Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • uncategorized
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Suy niệm hàng ngày

Home / Phụng vụ / Suy niệm hàng ngày
02Tháng Sáu
2024

MẾN CHÚA – YÊU NGƯỜI

02/06/2024
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

6.6 Thứ Năm trong tuần thứ Chín Mùa Quanh Năm

2 Tm 2:8-15; Tv 25:2-5,8-9,10,14; Mc 12:28-34

MẾN CHÚA – YÊU NGƯỜI

Trong bài Tin Mừng hôm nay, nhờ cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và vị kinh sư, chúng ta biết được giới răn đứng hàng đầu là yêu Chúa trên hết mọi sự và yêu người thân cận như chính mình. Động từ “yêu” tóm gọn những gì mà Chúa muốn truyền đạt. Tuy nhiên nếu chúng ta đọc câu trả lời của Chúa Chúa Giêsu một cách chậm rãi, thì lệnh truyền “nghe đây”, sự lắng nghe, được nói đến trước giới răn yêu thương.

Tin Mừng thuật lại: có một Luật Sĩ đến hỏi Chúa Giêsu: “Thưa thầy, trong các giới răn, giới răn nào đứng hàng đầu?”. Chúa Giêsu đã thấy được lòng tốt và nhất là sự khao khát của ông ta, nên Ngài đã mạc khải cho ông Luật Sĩ này ngay tức khắc khi nói cho ông biết về giới luật quan trọng nhất chính là: yêu mến Thiên Chúa trên hết và yêu thương người thân cận như chính mình.

Phản ứng của Luật Sĩ này là hết sức thán phục những lời dạy khôn ngoan của Chúa Giêsu. Thật vậy, vì lòng chân thành đi tìm kiếm chân lý, lẽ sống, nên Chúa Giêsuđã khen ngợi ông và nói cho ông biết: ông không còn xa Nước Thiên Chúa.

Các câu hỏi của người luật sĩ trong bài Tin mừng là một vấn đề nan giải của người Do thái bấy giờ. Họ phân luật thành 613 điều khác nhau: 248 điều phải thi hành và 365 điều cấm. Vì giới luật quá nhiều nên họ không thể xác định được đâu là điều chính yếu và quan trọng nhất. Chúa Giêsuđã cho họ câu trả lời thật xác đáng và đồng thời chứng tỏ Người là Chúa của Lề luật. Người cho biết tất cả các giới luật đều quy về giới răn duy nhất: mến Chúa – yêu người, hai điều này không thể tách rời nhau.

Con người là sinh vật có xã hội tính, tức là có nhu cầu sống chung với nhau. Tuy nhiên, vì con người còn có tự do, nên để sống chung hoà thuận, mỗi quốc gia hay tập thể cần có luật quy định các bổn phận và trách nhiệm của mỗi người, để không ai đụng chạm và làm mất lòng người khác.

Thời Chúa Giêsu, nước Do thái cũng có bộ luật gồm hàng trăm khoản luật khác nhau, và họ không biết điều nào là quan trọng nhất. Vì thế hôm nay, một luật sĩ hỏi Chúa Giêsu một câu hỏi hóc búa: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào trọng nhất?” Chúa Giêsu đã trả lời rằng: hai giới luật quan trọng nhất là yêu mến Thiên Chúa hết lòng và yêu thương tha nhân như chính mình. Như vậy, cốt lõi của mọi điều luật là lòng yêu mến. Mến Chúa yêu người tuy là hai giới răn khác nhau, nhưng lại không thể tách biệt nhau.

Như vậy, cốt cách của đạo chúng ta là “Mến Chúa – yêu người”. Nếu chúng ta muốn dùng một chữ thôi để diễn tả đạo Chúa qua Kinh thánh, thì không chữ nào thích hợp hơn là chữ “yêu”, đó là yêu Chúa và yêu người. Tuy nhiên yêu Chúa, có thể nói: dễ hơn, vì Chúa dễ yêu lắm, ai yêu Chúa cũng được, và yêu Chúa hết lòng, hết sức. Còn yêu người? Khó hơn, nên chúng ta cần nói nhiều hơn về yêu người.

Nói về yêu người, chúng ta cũng đã nghe nói nhiều rồi, nhưng cũng chẳng bao giờ nói đủ, nghe đủ. Vì thế, chỉ xin nhắc lại một vài điều: Thứ nhất, yêu người là một trắc nghiệm không thể chối cãi được của tình yêu đối với Thiên Chúa, nghĩa là nếu chúng ta nói: chúng ta yêu Chúa lắm mà lại đối xử tệ với người khác, bất kể người đó là ai, chúng ta vẫn là người nói dối, và Chúa sẽ không nhận lòng yêu mến của chúng ta. Thánh Gioan nói: “Nếu ai nói tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối”.

Thứ hai, yêu người không phải chỉ là yêu thương theo tình cảm, bởi vì Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta phải yêu thương cả kẻ thù. Nếu chúng ta chỉ yêu thương những người yêu thương mình, quý mến mình, là chuyện bình thường, không cần gì phải nói.

Thứ ba, yêu người là sẵn sàng giúp đỡ họ bằng lời nói, thái độ, việc làm, tinh thần hay vật chất. Sau hết chúng ta ta hãy nhớ: tới ngày phán xét, chúng ta sẽ bị phán xét về tình yêu cụ thể này, tức tình yêu người, tình yêu thương anh em.

Tình yêu là nền tảng cho đời sống đạo. Không thấy bóng dáng của tình yêu thì cuộc sống sẽ trở thành gánh nặng. Sống đạo là đi vào trong tương quan giao ước tình yêu, để sống với cả con tim, cả khối óc, cả cuộc đời. Tình yêu con người lấy tình yêu Thiên Chúa làm mẫu mực, vì thế, Chúa Giêsu đã nối kết điều răn yêu người thân cận với điều răn thứ nhất. Và ai là người thân cận với ta nhất nếu không phải là những người trong gia đình?

Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta bị kinh tế thị trường làm cho đời sống đức tin bị trao đảo. Nhiều khi chúng ta đặt bậc thang giá trị của mình dựa trên tiền bạc, chức quyền, danh vọng… Vì thế, đã biết bao lần chúng ta rơi vào tình trạng lập lờ, bắt cá hai tay, chỉ còn biết cái lợi trước mắt mà không hề nghĩ đến cuộc sống đời sau. Giới răn mến Chúa, yêu người là cái gì đó không được chúng ta quan tâm nếu không muốn nói là coi thường!

Trong văn hóa hằng ngày, khi lắng nghe ai đó, nghĩa là chúng ta đang có một thái độ tự hạ, sẵn sàng đón nhận lời chia sẻ, hướng dẫn, khuyên răn… của người khác. Lắng nghe thể hiện tinh thần luôn biết đón nhận. Và chúng ta chỉ có thể cho đi những gì mà chúng ta đã lãnh nhận được.

Giờ đây, chúng ta thấy rằng, Chúa Giêsu không chỉ truyền cho chúng ta cần có một tình yêu với Thiên Chúa và với con người, nhưng trước hết Người mời gọi chúng ta hãy “nghe”, tức là để cho tình yêu của Chúa tràn ngập tâm hồn chúng ta trước. Trước khi yêu chúng ta cần có kinh nghiệm được ai đó yêu thương. Muốn cho đi tình yêu, thì đầu tiên chúng ta cần đón nhận được tình yêu.

Thiên Chúa là tình yêu và Ngài đã yêu chúng ta từ đời đời. Có lẽ mỗi chúng ta đều nhận ra điều này trong cuộc sống hôm nay. “Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực và yêu người thân cận như chính mình” là một đòi hỏi khó và cần sự cố gắng rất nhiều từ chính chúng ta. Nhưng nếu chúng ta cảm nhận được tình thương bao la mà Thiên Chúa đã dành cho chúng ta và nếu chúng ta hiểu được giá trị của tình yêu tự hiến của Chúa Giê-su trên thập giá, thì chắc chắn chúng ta dễ dàng chu toàn giới răn yêu thương mà Người đã chỉ dẫn cho chúng ta.

Lời Chúa hôm nay cật vấn lương tâm chúng ta về những chọn lựa bấy lâu nay! Đồng thời, mời gọi chúng ta hãy yêu mến và trung thành giữ Luật Chúa thì chúng ta sẽ được hạnh phúc. Mặt khác, khi giữ luật Chúa, chúng ta có một cuộc sống bình an, thanh thản và luôn biết yêu thương, tôn trọng nhau để cùng nhau xây dựng Nước Chúa.

 

Read More
02Tháng Sáu
2024

TIN VÀO SỰ SỐNG LẠI

02/06/2024
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

5.6 Thánh Boniface, Gmtđ

2 Tm 1:1-3,6-12; Tv 123:1-2,2; Mc 12:18-27

TIN VÀO SỰ SỐNG LẠI

Thánh Boniface, vị tông đồ của người Ðức, là một đan sĩ người Anh thuộc Dòng Biển Ðức, đã hy sinh vinh dự khi được chọn làm đan viện trưởng để tận hiến cuộc đời trong việc hoán cải các sắc tộc ở Ðức. Ngài có hai đặc tính nổi bật: Kitô Giáo chính truyền và trung thành với đức giáo hoàng ở Rôma.

Thánh Boniface, tên thật là Wilfrith, sinh ở Anh Quốc. Ngay khi còn nhỏ, hình ảnh cao quý của các đan sĩ truyền giáo đã in sâu trong tâm khảm của ngài, do đó, khi bảy tuổi ngài đã nài nỉ xin theo học trường dòng, dù rằng cha ngài mong muốn cho con một sự nghiệp ở ngoài đời.

Lớn lên, ngài làm giám đốc một trường học ở Nursling, Winchester, tại đây ngài là người đầu tiên viết về văn phạm Latinh bằng tiếng Anh, cũng như sáng tác nhiều bài diễn giảng được nhiều người sao chép và phổ biến.

Năm ba mươi tuổi, ngài được thụ phong linh mục và đi rao giảng ở Friesland (thuộc Hòa Lan bây giờ), nhưng không bao lâu ngài phải trở về Nursling vì cuộc chiến giữa vua ngoại giáo của Friesland và Charles Martel của Pháp.

Sau cái chết của đan viện trưởng, các đan sĩ ở Nursling tìm cách giữ chân ngài bằng cách bầu ngài làm đan viện trưởng, nhưng ngài đã từ chối để tận hiến cho công cuộc truyền giáo.

Năm 718, ngài đến Rôma để gặp Thánh Giáo Hoàng Grêgôriô II, là người sai ngài đi truyền giáo cho người Ðức ở Hesse và Bavaria.

Ở Hesse, trước sự hiện diện của đám đông người ngoại giáo rất tin dị đoan, ngài đã chặt cây Sồi Thần Linh ở Geismar to lớn và già nua, được dân ngoại dâng cúng cho thần Thor. Người ta kể chỉ sau vài nhát rìu, cây sồi đã lung lay và sụp đổ, tách ra làm bốn cho thấy sự mục nát bên trong. Ðó là khởi đầu của một công cuộc truyền giáo rất thành công của Thánh Boniface và cũng là hạt giống đức tin cho một giáo hội đầy sinh lực ở Ðức, mà sau này Thánh Boniface được tấn phong làm giám mục ở đây. Ngài xin các Kitô Hữu ở Anh hỗ trợ công cuộc truyền giáo của ngài và họ đã đáp ứng với tài chánh, sách vở, vật liệu, và nhất là thường xuyên cung cấp các đan sĩ để giúp đỡ ngài trong việc giảng dạy.

Thánh Boniface không chỉ hạn chế hoạt động ở nước Ðức. Ngài còn giúp hình thành sự tương giao giữa Ðức Giáo Hoàng và các vua ở Ý cũng như ở Pháp. Ngài thúc giục các thái tử kế vị vua Charles của Pháp triệu tập công đồng để cải tổ giáo hội trong các phần đất của họ, là nơi chức giám mục được bán cho những người trả giá cao nhất.

Ngài không bao giờ quên sự thất bại ở Friesland, do đó khi về già, ngài từ chức giám mục và trở về hoạt động ở đây với sự thành công đáng kể. Vào một ngày trong tháng Sáu năm 754, khi ngài đang chuẩn bị cho người Friesland chịu phép Thêm Sức thì tất cả bị tấn công và bị giết chết bởi các chiến sĩ ngoại giáo.

Câu trả lời của Chúa Giêsu trước vấn nạn kẻ chết sống lại của nhóm Sađốc cho thấy, cái nhìn của họ về cuộc sống đời sau còn quá hạn hẹp. Họ không hiểu ý nghĩa của sự phục sinh hàm chứa trong câu Kinh thánh: Thiên Chúa là Chúa của các tổ phụ, Người là Thiên Chúa của kẻ sống. Nếu tin Thiên Chúa hằng hữu, thì phải tin con người có cuộc sống đời sau. Họ không chấp nhận sự kiện con người sẽ sống lại, vì họ không chịu tìm hiểu Kinh thánh.

Tin mừng hôm nay mô tả cuộc đụng độ đầu tiên của Chúa Giêsu và nhóm Sađốc. Những người Sađốc thuộc về hàng tư tế quý tộc. Về mặt chính kiến, họ theo bọn xâm lược. Về mặt tôn giáo, họ rất bảo thủ. Đối với họ, lề luật phải tuân theo chỉ có trong năm cuốn sách đầu tiên của bộ Kinh thánh. Họ phi bác mọi giáo thuyết xuất hiện sau này do các tiên tri và các bậc trí giả giảng dạy, chẳng hạn việc kẻ chết sống lại. Do đó chẳng có gì ngạc nhiên, khi họ tấn công Chúa Giêsu về vấn đề này.

Nhóm Sađốc đã tranh luận với Chúa Giêsu về sự sống lại. Để chế nhạo sự sống lại, nhóm Sađốc bịa ra câu chuyện tưởng tượng là có 7 anh em trai, người thứ nhất kết bạn, nhưng chết mà không trối hậu, người thứ hai lấy người góa phụ đó, rồi cũng chết không con, người thứ ba cũng vậy. Cả 7 người lấy người vợ góa đó đều chết cả và đều không có con, thế thì ngày sống lại, người góa phụ đó sẽ là vợ của ai?

Đáp lại, Chúa Giêsu đã mạc khải một chân lý tràn trề hy vọng: Sau cuộc sống trần gian chóng qua này con người sẽ được phục sinh, được biến đổi thành như các thiên thần và vẫn tiếp tục sống. Đó là nền tảng của giá trị con người. Giá trị ấy được Chúa Giêsu nêu bật khi nói: “Thiên Chúa là Chúa của kẻ sống”.

Vì họ không tin có việc kẻ chết sống lại nên họ đặt ra một câu chuyện (một phụ nữ lấy 7 anh em trai theo tục lệ “thế huynh”) để cho thấy sống lại là một sự lố bịch. Trả lời họ, Chúa Giêsu không những chứng minh có việc sống lại, mà còn cho biết cuộc sống sau khi sống lại sẽ như thế nào. Trước hết, cuộc sống đời sau không giống cuộc sống hiện tại, cho nên không cần lưu truyền nòi giống và bởi thế không cần có vợ có chồng. Tiếp theo, cuộc sống ấy “giống như các thiên thần” : nghĩa là không quan tâm đến gì khác ngoài việc yêu mến và thờ phượng Thiên Chúa. Chúng ta thấy những người phái Sa-đốc tuy là tư tế nhưng không quan tâm tới những việc đạo đức cho bằng tới những đặc quyền đặc lợi của họ.

Để bảo vệ những quyền lợi ấy, họ sẵn sàng ủng hộ bất cứ chế độ nào đang cầm quyền, cho dù đó là chính quyền đế quốc Rôma đang xâm lược đất nước họ. Chính vì thế, họ không tin sự sống lại và không tin đời sau là phải, bởi vì ai càng coi trọng đời này và những giá trị đời này thì càng coi nhẹ đời sau và các giá trị đời sau. Càng thiên về xác thịt thì càng yếu về tinh thần. Đức tin dạy chúng ta rằng cuộc sống đời này chỉ là chuẩn bị cho cuộc sống đời sau, vốn là cuộc sống thật. Mà sống thật là sống “như các thiên thần” nghĩa là không quan tâm gì khác ngoài yêu mến và phụng thờ Thiên Chúa. Thiên Chúa không để cho con người sống mãi trong cuộc sống tại thế này, bởi vì còn có một cuộc sống đáng quý hơn, đó là cuộc sống vĩnh cửu. Có những giá trị cao cả gấp bội phần so với sự sống, sức khoẻ và mọi thứ của cải trên thế gian.

Chúa Giêsu cũng đã dùng Kinh Thánh để minh chứng cho giáo lý của Người: “Các ông đã không đọc trong sách Môsê sao: Ta là Chúa của Abraham. Chúa của Ixaac và Chúa của Giacóp. Người không phải là Chúa của kẻ chết. Nhưng là của kẻ sống. Các ông lầm to” (Mc 12,26-27). Họ đề cập đến Kinh Thánh, Đức Giêsu lật ngược lý chứng của họ, bằng cách trích dẫn một đoạn trong Ngũ Kinh (Xh 3,6), là sách Thánh duy nhất được Nhóm Xa-đốc thừa nhận. Một lần nữa, chúng ta khám phá ra một Chúa Giêsu hiểu biết Kinh Thánh rất tinh tường và Người có thể trích dẫn theo trí nhớ từng câu một để chống lại mọi cuộc tranh luận.

Kiểu nói “giống như các thiên thần” có ý khẳng định rằng: việc kẻ chết sống lại không phải là trở lại đời sống trần thế, nhưng là một sự tái tạo dựng, không thể tưởng tượng được, một biến đổi tận căn của hữu thể nhân linh. Giáo huấn này dạy về tình trạng của những kẻ sống lại được kết thúc bằng sự khẳng định: “Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại” (Lc 20, 36), điều này làm cho họ sinh ra trong tình trạng thiên quốc, là tình trạng của các thiên thần (St 6, 2).

Thiên Chúa muốn con người được sống và sống dồi dào, tức là được tham dự sự sống vĩnh cửu của Ngài. Sự sống ấy chính là lời đáp cho những khắc khoải, khát vọng không ngừng của con người. Chính vì thế mà sự sống lại trong ngày sau hết phải là sức đẩy của đức tin và niềm hy vọng Kitô giáo.

Cuộc sống đời này chỉ là chuẩn bị cho cuộc sống đời sau, vốn là cuộc sống thật. Mà sống thật là sống “như các thiên thần”, nghĩa là không quan tâm gì khác ngoài yêu mến và phụng thờ Thiên Chúa. Thiên Chúa không để cho con người sống mãi trong cuộc sống tại thế này, bởi vì còn có một cuộc sống đáng quý hơn, đó là cuộc sống vĩnh cửu. Có những giá trị cao cả gấp bội phần so với sự sống, sức khỏe và mọi thứ của cải trên thế gian. Sống thật chính là dệt nên cuộc sống vĩnh cửu ấy qua từng khoảnh khắc trong cuộc sống tại thế.

 

 

 

Read More
02Tháng Sáu
2024

Bổn phận của công dân Nước Trời

02/06/2024
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

4.6Thứ Ba trong tuần thứ Chín Mùa Quanh Năm

2 Pr 3:12-15,17-18; Tv 90:2,3-4,10,14,16; Mc 12:13-17

Bổn phận của công dân Nước Trời

Tin Mừng hôm nay ghi lại một cuộc tranh luận khác giữa Chúa Giêsu và các vị lãnh đạo Do Thái. Ở đây, chúng ta lại thấy hai nhóm liên kết lại, kể từ khi họ bắt hụt Chúa Giêsu khi Ngài rao giảng ở Capharanaum (3, 6). Phái Hêrôđê ủng hộ Hêrôđê Antipa, thủ hiến xứ Galilê thì dựa vào thế lực của Rôma, còn nhóm Biệt phái cũng khá hòa hoãn với giới thống trị.

Thái độ sống giả hình là thái độ của những kẻ đóng kịch, cố làm sao cho người khác thấy sự tốt nơi mình, mà thực ra mình không có. Những người Biệt phái và những người thuộc phái Hêrôđê là những kẻ giả hình, bởi vì họ làm ra vẻ muốn tìm biết sự thật, mà kỳ thực chỉ là để tìm dịp bắt bẻ Chúa. Họ đến với Chúa, khen Ngài là người chân thật, cứ theo sự thật mà giảng dạy đường lối của Thiên Chúa. Nhưng rất tiếc lời nói khéo léo của họ lại che đậy một thủ đoạn, một âm mưu trả thù. Đó là đường lối của con người, nhất là của hạng người vụ lợi, ích kỷ, tham quyền.

Thật thế, sau khi giả vờ khen Chúa, họ liều chất vấn Ngài: “Có được phép nộp thuế cho Xêda không?” Vấn đề xem ra đơn giản, nhưng thực ra là một cạm bẫy.

Theo họ, Chúa Giêsu là nhà cách mạng thuộc dòng Đavít, chắc hẳn Ngài không thể chấp nhận quyền bính ngoại xâm, và như vậy Ngài sẽ bảo họ không bắt bớ, giải nộp và giết Ngài. Nhưng đối với Chúa Giêsu, cái bẫy của họ không có gì nan giải, vì khôn ngoan của loài người chỉ là dại khờ trước mặt Thiên Chúa. Mặc dù biết rõ ý đồ của họ, Chúa Giêsu vẫn tỏ ra hết sức chân thật; Ngài còn nhân cơ hội này để đưa ra một bài học: Ngài bảo họ cho xem đồng tiền và sau khi được biết hình và dấu trên đồng tiền là của Xêda, Ngài nói tiếp: “Của Xêda, trả về Xêda, của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa.” Nói khác đi, một khi đã hưởng nhờ ơn lộc của ai, thì phải đền ơn đúng nghĩa, họ đã nhờ bổng lộc của Xêda, thì có bổn phận đền đáp cho Xêda, nhưng Chúa cũng nhắc thêm bổn phận của con người đối với Thiên Chúa; con người đã nhận lãnh nhiều ơn huệ của Thiên Chúa, nên cũng phải đền đáp ơn Ngài.

Chúa Giêsu nhìn nhận vai trò đúng đắn của quyền bính trần thế không phải là quyền bính duy nhất trên con người, mà còn có quyền bính của Thiên Chúa nữa. Có những điều con người phải trả cho Thiên Chúa, vì con người đã được tạo dựng theo và giống hình ảnh Ngài; con người mắc nợ Thiên Chúa sự sống, nên con người buộc phải dâng hiến mạng sống cho Ngài và để Ngài chiếm chỗ ưu tiên trong cuộc sống của mình.

Đoạn Tin Mừng cho chúng ta thấy, những người thuộc phái Pharisiêu và phái Hêrôđê đến gặp Chúa Giêsu, hầu chất vấn và gài bẫy để bắt Người. Kể ra, cái bẫy mà họ giăng ra cũng lợi hại thật! Vì lẽ, nếu Chúa Giêsu nói “có” thì cũng mắc bẫy, mà nói “không” thì lại càng bị sập nặng nữa. Nếu nói có, thì họ sẽ cho là Chúa Giêsu theo đế quốc, phản lại dân tộc Do Thái; còn nếu nói không, thì Người sẽ phạm ngay một tội chính trị: không phục quyền hoàng đế La Mã.

Tuy nhiên, chúng ta thấy câu trả lời của Chúa Giêsu đã làm cho họ hết sức ngạc nhiên về Người. Câu trả lời của Chúa chẳng những không làm cho Người mắc bẫy họ giăng, mà trái lại, còn làm cho họ sáng mắt ra. Thật đúng “gậy ông lại đập lưng ông” là thế! Chúa Giêsu đã dạy cho họ một nguyên tắc căn bản rằng: “Của Caesar, trả về Caesar; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”. Tuy nhiên, thực tế thì họ là những người biết trả thuế cho Caesar, nhưng chẳng những không làm đủ và đúng bổn phận với Thiên Chúa, mà còn tìm cách chiếm đoạt của “Ông chủ” nữa.

Câu chuyện trong đoạn Tin Mừng hôm nay xảy ra sau dụ ngôn “Những tá điền sát nhân”. Vườn nho thuộc về ông chủ là Thiên Chúa, những tá điền là các nhà hữu trách tôn giáo Israel đã không trả hoa lợi lại cho ông chủ là Thiên Chúa, mà còn muốn chiếm làm của riêng mình và đang tâm giết cả người con yêu dấu của ông chủ. Đó là một hình thức lợi dụng tôn giáo cho mục đích riêng của mình. Ngày nay, người Công Giáo cũng như người ngoài Công Giáo cũng có thể lợi dụng tôn giáo dưới nhiều hình thức vì mục đích riêng của mình. Đơn cử, tôi cúng một số tiền lớn vào việc xây cất nhà thờ để được ghi tên vào sổ vàng; hay, tôi rất siêng năng đạo đức, nhưng hễ ai động đến tự ái của tôi là tôi liền nổi đóa lên ngay. Đó là những hình thức lợi dụng tôn giáo cách tinh vi để đưa mình lên, tuy chỉ có thể là vô tình.

Ta có thể tự bảo: người Do Thái đã lừa Chúa Giêsu để cho Người sập bẫy, phần tôi, tôi có lừa ai đâu! Có chứ: nói dối là lừa đảo; sống giả hình là lừa đảo; bán đồ dỏm là lừa đảo. Thế gian thường nói: “bề ngoài thơn thớt nói cười, bên trong nham hiểm giết người không dao”; hay “miệng thì nam mô, mà bụng thì lại một bồ dao găm”. Những hình thức giả dối, lừa đảo ấy xảy ra thường xuyên trong xã hội hôm nay. Vì thế, là người Công Giáo, chúng ta hãy nhớ Lời Chúa Giêsu đã dạy chúng ta rằng: “có thì nói có, không thì nói không, thêm bớt vào là do ma quỷ” (Mt 5, 37).

Xin Chúa soi sáng để chúng ta biết phân biệt điều gì thuộc Xêda, điều gì thuộc Thiên Chúa, để chu toàn bổn phận đối với trần thế và đối với Thiên Chúa.

 

 

Read More
28Tháng Năm
2024

ĐỪNG SÁT NHÂN

28/05/2024
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

3.6Thánh Charles Lwanga và các bạn tử đạo

2 Pr 1:2-7; Tv 91:1-2,14-15,15-16; Mc 12:1-12

ĐỪNG SÁT NHÂN

Kitô giáo còn hoàn toàn mới lạ đối với Phi châu cho tới khi việc truyền bá đạo Công giáo bắt đầu khai mào từ năm 1879. Các linh mục là những tu sĩ dòng Thừa Sai Phi Châu. Các ngài được mọi người biết đến dưới tước hiệu “các cha áo trắng” vì các ngài mang bộ tu phục màu trắng.

Vua Mwanga chẳng biết Kitô giáo rao giảng những gì nhưng ông cảm thấy bực mình khi một tín hữu Công giáo là Giuse Mkasa khiển trách lối sống của ông. Vua đã sát hại một nhóm Kitô hữu và cả vị giám mục thân yêu của họ. Vua cũng can dự vào sinh hoạt đồng tính luyến ái. Ông đặc biệt ưa thích các chú tiểu đồng. Rồi sự bực mình của vua Mwanga trở nên phẫn nộ và căm thù đối với Giuse Mkasa và tôn giáo của anh. Một số giới chức tham tham của nhà vua đã kích động tâm trạng vua với những lời xu nịnh gian trá. Thế là vào ngày 18 tháng Mười Một năm 1885, Giuse Mkasa bị đem ra xử trảm. Cuộc bách hại khủng bố bắt đầu. Trước khi nó kết thúc, hàng trăm người đã bị thiệt mạng. Hai mươi hai người trong số họ được tôn phong lên bậc hiển thánh.

Với cái chết của Giuse Mkasa, Carôlô Lwanga trở thành thầy dạy đạo chính yếu cho các chú tiểu đồng của vua. Vào ngày 26 tháng Năm năm 1886, vua Mwanga nhận thấy một số tiểu đồng của ông là tín hữu Công giáo. Ông cho gọi Đênis Sêbugwawo vào. Ông hỏi có phải Đênis đã dạy đạo cho các tiểu đồng không. Đênis trả lời phải. Nhà vua liền chụp lấy ngọn giáo của mình và phóng xuyên qua cổ họng chàng thanh niên. Rồi ông la lớn tiếng không cho phép ai được rời khỏi tổng hành dinh của ông. Tiếng trống đấu tranh vang lên thâu đêm. Trong một căn phòng kín ẩn, Carôlô Lwanga đã bí mật rửa tội cho bốn chú tiểu đồng. Một em trong bọn trẻ là thánh Kizitô, chú bé mười ba tuổi có tính tình vui tươi quảng đại. Kizitô là người bé nhất trong nhóm. Thánh Carôlô Lwanga thường hay bảo vệ Kizitô thoát khỏi lòng ham muốn dâm dật của vua Mwanga.

Hầu như hai mươi hai vị thánh tử đạo Uganđa này đã bị giết chết vào cùng ngày mùng 3 tháng Sáu năm 1886. Các ngài bị bắt đi bộ chừng năm mươi chín cây số đến nơi hành quyết. Sau ít ngày bị giam tù, người ta ném các ngài vào một đống lửa lớn. Mười bảy người trong số ấy là những chú tiểu đồng thuộc vương gia. Một trong các cậu bé tử đạo là thánh Mbaga. Hôm ấy chính thân phụ ngài là người đao phủ. Một vị tử đạo khác là thánh Anrê Kagwa, mất ngày 27 tháng Giêng năm 1887, cũng ở trong số hai mươi hai vị tử đạo được đức thánh cha Phaolô VI tôn phong lên bậc hiển thánh năm 1964.

Carôlô Lwanga là thánh bổn mạng của giới trẻ da mầu Phi châu. Ngài và các bạn tử đạo đã hết sức hiểu rõ và quý trọng ơn đức tin của mình. Các ngài đã là những anh hùng! Chúng ta hết thảy hãy cầu xin cùng thánh Carôlô Lwanga và các thánh tử đạo Phi châu này. Hãy xin các ngài chỉ cho chúng ta biết cách làm chứng cho Đức Chúa Giêsu và Giáo hội như các ngài.

Trong dụ ngôn chúng ta nghe hôm nay, ông chủ vườn nho ám chỉ Thiên Chúa; còn các tá điền sát nhân ám chỉ các thượng tế, luật sĩ và kỳ lão được nói tới trong Mc 11, 27. Những người này có trách nhiệm và bổn phận chăm sóc Israel, là vườn nho, nhưng đã không biết làm cho vườn nho (12, 1) sinh lời.

Trái lại, họ đã ngược đãi các đầy tớ của “ông chủ” là “các ngôn sứ”. Và rồi, nhân vật cuối cùng được cử đến là chính Chúa Giêsu – Người Con yêu dấu của “ông chủ”. Tuy nhiên, vì muốn chiếm đoạt gia tài, nên họ đã bắt và đã giết chết Người ngoài Giêsusalem (bên ngoài vườn nho). Do vậy, vườn nho sẽ được giao lại cho người khác, là các tín hữu gốc dân ngoại. Còn, đá tảng chỉ về Chúa Giêsu (Tv 118, 12). Người như đá tảng góc tường làm vững chắc ngôi nhà.

Dụ ngôn khắc hoạ rõ nét cho chúng ta chân tướng của kẻ cướp. Họ không phải là chủ mà là người làm thuê. Thế mà họ toa rập với nhau, đánh đập, bắt bớ, làm hại hết người này đến người khác vốn là sứ giả của chủ. Rồi cả đến người con duy nhất, họ cũng giết đi và kéo ra khỏi vườn nho hòng âm mưu cướp cả vườn nho. Từ kẻ tá điền, họ muốn đổi ngôi thành ông chủ, từ người làm thuê, họ muốn đóng vai người định đoạt vận mệnh của chủ vườn. Chỉ chi tiết này thôi cũng gợi lên cho chúng ta nhiều suy nghĩ.

Xem ra tội kiêu căng ngạo mạn đang trở nên quá phổ biến trong thế giới chúng ta sống đây. Adam và Eva đã đi quá làn ranh đỏ của việc ăn trái cấm, muốn gnang bằng Thiên Chúa. Thứ AND kiêu ngạo ấy vẫn ngấm trong máu chúng ta và di truyền ngàn đời. Càng tân tiến, con người càng tưởng mình có thể làm được mọi sự, thay Chúa định đoạt mọi sự. Đức Giáo Hoàng Phanxicô có lần đã nói đại ý rằng, Chúa đang trở nên mờ nhạt vì cái tôi quá lớn của con người. Phải, như dụ ngôn nói, họ còn giết và kéo đứa con duy nhât của chủ ra khỏi vườn. Chủ thuyết duy vật và tục hoá của thế giới hôm nay cũng muốn loại Thiên Chúa ra khỏi thế giới mà Ngài dựng nên cách tốt đẹp, có tự do để cho chúng ta giết chết Ngài và loại bỏ Ngài như thế.

Chúng ta thấy, khi nghe dụ ngôn, người Do Thái đã hiểu ngay là Chúa Giêsu muốn ám chỉ về họ. Do vậy, họ đã định tâm tìm cách bắt Người. Nhưng tại sao thay vì ăn năn hối cải, họ lại muốn bắt và loại trừ Chúa Giêsu?

Thực ra, họ đã muốn loại trừ Chúa Giêsu từ lúc Người mới sinh ra tại Bêlem, khi Người còn là một hài nhi bé bỏng, chưa thể nói ra được một lời nào. Vì thế, nguyên nhân ý đồ của họ không phải là do lời giảng dạy của Chúa Giêsu đã chạm tự ái họ, nhưng vì sự có mặt của Người đã làm xáo trộn cuộc sống ổn định của họ. Hêrôđê thì sợ mất ngôi vua, còn các thượng tế, luật sĩ và kỳ lão thì lại sợ mất chỗ đứng của họ. Vì lẽ, trong xã hội Do Thái thời bấy giờ, họ là những người có địa vị, những đấng bậc được trọng vọng nhất. Đó là lý do sâu xa!

Ngày nay cũng thế, muốn sống Lời Chúa thì buộc ta phải thay đổi sao cho phù hợp với tin thần Phúc Âm. Đây là điều mà không mấy người dễ chấp nhận, bởi vì sự thay đổi như thế sẽ đem đến sự xáo trộn trong cuộc sống đã ổn định, bắt ta phải hy sinh và từ bỏ nhiều thứ. Vì thế, ta không tìm cách loại trừ Chúa, nhưng lại loại trừ Lời Chúa, và loại trừ cả những đòi hỏi của Lời Chúa nữa. Đó là nghịch lý của cuộc sống!

 

 

 

 

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 39
  • Page 40
  • Page 41
  • …
  • Page 343
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ
11/02/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2025
20/12/2025
THƯ GỬI ANH CHỊ EM GIÁO CHỨC CÔNG GIÁO NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11.2025  
17/11/2025
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.