2020
Học gương Thầy
9.4 Thứ Năm
Ga 13, 1-15
HỌC GƯƠNG THẦY
Tình yêu chính là ý nghĩa của Bí tích Thánh Thể.
Ngày hôm nay, ta cùng hiệp ý với Chúa Giêsu trong Bữa tiệc Vượt qua theo truyền thống Do thái với các môn đệ. Nhưng trước và sau bữa tiệc ấy, Người thết đãi họ thêm một món ăn và một món uống làm thành Bữa Tiệc Thánh Thể ám chỉ cuộc Vượt qua của Người. Chính Người không ăn bữa tiệc phụ trội ấy, vì người vừa là chủ đãi tiệc vừa là của ăn đem ra thết đãi thực khách; Người vừa là tư tế vừa là của lễ.
Ta nhận ra rằng trình thuật này sẽ được sáng tỏ hơn nếu đặt nó trong tương quan với biến cố vượt qua. Sự giải thoát của chúng ta, sự vượt qua từ cái chết đến sự sống, được đảm bảo nhờ chính cuộc vượt qua mà Đức Kitô đã thực hiện bằng viêc tự hạ mang lấy thập giá: việc tự hạ này được tiên báo trong cử chỉ khiêm tốn phục vụ thay thế các tông đồ.
“Trước lễ Vượt qua”, những chữ đầu tiên này rất quan trọng. Dầu người ta có giải quyết thế nào về vấn đề niên hiệu các ngày sau cùng, của cuộc đời Chúa Giêsu dưới thế này (đối với phúc âm nhất lãm, bữa tiệc ly xem ra trùng hợp với ngày lễ vượt qua của người Do thái, trong khi đó đối với Gioan, bữa tiệc ly xảy ra truóc đó một ngày), hình như chắc Gioan muốn trình bày cho chúng ta nội dung của chương 13-17 trong bối cảnh lễ vượt qua Do thái.
Trong bữa tiệc Vượt qua truyền thống Do Thái, người gia trưởng chủ tọa cuộc lễ, nhưng ông không phải là của lễ. Cả cộng đoàn cùng làm hành động tế tự ấy, vì tất cả đều tham dự vào chức tư tế phổ quát của dân được Thiên Chúa tuyển chọn và thánh hiến. Trái lại khi thiết lập bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu hành động với tư cách tư tế thượng phẩm, nhưng là một tư tế thượng phẩm độc đáo, vì Người tự hiến tế mình như của lễ để làm lương thực cho các môn đệ trong bữa tiệc hiệp thông của Giao ước mới. Người là tư tế nhưng chỉ là tư tế của Giao ước mới.
Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã quì gối rửa chân cho các Tông đồ và cũng trong Bữa Tiệc ly Ngài đã thiết lập Bích tích Thánh Thể cũng như loan báo về cái chết của Ngài. Phêrô đại diện các Tông đồ đã có lý khi khước từ Chúa Giêsu rửa chân cho ông vì đây là công việc của tôi tớ trong nhà.
Theo truyền thống Do Thái, trước khi vào bàn ăn tôi tớ trong nhà phải đi rửa chân cho khách. Chúa Giêsu đã muốn thực hiện cử chỉ ấy để thực thi chính điều Ngài đã nói : Con người không đến để được hầu hạ, nhưng để hầu hạ và hiến mạng sống làm giá chuộc nhiều người.
Chiều tiệc ly được thánh Gioan ghi lại tỉ mỉ và gợi hình. Chúa Giêsu làm bảy cử điệu rõ ràng: đứng dậy, cởi áo, lấy khăn, thắt lưng, đổ nước, rửa chân và lau lọt. Khi cởi áo choàng ngoài Chúa Giêsu đã làm cử chỉ của một người nô lệ hay ít ra của một người thợ bắt tay vào việc. Thời đó, phận sự của nô lệ, đặc biệt các nô lệ không phải là người Do thái có nhiệm vụ rửa chân cho khách tới nhà (1 Sm 25, 41).
Đây là một việc làm hoàn toàn tự nguyện của Chúa. Ngay cử chỉ Chúa cởi áo và tự lấy mặc lại (c. 12) làm chúng ta liên tưởng đến những lời Chúa đã nói (Ga 10, 17-18) để nói đến cái chết hoàn toàn tự nguyện và sự sống lại uy quyền của riêng Ngài. Khi Chúa Giêsu vừa làm xong công việc của một nô lệ, thì Chúa muốn nhấn mạnh đến sự bất tương xứng tự nhiên giữa công việc ấy đối với một vì Thiên Chúa (c. 14), là họ thực sự là những môn đệ phục vụ hoàn toàn cho nước Trời, phục vụ cho đến chết, như lời Chúa nói “Tôi tớ không lớn hơn chủ, kẻ được sai không lớn hơn kẻ sai mình” (Mt 10, 14 Lc 6,40. Ga 15, 20). Đấy chúng ta thấy một vì Thiên Chúa thực hiện câu “Ta đến để phục vụ…” (Mt 20, 28). Rất có thể có một ông vua trần thế làm công việc khiêm tốn ấy cho bầy tôi trước khi từ giã rút lui khỏi ngai vàng của mình.
Cử chỉ yêu thương mà Chúa Giêsu đã làm cho các Tông đồ là một quyết tâm sống trọn ý nghĩa yêu thương của Ngài, cũng như người tôi tớ không sống cho mình mà cho người khác. Nhưng Ngài chưa lấy làm đủ, Ngài còn biểu lộ tình yêu qua hình ảnh một miếng bánh trao ban để ở mãi với con người. Bị bẻ ra và tiêu tan, Chúa Giêsu đã sống đến cùng những đòi hỏi của yêu thương.
Thánh Gioan đã tóm gọn cuộc sống Chúa Giêsu qua câu : “Ngài đã yêu các kẻ thuộc về Ngài và đã yêu đến cùng”, nghĩa là sẵn sàng sống chết cho người mình yêu. Tình yêu đến cùng ấy, Chúa Giêsu đã thể hiện qua cái chết trên Thập giá, và Ngài còn muốn tái diễn hàng ngày dưới hình dạng Bánh và Rượu trong bí tích Thánh Thể. Cũng như tôi tớ chỉ sống và chết cho người khác, chiếc bánh chỉ hiện hữu để được ăn, được hao mòn, được tiêu tán.
Dưới hình thức lương thực, Chúa Giêsu muốn thể hiện tình yêu của Ngài đối với chúng ta; tiếp nhận Ngài qua Bí tích thánh thể, chúng ta sống bằng chính sự sống của Ngài, ăn uống Ngài, chúng ta cũng được mời gọi nên giống Ngài và san sẻ sự sống của Ngài cho người khác.
Sống và chết cho người khác, nên một với Ngài là thực hiện sứ mệnh của Ngài tức là phục vụ và phục vụ cho đến cùng. Sứ mệnh phục vụ ấy Chúa Giêsu truyền lại cho chúng ta qua Bí tích Truyền chức. Linh mục là người được ủy thác để lặp lại lời của Chúa Giêsu. “Các con hãy làm việc này, mà nhớ đến Ta”. Làm việc này không những là cử hành Bí tích Thánh Thể để Chúa Giêsu luôn ở mãi giữa nhân loại, mà con chu toàn sứ mệnh phục vụ của Ngài.
Và ta thấy rằng không chỉ riêng linh mục, nhưng tất cả những ai nhờ phép rửa được tháp nhập vào sự sống Đức Kitô, nghĩa là mọi kitô hữu trong lời nói và hành động cũng yêu thương và chết để nhớ đến Ngài. Mỗi cử chỉ và hành vi bác ái đều là một nghĩa cử tưởng nhớ đến Chúa Giêsu, đều là một tiếp tục, hay đúng hơn là một hiến lễ được dâng trên bàn thờ.
Bằng một cử chỉ sống động bày tỏ tâm tình vẫn có nơi Ngài, Ngài bưng một chậu nước cúi mình rửa chân cho các môn đệ. Cảm nghiệm tâm tình của Chúa qua cử chỉ này, thánh Gio-an đã nhận định : “Ngài vẫn thương yêu những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian và thương yêu họ đến cùng.” Sau đó Ngài bảo họ phải đối xử với nhau như Ngài đã đối xử với họ.
Ngài dùng chữ điều răn mới trong lời Ngài nói với họ như một lời từ giã. Đó là điều răn mà lãnh tụ Môsê tóm tắt trong luật pháp, nhưng đã được Chúa Giê-su làm mới lại bằng cách ban cho nó một tiêu chuẩn mới, một động lực mới : “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu anh em.” Ngài sắp bước vào chuyến đi mà không ai có thể theo được, Ngài phải lên đường một mình, trước khi ra đi, Ngài truyền cho họ một mệnh lệnh là phải yêu mến nhau như Ngài đã yêu mến họ
Bằng dấu hiệu rửa chân lạ thường, Chúa Giêsu đã cho thấy Ngài hoàn toàn phục vụ con người, và phục vụ bằng chính cái chết trên thập giá. Cũng như Ngài đã cởi áo và mặc áo lại để phục vụ họ, Ngài sẽ thí mạng sống và lấy lại mạng sống (10, 18) vì lợi ích của họ. Qua cử chỉ rửa chân Đức Kitô mạc khải cho chúng ta nhân cách sâu xa của Ngài: Ngài là Đấng hiện hữu cho kẻ khác, là Đấng phục vụ hoàn toàn cho anh em đồng loại.
Khi ra lệnh cho các môn đệ “hãy làm việc này mà nhớ đến Ta” (Lc 11, 24-25; Lc 22, 19), Chúa Giêsu muốn rằng cộng đoàn Kitô hữu phải cử hành bữa tiệc Giao ước mới và vĩnh viễn ấy để tưởng niệm cuộc Vượt qua của Người : Người vượt qua cái chết để Phục sinh và về với Chúa Cha (Ga 13, 1).
Qua cái chết tự nguyện và vô tội để đền tội và chết thay cho ta, Người tháo gỡ khỏi ta dây tròng ràng buộc của tội và giải thoát ta khỏi cái chết vĩnh cửu là hậu quả của tội. Khi ta tin vào Người và để cho Người giải hòa ta với Chúa Cha, thì ta được dẫn vào cõi trường sinh bằng cách tham dự vào cuộc Phục sinh của Người. Bữa tiệc Thánh Thể nhằm mục đích tưởng niệm và hiện-đại-hóa cuộc Vượt qua của Chúa Giêsu. Bởi thế dự tiệc Thánh Thể là thông phần vào mầu nhiệm vượt qua của Người.
“Ta nêu gương cho các ngươi, ngõ hầu như Ta đã làm cho các ngươi. Các ngươi cũng làm như vậy” (c. 15), “Phúc cho các ngươi, nếu các ngươi làm như vậy” (c. 17). Theo gương Chúa Giêsu không phải là làm lại một cách vật chất cử chỉ khiêm nhượng mà Ngài đã làm. Nhưng đúng hơn là luôn qui hướng đến việc hiến mạng sống mình, ý hướng được cụ thể hóa qua việc rửa chân.
2020
Đừng phản bội như Giuđa
8.4 Thứ Tư
Ga 13, 21-32
ĐỪNG PHẢN BỘI NHƯ GIUĐA
Trang Tin Mừng Ga 13,1-32 mở đầu các diễn từ ly biệt, Chúa Giêsu cho các môn đệ biết ý nghĩa của cuộc Thương khó sắp tới. Mặc dù biết trước những đau khổ và sự dữ phía trước – đặc biệt là cái chết khổ nhục trên thập giá – Chúa Giêsu vẫn tự nguyện bước vào cuộc Thương khó với tư thế chủ động của một Đấng quyền năng. Vì các môn đệ không biết, không hiểu nên Ngài đã tỏ lộ cho các ông ý nghĩa của cuộc Thương khó qua hành động rửa chân.
Đơn giản là khi làm người ở đời, ai chẳng có lúc xao xuyến. Chúa Giêsu hai lần nhắc các môn đệ đừng xao xuyến trước sự ra đi được báo trước của Thầy (Ga 14, 1.27). Nhưng Ngài đã xao xuyến khi thấy người ta khóc thương Ladarô (Ga 11, 33). Ngài cũng đã xao xuyến khi giờ đã đến và cái chết gần kề (Ga 12, 27). Trong bữa tối này, Chúa Giêsu không tránh khỏi xao xuyến khi nói đến sự phản bội sắp đến của một người môn đệ (c. 21). Vậy vấn đề không phải là cố tránh xao xuyến, mà là đừng để nó làm chủ mình.
Thông qua đó cũng biểu lộ cho các ông tình yêu thương “đến cùng” của Chúa Giêsu dành cho nhân loại nói chung và cách riêng là các môn đệ, bởi biết là mình sẽ phải chết cho những người tội lỗi nhưng Ngài vẫn sẵn sàng và tự do để thi hành thánh ý Chúa Cha là hy sinh mạng sống để chuộc tội cho loài người.
Khi Chúa Giêsu cho biết một người trong nhóm các môn đệ sẽ nộp Người thì các ông lại cũng không biết người này là ai (13, 22-24). Ngay cả khi Chúa Giêsu chỉ ra người đó rồi thì các môn đệ lại rơi vào sự không biết khác – đó là các ông không hiểu lời Chúa Giêsu nói với Giuđa: “anh làm gì thì làm mau đi” (13, 27) và họ còn hiểu sai về lời đó.
Ngay cả khi có sự xuất hiện của người môn đệ Chúa Giêsu yêu mến, thì dù có mối tương quan gần gũi với Người, ông vẫn không hiểu tâm trạng của Thầy mình vào lúc này, mà vẫn hỏi: “Thưa Thầy, ai vậy?” (13, 25). Cuối cùng, các môn đệ không hiểu phản ứng của Giuđa, người thuật chuyện kể: “Không một ai trong những người đang dùng bữa biết tại sao Người lại nói với ông ấy như thế” (13, 28). Một sự xác định rất rõ là “không một ai trong các môn đệ” hiểu những gì đang xảy ra.
Như vậy, bằng cách dùng kĩ thuật hành văn, người thuật chuyện cho thấy “sự không biết” của các môn đệ cứ tăng dần lên và đó cũng là điều để cho thấy các môn đệ đang rơi vào khủng hoảng. Sự khủng hoảng này còn lặp lại nơi cộng đoàn người tin- đặc biệt là khi cộng đoàn gặp thử thách, khó khăn hay bị bách hại.
Nhìn chung, “sự không biết” của các môn đệ trong đoạn Tin Mừng 13,1 -32 là nhằm làm nổi bật “sự biết” của Chúa Giêsu – đây cũng là một trong những đặc điểm nổi bật trong văn chương của Tin Mừng Gioan. Sự tương phản này cho thấy đứng trước biến cố vượt qua của Chúa Giêsu, không dễ gì người ta có thể hiểu được và vì thế xuất hiện sự khủng hoảng.
Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã đi bước trước chuẩn bị cho các môn đệ tâm thế đón nhận biến cố, cũng như giúp họ không ngã lòng khi gặp thử thách gian nan. Ngài đã biết trước hết những khó khăn và ngay cả cái chết đang chờ phía trước, nhưng Ngài vẫn tiến bước một cách tự nguyện và hoàn toàn làm chủ tình thế. Ngay hành động rửa chân – một hình ảnh báo trước cái chết và phục sinh của mình, Chúa Giêsu vẫn thực hiện một cách điềm đạm và hoàn toàn tự do.
Chúa Giêsu “đã yêu thương những kẻ thuộc về mình”, và “người đã yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1b). Để thể hiện tình yêu ấy, Chúa Giêsu đã rửa chân cho các môn đệ. Hành vi rửa chân làm một cử chỉ quen thuộc bên phương Đông thời đó (St 18, 4; Lc7,44).
Đây là một cử chỉ diễn tả lòng hiếu khách và hành động này thường được làm trước khi người ta ngồi vào bữa ăn. Trong Tin Mừng Gioan, hành động rửa chân của Chúa Giêsu là một hành động bất thường vì ở đây cử chỉ rửa chân được thực hiện khi người ta đã ngồi vào bàn để dùng bữa.
Hành động rửa chân của Chúa Giêsu cũng khác thường vì chỉ có những người thấp kém hoặc nô lệ mới phải rửa chân cho chủ Chúa Giêsu đi ngược lại với điều đó, khiến cho Phêrô cảm thấy lúng túng và khăng khăng phản đối vì ông không thể tin được những gì mình đang thấy (Ga 13, 6.8). Sự xuất hiện đột ngột của Phêrô cùng với những thắc mắc của ông là cơ hội để Chúa Giêsu giải thích hành động rửa chân và mặc khải “giờ đã đến”.
Để diễn tả hành động rửa chân của Chúa Giêsu, tác giả Tin Mừng thứ tư đã dùng ba động từ: “cởi”-“ mặc” áo ngoài (13, 4.12) và “thắt lưng” mình (13, 4), hành động này cũng được dùng để mô tả cái chết của Chúa Giêsu và sự tử đạo của Phêrô. Hành vi này biểu tượng cho những gì Chúa Giêsu sẽ làm cho các môn đệ Ngài qua cái chết của Ngài trên thập giá. Như thế, có sự móc nối giữa việc rửa chân của Chúa Giêsu với cái chết của Ngài trên thập giá và sau đó là việc Ngài sống lại.
Dù yêu như vậy nhưng quá đau đớn và không gì đau đớn cho bằng nỗi đau của người Thầy bị trò từ chối, phản bội, thế mà Chúa Giê su Ngài vẫn bình tĩnh, không nao núng , không bỏ cuộc để rồi Ngài bước vào “bàn tiệc ly” với tất cả tình yêu chân thành dành cho các môn đệ mà Ngài hằng luôn yêu qúy. Tin mừng thuật lại: tâm thần Người xao xuyến, Người tuyên bố: “Thật, Thầy bảo thật anh em: có một người trong anh em sẽ nộp Thầy” (Ga 13, 21).
Chúng ta thấy Chúa thật tế nhị và tâm lý, Ngài không nói rõ tên nhưng lại làm dấu hiệu qua cử chỉ trao tấm bánh cho Giuđa và bảo: “Anh làm gì thì làm mau đi”. Thế nhưng Giu đa chẳng để ý gì đến nỗi niềm khát khao của Chúa đang chờ đợi sự hoán cải nơi ông. Ông đã chối từ tình yêu Chúa và lợi dụng chức “quản lý” của mình mà cất bước ra đi trong đêm tối. không một ai nghi ngờ, riêng chỉ có Chúa biết. Nhưng Chúa đành để ông ra đi vì Ngài tôn trọng sự tự do và lựa chọn mù quáng của ông
Trong cuộc sống của chúng ta, không nhiều thì ít, chúng ta cũng có những giây phút phản bội nhau một cách ý thức hay vô tình, chưa chung thủy trong bậc sống của mình, hôn nhân hay tu trì. Chúng ta chưa trung thành trong ơn gọi làm con Chúa giữa lòng Giáo hội.
Trang Tin Mừung hôm nay mời gọi chúng ta hãy tin tưởng vào tình yêu Chúa, vì “Tình yêu Chúa phủ lấp muôn vàn tội lỗi”, Ngài luôn chờ đợi ta quay bước trở về với Ngài, như người Cha mong chờ con trong dụ ngôn “Người Cha nhân hậu” (Lc 15 ,11-32). Ngài hằng sẵn sàng tha thứ cho ta ngay cả khi chúng ta đang phạm tội, chống đối, chối từ hay phản bội Ngài đi nữa. Vấn đề là chúng ta có mở rộng tâm hồn để đón nhận tình yêu và sự tha thứ của Ngài hay không?
2020
Một Tình Yêu Còn Bị Bội Phản
Thứ Ba Tuần Thánh Mùa Coronavirus
Một Tình Yêu Còn Bị Bội Phản
Thật khó tưởng tượng một người như Đức Giêsu lại có những giờ phút xao xuyến như khi Người đứng trước mồ Ladaro (Ga 11,33), lời báo về kẻ phản bội trong bữa tiệc ly ở đây và lúc cầu nguyện trong vườn dầu (x.Lc 22,44)
Đức Giêsu xao xuyến vì đã thấy viễn cảnh Giuđa sẽ nộp Người, Phêrô sẽ chối Thầy và các môn đệ khác sẽ bỏ trốn (x. Mt 26, 56)
Xao xuyến là sự chao đảo của tâm hồn, là sự rung động mãnh liệt của những cảm xúc trước một điều gì quan trọng sắp xảy ra. Sự điềm tĩnh của Đức Giêsu trước mọi biến cố, nghịch cảnh, mọi nỗi đau của con người không phải vì Người vô cảm. Trái lại, Người cũng có một trái tim như chúng ta, cũng bồi hồi, thổn thức và xót thương, cũng lo lắng, âu sầu và xao xuyến (x.Mt 26,37b)
Mang trong mình một trái tim loài người, Đức Giêsu dùng trái tim ấy để yêu thương các môn đệ, với Giuđa, bằng một tình yêu cao cả diệu vợi của Thiên Chúa. Tâm hồn Đức Giêsu xao xuyến vì không thể làm được gì hơn để thay đổi lòng dạ của Giuđa, giữ ông lại trong tình thương của Người, chứ không phải vì thái độ giận dữ, cay đắng bởi Giuđa phản bội.
Giuđa có tự do và với sự tự do ấy, Giuđa quyết định chọn phản bội thày giữa bữa ăn cuối cùng thắm tình đậm nghĩa. Công bố điều kinh khủng, có một người trong nhóm sẽ nộp mình làm Đức Giêsu cảm thấy tâm thần bị chấn động, xao xuyến, các môn đệ khác ngỡ ngàng và bối rối, nhưng Giuđa thì hiểu.
Dù khéo léo che đậy dã tâm trong vở kịch hoàn hảo, Giuđa không thể dấu được sự nhạy bén tinh tế trong ánh mắt yêu thương của Thầy. Nhưng ông đã phớt lờ sự ưu ái ấy.
Sự bi thảm chính là đây, khi Đức Giêsu không tìm cách cứu mình, mà chỉ muốn cứu Giuđa khỏi việc bội phản ông sắp làm. Người thấy ông bình thản ăn hết miếng bánh Người trao như cạn tình tuyệt nghĩa, và Satan nhập vào ông. Ông đi ra, lúc đó trời đã tối.
Đức Giêsu thấy Giuđa lao mình vào trong cảnh tối tăm của đất trời như hòa trộn vào mầu nhiệm sự dữ cùng sự hả hê đắc thắng của Satan. Đó là sự bi thảm nhất của cuộc đời Đức Giêsu, lúc giờ của sự tội, của thế gian, của Satan chụp xuống trên Người, nhưng lạ thay, lúc Giuđa đã đi ra và khổ nạn chắc chắn sẽ đến, Đức Giêsu lại thấy đó là Giờ mà Người được tôn vinh, và Chúa Cha cũng được tôn vinh nơi Người.
Vì thế, Đức Giêsu bước vào cuộc thương khó trong tư thế chủ động của một Người Con hoàn toàn vâng lời và phó mình trong tay Chúa Cha. Các môn đệ sẽ thấy con đường Thầy đi, thấy điểm cuối con đường ấy, nhưng nơi Người đến, bây giờ họ không thể đến được.
Phêrô khẳng khái muốn đi theo Thầy dù phải bỏ mạng, nhưng Đức Giêsu trong tình thương mến, cho ông biết về con người thật của ông: ý chí thì mạnh mẽ nhưng hành vi lại yếu hèn. Dù vậy, Người vẫn quý mến bản chất trung thực và lòng mến của ông đối với Người.
Báo trước sự vấp ngã của Phêrô, Đức Giêsu không có ý làm tổn thương ông, nhưng cho thấy không những Người biết rõ về ông, mà còn biết rõ con người ông sẽ trở thành.
Chưa bao giờ người Kitô hữu có kinh nghiệm về sự bấp bênh của sự sống mình vào thời điểm đại dịch coronavirus này. Đây là thời điểm để chúng ta thấy những thứ an toàn giả tạo trước đây chúng ta đeo đuổi, tìm kiếm tan rã, ngay cả việc thờ phượng bàm víu vào hình thức, vụ luật và khoe khoang, cả sự ngoan cố cứng lòng chối từ thập giá bước theo Chúa Kitô.
Hôm nay, không có nhiều chọn lựa, mọi người đều “bình đẳng”, mọi sự đều “như nhau”, không thánh lễ, không các bí tích, chỉ còn kinh nguyện đượm thấm tình yêu mến chứng tỏ chúng ta là ai, tình yêu chúng ta dành cho ai? và Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn của Người là gì đối với mỗi người ?
Lm. Giuse Ngô Văn Kha, CSsR
2020
Ta là ai trong các nhân vật Tin Mừng hôm nay
6.4 Thứ hai
Ga 12, 1-11
TA LÀ AI TRONG CÁC NHÂN VẬT TRONG TIN MỪNG HÔM NAY
Chúng ta đã tiến vào Tuần Thánh, tuần lễ Vượt Qua của Chúa Giêsu, về việc Người phải bỏ thế gian này mà về với Chúa Cha.
Phần Phụng Vụ hôm nay đặt trước chúng ta đoạn mở đầu chương 12 của Tin Mừng theo thánh Gioan, được dùng như là một nối kết giữa Sách các Dấu Lạ và Sách của sự Tôn Vinh. Tại cuối của “Sách các Dấu Lạ” thấy có xuất hiện, rất rõ ràng sự căng thẳng giữa Chúa Giêsu và các chức sắc tôn giáo đương thời (Ga 10, 19-21, 39) và sự nguy hiểm mà Chúa Giêsu đang phải đối mặt. Nhiều lần họ đã cố gắng giết Chúa đến nỗi mà hầu như Chúa Giêsu phải sống một cuộc sống bí mật, bởi vì Người có thể bị bắt bất cứ lúc nào.
Trong 3 ngày đầu Tuần Thánh, các bài đọc thứ nhất đều trích từ sách ngôn sứ Isaia, viết về người tôi tớ Thiên Chúa, chịu đau khổ một cách nhẫn nhục để chuộc tội loài người. Còn các bài Tin Mừng thì thuật lại những việc xảy ra trong những ngày cuối cùng trước khi Chúa Giêsu bước vào cuộc tử nạn.
Trang Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu được xức dầu tại Bêtania, “Sáu ngày trước Lễ Vượt Qua,” tức là sáu ngày trước khi Ngài chết. Có 3 vai đáng chú ý:
Maria: Việc cô lấy một cân dầu thơm hảo hạng xức chân Chúa Giêsu và lấy tóc mình mà lau biểu lộ lòng yêu mến (không tiếc tiền của), và sự kính trọng (lấy tóc lau chân) đối với Ngài. Phần Chúa Giêsu thì coi việc làm này có ý nghĩa cử hành trước nghi thức mai táng Ngài.
Đây là lần thứ hai Maria được tường thuật ngồi dưới chân Chúa Giêsu. Một lần trong Tin Mừng Luca, cô được Chúa Giêsu khen, vì đã ngồi dưới dân Chúa để nghe lời Người trong khi cô chị Mácta bận rộn để phục vụ (Lc 10, 38-42). Lần này, cô tỏ bày tình yêu với Chúa Giêsu bằng cách lấy dầu thơm xức chân Chúa Giêsu. Cô xoã mái tóc mình ra mà lau, đây là điều cấm kỵ, không một phụ nữ Do Thái nào dám làm ở nơi đông người. Maria không bận tâm người ta nghĩ gì, nói gì. Cô chỉ chú tâm vào Đức Giêsu, chỉ muốn diễn tả lòng quý mến với Ngài. Maria đổ nguyên cả bình dầu thơm mà không tính toán, cũng chẳng tiếc nuối, vì cô muốn dành cho Đức Giêsu những gì quý giá nhất của mình. Sự hào phóng, cho đi mà không tính toán, so đo, đó chính là dấu hiệu của tình yêu thật sự.
Ta thấy hành động của cô Maria lấy dầu thơm xức chân Chúa Giêsu, được chính Ngài công nhận là một hành động mang tính ngôn sứ: “Dầu thơm này có ý dành cho ngày mai táng Thầy.” Dù trước mặt mọi người, hành động của Maria có vẻ khó hiểu, nhưng đối với cô điều đó không quan trọng, bởi vì cô đã hành động theo sự thúc đẩy của tình yêu dành cho Đức Kitô. Chính tình yêu giúp cô đồng cảm sâu xa với Ngài; và ngay từ lúc này, cô đã cùng Đức Kitô đi vào cuộc khổ nạn với Ngài.
Có lẽ, Maria đã làm với một tấm lòng yêu mến, đáp trả lại tình yêu thương của Chúa “Tình yêu, đáp đền tình yêu”. Bởi gia đình cô thật diễm phúc được Chúa viếng thăm, em cô vừa được Ngài cho sống lại từ cõi chết (Ga 11, 1-44) và chính cô được Chúa đưa ra khỏi cái quá khứ đen tối, đầy tội lỗi. Chứ Maria cũng không hiểu thấu tâm trạng Chúa lúc này, Ngài đang xao xuyến trong tâm hồn biết chừng nào?
Trái ngược với Maria là một Giuđa Iscariot luôn tính toán và phê bình: Thấy hành động của cô, ông liền nói: “Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm quan tiền mà cho người nghèo?”. Ông để lộ chân tướng hẹp hòi, ích kỷ của mình. Ông bực tức, phản đối hành động của cô Maria. Ông che đậy lòng tham của mình, viện cớ để số tiền ấy giúp người nghèo nhưng thực chất là để thỏa lòng ham tiền, hám lợi của chính mình. Ông theo Chúa nhưng lòng trí ở xa Chúa.
Thánh Sử chú giải rằng Giuđa không hề lo lắng cho người nghèo khó đâu, mà hắn ta là một tên trộm cắp. Họ có một cái quỹ chung và hắn ta đã bớt xén tiền ở trong đó. Một lời lên án mạnh mẽ về Giuđa. Lời lên án không phải vì y không quan tâm đến người nghèo khó, mà là sự đạo đức giả lợi dụng người nghèo khó để tự quảng cáo và làm giàu cho chính mình. Giuđa, trong lợi ích vị kỷ của hắn ta, chỉ nghĩ về tiền bạc. Đây là lý do tại sao hắn ta đã không nhận thức được những gì bà Maria đang nghĩ ở trong lòng. Chúa Giêsu đọc được điều này và bênh vực bà Maria.
Giuđa người môn đệ cùng ở với Chúa. Hàng ngày đồng bàn với Ngài. Nhưng không đồng lòng với Ngài, không đón nhận lời yêu thương từ nơi Ngài. nên chẳng những ông không nhìn thấy nỗi lo lắng thẳm sâu trong lòng Chúa để đồng cảm, yêu thương. Trái lại, ông chỉ thấy tiếc xót bình dầu và trách cứ Maria đã phung phí (Ga 12, 5). Tiền bạc đã làm ông mù quáng, đã dẫn ông đến chỗ phản bội Thầy sau này (Ga 12, 4)
Và nhìn lại Giuđa, lời ông chỉ trích Maria phí của biểu lộ lòng tham tiền của ông. Đối với Giuđa lúc này, tiền của còn quý hơn tình nghĩa đối với Chúa Giêsu. Chính vì thế thánh Gioan là người vốn tế nhị mà hôm nay còn nói: “Y nói thế không phải vì lo cho người nghèo mà vì y là một tên ăn cắp: y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những thứ gì người ta bỏ vào quỹ chung.”
Các Thượng tế: Họ “quyết định giết luôn cả Ladarô nữa, vì tại anh mà nhiều người Do Thái đã bỏ họ và tin vào Chúa Giêsu.” Rõ ràng họ đang bị tính ghen ghét xui khiến. Nếu họ có nói lý do giết Chúa Giêsu là gì đi nữa thì việc họ muốn giết Ladarô rõ ràng là vì uy tín của Chúa Giêsu vượt hơn uy tín của họ.
“Người nghèo thì anh em luôn có bên cạnh, còn Thầy thì anh em chẳng có mãi đâu.” Phục vụ Chúa và phục vụ tha nhân đều là hai việc tốt. Tuy nhiên Chúa dạy ta hai điều: Phải biết cân nhắc khi nào thì ưu tiên cho việc nào; Đừng viện cớ phục vụ tha nhân mà bỏ bổn phận phục vụ Chúa.
Đám đông và chính quyền. Là bạn của Chúa Giêsu có thể bị nguy hại. Ông Lagiarô có nguy cơ bị tử vong vì đời sống mới nhận được từ Chúa Giêsu. Người Do Thái đã quyết định ra tay giết ông. Lagiarô còn sống là một bằng chứng sống động rằng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Đây là lý do tại sao đám đông đang lùng kiếm ông, bởi vì người ta muốn thử nghiệm chặt chẽ bằng chứng sống động về quyền năng của Chúa Giêsu. Một cộng đoàn sống động có nguy cơ bị tiêu diệt bởi vì nó là bằng chứng sống của Tin Mừng Thiên Chúa!
Dành những phút thinh lặng, đặt mình vào vị trí của Mácta, Maria, Ladarô, Giuđa… để chiêm ngắm Chúa Giêsu những ngày trước lúc Ngài chịu khổ hình… và xin ơn được đồng cảm với Chúa để biết hành động sao cho đẹp lòng Chúa.
