiều người không được thừa hưởng đức tin từ gia đình hay bối cảnh xã hội của họ. Nhưng họ khám phá ra đức tin nhờ mạng lưới bạn bè hoặc thậm chí là mạng xã hội, những kênh đóng vai trò quan trọng. Họ là những người trẻ và người lớn đang tìm kiếm ý nghĩa trong một thế giới hỗn loạn và những điểm tựa vững chắc trong một thời điểm lịch sử mà mọi thứ đều phù du. Và khi họ đến với Giáo hội, họ không tập trung vào những vụ bê bối hay khó khăn, mà vào cuộc gặp gỡ với Đấng siêu việt, vào sức mạnh của lời cầu nguyện, vào phụng vụ mở ra cho chúng ta mầu nhiệm. Thách đố đối với chúng ta là làm sao để chào đón và đồng hành với họ”.
Trong đời sống, người Công giáo có trung thành với Tin Mừng không?
Bên cạnh người Monaco, người Pháp và người Ý, mỗi nhóm chiếm 1/5 dân số, còn có khoảng 150 quốc tịch khác (đáng kể nhất là người Bồ Đào Nha và người Philippines, cả hai đều tham gia rất nhiều vào đời sống Giáo hội); chỉ có ba hoặc bốn quốc gia trên thế giới được cho là không có người dân đang ở Monaco.
Đây là một quốc gia có sự pha trộn về xã hội học cũng như có tính quốc tế. Do đó, trong khi có những người rất giàu, thì những người bình thường, đôi khi thậm chí rất nghèo, cũng cần thiết để hệ thống hoạt động. Sự pha trộn xã hội này mang lại cho Giáo hội một đặc điểm thực sự độc đáo. Đôi khi trong nhà thờ, một tỷ phú và một người giúp việc có thể ngồi cùng một hàng ghế. Nhà thờ là một trong số ít những nơi giao lưu xã hội trong công quốc và phải tính đến khía cạnh quan trọng này trong hoạt động tông đồ hàng ngày.
Theo Đức Tổng Giám mục David, Đức Thánh Cha chắc chắn sẽ khuyến khích Giáo hội áp dụng một cách tiếp cận nhất quán. Bản thân ngài, với tư cách là một giám mục, ngài đặt câu hỏi: liệu chúng ta, những người Công giáo, có trung thành với Tin Mừng trong cuộc sống, trong những lựa chọn và trong công việc của mình không?
Nguồn: vaticannews.va/vi
2024
Giới trẻ Canada ngày càng tham dự Thánh lễ nhiều hơn thế hệ trước
Giới trẻ Canada ngày càng tham dự Thánh lễ nhiều hơn thế hệ trước
Một nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng giới trẻ Công giáo Canada ngày nay tham dự các cử hành ít nhất một lần mỗi tháng, nhiều hơn thế hệ trước.
![]()
Mặc dù có những nghiên cứu đưa ra dữ liệu về việc suy giảm thực hành tôn giáo, nhưng một xu hướng khác cho thấy sự quan tâm ngày càng gia tăng của giới trẻ đang mang lại niềm hy vọng về khả năng hồi sinh của Giáo hội trong tương lai gần đây.
Một nghiên cứu vào năm 2022 của Cardus cho thấy số người nhận mình là Công giáo nhìn chung đã giảm từ năm 2017. Những người thuộc trong số này là những người tin vào Chúa, thường xuyên đọc Kinh thánh, có trải nghiệm về Chúa trong cuộc sống, cầu nguyện thường xuyên và tham dự các cử hành Công giáo.
Tuy nhiên, phúc trình thấy một ngoại lệ ở những người Công giáo Canada trẻ. Phó tế Andrew Bennett, giám đốc Chương trình Cộng đoàn Đức tin Cardus, cho biết: “Chúng tôi đang chứng kiến điều dường như là một sự hồi sinh trong Giáo hội và điều đó đi ngược lại luận điểm cũ của tinh thần thế tục rằng khi một xã hội trở nên tục hóa hơn thì xã hội sẽ trở nên ít tôn giáo hơn”.
Theo giám đốc, khi xã hội Canada càng phát triển theo tinh thần thế tục thì Công giáo càng trở thành một lựa chọn hấp dẫn đối với những người ở độ tuổi từ 18 đến 34 như một hình thức từ chối hơn là một lối thoát. Ngày càng có nhiều người trẻ, dù đang học trung học, đại học hay nơi làm việc, không tin vào ý tưởng rất chủ quan của xã hội về sự thật. Họ đang tìm kiếm sự chính trực, khả tín và điều gì đó có sức mạnh bền bỉ thực sự. Điều này chứng tỏ họ đến hoặc quay trở lại Giáo hội mà họ đã lớn lên, nơi họ thấy rằng đức tin Công giáo nắm giữ một sự thật khách quan và phổ quát, một sự thật không phải là một triết lý thay đổi theo chiều gió mà là con người của Chúa Giêsu Kitô.
Nghiên cứu của Cardus cho thấy những người Canada nhận mình là Công giáo dưới 40 tuổi tham dự các cử hành ít nhất mỗi tháng một lần cao gần gấp đôi so với những người Công giáo lớn tuổi. Ngoài ra, 81% thanh niên Công giáo thể hiện niềm tin vào sự sống sau khi chết, với 91% giới nữ dưới 35 tuổi có niềm tin này, so với 60% ở những người lớn tuổi hơn họ.
Gần đây, Cardus cũng đã thực hiện một cuộc khảo sát mới dành cho tất cả các Giáo hội Kitô, và kết quả cho thấy những người trẻ Kitô có chủ ý hoặc dấn thân với giáo lý và thực hành đức tin hơn ông bà cha mẹ họ. Thế hệ trẻ đang bắt đầu mong muốn một cuộc sống Công giáo truyền thống hơn.
Vatican News
