2026
TÂM SỰ NGƯỜI LINH MỤC.
TÂM SỰ NGƯỜI LINH MỤC.
Lời Ngỏ: Tác gỉa xin gởi tặng bài viết này cho anh em DCCT.VN hiện đang truyền giáo tại các vùng cao nguyên, đặc biệt là nơi có đông đảo anh chị em dân tộc thiểu số. Người viết cũng ước ao gởi đến các anh em linh mục Triều đang làm việc tại các họ đạo miền quê hay các vùng sâu xa, để nói lên sự cảm thông trong những khó khăn và sự cô quạnh mà anh em đã can đảm chấp nhận.
Michel Quoist, một cái tên khá quen thuộc và có lẽ không xa lạ gì lắm đối với chúng ta. Ngài đã trở nên danh tiếng nhờ vào một số các tác phẩm mà ngài đã viết và cho xuất bản, đặc biệt là cuốn, “Prayers of Life”. Tác phẩm này đã được dịch sang 24 ngôn ngữ và đã in trên hai triệu ấn bản, được phổ biến trên khắp thế giới. Trong cuốn sách này, linh mục Michel Quoist đã gói ghém phần lớn tất cả những kinh nghiệm quý báu của đời sống linh mục. Ngài viết với tất cả tấm lòng và chân tình chia sẽ những kinh nghiệm buồn vui, sướng khổ, hạnh phúc và gian truân của người linh mục, ngay cả những nỗi cô đơn và thất vọng. Đọc tác phẩm ấy, tôi cảm thấy được sự cảm thông và sự nâng đỡ về mặt tinh thần của một người đàn anh linh mục, đã từng trải, đã từng va chạm và đã từng nếm thử sự diụ ngọt cũng như đắng cay của một kiếp người. Tôi rất ngưỡng mộ cha Michel Quoist, dù chưa một lần được diện kiến, tôi chỉ biết về ngài qua các tác phẩm mà ngài đã xuất bản. Cũng như tôi, chưa từng lần nào có cái vinh dự lớn lao được diện kiến Đức Giêsu, như các môn đệ đồng thời với Ngài, nhưng tôi đã gặp và biết Ngài qua Lời Ngài đã phán. Lời đã hóa thành nhục thể và cư ngụ giữa chúng ta. Chính vì sự gặp gỡ Đức Giêsu, nên cuộc đời tôi đã biến đổi, đã chuyển hướng và rồi kết cuộc, tôi đã thành người môn độ của Ngài, trong sứ vụ linh mục.
Cha Michel Quoist đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng, đặc biệt những gì ngài viết trong Lời nguyện của vị linh mục vào buổi chiều chủ nhật.
“Người ta đòi hỏi rất nhiều ở người linh mục, và có lẽ đúng như thế. Nhưng họ cũng nên hiểu rằng làm linh mục không phải là chuyện dễ dàng. Người linh mục đã cho đi tất cả thời thanh xuân của mình, nhưng họ vẫn mang thân phận con người, và vì thế mỗi ngày “con người ấy” nơi vị linh mục, muốn tìm cách lấy lại những gì mà mình đã từ bỏ hoặc dâng hiến. Thật là một sự chiến đấu và giằng co liên tục để có thể hoàn toàn phục vụ Thiên Chúa và tha nhân.
Người linh mục không cần những lời ca tụng (chỉ bằng đầu môi chót lưỡi) hoặc những qùa tặng đắt tiền; điều mà họ cần là những ai được trao phó cho họ chăm sóc biết sống yêu thương kẻ khác, qua đó chứng tỏ cho họ thấy rằng, đời sống hiến dâng của họ đã không luống công vô ích. Vì vẫn là con người (với nam tính), linh mục thỉnh thoảng cần những cử chỉ tế nhị của một tình bạn mà không cần chiếm hữu… vào những buổi chiều chủ nhật khi một mình lẻ loi, đơn độc.”[1]
Khi đọc những dòng chữ này của cha Michel Quoist, tôi liên tưởng đến các anh em linh mục bạn của tôi, mà hiện nay họ đang phục vụ rải rác trên các cánh đồng truyền giáo tại nhiều nơi trên khắp cùng bờ cõi Việt Nam và tại Hải Ngoại. Họ là những sĩ tử Dòng Chúa Cứu Thế, mang trong người tinh thần và nhiệt huyết muốn đem Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô đến cho người nghèo, những con người tất bạt, đang bị xã hội và giáo hội lãng quên. Lẽ đó, họ đã không quản ngại đường xá xa xôi, họ lặn lội vào tận trong các buôn làng của người anh em miền cao nguyên, có khi giáp cả biên giới Việt-Miên-Lào. Họ sống trong một môi trường và một điều kiện thiếu thốn về mọi phương diện, đặc biệt là về mặt vật chất. Thế nhưng họ vẫn hăng say rao giảng Lời Chúa, Lời hằng sống, Lời có khả năng tái sinh con người, biến đổi người nghe, từ những con người ích kỷ, chỉ biết sống cho chính mình trở thành những con người quảng đại, biết cho đi và sống trọn vẹn cho tha nhân.
Cách đây ba năm (2004), khi tôi đang phục vụ tại Việt Nam. Có lần tôi được cha giám tỉnh cho tháp tùng, đi thăm viếng anh em DCCT tại các điạ điểm truyền giáo của nhà dòng trên vùng cao nguyên, tỷ dụ như: Bảo Lộc, Pleiku, Kontum .v.v… Khi đến nơi, tôi hơi bàng hoàng và ngạc nhiên vô cùng… không hiểu lý do nào đã thúc đẩy những người anh em linh mục trẻ của nhà dòng lại bằng lòng dấn thân và vui vẻ phục vụ tại đây. Khi tôi được họ mời lên ngôi nhà chòi mà họ đang tạm trú, tôi không cầm được nước mắt, nhìn thấy tận mắt, nơi họ ăn uống và ngủ nghỉ qúa đơn sơ, nghèo nàn, ngoài những gì mà tôi có thể tưởng tượng hoặc hình dung. Phòng ngủ của họ chỉ có một cái chiếu manh trải trên sàn nhà và một cái gối cũ. Bàn làm việc thì rất sơ sài, có anh em dùng cái vali (rương) của mình làm bàn viết. Họ ăn uống rất đạm bạc, đôi khi không có gạo để nấu cơm, họ ăn khoai hoặc bắp, do dân làng biếu. Bổng lễ của họ là những quày chuối hoặc những trái bầu, trái bí. Ấy thế mà nơi họ lại toát ra một niềm vui sâu thẳm, nét mặt của anh em lúc nào cũng tươi cười, hân hoan, họ dường như cảm nghiệm được một cái gì đó huyền nhiệm lắm, niềm vui của kẻ dám cho đi, ngay cả mạng sống của chính mình, để yêu thương và phục vụ những con người nghèo, những người đang bị ruồng bỏ, không ai muốn đoái hoài tới.
Và tôi cũng liên tưởng tới những người anh em linh mục Việt Nam, hiện nay đang phục vụ tại các xứ đạo miền quê tại các giáo phận xa xôi trên lãnh thổ Úc Châu này. Những anh em ấy đã chia sẻ với tôi, cái nỗi niềm cô đơn của họ, vì phải sống trong một môi trường cách biệt, qúa xa đối với người giáo dân hay bạn bè. Có anh em cho biết, đôi khi lái xe hơn cả 100 cây số để dâng thánh lễ chủ nhật, ấy vậy chỉ có khoảng 4-5 người tham dự, sau đó lại phải lái xe chạy sang một địa điểm khác cũng xa khoảng như vậy. Bù lại cho những em anh linh mục ở miền quê, thì họ cho biết, giáo dân tại đó rất thân thiện, họ rất qúy mến và yêu thương các linh mục của mình. Nhờ đó mà họ cảm thấy được sự đỡ nâng thực sự về mặt tinh thần.
Riêng bản thân tôi, vì là linh mục dòng, nên tôi sống trong cộng đoàn với anh em, mọi sinh hoạt trong đời sống thường ngày có giờ giấc quy định hẳn hoi, ngay cả giờ ăn, giờ kinh nguyện hoặc thánh lễ. Điều này là một trợ giúp rất lớn đối với tôi trong đời sống tu trì. Tôi cảm thấy sự đỡ nâng của anh em trong cộng đoàn, những lúc vui hoặc buồn, tôi luôn luôn có người để tâm sự hoặc chia sẻ, nếu muốn. Lúc nào tôi cũng có anh em ở bên cạnh. Tuy nhiên, hai năm vừa rồi, tôi có được cơ hội phục vụ tại một xứ đạo tương đối khá sống động và giáo dân tại đây vẫn siêng năng tham dự thánh lễ mỗi chủ nhật, cũng như ngày thường. Tại đây tôi học hỏi được nhiều kinh nghiệm, trước tiên là từ cha xứ, một linh mục triều, rất năng nổ, và có nhiều khả năng. Ngài lúc nào cũng vui vẻ, ân cần tiếp đón giáo dân, và luôn sẵn sàng giúp đỡ họ, nếu có yêu cầu. Có lẽ trời ban cho ngài một đức tính luôn sẵn sàng và ít khi biết từ chối.
Tôi làm việc và sống với ngài được hai năm, anh em chúng tôi sống với nhau rất thân tình, sẵn sàng chia sẻ mọi công việc, ngay cả những gánh nặng nếu có… Chúng tôi luôn tôn trọng lẫn nhau và dành cho nhau những khoảng thời gian cần thiết. Tôi thích những buổi tối thứ bảy hoặc chủ nhật, khi cả hai anh em chúng tôi đều có mặt ở nhà, sau khi dâng thánh lễ và đóng cửa nhà thờ. Chúng tôi, tổ chức nấu ăn và rồi cùng dùng bữa cơm tối chung với nhau, những lần như vậy, anh em chúng tôi thường hay khui một chai rượu vang để uống và thưởng thức, vì “rượu ngon phải có bạn hiền.” Trong những lúc như vậy, anh em chúng tôi thỉnh thoảng đàm đạo với nhau công việc của xứ hoặc bàn thảo các chương trình và kế hoạch cho tương lai, đôi khi hai anh em chỉ nói chuyện để tâm sự và chia sẻ với nhau về những gì mình cảm nghiệm trong cuộc sống hay trong công việc mục vụ của mình.
Tôi nhớ có lần ngài đi nghỉ holiday một tháng và tôi phải trông nom giáo xứ một mình. Mỗi tối khi đêm về, nhất là những ngày cuối tuần, sau khi dâng thánh lễ chiều ngày thứ bảy, tôi phụ với một vài giáo dân đóng cửa nhà thờ, rồi một mình trở lại ngôi nhà xứ vắng lặng, vì chỉ một mình tôi lúc đó, lủi thủi xuống nhà bếp kiếm gì ăn cho xong bữa, rồi đi ngủ để sáng mai còn dậy sớm, hầu dâng thêm 3 thánh lễ vào sáng ngày chủ nhật. Có một lần, tôi bị cảm cúm vào giữa tuần, ho nhiều và mất ngủ, tôi bị lên cơn sốt, bà thư ký cố gắng gọi điện thoại để mời cha khách phụ tôi dâng lễ cuối tuần, nhưng vì qúa cận ngày, nên các ngài đều bận cả, không cha nào có thể giúp dâng lễ vào ngày thứ bảy hoặc chủ nhật, thế là tôi đành phải lãnh đủ. Dù trong người còn yếu và nói không muốn ra tiếng, tôi cũng phải cố gắng ra khỏi giường, sang bên nhà thờ để cử hành thánh lễ cho giáo dân, tôi cố gắng giảng nhưng khi giảng xong thì tôi lại bị “mất tiếng”! Những lúc như vậy, tôi nhớ đến những anh em linh mục của tôi, nhất là những anh em linh mục triều, đang làm việc tại các giáo xứ, có thể các vị ấy cũng đang ở trong hoàn cảnh tương tự như tôi, tôi thấy thương cho các ngài, vì bây giờ, tôi đã trải qua cái kinh nghiệm ấy, một mình phải tự lo cho chính mình trong lúc ốm đau, đàng khác còn phải lo phục vụ giáo dân, cử hành thánh lễ cho họ.
Trải qua hai năm làm việc tại giáo xứ, tôi cảm thông và hiểu được phần nào về đời sống linh mục của các anh em bên triều. Tôi thấy trách nhiệm của họ nặng nề và đôi khi khá căng thẳng, họ làm việc nhiều để có thể đáp ứng các nhu cầu của người giáo dân, từ việc rửa tội, cho đến hôn phối, từ đám tang cho đến đám cưới. Họ đảm nhận vai trò lãnh đạo, cương vị chủ chăn, người tư vấn, người trung gian, môi giới, làm hòa, người làm bia lãnh đạn khi có chiến tranh bùng nổ giữa các nhóm với nhau. Tóm lại, họ qủa thực là “làm dâu” trăm họ! Một vai trò khó có thể chu toàn cách hoàn hảo, nhất là đôi khi gặp phải các bà “mẹ chồng” khó nết, ưa nói hành nói tỏi, ưa chỉ trích và chê bai, chứ ít khi biết nâng đỡ, khích lệ hoặc khen ngợi thực tình.
Bởi vậy, tôi cảm thấy rất chí lý điều mà cha Michel Quoist đã viết mà tôi mạn phép được trích dẫn thêm một lần nữa, dưới đây, để kết thúc bài viết.
“Người ta đòi hỏi rất nhiều ở người linh mục, và có lẽ đúng như thế. Nhưng họ cũng nên hiểu rằng làm linh mục không phải là chuyện dễ dàng. Người linh mục đã cho đi tất cả thời thanh xuân của mình, nhưng họ vẫn mang thân phận con người, và vì thế mỗi ngày “con người ấy” nơi vị linh mục, muốn tìm cách lấy lại những gì mà mình đã từ bỏ hoặc dâng hiến. Thật là một sự chiến đấu và giằng co liên tục để có thể hoàn toàn phục vụ Thiên Chúa và tha nhân.”
Copyright©2008 Trần Mạnh Hùng – Tác gỉa giữ bản quyền.
Linh mục Trần Mạnh Hùng, C.Ss.R![]()
L.J. Bioethics Centre
39 Jugan Street,
Glendalough, WA 6016
Email: [email protected]
LỜI NGUYỆN CỦA MỘT LINH MỤC CHIỀU CHÚA NHẬT
Lạy Chúa, chiều nay, con chỉ có một mình.Những tiếng động trong nhà thờ lần lần tắt im, những người đi dự Chầu đã về hết.
Và con, con trở về nhà Xứ,
Một mình.
Con gặp những người đi dạo chơi về.
Con đi qua những rạp hát chật ních người ra vào.
Con thả bước dài theo các quán cà phê đầy những người có vẻ buồn chán đang gượng gạo kéo dài cuộc vui của ngày Chủ Nhật.
Con gặp thấy nhiều trẻ con đang chơi trên các vỉa hè? Những trẻ con, lạy Chúa, chúng là con trẻ của người ta, chớ không bao giờ là của con.
Này con đây, lạy Chúa, con chỉ có một mình,
Sự yên lặng làm con khó thở,
Sự cô quạnh đè nặng trên con.
Lạy Chúa, nay con được 34 tuổi,
Con có một thân thể như những người khác
Với những bàn tay gân guốc để làm việc,
Với một quả tim được dành để yêu thương,
Nhưng con đã phó thác cho Chúa hết.
Thật ra Chúa đang cần những thứ đó.
Con đã phó dâng tất cả cho Chúa rồi, nhưng lạy Chúa, dâng vậy thật đau khổ.
Thật đau khổ khi con phải dâng thân xác cho Chúa, bởi vì thân xác đó nó muốn tự hiến cho một người khác.
Thật đau khổ khi phải yêu tất cả mọi người mà không được giữ riêng lại một người nào.
Thật đau khổ khi con bắt lấy một bàn tay mà con không được giữ luôn.
Thật đau khổ khi con gây được một mối tình mà rồi con phải trao mối tình đó cho Chúa.
Thật là đau khổ khi con không được sống cho mình chút nào mà phải hòan toàn sống cho kẻ khác.
Thật là đau khổ khi con phải đi với kẻ khác, mà không hề có một ai sẽ tới với con.
Thật là đau khổ để biết tội lỗi kẻ khác trong khi con không được từ chối việc tiếp đón và nâng đỡ họ.
Thật đau khổ khi con nhận biết những thầm kím của người ta mà không được tiết lộ cho ai.
Thật đau khổ khi thấy cả đời con phải lôi kéo kẻ khác mà không khi nào được ai thúc đẩy con, dầu trong chốc lát.
Thật đau khổ khi con phải luôn ra tay nâng đỡ những người yếu đuối mà con thì không bao giờ được nương dựa vào một người nào.
Này con đây, lạy Chúa!
Này thân xác con
Này trái tim con
Này linh hồn con.
Xin cho con được cao thượng đủ để nâng đỡ thế gian.
Xin cho con trong sạch đủ để ôm ấp thế gian mà không hề muốn giữ nó lại cho con.?????
Xin cho con được nên như một môi trường gặp gỡ, nhưng là một môi trường tạm thời; để con nên như con đường hướng đến với Chúa, chứ không phải là con đường cụt.
Lạy Chúa, chiều nay trong khi mọi sự đều yên lặng và trong khi trái tim con cảm thấy đau đớn vì khô quạnh.
Trong khi mọi người đang dày vò hồn con và con cảm thấy con bất lực để làm cho họ được thỏa mãn.
Trong khi bao nhiêu khốn nạn và tội lỗi của thế gian là cả một sức nặng đang đè trên vai con.
Thì con xin nói lại với Chúa là con sẵn sàng hy sinh luôn; không phải nói với một giọng cười diễu nhưng nói một cách chậm rãi, suy nghĩ và khiêm nhường.
Lạy Chúa, này con đang một mình trước mặt Chúa, trong sự yên lặng của buổi chiều nay.
Michel Quoist – Prières.
[1] . Michel Quoist, “The Priest: A Prayer on Sunday Night,” in Prayers of Life (Dublin: Gill and Macmillan Ltd., 1963), pp. 49-51. Trần Mạnh Hùng phỏng dịch.
2026
Di chúc thiêng liêng của Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp
Di chúc thiêng liêng của Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp

DI CHÚC THIÊNG LIÊNG
(Tâm thư giả tưởng của Tân Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp)
Anh chị em rất thân yêu trong Đức Kitô,
Nếu hôm nay, sau hồng ân được Giáo hội tôn phong Chân phước, Thiên Chúa cho phép tôi được gửi lại đôi lời như một di chúc thiêng liêng, thì tôi không để lại của cải, cũng chẳng để lại một công trình mang tên mình. Điều duy nhất tôi muốn để lại là một niềm xác tín đã nâng đỡ cả cuộc đời tôi: Thiên Chúa là Tình Yêu, và chỉ tình yêu mới có sức cứu độ con người.
Ngày hôm nay, Giáo hội gọi tôi là “Chân phước”. Nhưng xin anh chị em đừng dừng lại ở việc ca ngợi hay tôn kính một con người. Mọi vinh quang đều thuộc về Thiên Chúa. Nếu cuộc đời tôi có chút ý nghĩa, thì đó chỉ là vì Ngài đã dùng một người linh mục nhỏ bé để nói với thế giới rằng: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình” (x. Ga 15,13).
Nhìn lại hành trình đã qua, tôi chỉ thấy ba điều gói gọn: tôi đã ở lại với đoàn chiên; tôi đã hiến mình vì đoàn chiên; và hôm nay, tôi vẫn tiếp tục cầu bầu cho đoàn chiên. Đó cũng là điều tôi tha thiết nhắn nhủ đến Giáo hội Việt Nam và tất cả anh chị em.
1. Gửi anh em Linh mục – Những mục tử nhân lành
Anh em là những mục tử được Chúa trao phó đoàn chiên của Người. Xin đừng bao giờ quên rằng dân Chúa cần nơi anh em một người cha hơn là một nhà quản trị, một người biết lắng nghe hơn là chỉ biết nói, một người dám hy sinh hơn là tìm sự an toàn.
Thời của tôi là những ngày khói lửa chiến tranh. Thời của anh em có thể không còn tiếng súng, nhưng vẫn phải đối diện với những cuộc chiến âm thầm của chủ nghĩa cá nhân, sự hưởng thụ, danh vọng, quyền lực và sự dửng dưng. Xin đừng để bất cứ điều gì lấy mất trái tim mục tử của anh em.
Hãy ở giữa dân. Hãy gần người nghèo. Hãy tìm đến người đau khổ trước khi họ phải tìm đến anh em. Hãy yêu đoàn chiên đến cùng, vì một linh mục sống trọn vẹn cho đoàn chiên sẽ luôn tìm thấy niềm vui đích thực nơi Đức Kitô.
2. Gửi quý Tu sĩ – Chứng nhân của Nước Trời
Đời thánh hiến không được đo bằng số lượng công việc, nhưng bằng chiều sâu của tình yêu dành cho Chúa và cho con người.
Xin đừng để chiếc áo dòng trở thành một thói quen, nhưng hãy để mỗi ngày dâng hiến là một lời “Xin vâng” tươi mới. Thế giới hôm nay đang khát khao nhìn thấy nơi anh chị em khuôn mặt hiền lành, khiêm nhường và đầy lòng thương xót của Đức Giêsu.
3. Gửi Hội đồng Mục vụ Giáo xứ – Những cộng sự viên nhiệt thành
Anh chị em là những cộng sự viên quý báu của các mục tử trong sứ mạng xây dựng cộng đoàn. Xin đừng xem việc phục vụ là một vị trí để được nhìn nhận, nhưng là một ơn gọi để âm thầm cống hiến. Hãy biết lắng nghe, đối thoại và cùng nhau phân định trong Chúa Thánh Thần.
Một giáo xứ sẽ không lớn mạnh nhờ những công trình nguy nga, nhưng nhờ những con người biết quên mình để đặt lợi ích của Hội Thánh lên trên ích kỷ cá nhân.
4. Gửi các Hội đoàn và các Ban ngành Phục vụ
Mỗi hội đoàn mang một đặc sủng riêng, nhưng tất cả chỉ có một sứ mạng duy nhất: làm sáng danh Thiên Chúa và phục vụ con người.
Xin đừng để sự khác biệt trở thành khoảng cách. Đừng cạnh tranh, đừng hơn thua, đừng khép kín trong nhóm của mình. Hãy cộng tác với nhau như những chi thể trong cùng một thân thể là Đức Kitô. Khi biết hiệp nhất, giáo xứ sẽ trở thành dấu chỉ sống động của Tin Mừng.
5. Gửi các Gia đình – Hội Thánh tại gia
Gia đình là ngôi trường đầu tiên dạy con người biết yêu thương và cầu nguyện. Xin đừng để những lo toan của cuộc sống làm nguội lạnh giờ kinh gia đình. Hãy dành thời gian cho nhau, biết lắng nghe, tha thứ và cùng nhau bước đi.
Các bậc cha mẹ hãy truyền lại cho con cái không chỉ của cải vật chất, mà quan trọng hơn cả là kho tàng đức tin, lòng trung thực, tinh thần phục vụ và tình yêu đối với Giáo hội.
6. Gửi người trẻ và các em Thiếu nhi – Tương lai của Giáo hội
– Các bạn trẻ: Các con là hiện tại và tương lai của Giáo hội. Đừng để cuộc đời mình bị cuốn theo những giá trị chóng qua. Đừng đánh đổi lý tưởng bằng sự dễ dãi, đừng đánh mất phẩm giá vì những ảo vọng. Hãy sống có ước mơ, trách nhiệm; dám chọn sự thật, dám sống bác ái và trở thành những chứng nhân kiên cường của Đức Kitô giữa thế giới hôm nay.
– Các em thiếu nhi: Các con là những bông hoa đẹp nhất trong vườn hoa của Chúa. Hãy yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể, siêng năng tham dự Thánh lễ, chăm ngoan, hiếu thảo với ông bà cha mẹ và biết yêu thương bạn bè. Mỗi việc tốt nhỏ bé các con làm hôm nay là hạt giống làm cho Giáo hội ngày mai thêm tươi đẹp.
7. Gửi những tâm hồn đang đau khổ
Nếu hôm nay anh chị em đang phải mang gánh nặng bệnh tật, nghèo khó, mất mát hay cô đơn, xin đừng nghĩ mình bị Thiên Chúa bỏ quên. Chính khi con người yếu đuối nhất là lúc Thiên Chúa ở gần bên nhất.
Hãy kết hợp những đau khổ của mình với Thánh giá Đức Kitô. Không có giọt nước mắt nào dâng cho Chúa mà trở nên vô ích, vì sau Thứ Sáu Tuần Thánh luôn là bình minh của Ngày Phục Sinh.
8. Gửi tất cả những người thiện chí
Khi còn sống, tôi đã được diễm phúc ở giữa những người cùng đạo cũng như khác đạo. Tôi nhận ra rằng lòng nhân ái không có biên giới và tình thương không mang nhãn hiệu của riêng ai.
Xin mọi người biết tôn trọng, yêu thương, tha thứ cho nhau để cùng xây dựng một xã hội công bằng, nhân ái và hòa bình. Mỗi khi con người biết mở rộng trái tim với tha nhân, Thiên Chúa đang âm thầm hiện diện.
ƯỚC NGUYỆN CUỐI CÙNG
Ước nguyện lớn nhất của tôi là việc tôn kính một Chân phước không chỉ dừng lại ở những cuộc hành hương, những ngọn nến hay những lời cầu xin ơn lộc. Điều tôi mong mỏi hơn cả là mỗi người hãy trở thành một “Tin Mừng sống”:
– Xin cho các linh mục là những mục tử thánh thiện.
– Xin cho các tu sĩ luôn trung thành với ơn gọi dâng hiến.
– Xin cho Hội đồng Mục vụ và các hội đoàn luôn hiệp nhất trong tinh thần hiệp hành.
– Xin cho các gia đình trở thành những Hội Thánh tại gia vững mạnh.
– Xin cho người trẻ trở thành những nhà truyền giáo của thời đại mới.
– Xin cho Giáo hội Việt Nam ngày càng hiệp nhất, thánh thiện và hăng say loan báo Tin Mừng.
– Xin cho quê hương Việt Nam luôn tràn đầy tình người, để mọi người biết sống như anh chị em trong một gia đình của Thiên Chúa.
Nếu một ngày nào đó người ta không còn nhớ đến tên Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, tôi cũng không buồn. Điều làm tôi hạnh phúc nhất là được nhìn thấy nhiều người biết yêu mến Đức Giêsu hơn, nhiều gia đình sống thánh thiện hơn, người nghèo được quan tâm hơn, và nhiều tâm hồn nhận ra rằng: tình yêu luôn mạnh hơn hận thù, sự tha thứ luôn lớn hơn báo oán, và lòng thương xót luôn chiến thắng mọi bạo lực.
Từ thiên quốc, tôi vẫn tiếp tục cầu bầu cho anh chị em. Xin anh chị em cũng cầu nguyện và nâng đỡ nhau trên con đường nên thánh. Hẹn gặp lại tất cả anh chị em trong Nước Trời, nơi không còn nước mắt, chia ly, nhưng chỉ còn niềm vui viên mãn trong tình yêu Thiên Chúa.
Xin Chúa chúc lành cho anh chị em.
Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp
2026
Hoa trái thiêng liêng hậu tuần Cửu nhật
Hoa trái thiêng liêng hậu tuần Cửu nhật
Lm. Giuse Lê Ngọc Ngà
Có những lời cầu nguyện khép lại trong thinh lặng, nhưng cũng có những lời cầu nguyện nở thành hoa trái. Tuần Cửu Nhật chuẩn bị cho Đại lễ tuyên phong Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp là một hành trình như thế. Nhìn lại biến cố hồng ân ngày 02/7/2026, chúng ta không chỉ nhớ về một Đại lễ trọng thể, mà còn nhận ra biết bao hoa trái thiêng liêng Thiên Chúa đã gieo vào lòng Hội Thánh và từng người tín hữu.
HOA TRÁI THIÊNG LIÊNG HẬU TUẦN CỬU NHẬT
Nhìn từ Đại lễ tuyên phong Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp
ngày 02 tháng 7 năm 2026
“Ai gieo trong lệ sầu sẽ gặt giữa tiếng reo vui” (Tv 126,5).
Khi lời cầu nguyện trở thành hiện thực
Có những biến cố đi qua rồi dần chìm vào ký ức. Nhưng cũng có những biến cố càng lùi xa theo thời gian lại càng bừng sáng ý nghĩa. Đại lễ tuyên phong Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp ngày 02 tháng 7 năm 2026 là một biến cố như thế. Đó không chỉ là một ngày lịch sử của Giáo hội Việt Nam, nhưng còn là một ngày hồng ân, đánh dấu sự trưởng thành trong đời sống đức tin của cộng đoàn Dân Chúa.
Để có được ngày đại lễ ấy, Giáo phận Cần Thơ đã chuẩn bị không chỉ bằng công tác tổ chức chu đáo, nhưng trước hết bằng lời cầu nguyện. Chín ngày của Tuần Cửu Nhật không phải là khoảng thời gian đếm ngược đến một nghi thức phụng vụ, nhưng là một hành trình thiêng liêng dẫn cộng đoàn đi từ việc ý thức căn tính làm con Thiên Chúa đến việc sống đức tin, đức cậy, đức mến; từ việc chiêm ngắm mẫu gương của Cha Trương Bửu Diệp đến lời mời gọi trở thành những chứng nhân của Tin Mừng giữa lòng thế giới. Mỗi ngày đều khép lại bằng lời khẩn xin cho việc chuẩn bị Đại lễ được diễn ra trong bình an, sốt sắng và sinh nhiều hoa trái thiêng liêng.
Nhìn lại hôm nay, điều khiến chúng ta xúc động không phải là những con số thống kê hay quy mô của một sự kiện, nhưng là việc nhận ra rằng Thiên Chúa đã quảng đại nhận lời cầu nguyện của Hội Thánh. Những gì được cộng đoàn kiên trì dâng lên trong chín ngày đã được đáp lại bằng một Đại lễ diễn ra trong bầu khí hiệp nhất, trang nghiêm, sốt sắng; và hơn thế nữa, bằng những đổi thay âm thầm nhưng sâu xa trong đời sống của biết bao người tín hữu.
Đại lễ đã kết thúc, nhưng hoa trái của Tuần Cửu Nhật vẫn tiếp tục nảy nở. Chính từ những hoa trái ấy, chúng ta đọc lại ý nghĩa của chín ngày cầu nguyện như đọc lại một bản trường ca về ân sủng Thiên Chúa đang hoạt động nơi Hội Thánh.
- 1.Hoa trái của ơn gọi làm con Chúa: Khi Hội Thánh là “Dân Thiên Chúa”
Điều đáng chú ý là ngày đầu tiên của Tuần Cửu Nhật không bắt đầu bằng việc nói về Cha Trương Bửu Diệp, nhưng bằng việc mời gọi mọi người trở về với căn tính nền tảng nhất của mình: được làm con Thiên Chúa. Đây là lựa chọn mục vụ căn bản. Trước khi học nơi các thánh, người Kitô hữu phải biết mình là ai trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Có lẽ vì thế mà hoa trái đầu tiên sau Đại lễ chính là sự hiệp thông. Trong ngày 02 tháng 7, Tắc Sậy trở thành nơi gặp gỡ của một đại gia đình đức tin. Những đoàn hành hương nối tiếp nhau từ nhiều giáo phận, từ miền Bắc, miền Trung, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long và cả cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Trên quảng trường phụng vụ, người ta không còn nhìn thấy khoảng cách của địa lý hay khác biệt của hoàn cảnh sống; chỉ còn lại hình ảnh những người con cùng quy tụ quanh bàn tiệc Thánh Thể.
Đó là vẻ đẹp của Hội Thánh mà Công đồng Vatican II gọi là “Dân Thiên Chúa”. Hội Thánh không được xây dựng bằng những cơ cấu tổ chức, nhưng bằng sự hiệp thông phát sinh từ Bí tích Thánh Thể. Đại lễ đã giúp nhiều người cảm nhận sâu sắc hơn rằng họ không thuộc về một giáo xứ hay một giáo phận riêng lẻ, nhưng thuộc về một Hội Thánh duy nhất của Đức Kitô.
Chính sự hiệp nhất ấy là câu trả lời đầu tiên của Thiên Chúa đối với lời cầu nguyện của cộng đoàn trong Tuần Cửu Nhật.
- 2.Hoa trái của đức tin: những bước chân hành hương nói thay lời tuyên xưng
Đức tin là chủ đề của ngày thứ hai. Nhưng bản văn không dừng lại ở việc trình bày giáo lý về đức tin mà hướng cộng đoàn nhìn vào cuộc đời Cha Trương Bửu Diệp, người đã lấy chính mạng sống mình để minh chứng cho điều mình tin.
Đại lễ đã cho thấy đức tin ấy vẫn tiếp tục sống trong lòng Dân Chúa. Hàng vạn người hành hương không quản đường xa, tuổi tác hay những bất tiện của thời tiết để hiện diện tại Tắc Sậy. Có những người lên đường từ nhiều ngày trước; có những gia đình mang theo cả trẻ nhỏ và người già; có những đoàn giáo dân cùng lần chuỗi Mân Côi suốt quãng đường hành hương.
Nếu chỉ nhìn bằng con mắt xã hội học, đó là một cuộc tập trung đông người. Nhưng dưới ánh sáng đức tin, đó là một cuộc tuyên xưng âm thầm nhưng mạnh mẽ. Mỗi bước chân hành hương là một lời xác tín rằng Thiên Chúa vẫn đang hoạt động trong lịch sử; rằng sự thánh thiện không phải là chuyện của quá khứ nhưng vẫn hiện diện giữa thời đại hôm nay.
Điều gây ấn tượng nơi Đại lễ không chỉ là số lượng người tham dự, nhưng còn là bầu khí cầu nguyện bao trùm toàn bộ không gian phụng vụ. Những Thánh lễ trong ngày 1/7, giờ Diễn nguyện, cầu nguyện Taizé, chầu Thánh Thể, chuỗi Mân Côi, chuỗi Lòng Chúa Thương Xót, những phút thinh lặng trước Thánh lễ suốt đểm đã biến linh địa Tắc Sậy rộng lớn thành một “nhà nguyện ngoài trời”. Trong sự thinh lặng ấy, người ta nhận ra rằng đức tin không cần những biểu hiện ồn ào; đức tin lớn lên trong sự tín thác và gặp gỡ Thiên Chúa.
- 3.Hoa trái của đức cậy: Khi hy vọng được thắp sáng
Đức cậy là nhân đức của những con người biết đặt tương lai của mình trong bàn tay Thiên Chúa. Chủ đề ngày thứ ba vì thế mở ra một chân trời hy vọng cho toàn thể cộng đoàn.
Đại lễ ngày 02 tháng 7 đã trở thành điểm quy tụ của biết bao hy vọng ấy. Một đại lễ diễn ra trong mùa mưa bão, nhưng sáng hôm ấy: trời quang, mây tạnh, chẳng phải đó là kết quả của sự hiệp nhất trong đức tin và niềm hy vọng vào sự quan phòng của Chúa? Có người đến để tạ ơn, có người mang theo những thao thức của gia đình, có người xin ơn chữa lành, có người cầu nguyện cho con cái, cho ơn gọi, cho tương lai của Giáo hội và quê hương. Mỗi người mang một câu chuyện khác nhau, nhưng tất cả đều cùng hướng về Thiên Chúa với niềm xác tín rằng Người không bao giờ bỏ rơi những ai biết cậy trông.
Điều đáng quý là nhiều người ra về với một tâm hồn bình an hơn là với những câu trả lời trọn vẹn cho mọi vấn đề. Bởi lẽ, đức cậy không loại bỏ thử thách, nhưng giúp con người có sức mạnh để bước qua thử thách với niềm tin rằng Thiên Chúa luôn đồng hành.
Đại lễ tuyên phong Chân phước cũng mở ra một niềm hy vọng mới cho Giáo hội Việt Nam. Cuộc đời Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp nhắc chúng ta rằng sự thánh thiện vẫn được dệt nên từ chính đời sống mục vụ bình thường, từ lòng trung thành với đoàn chiên và từ tình yêu dành cho Thiên Chúa. Đó là lời mời gọi mỗi Kitô hữu tiếp tục nuôi dưỡng niềm hy vọng về một Hội Thánh ngày càng thánh thiện, hiệp nhất và hăng say loan báo Tin Mừng với niềm tín thác vào sự hiện diện của Chúa.
- 4.Hoa trái cúa đức mến: Khi tình yêu trở thành “ngôn ngữ chung” của đại lễ
Nếu đức tin đưa con người đến với Thiên Chúa và đức cậy giúp con người vững bước trên đường lữ hành, thì đức mến chính là dấu chỉ cụ thể nhất để người ta nhận ra dung mạo của Hội Thánh. Không phải ngẫu nhiên mà ngày thứ tư của Tuần Cửu Nhật mời gọi cộng đoàn chiêm ngắm và thực hành đức mến như đỉnh cao của đời sống Kitô hữu.
Đại lễ ngày 02 tháng 7 năm 2026 đã làm cho nhân đức ấy trở nên hữu hình. Những ngày trước và trong đại lễ, người ta dễ dàng bắt gặp những hình ảnh rất bình dị nhưng đầy sức lay động: các linh mục miệt mài giải tội nhiều giờ liền; các nữ tu âm thầm phục vụ trang trí quãng trường; các chủng sinh, giới trẻ và hàng ngàn thiện nguyện viên tất bật điều phối giao thông, trật tự, chăm sóc y tế, giữ gìn vệ sinh, phát nước uống, chuẩn bị từng bữa ăn cho khách hành hương… Không ai hỏi người được phục vụ đến từ giáo phận nào, cũng chẳng ai tính toán xem mình đã hy sinh bao nhiêu thời gian và công sức. Mọi người chỉ có một mong ước chung: để ai đến với Tắc Sậy cũng cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa qua sự đón tiếp của anh chị em mình.
Điều đáng quý hơn nữa là tinh thần hiếu khách của người dân miền Tây đã góp phần làm nên vẻ đẹp của Đại lễ. Những nhà thờ dọc theo quốc lộ hướng về Tắc Sậy đã trở thành điểm dừng chân cho người hành hương nghỉ chân, những bình nước mát đặt bên vệ đường, những lời hỏi han chân tình và nụ cười hiền hậu đã để lại trong lòng nhiều người một cảm nhận khó quên. Không ít khách hành hương đã chia sẻ rằng họ không chỉ được tham dự một Thánh lễ trọng thể, nhưng còn được sống trong bầu khí của một gia đình, nơi mọi người biết quan tâm, chia sẻ và nâng đỡ nhau.
Có thể nói, nếu phụng vụ là “đỉnh cao và nguồn mạch” của đời sống Hội Thánh, thì chính đức mến là nhịp cầu nối dài phụng vụ vào cuộc sống. Sau Thánh lễ, mỗi nghĩa cử yêu thương, mỗi hành động phục vụ âm thầm đều trở thành một “phụng vụ của đời thường”, tiếp nối điều đã được cử hành nơi bàn thờ.
Đó chính là hoa trái đẹp nhất của ngày thứ tư trong Tuần Cửu Nhật: tình yêu không dừng lại trong lời cầu nguyện, nhưng trở thành lối sống của cộng đoàn.
- 5.Hoa trái của tinh thần mục tử: Chứng ta của một Hội Thánh phục vụ
Ngày thứ năm hướng cộng đoàn chiêm ngắm Cha Trương Bửu Diệp như hình ảnh của vị Mục tử nhân lành, người đã yêu thương đoàn chiên đến cùng và sẵn sàng hiến mạng sống vì đoàn chiên.
Thật ý nghĩa khi chính Đại lễ lại trở thành dịp để hình ảnh ấy được phản chiếu nơi đời sống của Giáo hội hôm nay.
Trong những ngày diễn ra Đại lễ, các giám mục hiện diện không chỉ với tư cách chủ sự và đồng tế trong thánh lễ, nhưng còn như những người cha cùng chia sẻ niềm vui với đoàn dân. Các linh mục không chỉ hiện diện trên sân lễ, mà còn lặng lẽ ngồi tòa giải tội, đồng hành với người hành hương, thăm hỏi các đoàn khách… Nhiều người tham dự đã xúc động khi thấy các mục tử gần gũi, đơn sơ và sẵn sàng hiện diện giữa đoàn chiên.
Hình ảnh ấy nhắc nhớ rằng điều Giáo hội tôn vinh nơi Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp không chỉ là một biến cố lịch sử, nhưng trước hết là một mẫu gương mục tử. Sự thánh thiện của ngài không tách rời đời sống mục vụ hằng ngày. Ngài trở thành Chân phước vì đã sống trọn vẹn căn tính của một linh mục giữa lòng đoàn chiên.
Đại lễ vì thế cũng là lời nhắc nhở các mục tử hôm nay tiếp tục noi gương vị Chân phước: gần dân hơn, lắng nghe nhiều hơn, đồng hành nhiều hơn và yêu thương nhiều hơn. Đồng thời, giáo dân cũng được mời gọi cộng tác với các mục tử để xây dựng những cộng đoàn hiệp nhất và truyền giáo.
- 6.Hoa trái của sự hy sinh: Từ chứng từ đến chứng nhân
Cuộc đời Cha Trương Bửu Diệp đạt đến đỉnh cao trong sự hiến dâng mạng sống vì đoàn chiên. Tuy nhiên, ngày thứ sáu của Tuần Cửu Nhật không chỉ mời gọi chiêm ngắm biến cố ấy như một trang sử hào hùng, nhưng còn giúp người tín hữu hiểu rằng hy sinh là con đường phải được tiếp tục trong đời sống mỗi ngày.
Đại lễ đã làm nổi bật điều đó qua biết bao hy sinh âm thầm. Đằng sau một Thánh lễ diễn ra trang nghiêm là nhiều tháng chuẩn bị của các ban chuyên môn; là những đêm thức trắng của các đội hậu cần, trật tự, vệ sinh; là sự cộng tác bền bỉ của các linh mục, tu sĩ và giáo dân; là biết bao người chấp nhận gác lại công việc riêng để phục vụ cộng đoàn.
Không ai mong được nhắc tên. Không ai chờ được biểu dương. Họ hiểu rằng mọi hy sinh đều trở thành của lễ đẹp lòng Thiên Chúa khi được thực hiện vì tình yêu.
Ngày nay, Giáo hội không còn thường xuyên được mời gọi làm chứng bằng máu đào như thời các vị tử đạo. Nhưng Giáo hội vẫn cần những con người biết hy sinh thời gian, khả năng và cuộc sống vì Tin Mừng. Chính những hy sinh âm thầm ấy làm cho chứng tá của Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp tiếp tục sống động trong lòng Hội Thánh.
- 7.Hoa trái của lòng thương xót: khi Tắc Sậy trở thành điểm hẹn của mọi tấm lòng
Một nét rất riêng nơi Cha Trương Bửu Diệp là lòng thương xót dành cho tất cả mọi người. Khi còn sống, ngài không phân biệt giàu nghèo, địa vị hay tôn giáo. Sau khi được tuyên phong Chân phước, hình ảnh ấy càng trở nên gần gũi hơn đối với đông đảo tín hữu và cả nhiều người ngoài Công giáo.
Trong những ngày Đại lễ, Tắc Sậy thực sự trở thành điểm gặp gỡ của biết bao con người mang theo những hoàn cảnh khác nhau. Có người đến để tạ ơn, có người tìm kiếm sự bình an, có người đơn giản chỉ muốn được một lần viếng nơi vị mục tử mà họ hằng kính mến. Điều đáng quý là tất cả đều được đón nhận với sự trân trọng và yêu thương.
Đó cũng chính là điều Đức Thánh Cha Phanxicô nhiều lần mời gọi: Hội Thánh phải là “ngôi nhà mở cửa”, nơi mọi người đều có thể tìm thấy lòng thương xót của Thiên Chúa.
Có lẽ hoa trái lớn nhất của Đại lễ không phải là số lượng người tham dự, nhưng là việc nhiều người cảm nhận được rằng Hội Thánh luôn mở rộng vòng tay đón nhận mọi người. Chính cảm nghiệm ấy sẽ tiếp tục đưa nhiều tâm hồn đến gần Chúa hơn.
- 8.Hoa trái của sứ mang loan báo Tin Mừng: Biến cố mang chiều kích truyền giáo
Ngày thứ tám của Tuần Cửu Nhật hướng cộng đoàn đến sứ mạng loan báo Tin Mừng.
Đại lễ tuyên phong Chân phước không chỉ là niềm vui của Giáo hội Việt Nam, nhưng còn là một biến cố truyền giáo. Qua các phương tiện truyền thông, hình ảnh Tắc Sậy, cuộc đời Cha Trương Bửu Diệp và bầu khí sốt sắng của Đại lễ đã được lan tỏa đến nhiều nơi trong và ngoài nước.
Điều hấp dẫn người ta không phải trước hết là quy mô của sự kiện, mà là chứng tá của một đời sống yêu thương và hy sinh. Trong một thế giới vốn quen với những giá trị của thành công và quyền lực, hình ảnh một vị linh mục sẵn sàng chết thay cho đoàn chiên vẫn có sức đánh động đặc biệt.
Đại lễ vì thế trở thành một bài giảng sống động. Không cần những diễn văn dài dòng, chính sự hiệp nhất của cộng đoàn, vẻ đẹp của phụng vụ và tinh thần phục vụ quảng đại đã trở thành lời loan báo Tin Mừng đầy sức thuyết phục.
- 9.Hoa trái của lời mời gọi nên thánh: Đại lễ khép lại, hành trình mới bắt đầu
Chủ đề cuối cùng của Tuần Cửu Nhật quy hướng về ơn gọi nên thánh.
Có thể nói đây là hoa trái sâu xa nhất của toàn bộ hành trình chuẩn bị Đại lễ.
Việc tuyên phong Chân phước không dừng lại ở việc tôn vinh một con người, nhưng để nhắc toàn thể Dân Chúa rằng sự thánh thiện vẫn là lời mời gọi dành cho mọi Kitô hữu: Các con hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời. Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp không đứng ở cuối con đường để chúng ta chiêm ngắm, nhưng đứng phía trước để mời gọi chúng ta tiếp bước.
Nếu sau Đại lễ, các gia đình biết yêu thương nhau hơn, các giáo xứ hiệp nhất hơn, người trẻ quảng đại hơn với ơn gọi, các mục tử tận tụy hơn với đoàn chiên và mỗi tín hữu sống trung thành hơn với Tin Mừng, thì đó mới là phép lạ lớn nhất mà Thiên Chúa thực hiện qua biến cố này.
Để hoa trái tiếp tục nở hoa…
Nhìn lại Tuần Cửu Nhật và Đại lễ tuyên phong Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, chúng ta nhận ra một sự thống nhất thật đẹp giữa lời cầu nguyện và hồng ân Thiên Chúa ban tặng. Những điều cộng đoàn tha thiết cầu xin suốt chín ngày nhận được hoa trái: đức tin được củng cố, niềm hy vọng được khơi dậy, tình yêu được lan tỏa, các mục tử được nâng đỡ, cộng đoàn hiệp nhất và việc chuẩn bị Đại lễ được diễn ra trong bình an, sốt sắng. Tất cả đã được thể hiện cách sinh động trong ngày lịch sử 02 tháng 7 năm 2026.
Tuy nhiên, hoa trái của Tuần Cửu Nhật sẽ chỉ thực sự trọn vẹn khi tiếp tục được nuôi dưỡng trong đời sống hằng ngày. Đại lễ đã khép lại, nhưng sứ mạng mà Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp để lại vẫn đang mở ra trước mắt chúng ta. Hội Thánh hôm nay không chỉ được mời gọi gìn giữ ký ức về một vị Chân phước, nhưng còn được mời gọi làm cho tinh thần của ngài trở thành sức sống của các cộng đoàn: luôn vững vàng trong niềm tin, nồng nàn trong lòng mến Chúa và quãng đại quên mình phục vụ tha nhânnhư người mục tử nhân lành, biết hy sinh, biết xót thương và không ngừng giới thiệu Đức Kitô bằng chính đời sống mình.
Có lẽ, đó mới là hoa trái lớn nhất của Tuần Cửu Nhật: không phải một Đại lễ được tổ chức thành công, nhưng là một Hội Thánh được đổi mới; không chỉ có thêm một vị Chân phước trên bàn thờ, mà còn khơi dậy nơi mỗi tín hữu khát vọng bước đi trên con đường nên thánh. Khi điều ấy được tiếp tục trong từng gia đình, từng giáo xứ và từng cộng đoàn, thì âm vang Tắc Sậy của ngày 02 tháng 7 năm 2026 sẽ vẫn còn ngân vang mãi trong đời sống của Giáo hội Việt Nam, như lời mời gọi không ngừng tiến bước trong đức tin, đức cậy và đức mến.
2026
Chứng tá về căn tính môn đệ Đức Kitô nơi cha Trương Bửu Diệp
Chứng tá về căn tính môn đệ Đức Kitô nơi cha Trương Bửu Diệp

Sau khi Giáo hội Tuyên phong cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp lên hàng Chân phước, sức sống nơi ngài vẫn tiếp tục lan tỏa mạnh mẽ không phải như một hiện tượng tâm linh nhất thời, mà như một chứng tá sống động về lòng trung thành với Đức Kitô. Giữa lòng thế giới đầy rẫy những chia rẽ và hoài nghi, ngài trở thành nhịp cầu nối kết, không phải bằng năng lực con người, mà bằng chính hồng ân bác ái ngài lãnh nhận từ Thiên Chúa.
Sự bao dung của Chân phước Trương Bửu Diệp không bắt nguồn từ một tâm tính hiền hòa tự nhiên, mà xuất phát từ việc ngài đã để cho luật yêu thương của Chúa Kitô làm chủ hoàn toàn cuộc đời mình. Ngài là hình ảnh của người mục tử không bỏ mặc đoàn chiên, hành động của ngài — ở lại giữa lúc nguy nan — chính là sự tiếp nối mầu nhiệm Nhập Thể và Vượt Qua: dám đi vào sự đau khổ của con người, chịu chết thay cho đoàn chiên để dẫn đưa họ về với Thiên Chúa – Đấng luôn yêu thương và đem lại hạnh phúc cho con người. Đó không phải là một hành động liều lĩnh, mà là sự phản chiếu trọn vẹn lệnh truyền của Chúa: “Người mục tử nhân lành thí mạng sống mình cho chiên” (Ga 10,11).
Tại sao ngài trở thành “Cha” của nhiều người, không phân biệt ranh giới? Đó là vì lòng bác ái của ngài là bác ái Kitô giáo — một tình yêu vô vị lợi, xem mọi người là hình ảnh của Thiên Chúa. Ngài không xóa bỏ ranh giới bằng sự thỏa hiệp, mà bằng việc mời gọi mọi người cùng hướng về chân lý và tình yêu cứu độ. Khi nhìn vào gương nhân đức của ngài, Vị Mục Tử sống giữa người khác không phải để đồng hóa với cái xấu, mà trở thành men muối giữa môi trường đang sống.
Ngày nay, khi cầu nguyện cùng Chân phước Trương Bửu Diệp, chúng ta không chỉ tìm kiếm những ơn huệ vật chất, hay phép lạ chữa bệnh, mà quan trọng hơn, đó là hành trình hoán cải nội tâm. Phép lạ vĩ đại nhất mà ngài thực hiện, nhờ quyền năng Thiên Chúa, chính là sự thay đổi cõi lòng: từ một tâm hồn vị kỷ, chai sạn, biết quay về với sự khiêm nhường và bác ái.
Đức tính khó thực hành nhất trong tinh thần của ngài có lẽ không phải là sự hy sinh lớn lao, mà là sự kiên trì thực thi bác ái trong những điều nhỏ nhặt nhất, ngay cả với những người làm chúng ta tổn thương. Sự kết hợp với Đức Kitô đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ cái “tôi” vị kỷ để đón nhận anh chị em mình như chính Chúa đã đón nhận chúng ta. Đó mới là sự “nối kết” đích thực nhất.
Việc suy tôn ngài là Chân phước nhắc nhở chúng ta rằng: đời sống thánh thiện không phải là điều không thể với tới, mà là lời mời gọi mỗi ngày can đảm, trung thành sống căn tính người môn đệ Đức Kitô ngay trong lòng cuộc sống, biết yêu thương bằng tình yêu của Chúa, biết hy sinh vì ích lợi của tha nhân, để chính chúng ta trở nên những cánh tay nối dài, đưa tình yêu của Thiên Chúa đến với mọi tâm hồn đang khao khát bình an không phân biệt tôn giáo hay giai tầng xã hội.

















