2026
THƯ MỜI THAM DỰ HỘI THẢO “NÂNG CAO TINH THẦN DẤN THÂN PHỤC VỤ VÀ TÁI CẤU TRÚC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG GIÁO”
ỦY BAN GIÁO DỤC CÔNG GIÁO VIỆT NAM
BAN GIÁO DỤC MẦM NON
THƯ MỜI THAM DỰ HỘI THẢO
“NÂNG CAO TINH THẦN DẤN THÂN PHỤC VỤ VÀ TÁI CẤU TRÚC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG GIÁO”
Kính gửi Quý Cha và Quý Soeur,
Trong nhiều năm qua, trường Mầm non Công giáo do các Hội Dòng đảm trách đã góp phần to lớn trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ thơ theo tinh thần nhân bản và đạo đức Kitô giáo. Không chỉ gieo hạt giống đức tin cho các em, các trường còn là nhịp cầu đem Tin Mừng đến với phụ huynh và cộng đoàn xã hội. Đây là một sứ vụ cao quý và thiết yếu của Hội Thánh.
Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội hiện đại – thời đại 4.0, trường Mầm non Công giáo cũng đang đối diện với nhiều khó khăn và thách thức. Nhằm tạo điều kiện để Quý Soeur đang phục vụ trong trường mầm non cùng nhau trao đổi, học hỏi và chia sẻ những kinh nghiệm quý báu trong công tác quản lý và phát triển trường, Ban Giáo Dục Mầm Non thuộc Ủy Ban Giáo Dục Công Giáo Việt Nam trân trọng kính mời Quý Soeur tham dự hội thảo “Nâng cao tinh thần dấn thân phục vụ giáo dục và tái cấu trúc trường mầm non Công Giáo của các Hội Dòng trong thời đại mới”.
Hội thảo sẽ là dịp để chúng ta cùng nhìn nhận thực trạng, thảo luận những định hướng chiến lược và tìm ra giải pháp phù hợp nhằm tái cấu trúc trường mầm non Công Giáo trong tinh thần sứ vụ của Hội Dòng, đáp ứng nhu cầu của thời đại nhưng vẫn giữ vững giá trị Công giáo mà chúng ta hằng gìn giữ.
Hội thảo chuyên đề: “Nâng cao tinh thần dấn thân phục vụ giáo dục và tái cấu trúc trường mầm non Công Giáo của Hội dòng trong thời đại mới” bao gồm:
- Xây dựng sứ mạng giáo dục mầm non của Hội Dòng trong thời đại mới
- Xây dựng mô hình giảng dạy kết hợp: vừa vun trồng linh đạo Kitô giáo (yêu thương, nhân bản, trách nhiệm…), vừa mở rộng và nâng cao chất lượng toàn diện cho trẻ trong môi trường giáo dục hiện đại của xã hội hôm nay.
- Đổi mới chương trình để học sinh Công giáo không thua kém bạn bè ở các trường tư thục, công lập, nhưng vẫn khác biệt tích cực nhờ nền tảng đức tin Kitô giáo.
- Nâng cao quản trị, đào tạo nhân sự và tận dụng công nghệ để phục vụ tốt hơn cho sứ vụ.
- Phương pháp giáo dục dựa trên sự đồng hành, khuyến khích và nuôi dưỡng tâm hồn trẻ.
- Chiến lược tái cấu trúc và phát triển trường mầm non Công Giáo
- Nhận diện các vấn đề thực trạng của xã hội có ảnh hưởng sâu rộng đến trường mầm non Công Giáo và các giải pháp.
- Xác định những bất cập nội tại của trường mầm non Công Giáo và các giải pháp.
- Kiến tạo mô hình quản lý chuyên nghiệp nhưng vẫn giữ tinh thần phục vụ.
- Phát triển chương trình giảng dạy tiên tiến theo đúng chuẩn mực hiện đại và nhu cầu phát triển của xã hội.
- Ứng dụng công nghệ và đổi mới phương pháp giáo dục trong trường mầm non
- Cập nhật và ứng dụng công nghệ giáo dục phù hợp với bậc học mầm non.
- Kết hợp phương pháp giáo dục truyền thống với các mô hình tiên tiến hiện nay.
- Tận dụng các nguồn lực và kết nối với phụ huynh để nâng cao chất lượng giáo dục.
CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO
“NÂNG CAO TINH THẦN DẤN THÂN PHỤC VỤ GIÁO DỤC VÀ TÁI CẤU TRÚC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG GIÁO TRONG XÃ HỘI HÔM NAY”
- Thời Gian: Từ 7:30 – 16:00 ngày 11/04/2026.
- 7:00 – 7:30: Chào đón Quý Cha và Quý Soeur (Phục vụ trà, cafe, bánh, trái cây buổi sáng).
- 7:30: Chào đón Đức Tổng Giuse Nguyễn Năng, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam.
- 7:45 Đức Tổng Giuse huấn từ và phát biểu khai mạc.
- Tiếp theo đến 9:15: “Từ nguồn sư phạm Công giáo, Nâng cao tinh thần dấn thân phục vụ giáo dục mầm non trong xã hội ngày nay” Vinh Sơn Nguyễn Cao Dũng – Tổng Thư Ký Ủy Ban Giáo Dục Công Giáo Việt Nam, Tổng Thư ký và chủ nhiệm Chương trình Ứng dụng Khoa học Giáo dục vào đồng hành& đào tạo HVCGVN trình bày.
- 9:15 – 9:30: Giải lao (phục vụ trà, cafe, bánh, trái cây).
- 9:30 – 11:30: “Kiến thức về Phổ Rối Loạn Tự Kỷ và Tăng Động ở lứa tuổi mầm non” do diễn giả Bs Vy Vũ thành viên của Hiệp hội Tâm thần pháp y Hoàng Gia, Anh Quốc trình bày.
Bác sĩ Vy Vũ, thành viên của Hiệp hội Tâm thần pháp y Hoàng Gia, Anh Quốc, sinh ở Việt Nam, học Y khoa và làm việc ở Anh hơn 20 năm, BS Vy luôn đồng hành và tâm huyết với căn bệnh Phổ Rối Loạn Tự Kỷ (RLPTK) và Tăng Động (TĐGCY) khi về quê hương – đặc biệt là nơi trẻ mầm non, sức khỏe tâm lý ít được quan tâm và mang nhiều ý nghĩa tiêu cực. BS Vy chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm của chuyên gia về RLPTK và TĐGCY nơi trẻ em để nâng cao nhận thức của cộng đồng, làm giảm những kỳ thị liên quan tới rối loạn tâm lý, đặc biệt là RLPTK và TĐGCY nói riêng, cũng như ‘phát triển đa dạng thần kinh’ nói chung.
Nội dung chia sẻ
- Định nghĩa ‘phát triển đa dạng thần kinh’ , RLPTK, TĐGCY.
- Nhận định chưa đúng, thuật ngữ và cách nhìn của quốc tế hiện nay.
- Nét tiêu biểu của RLPTK, TĐGCY.
- Nguyên nhân, phương pháp hỗ trợ chung và thuốc.
- Những điều quan trọng khác (giấc ngủ, quy trình thời khóa biểu hàng ngày).
- Nỗi sợ của phụ huynh…
- Những điều các thầy/cô cần lưu ý – thống nhất đầu vào, điều chỉnh sự hi vọng của mình, chấp nhận và hiểu được sự hạn chế của bản thân.
- Hỏi và đáp…
- 11:30 – 13:00: Cơm trưa và nghỉ ngơi.
- 13:00 – 15:00: “Chiến lược tái cấu trúc trường mầm non Công Giáo hiệu quả” do diễn giả Nguyễn Phước Hùng – Giám Đốc TT Phát Triển Trí Tuệ Mầm Non trình bày.
- 15:00 – 16:00: “Ứng dụng công nghệ số và AI thực tiễn cho kế hoạch giảng dạy và quản lý nhà trường một cách hiệu quả” do diễn giả Nguyễn Chí Cao Tùng trình bày.
- Địa điểm: Trung tâm hội nghị Melisa, 85 Thoại Ngọc Hầu, Phường Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh (Địa chỉ cũ: 85 Thoại Ngọc Hầu, Phường Hòa Thạnh, Quận Tân Phú, TP.HCM).
BAN GIÁO DỤC MẦM NON
ỦY BAN GIÁO DỤC CÔNG GIÁO VIỆT NAM
2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA PHỤC SINH 2026
ỦY BAN GIÁO DỤC CÔNG GIÁO
trực thuộc
Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO
NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA PHỤC SINH 2026
Các con thân mến,
Với sứ điệp Mùa Chay đầu tiên của mình, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã hướng dẫn chúng ta sống hành trình đức tin này, qua bộ ba từ ngữ thật gần gũi và dễ nhớ: “Lắng nghe – Ăn chay – Cùng nhau”. Lắng nghe Lời Chúa và tiếng kêu của người nghèo, vì đó là khởi đầu cho một cuộc hoán cải, và cũng là dấu chỉ đầu tiên thể hiện ước muốn bước vào tương quan với người khác. Ăn chay để thanh luyện bản thân và hướng tới một nếp sống giản dị hơn. Cùng nhau vun đắp những mối tương quan hiền hòa và hy vọng, để góp phần xây dựng một nền văn minh tình thương (x. Sứ điệp Mùa Chay 2026). Giờ đây, chúng ta đang tiến về chặng đường cuối cùng của hành trình sống Mùa Chay này, chuẩn bị Tam Nhật Vượt Qua mừng Chúa Giêsu Kitô, Đấng chiến thắng sự chết và sống lại.
Từ trong Cựu Ước, người Do Thái đã được Chúa hướng dẫn mừng Lễ Vượt qua: “ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron trên đất Ai-cập: Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en: Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con, thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên” (Xh 12, 1-4). Đây cũng là những ngày thật đặc biệt cho toàn thể Giáo Hội, vì sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô là nền tảng của đức tin Kitô giáo. Cùng bước vào cử hành mầu nhiệm trọng đại này, cha muốn chia sẻ với chúng con thêm đôi nét về sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô, Chiên Vượt Qua của Tân Ước.
- Làm sao các Kitô hữu có thể chắc chắn về việc Chúa Phục Sinh?
Câu trả lời không thể đơn giản, vì điều này không nằm trong kinh nghiệm hay quy luật của cuộc sống. Niềm tin Kitô giáo về sự phục sinh của Chúa thường dựa trên ba yếu tố:
1.1. Trải nghiệm cá nhân về Chúa Kitô hằng sống.
Bằng cách này hay cách khác, bất ngờ hay tiệm tiến, Kitô hữu là người đã gặp gỡ Chúa Kitô như một Con Người sống động. Chúng ta biết lời kêu cầu của Claudel, tóm tắt sự hoán cải của ông chỉ bằng một từ tại Nhà thờ Đức Bà Paris vào chiều Giáng sinh năm 1886: “Và bỗng nhiên Ngài trở nên Một Đấng đối với tôi”. Hay với Thánh Phaolô, trải nghiệm của thánh nhân về cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh, đã hình thành nên một cuộc trở lại mà người sẽ không bao giờ quên được. Khi nói về sự phục sinh của Chúa Giêsu, thánh nhân xác tín bằng một cuộc đánh đổi thật lớn: “Nếu Đức Kitô đã không sống lại, thì đức tin của anh em cũng vô giá trị” (1 Cr 15, 17).
1.2. Nhận thức về sự hiện diện của Chúa Kitô phục sinh qua những dấu chỉ.
Một số người sẽ nhạy cảm hơn với sự hoán cải của một Phanxicô Assisi, một Charles de Foucauld, hoặc với những chứng tá sống động đầy ngạc nhiên của một cộng đồng Kitô giáo đương thời. Nhiều người khác có thể bị thu hút cách mạnh mẽ bởi những phép lạ chữa lành ở Lộ Đức, hoặc sự hội tụ của nhiều dấu chỉ khác trong cuộc sống, để thấy ánh sáng của Chúa Kitô Phục Sinh chiếu tỏa trong đôi mắt đức tin của họ.
1.3. Kinh nghiệm Vượt Qua được chứng kiến bởi các Tông Đồ
Là những chứng nhân đặc ân về sự phục sinh của Thầy mình, các Tông đồ trở nên trụ cột đức tin của Giáo Hội. Dù không nghĩ về điều đó mỗi ngày, các Kitô hữu vẫn đặt nền tảng đức tin của mình trên chứng tá phi thường của những người này, vốn là nhóm người duy nhất trong lịch sử có thể nói: “Chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại” (Cv 10, 41). Những cuộc gặp gỡ giữa các tông đồ với Thầy mình sau khi phục sinh là một trải nghiệm độc nhất vô nhị trên thế giới. Đó không phải là một trạng thái xuất thần hay hiện tượng ảo giác nào đó, các ngài được đưa vào một thế giới khác để nhìn thấy Đấng phục sinh, mà chính Chúa Kitô Phục Sinh đã đến giữa họ ngay trong cuộc sống đời thường, sẵn sàng để cho họ nắm lấy mình, ngồi vào bàn ăn và để họ trực tiếp trải nghiệm thực tại thân thể phục sinh của Người.
Chắc chắn rằng, chúng ta không bao giờ có thể nắm bắt được thực tại về Chúa Kitô Phục Sinh theo cùng cách mà chúng ta nắm bắt thực tại của một sự kiện lịch sử, dựa trên lời chứng của những người tuyên bố đã nhìn thấy Người. Sự phục sinh của Chúa Kitô là một thực tại siêu lịch sử, chỉ có thể được hiểu bằng con mắt đức tin. Chính vì vậy, sau khi phục sinh, Chúa Kitô chỉ hiện ra với các môn đồ sẵn sàng tin vào Người. Tuy nhiên, chúng ta có thể nghiên cứu lời chứng của các sứ đồ của hai mươi thế kỷ trước, như một sự kiện lịch sử và xem lời chứng này có xứng đáng được tin tưởng hay không.
- Sự Phục Sinh của các Kitô hữu
Chúa Kitô đã chết và sống lại: đức tin của chúng ta tuyên xưng điều đó, cử hành Tam Nhật Vượt Qua để kỷ niệm và tưởng nhớ về biến cố này. Hôm nay, Người không còn ở với chúng ta bằng xương bằng thịt, như Người đã từng ở trong cuộc đời này tại Palestine. Thế nhưng, như Thánh Phaolô khẳng định: “Đức Ki-tô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa” (Rm 6, 9). Người sống mãi mãi và đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Người đã không chết đi và sống lại để xa rời vĩnh viễn trần thế này. Người vẫn tiếp tục đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường, như Người đã làm với hai môn đệ trên đường Em-mau. Và cha luôn tin rằng: Người cũng tha thiết mong muốn chúng ta đồng hành với Người, như hai môn đệ trên đường Em-mau đã làm.
Vượt trên tất cả, đối với Kitô hữu, Chúa Kitô Phục Sinh đã trở thành nguồn mạch và niềm hy vọng cho sự sống lại trong ngày sau hết của mình. Niềm hy vọng ấy không đến như một hệ quả tất yếu của đức tin, nhưng là kết quả của một nếp sống mới từ đức tin, mà Thánh Phaolô đã kêu gọi: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới” (Cl 3, 1). Đó là lý do mà chúng ta sẽ thấy cặp từ ngữ tương phản Cũ – Mới được lặp đi lặp lại nhiều lần trong Mùa Phục Sinh.
Các con thân mến,
Dù không chú trọng việc trang hoàng bên ngoài như các dịp lễ khác, nhưng Lễ Phục Sinh luôn là một lễ hội của niềm vui. Niềm vui của thiên nhiên được trỗi dậy từ cái chết của mùa đông, để bước vào sự tái sinh của mùa xuân. Niềm vui của các Kitô hữu, những người tin vào Chúa, đó là mừng Chúa chúng ta sống lại và mừng vì Người không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Người không để chúng ta cô đơn hay lạc lõng trong những sự kiện vui buồn nào đó. Người luôn ở bên chúng ta và sẵn sàng cho phép chúng ta ở bên Người. Sự nỗ lực của các con trong việc sống Mùa Chay, nhiệt thành trong đời sống đạo hàng ngày, đó là những bằng chứng sống động cho đức tin của mình. Các con hãy trung thành và tiếp tục là những chứng nhân cho Chúa Phục Sinh trong đời sống hàng ngày.
Giờ đây, chúng ta cùng nhau bước vào Tuần Thánh, tuần lễ quan trọng nhất trong Phụng Vụ Giáo hội, để cử hành và tôn vinh Mầu Nhiệm khổ nạn và phục sinh của Chúa chúng ta. Nguyện xin phúc lành của Chúa Kitô Phục Sinh mang lại bình an và niềm vui cho cuộc sống của chúng ta.
Chúc mừng Lễ Phục Sinh đến các con và gia đình thân yêu của các con.
Vĩnh Long, ngày 27 tháng 3 năm 2026.
Phêrô Huỳnh Văn Hai
Giám mục Giáo Phận Vĩnh Long
Chủ tịch Ủy Ban Giáo Dục Công Giáo
2026
CHÚNG TA ĐANG SỐNG, HAY CHỈ ĐANG TỒN TẠI?
CHÚNG TA ĐANG SỐNG, HAY CHỈ ĐANG TỒN TẠI?
Có những buổi chiều rất lạ. Mọi thứ bên ngoài dường như vẫn diễn ra bình thường như bao ngày: dòng xe vẫn chảy trên đường, bầu trời vẫn chậm rãi nghiêng từ nắng sang tối, tiếng người vẫn nói cười đâu đó, những mái nhà vẫn nằm im trong nhịp sống quen thuộc. Thế nhưng ở một khoảnh khắc nào đó, khi lòng người bỗng chùng xuống, khi tiếng ồn bên ngoài không còn đủ sức lấp kín khoảng trống bên trong, ta chợt nghe một câu hỏi hiện ra rất nhẹ mà cũng rất sâu: chúng ta đang sống, hay chỉ đang tồn tại?
Câu hỏi ấy không đến như một tiếng sét. Nó không làm ai giật mình theo kiểu dữ dội. Nó đến chậm thôi, như một làn gió lùa qua khe cửa của tâm hồn, như một ánh nhìn lặng lẽ soi vào những ngăn sâu mà lâu nay ta bận rộn đến mức không còn ghé xuống nữa. Nhưng càng để nó ở lại, người ta càng thấy day dứt. Bởi có thể, xét về bề ngoài, ta vẫn đang sống rất đầy đủ. Ta thức dậy mỗi sáng. Ta đi làm. Ta lo lắng. Ta hoàn thành trách nhiệm. Ta kiếm tiền. Ta chăm sóc gia đình. Ta ứng xử với mọi người. Ta cố gắng không để mọi thứ đổ vỡ. Ta vẫn đang hiện diện trên cuộc đời này bằng một dáng vẻ có vẻ rất ổn. Nhưng ở một tầng sâu hơn, có thể chính ta biết: mình đang có mặt mà chưa chắc đang sống. Mình đang đi qua ngày tháng mà chưa chắc đã chạm vào chúng. Mình đang tồn tại một cách rất chăm chỉ, rất ngay ngắn, rất có trách nhiệm, nhưng sự sống bên trong thì mỏi, thì khô, thì thiếu ánh sáng.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa sống và chỉ tồn tại. Tồn tại là khi ta vẫn tiếp tục, vì không còn cách nào khác. Là khi ta hoàn thành những điều phải làm. Là khi ngày này nối sang ngày kia trong một guồng quay quen đến mức tê dại. Là khi ta sống theo quán tính, theo lịch trình, theo bổn phận, theo áp lực, theo kỳ vọng, theo những điều “nên” làm, “cần” làm, “phải” làm. Còn sống thật sự là khi bên trong ta còn có sự tham dự. Là khi ta còn cảm được buổi sáng trong lành, còn biết lòng mình lặng đi trước một bản nhạc đẹp, còn thấy biết ơn vì một bữa cơm quây quần, còn xúc động trước một cái nắm tay, một lời hỏi han, một ánh nhìn thương mến. Sống là khi con người không chỉ làm cho hết ngày, mà thật sự ở trong ngày ấy, nhận ra nó, nếm lấy nó, cảm được nó. Sống là khi tâm hồn còn có mặt bên trong đời mình.
Nhưng điều buồn nhất là rất nhiều người trong chúng ta, sau một quãng dài của những cố gắng, lại đánh mất chính khả năng ấy. Không phải vì họ lười. Không phải vì họ vô tâm. Cũng không phải vì họ không biết quý cuộc đời. Trái lại, phần lớn là những người sống rất trách nhiệm. Họ là những người lo cho gia đình, hết lòng vì người thân, không buông bỏ bổn phận, không dám sống hời hợt. Họ gánh trên vai biết bao điều phải nghĩ, phải lo, phải liệu tính. Họ quen với việc thức dậy và ngay lập tức bước vào trận chiến của một ngày mới. Họ quen với cảm giác phải hoàn thành, phải chu toàn, phải vững vàng. Họ quen với việc đặt mình sau cùng. Họ quen đến mức không còn nhớ lần cuối cùng mình ngồi yên mà không thấy áy náy là khi nào. Họ quen đến mức mỗi phút nghỉ ngơi đều bị phủ bóng bởi cảm giác tội lỗi, như thể nếu mình ngừng lại một chút thì đó là ích kỷ, là chểnh mảng, là thiếu nỗ lực. Và cứ thế, những con người tử tế, biết điều, chăm chỉ ấy âm thầm đánh đổi đời sống nội tâm của mình để giữ cho guồng quay bên ngoài không đổ sập.
Chúng ta đang sống trong một thời đại rất giỏi khiến con người bận rộn. Bận không chỉ bằng việc, mà còn bận bằng tâm trí. Bận bằng những con số phải tính. Bận bằng những mục tiêu phải đạt. Bận bằng những trách nhiệm không cho phép mình lơi lỏng. Bận bằng cảm giác phải tiến lên. Bận bằng nỗi sợ bị chậm lại, bị bỏ lại, bị thua sút. Bận bằng vô số so sánh vô hình mà thời đại này gieo vào lòng người mỗi ngày. Người ta nhìn nhau, đo nhau, tự đặt mình lên một cái thước nào đó của thành công, của thành tựu, của chuẩn mực, của ổn định. Từ đó, cuộc đời dần bị bọc trong những chiếc khung. Khung của vai trò. Khung của nghĩa vụ. Khung của danh dự. Khung của bổn phận làm con, làm cha, làm mẹ, làm vợ, làm chồng. Khung của việc phải là một người có ích. Khung của việc phải lo được cho tất cả. Khung của việc phải gồng lên để không ai thấy mình đuối. Và trong những chiếc khung ấy, ta co mình lại vừa đủ để hoàn thành chức năng, nhưng lại quên mất phải sống bằng cả con người mình.
Nhiều người bắt đầu đời sống trưởng thành với những ước mơ rất đẹp. Họ muốn làm việc chăm chỉ, muốn xây dựng tương lai, muốn cho gia đình một cuộc sống tử tế, muốn không phụ lòng những người đã hy sinh cho mình. Những điều ấy đẹp lắm. Không có gì sai trong những ước mơ ấy. Vấn đề không nằm ở chỗ ta sống có trách nhiệm. Vấn đề là ở chỗ, trên đường thực hiện trách nhiệm đó, ta âm thầm biến hạnh phúc của mình thành điều có thể hoãn vô thời hạn. Ta nói với lòng mình rằng: đợi thêm chút nữa. Đợi khi nào bớt việc. Đợi khi nào thu nhập ổn hơn. Đợi khi nào xong giai đoạn này. Đợi khi nào con lớn thêm. Đợi khi nào trả hết nợ. Đợi khi nào được thăng chức. Đợi khi nào mình đứng vững hơn. Đợi khi nào mọi thứ “đủ đầy”. Ta cứ thế gửi hạnh phúc sang tương lai như gửi một món đồ vào kho, tin rằng sẽ có ngày quay lại lấy. Nhưng cuộc đời không phải là một nhà ga nơi mọi chuyến tàu đều đợi ta sẵn. Thời gian không giữ giùm ai những điều bị trì hoãn quá lâu. Cái “khi nào rảnh” nhiều khi chẳng bao giờ đến. Cái “khi nào đủ” nhiều khi chỉ là một ảo ảnh lấp lánh mãi ở phía trước. Mỗi khi chạm đến một cột mốc, người ta lại đặt ra cột mốc khác. Mỗi khi chạm đến một mức an toàn, người ta lại thấy cần thêm một mức an toàn nữa. Và cứ thế, trong khi ta đang mải mê đuổi theo sự đủ đầy, hiện tại lặng lẽ trôi qua, không quay lại, không báo trước, không xin phép.
Có một bi kịch rất âm thầm: con người có thể sở hữu ngày càng nhiều thứ, nhưng lại đánh mất dần khả năng cảm thấy vui. Có thể hoàn thành rất nhiều việc, nhưng lại không còn thấy mình có đang sống không. Có thể đi rất xa trên con đường thành công, nhưng lại rời rất xa khỏi chính mình. Nhìn từ bên ngoài, một người có thể đang “ổn”: công việc ổn, thu nhập ổn, gia đình ổn, vị trí ổn. Nhưng bên trong, có thể đó là một vùng mệt mỏi rất rộng mà không ai thấy được. Họ ít cười hơn. Hoặc có cười, nhưng nụ cười chỉ làm nhiệm vụ xã giao. Họ ít ngồi yên hơn. Hoặc có ngồi yên, thì đầu óc vẫn quay cuồng như một bánh xe không phanh. Họ ít xúc động hơn. Không phải vì cuộc đời không còn điều gì đẹp, mà vì tâm hồn đã quá mỏi để đón nhận cái đẹp. Họ mất dần cảm giác háo hức. Không còn mong một buổi sáng thức dậy với niềm vui tự nhiên. Không còn thấy lòng nhẹ đi vì một bài hát quen. Không còn nhớ nổi mình thật sự thích điều gì. Họ không hẳn đau khổ, nhưng cũng không còn sinh động. Họ sống đúng, sống đàng hoàng, sống có trách nhiệm, nhưng thiếu một điều rất căn bản: sự sống bên trong.
Và có lẽ đây là điều đáng sợ: con người không gục ngã vì một biến cố lớn, mà vì bị bào mòn từng chút bởi một kiểu sống quá lâu không có khoảng thở cho tâm hồn. Một chiếc cây không nhất thiết phải bị bão quật mới ngã. Nó có thể chết dần vì thiếu nước. Tâm hồn con người cũng vậy. Không phải ai cũng đổ vỡ vì một cú sốc lớn. Nhiều người chỉ âm thầm khô đi. Một ngày ít hơn một nụ cười thật. Một tuần ít hơn một phút bình an thật. Một tháng ít hơn một lần ngồi lại với chính mình. Một năm ít hơn rất nhiều điều từng làm mình sống động. Và rồi đến một lúc, người ta nhận ra mình vẫn đang tồn tại, nhưng trong lòng chỉ còn một vùng đất cằn.
Bởi vậy, có một chân lý giản dị nhưng vô cùng quan trọng: sống trách nhiệm là đúng, nhưng sống tận hưởng những điều xứng đáng cũng là một loại trách nhiệm. Không phải là hưởng thụ vô độ. Không phải là buông lỏng bổn phận. Không phải là lấy niềm vui cá nhân làm trung tâm của mọi sự. Nhưng là trách nhiệm với chính hạnh phúc của mình, với sức khỏe tinh thần của mình, với sự quân bình nội tâm của mình. Một người không chăm chút cho đời sống bên trong sẽ sớm hay muộn trở thành một người mệt mỏi trong yêu thương. Một người liên tục bỏ đói tâm hồn mình sẽ rất khó giữ được sự dịu dàng lâu dài. Một người chỉ biết gồng và gánh sẽ đến lúc mang cả sự nặng nề ấy trút vào những người thân yêu nhất mà chính mình không nhận ra.
Vì thế, chăm sóc hạnh phúc bản thân không phải là một điều phụ. Nó không phải thứ làm khi “rảnh”. Nó không phải phần thưởng xa xỉ chỉ dành cho những ai đã xong hết trách nhiệm. Nó là một việc nghiêm túc. Một việc cần thiết. Một việc đạo đức theo nghĩa rất sâu. Bởi một người cha vui vẻ là món quà cho con cái. Một người mẹ bình an là hơi ấm cho cả gia đình. Một người con biết nuôi dưỡng đời sống tinh thần của mình sẽ ít mang sự cáu gắt về nhà hơn. Một người chồng, một người vợ biết giữ cho mình một khoảng sống riêng lành mạnh sẽ làm cho hôn nhân bớt khô cứng. Ta không thể lo cho hạnh phúc của người khác nếu chính mình từ lâu chỉ đang sống trong kiệt quệ. Ta không thể trở thành chỗ dựa bền vững nếu bên trong mình đã rạn nứt quá lâu. Ta không thể trao bình an nếu chính mình chưa từng được ở trong bình an.
Thế nhưng, nhiều người vẫn ngại dành cho mình niềm vui, vì sợ bị xem là ích kỷ. Họ thấy áy náy khi mua một món đồ phục vụ sở thích tinh thần. Họ chần chừ khi muốn học một nhạc cụ, khi muốn đi một chuyến ngắn để đổi gió, khi muốn ngồi yên đọc một cuốn sách, khi muốn dành vài giờ cho việc viết lách, vẽ vời, làm vườn, đi bộ, nghe nhạc. Họ nghĩ những điều ấy là không cần thiết. Họ nghĩ còn bao việc phải lo, bao thứ phải trả, bao trách nhiệm phải gánh, thì mình lấy đâu quyền để nghĩ đến những niềm vui nhỏ ấy. Nhưng chính ở đó, ta cần học lại một điều: những gì nuôi dưỡng tâm hồn không phải là thứ phù phiếm. Có thể nó không làm tăng thu nhập. Có thể nó không hiện ra trên bảng thành tích. Có thể nó không tạo ra một kết quả đo lường được ngay. Nhưng nó giữ cho ta còn là một con người sống động. Nó cứu ta khỏi bị khô. Nó giúp ta nhớ mình là ai ngoài những vai trò xã hội. Nó làm cho ta trở về với những người thân bằng một trái tim ít cằn hơn, ít mỏi hơn, ít dữ dằn hơn.
Tiếng piano trong một căn nhà không chỉ là âm thanh. Nó có thể là một dòng nước mát chảy qua một ngày căng thẳng. Một bản nhạc cất lên không chỉ để nghe cho vui. Nó có thể là cách tâm hồn được tháo nút. Một bài hát không chỉ là vài phút giải trí. Nó có thể là chiếc cầu nối những người trong gia đình xích lại gần nhau. Có những buổi tối, người ta không cần gì lớn lao. Chỉ cần một bản nhạc êm. Một tiếng đàn nhẹ. Một chén trà ấm. Một cuộc trò chuyện không vội. Một nụ cười không gượng. Một vài phút không phải gồng. Vậy thôi, mà sự sống trở lại. Tâm hồn được lau đi lớp bụi. Căn nhà bỗng có hồn hơn. Người với người gần nhau hơn. Chúng ta thường đánh giá quá cao những gì lớn lao và đánh giá quá thấp sức cứu rỗi của những điều nhỏ bé. Trong khi thật ra, nhiều khi chính những điều nhỏ bé ấy là thứ cứu một con người khỏi rơi vào khô cằn.
Một cuốn sách đọc trong yên tĩnh có thể không giải quyết được gánh nặng đời sống, nhưng nó cho tâm trí một khoảng thở. Một buổi đi bộ chậm có thể không làm mọi vấn đề biến mất, nhưng nó giúp ta đi lại với chính mình. Một giờ ngồi trước phím đàn có thể không tạo ra thành tựu gì cho ai nhìn thấy, nhưng nó chữa lành một điều gì đó rất thật bên trong. Một chuyến đi ngắn có thể không làm đời đổi khác, nhưng đủ để con người nhớ rằng bầu trời vẫn rộng, đời vẫn còn đẹp, mình không chỉ là một chiếc bánh răng bị mắc kẹt trong guồng quay. Những niềm vui nhỏ lành mạnh ấy không phải sự trốn chạy. Đó là cách con người tái tạo năng lượng. Đó là cách tâm hồn được nghỉ. Đó là cách trái tim được nuôi lại. Đó là cách ta nhắc chính mình rằng mình không chỉ sinh ra để làm việc, để trả hóa đơn, để gánh trách nhiệm, để chạy mãi trong một cuộc đua không vạch đích.
Sống có trách nhiệm với hạnh phúc bản thân cũng có nghĩa là biết giới hạn. Biết nói không với một số điều dù chúng có thể mang lại thêm lợi ích, nếu cái giá phải trả là đánh mất sự quân bình nội tâm. Biết chấp nhận rằng mình không thể ôm hết mọi thứ. Biết rằng luôn có những việc không bao giờ xong hoàn toàn, nên không thể đợi xong hết rồi mới sống. Biết rằng cuộc đời luôn thiếu một chút gì đó, nên đừng vì cái thiếu ấy mà từ chối mọi niềm vui chính đáng. Biết rằng không phải lúc nào mình cũng phải hiệu quả. Biết rằng con người không phải cái máy. Biết rằng nghỉ ngơi không làm mình kém giá trị. Biết rằng chậm lại đôi khi là cách để đi xa hơn. Biết rằng khoảng lặng không phải là lãng phí. Biết rằng hạnh phúc không nằm ở chỗ ta sở hữu thêm bao nhiêu, mà ở chỗ ta có còn khả năng cảm thấy ấm áp với những gì mình đang có hay không.
Thời gian là một nhà giáo rất nghiêm. Nó không nói nhiều, nhưng nó lấy đi rất dứt khoát. Nó lấy đi tuổi trẻ. Lấy đi sức khỏe. Lấy đi cơ hội của nhiều điều nếu ta cứ trì hoãn mãi. Lấy đi những bữa cơm quây quần mà một ngày nào đó không còn đủ người. Lấy đi ánh mắt trẻ thơ của con cái khi chúng chưa lớn. Lấy đi giọng nói khỏe khoắn của cha mẹ trước khi tuổi già lặng lẽ kéo đến. Lấy đi sức rung động của tâm hồn nếu ta bỏ mặc nó quá lâu. Người ta thường tưởng mình còn nhiều thời gian. Tưởng rằng năm nay chưa sống thì năm sau sẽ sống. Tưởng rằng hôm nay chưa kịp vui thì mai mốt sẽ bù. Tưởng rằng rồi sẽ có lúc mọi thứ đủ ổn để mình cho phép bản thân hạnh phúc. Nhưng thời gian không hứa với ai điều đó. Nó chỉ lặng lẽ đi. Và rồi một ngày, ta ngoảnh lại, thấy đã quá nhiều mùa đi qua mà mình chỉ toàn cố gắng, thấy đã quá nhiều chiều xuống mà mình chưa từng thật sự ngồi lại với đời.
Có những người dành cả thanh xuân để tích lũy cho tương lai, đến lúc tương lai đến rồi, họ không còn tâm hồn của người biết tận hưởng nữa. Họ quen lo đến mức không biết nghỉ. Quen kiểm soát đến mức không biết thả lỏng. Quen hy sinh đến mức không biết nhận về. Quen sống vì người khác đến mức thấy xa lạ khi sống một chút cho mình. Đó là điều rất đáng thương. Bởi có những đánh đổi, lúc đầu tưởng là cao đẹp, nhưng nếu đi quá xa, nó sẽ trở thành một sự bỏ quên bản thân. Mà bỏ quên bản thân quá lâu thì không ai có thể giữ được niềm vui trong trẻo lâu dài. Bề ngoài có thể vẫn tốt, vẫn đúng, vẫn đàng hoàng. Nhưng bên trong đã cạn. Và khi bên trong cạn, mọi điều tốt đẹp khác rồi cũng bị ảnh hưởng.
Cuộc sống cần cân bằng. Không phải thứ cân bằng cứng nhắc, chia đều mọi thứ như một công thức. Nhưng là một sự quân bình đủ để ta không đánh mất linh hồn trong lúc giữ lấy cuộc đời. Làm việc chăm chỉ là tốt. Phấn đấu là tốt. Lo cho người thân là tốt. Hy sinh là tốt. Nhưng tất cả những điều tốt ấy sẽ đẹp hơn, bền hơn, dịu hơn, nếu chúng được thực hiện bởi một con người còn có niềm vui, còn có bình an, còn có khoảng sống bên trong. Một người kiệt sức triền miên có thể vẫn lo được cho gia đình, nhưng sẽ khó tránh khỏi những lúc gắt gỏng. Một người luôn phải gồng có thể vẫn hoàn thành trách nhiệm, nhưng khó trao được sự ấm áp. Một người không bao giờ cho phép mình nghỉ sẽ dần đánh mất khả năng hiện diện trọn vẹn. Họ ở đó, nhưng tâm hồn như ở rất xa. Họ ngồi cùng gia đình, nhưng đầu óc ở trong những phép tính. Họ trò chuyện, nhưng không còn lắng. Họ cười, nhưng không còn sáng. Họ yêu, nhưng yêu trong mỏi mệt.
Điều con người cần không chỉ là sống có ích, mà còn là sống có hồn. Một đời người đẹp không phải chỉ vì đã làm được bao nhiêu thứ, mà còn vì trong quá trình ấy, người đó có còn giữ được sự rung động, sự dịu dàng, sự tươi mát, sự sống động trong tâm hồn hay không. Có những người thành công thật, nhưng nhìn họ buồn quá. Có những người đủ đầy thật, nhưng nụ cười họ mỏi quá. Có những người được nể trọng thật, nhưng sâu trong lòng họ chỉ toàn áp lực. Nếu phải đánh đổi hầu hết sự bình an nội tâm để lấy những điều ấy, thì có lẽ cái giá cũng quá đắt. Bởi rốt cuộc, khi chuyến đi dài khép lại, điều còn ở lại không phải chỉ là những gì ta đã đạt được, mà là những gì ta đã cảm nhận. Ta đã sống ra sao. Ta đã thương thế nào. Ta đã từng thấy đời đẹp vào những lúc nào. Ta đã từng thật sự an vui chưa. Ta đã từng ngồi cạnh người thân với một trái tim nguyên vẹn chưa. Ta đã từng nghe một bản nhạc mà thấy mình được hồi sinh chưa. Ta đã từng bước đi dưới một bầu trời và nhận ra mình còn sống sâu sắc biết bao chưa.
Hạnh phúc không nhất thiết phải là điều gì thật lớn. Nhiều khi, nó là một niềm vui rất nhỏ nhưng thật. Là được ngồi bên cửa sổ lúc chiều xuống mà không bị tiếng chuông điện thoại kéo đi. Là được đàn một bài mình thích. Là được hát một khúc ca cũ với người thân. Là được lái xe đi đâu đó chỉ để ngắm đường. Là được pha một ấm trà, mở một cuốn sách, để mặc cho giờ phút trôi chậm lại. Là được ra ngoài hít thở sớm mai, nhìn ánh nắng nghiêng qua tán lá. Là được ngồi bên cha mẹ lâu thêm một chút. Là được nghe con cười mà không vừa nghe vừa xem điện thoại. Là được ngủ một giấc không mang theo nỗi lo đè ngực. Là được cầu nguyện trong yên tĩnh. Là được thấy mình không phải lúc nào cũng chạy. Những điều ấy không tốn nhiều, nhưng lại quý vô cùng. Bởi đó là nơi sự sống trở về.
Có người sẽ hỏi: nhưng đời sống đâu có dễ để mà sống như thế? Đúng, đời không dễ. Áp lực là thật. Trách nhiệm là thật. Cơm áo là thật. Những gánh nặng mưu sinh, công việc, bổn phận gia đình, những lo toan tài chính, những bất an của tương lai, tất cả đều rất thật. Không ai phủ nhận điều đó. Không ai đang sống giữa đời mà có thể thơ ngây nói rằng chỉ cần nghĩ tích cực là đủ. Nhưng chính vì đời sống đã khó như thế, ta lại càng cần giữ lại cho mình những khoảng sáng nhỏ. Không phải vì yếu đuối, mà vì nếu không có những khoảng sáng ấy, ta rất dễ bị nhấn chìm bởi chính những điều rất thật kia. Một người biết nuôi dưỡng tâm hồn sẽ bền bỉ hơn trong gian nan. Một người còn giữ được niềm vui nhỏ sẽ có sức chịu đựng lớn hơn trước áp lực. Một người còn biết dừng lại để thở sẽ ít gãy hơn giữa đường. Hạnh phúc đúng nghĩa không làm ta yếu đi. Nó làm ta khỏe hơn để sống trách nhiệm.
Đừng coi những gì dành cho tinh thần như một khoản chi xa xỉ. Hãy coi đó là một loại bảo hiểm cho tâm hồn. Ta mua bảo hiểm vì biết đời có rủi ro. Vậy tại sao ta không đầu tư cho những điều giữ cho mình vững vàng từ bên trong? Một khóa học nhạc, một bộ loa tốt để nghe nhạc, một vài cuốn sách tử tế, một chuyến đi, một khoảng thời gian nghỉ, một góc nhỏ để sống với đam mê, tất cả những điều ấy, nếu lành mạnh và đúng mức, không phải là hoang phí. Chúng là cách ta gìn giữ phần người trong mình. Chúng là những mạch nước âm thầm giúp cây đời bên trong không chết khô. Ta vẫn rất tỉnh táo với tiền bạc, vẫn biết giới hạn, vẫn có trách nhiệm với gia đình, nhưng xin đừng keo kiệt với tâm hồn mình quá mức. Một tâm hồn bị bỏ đói quá lâu sẽ đòi lại bằng cách khác: bằng mệt mỏi, bằng chán nản, bằng gắt gỏng, bằng sự lạnh dần trong yêu thương.
Nhiều khi ta chỉ nghĩ trách nhiệm là lo cho người khác. Nhưng có một thứ trách nhiệm khác ít được nhắc tới: trách nhiệm không để mình trở thành một người quá khô héo trong căn nhà của mình. Trách nhiệm không để người thân chỉ nhận nơi ta sự căng thẳng. Trách nhiệm không để con cái lớn lên chỉ thấy cha mẹ vất vả mà không thấy cha mẹ biết sống. Trách nhiệm không để hôn nhân biến thành nơi chỉ toàn những việc phải làm. Trách nhiệm không để nhà mình thành một trạm dừng mệt mỏi chứ không còn là tổ ấm. Muốn làm được điều đó, mỗi người phải có đời sống nội tâm riêng được chăm sóc. Phải có một nơi để trở về. Phải có một niềm vui sạch. Phải có một vùng đất mà ở đó mình không chỉ là người gánh vác, mà còn là người được hồi phục.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta chưa từng học cách sống cho cân bằng, bởi từ nhỏ đã quen nghe rằng phải cố gắng, phải hy sinh, phải chịu khó. Tất cả những điều đó đều rất đáng quý. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, con người sẽ dễ hiểu lầm rằng càng bỏ quên bản thân thì càng đáng khen. Không hẳn như vậy. Hy sinh là đẹp, nhưng hy sinh không đồng nghĩa với việc làm cho linh hồn mình cạn trơ. Cố gắng là tốt, nhưng cố gắng không đồng nghĩa với việc không bao giờ được phép vui. Chịu khó là cần, nhưng chịu khó không có nghĩa là phải cắt bỏ hết những điều làm mình sống động. Một đời sống trưởng thành không phải là đời sống biết đè nén mọi nhu cầu tinh thần, mà là đời sống biết đặt chúng vào đúng chỗ, nuôi dưỡng chúng cách lành mạnh, để từ đó yêu thương người khác bền hơn và đẹp hơn.
Con người cần những khoảng “trốn đời” lành mạnh. Không phải để bỏ chạy. Mà để trở về. Trở về với nhịp thở. Trở về với cảm xúc. Trở về với phần sâu nhất của mình. Có người trở về bằng tiếng đàn. Có người bằng cầu nguyện. Có người bằng vườn cây. Có người bằng thơ, bằng sách, bằng những chuyến đi xa một chút, bằng những chiều đi bộ không mục đích. Có người chỉ cần được ngồi im nghe mưa rơi. Những khoảng ấy rất quý. Bởi giữa một thế giới luôn bắt ta phản ứng, quyết định, đáp ứng, chạy theo, những phút không phải làm gì ngoài việc hiện diện là một ân huệ. Ở đó, ta nhớ rằng mình còn một tâm hồn. Ở đó, ta không còn là chức danh, là vai trò, là mục tiêu, là áp lực. Ở đó, ta chỉ là một con người. Và đôi khi, chỉ cần được là một con người như thế thôi, lòng đã dịu đi rất nhiều.
Ta thường sợ dừng lại vì nghĩ dừng là tụt lại. Nhưng không phải mọi sự dừng đều là lùi. Có những lần dừng là để khỏi lạc. Có những lần chậm là để khỏi vỡ. Có những lần ngồi xuống là để mình không ngã gục. Có những lần sống ít đi một chút ở bên ngoài là để sự sống bên trong được thêm lại. Thế giới ngày nay có quá nhiều lời thúc giục: phải hơn nữa, nhanh nữa, nhiều nữa, giỏi nữa. Nhưng rất ít ai nhắc ta rằng cũng có những lúc cần ít lại, chậm lại, nhẹ lại, thở lại. Không phải vì thiếu chí tiến thủ, mà vì muốn đi đường dài. Người không biết nghỉ sẽ không bền. Người không biết vui lành mạnh sẽ khó giữ lòng mình mềm lâu dài. Người không biết sống cho ra sống rồi sẽ có lúc hỏi chính mình: mình đã đi suốt quãng đường này để làm gì?
Và đến đây, có lẽ câu hỏi ban đầu lại hiện ra rõ hơn: chúng ta đang sống, hay chỉ đang tồn tại? Nếu mỗi ngày của ta chỉ còn là hoàn thành, chịu đựng, tiếp tục, lặp lại, có lẽ ta đang tồn tại nhiều hơn là sống. Nếu niềm vui luôn bị hoãn. Nếu hạnh phúc luôn phải đợi. Nếu tâm hồn luôn xếp sau cùng. Nếu mọi sở thích, mọi rung động, mọi khoảng thở đều bị xem là không cần thiết, có lẽ ta đang để cuộc đời biến mình thành một cỗ máy vận hành rất tốt nhưng thiếu linh hồn. Điều đó không có nghĩa là ta phải bỏ hết để đi tìm cảm giác sống. Không. Mà là trong chính cuộc sống này, với những trách nhiệm thật, những giới hạn thật, những gánh nặng thật, ta cần can đảm tạo ra những khoảng sáng thật. Cần can đảm cho mình quyền được sống. Cần can đảm bảo vệ phần hạnh phúc chính đáng của mình. Cần can đảm giữ lại cho tâm hồn một góc không bị xâm chiếm hoàn toàn bởi những tiếng ồn của bổn phận.
Bởi cuối cùng, một đời người không được đo chỉ bằng năng suất. Không được đo chỉ bằng số tiền kiếm được. Không được đo chỉ bằng bao nhiêu việc đã hoàn thành. Một đời người đáng quý còn nằm ở chỗ con người ấy đã cảm được bao nhiêu vẻ đẹp, đã giữ được bao nhiêu bình an, đã sống với bao nhiêu chân thành, đã yêu với bao nhiêu hiện diện, đã không bỏ lỡ bao nhiêu điều nhỏ mà sâu. Người ta có thể quên những thành tựu cụ thể của ta. Nhưng những người sống gần ta sẽ nhớ ta đã hiện diện thế nào: căng thẳng hay bình an, dịu dàng hay nóng nảy, sống động hay cạn khô. Và chính ta, ở cuối hành trình, cũng sẽ không hỏi mình đã có bao nhiêu bảng thành tích, mà sẽ hỏi: ta đã sống chưa? Ta đã thật sự vui chưa? Ta đã cho trái tim mình cơ hội nở hoa chưa? Ta đã để cuộc đời chạm vào mình chưa, hay chỉ vội vã đi ngang qua nó?
Mong cho mỗi chúng ta, giữa những bộn bề rất thật của kiếp người, không quên nuôi dưỡng sự sống bên trong. Mong cho ta vẫn sống trách nhiệm, nhưng không đánh mất hạnh phúc chính đáng. Mong cho ta vẫn biết phấn đấu, nhưng không quên mỉm cười. Mong cho ta vẫn lo cho tương lai, nhưng không đánh rơi hiện tại. Mong cho ta vẫn yêu thương người khác, nhưng cũng biết thương lấy tâm hồn mình. Mong cho ta không đợi đến khi “đủ đầy” mới bắt đầu tận hưởng những điều xứng đáng, vì đôi khi chính những điều xứng đáng ấy làm cho những ngày chưa đủ đầy trở nên đáng sống hơn.
Và khi một ngày nào đó chuyến đi dài dần khép lại, mong rằng điều còn đọng trong lòng ta không chỉ là cảm giác đã cố gắng rất nhiều, mà còn là sự ấm áp vì biết rằng mình đã không bỏ quên đời mình. Mình đã sống trách nhiệm, nhưng cũng sống có hồn. Mình đã lo cho người khác, nhưng cũng không bỏ đói hạnh phúc của chính mình. Mình đã đi qua năm tháng không chỉ như một kẻ tồn tại kiên cường, mà như một con người thật sự đã sống, đã cảm, đã yêu, đã vui, đã gìn giữ trong lòng một bản tình ca riêng.
Mong cho tôi, và cũng mong cho người, giữa bao bận rộn và những ngày tháng dễ làm tâm hồn cằn đi, sẽ vẫn tìm được cho mình một nơi để thở, một điều để yêu, một niềm vui để giữ, một nhịp sống có quân bình, một bầu khí có bình an, một bản tình ca hạnh phúc cho riêng mình. Để rồi giữa cuộc đời này, ta không chỉ hiện diện. Ta sống. Thật sự sống.
Lm. Anmai, CSsR
2026
BỘ LOAN BÁO TIN MỪNG CHO CÁC DÂN TỘC GỬI THƯ PHÂN ƯU VỀ SỰ QUA ĐỜI CỦA ĐỨC HỒNG Y GIOAN BAOTIXITA PHẠM MINH MẪN
BỘ LOAN BÁO TIN MỪNG CHO CÁC DÂN TỘC GỬI THƯ PHÂN ƯU VỀ SỰ QUA ĐỜI CỦA ĐỨC HỒNG Y GIOAN BAOTIXITA PHẠM MINH MẪN
Bộ loan báo Tin Mừng cho các Dân tộc
Rôma ngày 24 tháng 3 năm 2026
Kính gửi:
Đức Tổng Giám mục Giuse NGUYỄN Năng
Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh
VIỆT NAM
Hôm nay, chúng tôi thật đau buồn đón nhận tin Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, nguyên Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, đã qua đời. Chúng tôi xin gửi đến Đức Tổng Giám mục và toàn thể cộng đoàn dân Chúa của Tổng Giáo phận lời phân ưu chân thành, cùng với lời cầu nguyện tha thiết của chúng tôi.
Chúng tôi nhớ đến những nỗ lực dấn thân không mệt mỏi của Đức Hồng Y cho công cuộc đối thoại và lòng kiên nhẫn của Ngài trong việc kiến tạo sự hòa giải. Quả thật, đôi tay của Ngài không bao giờ là dấu chỉ của quyền lực, nhưng luôn là khí cụ kiến tạo sự bình an; Ngài đã không ngừng nỗ lực hướng đến những người nghèo khổ và những người bên lề (xã hội).
Trong tâm tình biết ơn sâu sắc đối với lòng nhiệt thành truyền giáo của Ngài, Bộ Loan báo Tin Mừng cho các Dân tộc nguyện xin cho linh hồn Đức Hồng Y Gioan Baotixita được nghỉ an muôn đời trong lòng thương xót của Thiên Chúa Cha chúng ta trên trời.
ĐỨC HỒNG Y LUIS ANTONIO GOKIM TAGLE
Bổ trưởng Phân bộ
ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC FORTUNATUS NWACHUKWU
Thư ký
