Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Giáo dục

Home / Giáo dục
07Tháng Mười
2020

Thần học sau Công đồng Vaticanô II: Chuyển biến và tác động

07/10/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Trong lịch sử Giáo Hội công giáo thì Công đồng Vaticanô II quan trọng vào bậc nhất. Vì đây là lần đầu tiên người ta thấy được tính cách phổ biến toàn cầu của Giáo Hội. Công đồng bắt đầu ngày 8.12.1962 và bế mạc ngày 8.12.1965. Có chừng 2400 vị hữu trách công giáo khắp địa cầu, như giám mục và các bề trên các dòng, mỗi vị đem theo một số chuyên gia về thần học làm cố vấn, lại có 31 quan sát viên thuộc các Giáo Hội Tin Lành, Chính Thống, v.v. và 42 giáo dân công giáo.

Quan trọng hơn nữa là vì Công đồng đã thảo luận và quyết nghị về những vấn đề then chốt. Về nội bộ thì xác định lại lý thuyết về Giáo Hội là “dân Chúa”, vai trò của giáo dân, tính đồng liêu của hàng giám mục, nghĩa là hàng giáo sĩ, từ trên xuống dưới, đã được lập để phục vụ cho dân Chúa, chứ không phải là đế vương trị dân. Lại xác định về Lời Chúa trong Thánh Kinh, và cải cách nghi lễ (ví dụ dùng tiếng nói thông thường của giáo dân) để cho giáo dân trực tiếp tham gia vào lễ nghi phụng tự. Đối với bên ngoài thì Công đồng mở rộng tay đón mời các Giáo Hội khác của đạo Kitô, và các tôn giáo khác, cũng như những người vô tôn giáo, đến gặp gỡ, đối thoại, trong tinh thần tự do tôn giáo, đồng thời đối với xã hội thì chủ trương hoạt động cho văn hóa, hòa bình và công bình trong thế giới.

Cái khẩu hiệu tiếng Ý đã được đưa ra để nói lên mục đích của Công đồng là Aggiornamento, người muốn nói chữ kiểu mới thì dịch là cập nhật hóa, muốn nói cho dễ hiểu thì là để thích thời. Nhưng vì sao lại phải cập nhật hóa? Chân lý là vĩnh viễn kia mà, cớ sao lại phải tùy gió phất cờ, như thiên hạ quen làm?

Như Đức giáo hoàng Gioan thứ XXIII đã tuyên bố, Công đồng này hạn hẹp vào mục đích là mục vụ hay là “tư giáo”[1], tức là tìm đường lối thích thời để dẫn dắt giáo hữu hành đạo, chứ không nhằm xác định thêm một lần nữa về phần giáo lý, như hầu hết các Công đồng trước đó đã làm. Cho nên dĩ nhiên là Công đồng phải có tác động vào suy tư thần học và nhất là vào đời sống giáo dân.

Cái đề tài nêu ra trên đây, ai cũng thừa hiểu là quá mênh mông và phải hạn hẹp nó lại rất nhiều, vì trong phạm vi bài này không thể nói tỉ mỉ về những điều suy tư lý thuyết mà các vị học giả chuyên môn đã viết ra trong gần nửa thế kỷ, với những pho sách khá nặng đồng cân[2]. Về mặt thực hành thì tôi chỉ quan sát được một vài biến chuyển quan trọng và tác động của Công đồng trong đời sống tôn giáo ở châu Âu, nói đúng ra là ở Pháp và ở Bỉ, và nói đúng hơn nữa là ở mấy xứ đạo và mấy phong trào, trong đó tôi có tham gia và đảm nhiệm một vài công tác nhỏ mọn.

Sau khi hạn định phạm vi như thế, tôi xin đưa ra, trong phần đầu, mấy lý do để giải thích vì sao Công đồng Vaticanô II đã được triệu tập. Sau đó tôi sẽ xin nói qua về sự chuyển hướng trong thần học cũng như trong dư luận của giáo dân. Và sau cùng thì xin trình bày một ít tác động trong đời sống tôn giáo.

  1. Mục đích hội nhập văn hóa

Tôn giáo và văn hóa

Con người ta sống một cách chủ động trong trời đất, chứ không phải chỉ là do ngoại giới định hình theo luật nhân quả, như các vật vô tri. Những cái không phải tự nhiên như thế, nhưng do con người làm ra, rồi dạy lại cho nhau, từ đời này sang đời khác, đó là văn hóa. Văn hóa gồm những cách làm ăn (kỹ thuật), phép vệ sinh, lối cư xử với nhau cho phải đạo (luân lý, chính trị), những điều cấm kỵ, những điều hiểu biết được về vũ trụ, những nhân sinh quan hay tôn giáo nói lên quan niệm về vị trí và mục đích của đời người. Thường thì các yếu tố đó làm thành một khối, lẫn lộn với nhau. Cũng phải lâu lắm người ta mới dần dần phân biệt được ra thánh nhiều phạm vi: tri thức, chính trị, luân lý, tôn giáo, và tìm ra cho mỗi phạm vi một lề lối hoạt động riêng.

Đoàn thể nào cũng có văn hóa, nhưng văn hóa không phải là một dữ kiện tự nhiên và bất biến, nhưng thay đổi nhờ vào kinh nghiệm, suy luận càng ngày càng giàu thêm, vì có giao lưu văn hóa với các đoàn thể khác. Khi biến chuyển thì có những yếu tố đã quá thời bị sa thải, lại có những yếu tố mới mẻ được thêm vào. Tất cả những yếu tố văn hóa đó được định hình và truyền đạt qua ngôn ngữ và ngôn tự. Biết thêm một ngôn ngữ là có thêm văn hóa, thay đổi hẳn ngôn ngữ là thay đổi văn hóa.

Nói chung thì không có tôn giáo nào biệt lập ra ngoài văn hóa cả, vì ý hướng tôn giáo chỉ có thực khi nó được cụ thể hóa trong tư tưởng và hành vi. Nhưng nói riêng thì một tôn giáo có thể ở trong văn hóa này, mà không ở trong văn hóa kia. Đó là trường hợp những đoàn thể chi tộc hay quốc gia: tôn giáo đồng nhất hẳn với văn hóa, mà không phân biêt: tôn giáo cũng là quốc giáo, hay là đạo riêng của chi tộc. Thường thì khi các đế quốc bành trướng, các dân tộc bị chiếm cũng dần dần đồng hóa, và thay đổi cả văn hóa lẫn tôn giáo. Ví dụ dân Ai Cập thời thượng cổ đã có ngôn ngữ riêng, họ đã để lại bao nhiêu là kim tự tháp với những tượng khổng lồ, thế mà ngày nay, trừ mươi triệu người theo đạo Kitô ra còn đa số, sau hơn nghìn năm bị người A Rập chiếm đóng và đồng hóa, thì chỉ còn nói tiếng A Rập, theo Hồi giáo và văn hóa của người A Rập chiến thắng, thậm chí còn tự xưng mình là người A Rập nữa. Như thế đã rõ là tôn giáo cũng được truyền bá theo một lối như văn hóa vậy.

Khi một tôn giáo thành ra tôn giáo cho cả loài người, chứ không riêng cho một chi tộc hay dân tộc nào, thì có thể ở trong tất cả các văn hóa, nhưng không đồng nhất với văn hóa riêng nào cả. Vì thế khi người ta lấy tôn giáo phổ biến làm quốc giáo, đồng nhất tôn giáo với dân tộc, thì làm sai lạc ý hướng đại đồng của tôn giáo.

Đạo Kitô là một trong những tôn giáo phổ biến, cho nên mới đặt vấn đề đi vào hay là ra ngoài một văn hóa nhất định.

Lúc đi vào văn hóa

Trong Lá thư về việc hội nhập văn hóa, cha Pedro Arrupe, bề trên cả Dòng Tên đã đưa ra một định nghĩa đầu tiên: “Hội nhập văn hóa là đem nếp sống và Tin Mừng của đạo Chúa vào một khu vực văn hóa cụ thể. Mục đích là để cho kinh nghiệm của đạo ấy, không những được biểu diễn bằng những yếu tố của văn hóa đó (nhưng như thế cũng mới chỉ là thích nghi một cách hời hợt bên ngoài), mà còn trở thành một nguyên lý có sức linh ứng, vừa là kim chỉ nam, vừa là khí lực làm cho văn hóa đó đổi lốt và được thống nhất lại, nghĩa là tác tạo lại cho nó thành một thực tại mới”[3].

Cụm từ hội nhập văn hóa (inculturation) mới được dùng trong Giáo Hội công giáo từ mấy chục năm nay. Mục đích là để nói lên cái chương trình đã có ngay từ khi đạo Chúa Kitô phát sinh: đó là đưa đạo vào đời hay là vào lòng dân tộc. Về phía Giáo Hội Tin Lành thì thường dùng chữ “contextualisation”, nó có nghĩa như kiểu ta nói “đáo giang tùy khúc, nhập gia tùy tục”. Thiết tưởng chữ đó, cũng như trước đây chữ “adaptation” là “thích nghi”, cũng chỉ mới nói lên được cái ý định mặc cho đạo Chúa một cái áo ngoài có vẻ khả quan hơn, chứ chưa nói lên hết cái ý định đi sâu về phần nội dung, vào trong văn hóa.

Tôn giáo và văn hóa liên kết với nhau theo hai chiều: một đàng thì ý hướng tôn giáo định hình lại cho các yếu tố văn hóa của người ta, đem lại cho nó một ý nghĩa mới; đàng khác thì văn hóa cũng làm cho ý hướng tôn giáo xuất hiện được trong những hình thức cụ thể thích hợp với truyền thống sẵn có.

Đạo Kitô đưa ý hướng nào vào văn hóa?

Đạo Chúa Kitô thừa tự được của đạo Do Thái, đó là do chủ trương thế tục hóa vũ trụ mà ra, nghĩa là không có vật gì trong vũ trụ này được coi là vị tuyệt đối.

Thực vậy, theo như thường lệ thì trong các tôn giáo người ta quan niệm rằng trong vũ trụ này cái gì, ở chỗ nào, cũng đầy dẫy các thần linh, như thần cây, thần núi, thần sông, thổ thần, táo thần. Có nhiều dân tộc coi mặt trời, mặt trăng, tinh tú, cây cối, loài động vật, v.v. đều là thần cả. Ở Việt Nam thì những người quá cố cũng có thể thành thần. Nói thế khác, các thần linh tuy có phép thần thông linh dị, nhưng đều ở cùng trong một vũ trụ và ở lẫn với các vật khác.

Đạo Do Thái và đạo Kitô chủ trương thế tục hóa vũ trụ trong ba phạm vi: 1) không có vật gì trong thiên nhiên là thần thiêng cả, 2) không có người nào là thần thiêng cả, 3) cái sức phồn thực làm cho có sống động, có nảy nở, cũng không phải là thần thiêng. Cho nên vị thiên địa chân chủ, gọi tắt là Thiên Chúa, không xuất hiện nơi vật nào trong vũ trụ này cả; nhưng người ta phải nhìn vào vận mệnh và lịch sử của dân tộc riêng của dân tộc Do Thái hay của cá nhân, có lúc thăng lúc trầm, mới hiểu và nhận ra là có vị Thiên Chúa hướng dẫn người ta trên con đường đưa tới nhân đạo và đồng thời cũng tới thiên đạo nữa.

Nói thế khác, Thiên Chúa không phải là một yếu tố trong thiên nhiên, cũng không phải là toàn khối thiên nhiên lù lù ra đó, với sức mạnh có thể đè bẹp con người trong luật nhân quả khắt khe. Nhưng Thiên Chúa xuất hiện như là Lời nói[4], nói lên ý nghĩa và cứu cánh cuộc đời, và mời gọi lên đường theo ý nghĩa đó, mà lời nói thì không có chủ ý cưỡng bách.

Thêm vào đó đạo Kitô phân biệt hẳn hai phạm vi tôn giáo và chính trị[5]. Đó là điểm khó thực hiện, vì theo thường lề trong các văn hóa thì tôn giáo và chính trị vịn vào nhau: người ta hay dùng cái nọ để làm phương tiện cho cái kia.

Ngay từ buổi đầu đạo Kitô đã phải ra ngoài một văn hóa và đi vào một văn hóa. Phải ra ngoài, vì bao giờ tôn giáo cũng ở sẵn trong một văn hóa, và chỉ đi ra ngoài khi người ta ý thức được rằng nó là một thái độ vượt ra ngoài phạm vi chật hẹp của một văn hóa. Đạo Kitô đã phải vượt ra ngoài văn hóa gốc là văn hóa Do Thái, vì cho dù Đức Giêsu Kitô vốn xuất thân từ đạo Do Thái, nhưng đường lối và chủ trương có nhiều yếu tố mới, nhằm về toàn thể nhân loại, chứ không hạn hẹp vào trong một dân tộc Do Thái nữa, thêm vào đó thì vào khoảng năm 70 sau Tây lịch kỷ nguyên, chính các vị tư giáo Do Thái dần dần nhận ra như thế cho nên đã trục xuất đồ đệ của ngài ra khỏi giáo đường của họ.

Đi vào là đem Tin Mừng, đem Phúc Âm vào văn hóa Hi Lạp và Rôma, là văn hóa chung cho đế quốc Rôma vào thời đó, nghĩa là đi vào lòng một số người vốn có văn hóa Hi Lạp và Rôma, nhưng có cảm tình với đạo Kitô, đã được cảm hóa và tin theo. Những người này đã bị truy nã và bách hại trong gần ba thế kỷ. Lý do là vì họ đã bỏ không còn tôn thờ thần linh của các dân tộc được công nhận trong đế quốc, vốn chỉ là những vật tự nhiên hay là chỉ tượng trưng cho dục vọng hay ước vọng của con người; và nhất là vì tuy vẫn biết tôn kính hoàng đế, nhưng họ không tôn thờ vị hoàng đế đã tự tôn mình lên làm thần linh[6]. Trong trường hợp như thế việc phân biệt tôn giáo với chính trị càng là một việc hiển nhiên đối với người theo đạo Kitô.

Cũng nên nhắc qua rằng niềm tin vào vị Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ đã làm cho triết học Hy Lạp, nhất là trong học phái Platôn, đặt vấn đề về nguyên lý tối cao của vũ trụ.

Dần dần tuy có bị bách hại nặng nề, nhưng số người theo đạo vì niềm thân tín cũng tăng lên. Đến năm 312 thì hoàng đế Constantinô cải giáo theo đạo Kitô, và đạo Kitô được đưa lên làm đạo của nhà nước. Việc cải giáo là vấn đề thuộc về niềm thâm tín cá nhân, nhưng việc đưa một tôn giáo lên làm quốc giáo thì rất có thể là có dụng ý chính trị: dùng một tôn giáo duy nhất để thống nhất quốc gia, và để trị dân cho dễ. Nhà cầm quyền giúp đỡ cho tôn giáo bành trướng, ban phát đặc ân cho giáo sĩ cấp trên vào làm công việc nhà nước và làm tôi cho hoàng đế. Cũng như xưa kia Phật giáo được chính quyền hết lòng phò trợ thời hoàng đế Asoka bên Ấn độ, hay vào thời các triều Lý Trần ở Việt Nam vậy. Cái bất lợi cho tôn giáo là trong hoàn cảnh như thế, dân chúng theo đạo khi mà dân trí chưa cao, có thể là vì niềm thâm tín ít nhiều, nhưng chắc chắn một điều là làm theo như vua chúa thì vừa được yên thân, vừa có lợi là khác.

Cử chỉ của hoàng đế Constantinô đã làm cho đạo Kitô lại lẫn lộn tôn giáo với chính trị, như trong các văn hóa khác. Vướng vào đó, hàng giáo sĩ cao cấp được nhiều ân huệ, nhưng phải nhúng tay vào trong những việc trị nước. Cũng phải lâu lắm mới gỡ ra được, sau bao nhiêu cuộc giằng co giữa chính quyền và giáo quyền, và sau nhiều công cuộc cái cách trong nội bộ Giáo Hội? Vì thấy rằng trong tình trạng lẫn lộn đạo đời thì khó mà sống cho hợp với Phúc Âm, cho nên có một số người bỏ chốn đô thị mà đi tu hành trong sa mạc[7]. Và cũng từ đó các dòng tu, các dòng khổ tu, trong suốt lịch sử Giáo Hội, thường lên tiếng cảnh tỉnh, đòi phải cải cách, phải trở về nếp sống thanh bạch.

Như thế là từ Constantinô việc hội nhập văn hóa bắt đầu có điều thiếu sót.

Văn hóa Hy Lạp và Rôma định hình cho đạo Kitô như thế nào?

Chính vì đã thành công trong việc đi vào văn hóa của đế quốc Rôma như thế, cho nên đạo Kitô đã phát triển theo ba hình thức đặc biệt, mà sau này người ta gọi là hình thức Âu châu.

Một là chú trọng về mặt lý luận theo như văn hóa Hy Lạp, muốn tìm cho ra cái Lý trong trời đất, làm cho sự vật ăn khớp với nhau, thành một khối có mạch lạc và không mâu thuẫn, đồng thời cũng nhằm tới chỗ “tri hành nhất trí”. Vẫn biết văn hóa nào cũng biết đến cái Lý, nhưng cái đặc biệt của người Hy Lạp là họ quan niệm cái Lý không phải là của riêng của những bậc thượng trí, nhưng là của mọi người và chỉ có thể đạt được khi người ta bình đẳng đối thoại với nhau[8]. Khi người Hy Lạp theo đạo, thì vốn đã quen lý luận và đối thoại theo truyền thống lý luận và phê bình trong triết học của họ từ bốn thế kỷ, cho nên dĩ nhiên là họ suy nghĩ và trình bày tôn giáo mới theo đường lối tư tưởng đã quen như thế. Dùng cái lý sự triết học và tinh thần phê bình đã làm cho đạo Kitô tránh được những niềm tin vô lý sự, và người theo đạo cũng phải lấy lẽ mà suy xét, chứ không phải ai dạy gì cũng nghe, ai bảo gì cũng vâng. Kết quả là đạo Kitô đã phát sinh ra nhiều hệ thống lý thuyết đồ sộ về thần học. Cũng nên nói thêm là: đạo Kitô cũng áp dụng phép tu từ (rhétorique) của văn hóa Hy Lạp và Rôma vào việc giảng thuyết, để làm cho người nghe cảm phục.

Hai là chú trọng vào việc tổ chức cộng đồng theo như tinh thần pháp lý của người Rôma. Kết quả là đạo Kitô, nhất là trong Giáo Hội công giáo Rôma, đã có những bộ luật để tập trung và tổ chức cộng đồng cho có quy củ, có hệ thống chặt chẽ, theo nguyên tắc pháp lý. Cái ưu điểm ấy đã hạn chế được cái nạn trăm bè bảy mối, như ta thấy trong môn phái Tin Lành bên Hoa Kỳ ngày nay: không ai cấm được ai tự tiện đứng ra thành lập một Giáo Hội, và cho rằng mình mới thật là chính tông!

Ba là nghi lễ tôn giáo, tuy là do nguồn gốc Do Thái, nhưng đã theo như nghi lễ trong triều đình của hoàng đế mà phát triển ra những hình thức thật long trọng. Như thế cũng không phải là hoàn toàn vô lý, vì lẽ rằng Thiên Chúa là vị cao sang hơn hoàng đế bội phần, cho nên nghi lễ phụng tự cũng phải long trọng không kém.

Ba hình thức đó gắn liền với nhau, và thêm vào đó thì Giáo Hội công giáo Rôma lại chủ trương dùng tiếng La tinh là ngôn ngữ chung để thống nhất tư tưởng, tổ chức và lễ nghi. Có thể nói là trong việc hội nhập văn hóa thì đó là một thành công vừa lớn lại vừa lâu bền. Vì sau khi đế quốc Rôma sụp đổ ở Tây âu, thì các chi tộc lên tranh giành đế quốc, mà từ vua đến dân đều thiếu văn hóa, không biết đọc biết viết, cho nên muốn có văn hóa thì phải đi học chữ Latinh là ngôn ngữ do các tu sĩ dùng trong Giáo Hội. Vì thế mà vai trò của Giáo Hội đã trở thành quan trọng, Mater et Magistra, vừa là mẹ vừa là thầy, dạy cho các dân tộc, dạy cho họ biết đọc biết viết và thâu nhận di sản tôn giáo và di sản văn hóa thế tục cổ điển của người Hy Lạp và Rôma. Từ đó đạo Kitô đã thấm nhuần di sản văn hóa Âu châu trong hơn một nghìn năm: nghệ thuật, như hội họa, kiến trúc, điêu khắc, văn chương, âm nhạc, ca kịch, v.v., đều mang dấu vết đạo Kitô. Cho đến nỗi người ta cứ tưởng đó là đạo của riêng người Âu châu.

Điều thiếu sót vừa nói trên đây là Giáo Hội liên kết với nhà cầm quyền, trước thì là vì hoàn cảnh, sau thì quen đi, mà quên đi rằng đó là điều không nên. Kết quả không ngờ là: khi đạo Kitô nảy ra nhiều tông phái, mỗi tông phái lại bị chính quyền chi phối[9]. Rồi khi các nước đánh nhau, người ta gọi ngay là chiến tranh tôn giáo. Để tránh cái nạn đó, lý thuyết gia về nhân quyền là Grotius (Hugo de Groot, 1583- 1645), người Hòa-lan, đã chủ trương rằng từ nay vấn đề chính trị về nhân quyền phải được giải quyết etsi Deus non daretur, nghĩa là: như thể là không có Thiên Chúa, hay là: cho dù không có Thiên Chúa. Thế là lại trở về lập trường giáo tổ đạo Kitô, là phải tách rời tôn giáo với chính trị.

Ngoài ra, lối hội nhập văn hóa này còn có một nhược điểm quan trọng: nó là hình thức dùng trong giới giáo sĩ và tu sĩ có ăn học, chứ dân chúng thiếu học và không biết tiếng La tinh, thì không thể nào hiểu được những lý thuyết cao siêu về Thiên Chúa, những giới luật và những nghi lễ rườm rà[10]. Biết vậy cho nên, song song với giáo lý và lễ nghi chính thức, Giáo Hội công giáo đã đặt ra cho dân chúng một lối sùng đạo có tính cách bình dân, dễ hiểu, dễ thực hành, ví dụ như: đọc kinh lần hạt bằng tiếng nói thông thường, rước kiệu, hành hương, chung quanh việc tôn sùng Đức Bà Maria và các thánh. Tất cả được ghi vào các cuốn Sách Kinh, còn về giáo lý thì tóm tắt trong cuốn Sách Bổn. Khi đạo được truyền vào nước Việt Nam thì hai cuốn sách Thánh giáo kinh nguyện và Thánh giáo yếu lý đã được soạn ra bằng chữ Nôm tiếng Việt rất sớm. Thêm vào đó còn có các sách truyện các thánh và các sách ngắm, giúp suy niệm về niềm tin và lối hành đạo. Có lẽ người công giáo Việt Nam là những người Việt Nam đầu tiên được dùng các sách về đạo lý, viết ra bằng tiếng Việt (cả Nôm lẫn Quốc ngữ) một cách có hệ thống.

Sau cùng thì tuy đã thành công trong việc đi vào văn hóa đế quốc Rôma, nhưng đạo Kitô vẫn không đồng hóa với văn hóa đó. Đàng khác, chính cái thành công đó cũng lại là cái trở ngại khi cần phải đi ra ngoài văn hóa đó, để đi vào một văn hóa mới.

Lúc ra ngoài văn hóa

Có hai trường hợp làm cho ta thấy cần phải ra ngoài, để lại có thể đi vào. Một là khi các dân tộc ở Âu châu, như Ý, Đức, Pháp, Anh, v.v., đã học được văn hóa cổ điển Rôma, đã trưởng thành, đã thành lập văn hóa riêng và viết ra ngôn ngữ của mình, nhất là từ thế kỷ XV. Hai là khi muốn truyền đạo sang các nước ở ngoài Âu châu, như Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam, v.v. Thế nhưng vẫn chưa hết. Chính ở Âu châu cũng có biến đổi rất quan trọng về văn hóa: đó là từ thế kỷ XVI trở đi, cá nhân đã dần dần ý thức được về lý tính và tự do, cho nên không còn muốn cho quyền bính tôn giáo nào chi phối đời sống thế tục, như chính trị, khoa học, triết học, luân thường đạo lý nữa. Và đó là lúc bắt đầu phong trào thế tục hóa (sécularisation), đi từ lớp trí thức rồi dần dần đi xuống tới lớp bình dân.

Cách mạng Pháp (1789) đã đánh đổ chế độ quân chủ, Giáo Hội công giáo cũng bị vạ lây. Do đó có phong trào bách hại tôn giáo. Vì đã quen với nề nếp đã có từ nghìn năm, nên Giáo Hội công giáo không thể thích nghi vào văn hóa mới đang bài xích tôn giáo ngay được. Đầu thế kỷ XX thì nhà nước và Giáo Hội tách rời nhau. Ngược lại, người ta không thấy tôn giáo dưới hình thức cũ còn là cần và thích thời, cho nên trí thức cũng như bình dân, có khá đông người đi ra ngoài đạo Kitô. Mà chính vì có phân biệt chính quyền với giáo quyền, cho nên có bỏ đạo cũng không sợ bị áp lực hay bị truy tố, như ngày nay ta còn thấy ở nhiều nước. Dần dần đi tới hiện tượng mà, như đã nói trên đây, nhà xã hội học Hervieu-Léger gọi là exculturation du catholicisme: đạo công giáo đi ra ngoài văn hóa Âu châu.

Hiện tượng đó, không phải là không có nhiều người trong Giáo Hội, ngay từ thế kỷ XIX, đã tiên đoán và đánh trống báo động. Nhưng thường thì họ không ở trong địa vị lãnh đạo, cho nên phần thì họ được ít người theo, phần thì họ bị cấp trên nghi kỵ và ngăn cấm. Thiết tưởng chỉ cần nhắc qua đến phong trào canh tân (modernisme) vào đầu thế kỷ XX, phong trào các linh mục làm công nhân ở Pháp, và đến một vài nhà tư tưởng và thần học, riêng ở nước Pháp thì có Pierre Teilhard de Chardin, Henri de Lubac, Yves Congar, v.v. là những người trong một thời gian khá lâu đã bị cấp trên làm khó dễ, cấm không cho phát biểu ý kiến. Nhưng những ý kiến mà họ cưu mang đã có kết quả: chính những vị như thế đã được cử làm chuyên viên trong Công đồng Vaticanô II.

Công đồng này được triệu tập chính vì Giáo Hội công giáo đã quyết định xét lại toàn bộ các vấn đề phải cập nhật hóa, sao cho thích thời, theo đúng như khẩu hiệu: Giáo Hội thời nào cũng phải cải cách (ecclesia semper reformanda). Vì rằng đạo bất viễn nhân, nhân chi vi đạo, đạo có gần gũi với nếp sinh hoạt và văn hóa của con người, thì mới có thể làm con đường cho người ta đi.

  1. Chuyển biến và tác động của Công đồng trong đời sống Kitô hữu ở châu Âu

Bây giờ xin nói qua về việc thi hành Công đồng và về sự chuyển hướng trong suy tư thần học, sau đó về mặt thực hành sẽ trình bày một hướng đi đang thành hình.

Việc thi hành các quyết nghị của Công đồng

Việc cải cách bao giờ cũng gặp trở ngại do thói quen đã có từ nghìn năm. Muốn thi hành tinh thần đồng liêu trong ban giám mục đoàn, thì va chạm vào cái thói quen tập trung quyền hành về tín lý, lập pháp và lễ nghi ở trong tay một vị giáo hoàng là giám mục thành Rôma. Muốn đưa đạo vào đời, vào văn hóa, là việc phải lẽ, nhưng có người lại sợ rằng bỏ lối cũ đã quen thì có thể đi lạc đường. Ngoài ra các nhà chuyên môn nghiên cứu và suy tư về thần học, thường là ở bậc giáo sư đại học, cũng thường gặp trở ngại về phía một số giám mục tuy không chuyên môn nhưng lại có quyền kiểm duyệt. Về điểm này, chỉ xin nhắc đến tên một vài vị đã bị giáo triều Rôma làm khó dễ: Hans Kueng, Edward Schillebeeckx, Bernhard Haering, Gustavo Gutierrez, Leonardo Boff, v.v. Riêng cha Tissa Balasuriya, người đảo Sri-Lanka (Tích-lan), đi tu dòng Đức Bà Vô Nhiễm, thì vào ngày 2/1/1997 đã bị án loại ra khỏi giáo hội công giáo, vì viết một cuốn sách về Đức Bà (Mary and Human Liberation, 1990): cũng may là sau một năm thì được xét lại và được phá án.

Nói chung thì đức giáo hoàng Phao-lô thứ VI (1963-1978), là người đã kết thúc Công đồng, tuy có nghi ngại về những biến chuyển sau Công đồng, nhưng đã cố gắng thi hành các quyết nghị, nhất là đã cho hoàn thành Sách Lễ và Sách Các Phép mới. Còn đức giáo hoàng Gioan Phao-lô thứ II (1978-2005), thì tuy không tiếc lời ca tụng Công đồng, nhưng lại tổ chức tập trung quyền bính trong một tay mình cả. Dưới triều đại của ngài thì đã hoàn thành được bộ Giáo Luật mới (1983) và Sách Bổn (Giáo lý) của Giáo Hội Công giáo (1992). Nhưng cũng dưới triều đại này thì giám mục Marcel Lefèbvre bị loại ra khỏi Giáo Hội, vì không chấp nhận Công đồng, còn giám mục Jacques Gaillot thì bị cách chức (1995), vì đường lối mục vụ không được chấp nhận.

Một vài phương hướng thần học

Sau Công đồng thì các nhà thần học suy tư và nghiên cứu tự do hơn về các đề tài đã được nêu ra: về tổ chức và phẩm trật Giáo Hội, về đối thoại và gặp gỡ các Giáo Hội và tôn giáo khác, v.v. Ở đây tôi chỉ nhắc qua tên một vài nhà thần học mà tôi đã được đọc bằng tiếng Pháp, và thấy là đọc được, vì giúp cho giáo dân thay đổi được lối nhìn cho hợp Phúc Âm hơn, đồng thời vạch ra được trong mấy nước nói tiếng Pháp một lối sống đạo và truyền đạo thích thời.

Trước hết cũng nên nhắc đến tên mấy nhà thần học đã bị khó dễ trước Công đồng, nhưng từ Công đồng trở đi thì đã được hồi phục, như: Henri de Lubac, Yves Congar, Pierre Teilhard de Chardin.

Tôi không có ý nói đến những nhà thần học đã điều chỉnh lại quan niệm lệch lạc về Thiên Chúa và về đạo Chúa, vì có khá nhiều người, và vì tôi cũng không biết hết[11]. Tuy nhiên, ngày nay ai theo dõi một chút cũng thấy rằng đạo công giáo không quan niệm Thiên Chúa như là một “ông ba bị”, chỉ biết lấy phép thần thông để ra oai, chỉ biết xét nét và sẵn sàng ra tay trừng phạt, nhưng ngược lại, đã tìm cách chia sẻ thân phận làm người, gần gũi với loài người. Như thế là đi sát với những sự tích về người cha nhân từ kể trong Phúc Âm. Trái hẳn lại với những điều suy luận trừu tượng không có liên hệ đến đời sống, và với những quan niệm chịu ảnh hưởng của tôn giáo cổ sơ, đã đưa đến một thứ tôn giáo căn cứ vào thái độ sợ sệt (pastorale de la peur), làm cho người ta tuy có nghe nói đến Tin Mừng cứu độ, nhưng vẫn mang nặng cái mặc cảm tội lỗi, sợ bị trừng trị trong địa ngục, cũng như đó đây người ta đã sợ thập điện Diêm vương vậy.

Tôi để ý riêng về vấn đề Giáo Hội, vì những biến chuyển trong đời sống giáo hữu Âu châu đều tùy vào đó cả. Dĩ nhiên những tác giả mà tôi nêu ra đây chỉ là một số nhỏ, nhưng họ có thể làm tiêu biểu cho phương hướng mới.

Những nhà thần học như: Hans Kueng (Tuebingen), Edward Schillebeeckx (Nijmegen), Jean Rigal (Toulouse), Henri Denis[12] (Lyon), v.v. đã xuất bản nhiều sách về Giáo Hội. Họ căn cứ vào lịch sử để nói lên vì những lý do gì và trong những hoàn cảnh nào mà Giáo Hội đã biến chuyển, đi từ quan niệm là dân Chúa, cho đến lúc hàng giáo phẩm được lập ra để phục vụ cho dân Chúa, thế mà đã dần dần chuyển thành ra như là một loại công chức của giáo triều Rôma[13], làm cho không những giáo dân mất quyền ăn nói, mà cả hàng giám mục, linh mục cũng thành ra như chư hầu của vị giáo hoàng.

Ý thức được luồng gió mới, giáo dân Âu châu rất lấy làm phấn khởi, và đã đứng ra thành lập các hiệp hội để tham gia thảo luận, trao đổi ý kiến, để cùng định hướng cho đời sống của cộng đồng Giáo Hội. Có lẽ hiệp hội lớn nhất và có qui củ nhất là Ủy ban trung ương của giáo dân công giáo Đức (Zentralkomitee der deutschen Katholiken, Bonn). Ngoài ra còn có một vài phong trào muốn đi xa hơn như Integrierte Gemeinde và Wir sind Kirche (chúng tôi là Giáo Hội). Ở Pháp thì từ Hội trường các cộng đồng đạo Kitô (Forum des communautés chrétiennes), thì đã nảy ra một nhóm riêng, có ra một tạp chí liên lạc và trao đổi Croyants en liberté (17 số, 1990-1994), sau đó lại lập ra một tổ chức liên hiệp gần 50 tổ chức, có tạp chí thông tin và trao đổi gọi là Les réseaux des Parvis. Chrétiens en liberté pour d’autres visages d’Eglise, Paris, 1998.

Đấy là nói về những hiệp hội có tên tuổi, thường lên tiếng trong các cơ quan ngôn luận, chứ thực ra thì còn có nhiều hiệp hội đi sâu vào đời sống nội tâm để tu đức; ngoài ra giáo dân tham gia rất nhiều trong các xứ đạo, và đảm đang việc dạy giáo lý cho nhi đồng cũng như cho người lớn muốn tòng giáo, tổ chức tang lễ, v.v. Thế rồi lại có một số khá đông giáo dân đi học và lấy bằng cấp thần học. Chẳng hạn như ở Lyon và ở Lille thì khoa trưởng khoa thần học là giáo dân, còn ở khoa thần học Angers thì có một nữ tu dòng Đa- minh làm khoa trưởng. Viện trưởng viện đại học công giáo Lille hiện nay là một bà trạc độ hơn 50 tuổi.

Hoàn cảnh rất thuận tiện là vì số linh mục ngày càng sút xuống. Các giám mục phải tổ chức lại cơ cấu “tư giáo”, giao cho các linh mục trách nhiệm càng ngày càng nặng, mỗi vị phải coi hai, ba, hay mười, mười lăm xứ đạo, mà chưa nghĩ ngay đến việc giao trách nhiệm cho giáo dân. Đôi khi cũng có làm, nhưng về phía giáo quyền vẫn còn nhiều vị cứ coi là cực chẳng đã mới phải làm như thế. Ví dụ văn kiện Rôma ngày 15/8/1997 về Việc cộng tác giữa giáo dân và các linh mục, đã dạy rằng “tư giáo” là công tác của những vị đã có chức thánh, giáo dân phải có ủy quyền mới được làm[14]. Văn kiện này bị khá nhiều giám mục ở Đức và ở Áo và nhiều nhà thần học phản đối, vì lý do là chưa chắc đã hợp với tín lý, đồng thời lại không xét gì đến thực trạng các xứ đạo ở Âu châu. Ngày nay không ai nói đến văn kiện đó nữa.

Hiện nay các xứ đạo thường không còn do một cha chính xứ có toàn quyền sai bảo, nhưng do một ủy ban “tư giáo” (équipe d’animation pastorale) đảm nhiệm, mỗi ủy ban gồm có một linh mục và bốn giáo dân cộng tác với linh mục, hai nam hai nữ, được giám mục ủy nhiệm trong hai năm.

Những hoàn cảnh mới mà Công đồng chưa biết tới

Công đồng bế mạc được ba năm thì ở Âu Mỹ có cuộc cách mệnh văn hóa: năm 1968, thanh niên, nhất là trong giới sinh viên, đứng lên phản đối các thứ uy quyền.

Vẫn biết là uy quyền của Giáo Hội ở Pháp thì đã mất dần từ khi có Cách Mệnh Pháp năm 1789. Xã hội dân sự thì thành ra thế tục hóa, và đến năm 1905 thì nhà nước và Giáo Hội được tách rời ra như hai thực tế biệt lập: ở Pháp cũng như ở nhiều nước Âu châu thì không còn có quốc giáo, như hiện có trong nhiều nước khác, nhất là trong các nước theo Hồi giáo, hay là như có một số người đó đây vẫn đang mơ ước. Nhưng nay thì cả uy quyền của nhà nước cũng bị sút giá, lớp người làm thầy dạy học, kể cả ở cấp đại học, cũng mất uy quyền. Tất cả các uy quyền đều phải hạ bệ, các định chế thì bị nghi kỵ là áp chế tự do cá nhân. Cho đến nay xã hội Âu châu vẫn còn tìm tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức rõ rệt để người ta có thể chung sống với nhau. Đó là một kinh nghiệm đã đánh mạnh vào tâm tư vị giáo sư Joseph Ratzinger, hiện nay là giáo hoàng Biển Đức thứ XVI. Mất uy quyền rồi thì từ nay ai nấy phải tìm gây lại uy tín nhờ vào sở trường và vào cách ăn ở của mình mà thôi.

Thêm vào đó thì công giáo lại bị khủng hoảng nội bộ: một số khá đông linh mục cũng hồi tục. Từ nay số chủng sinh học tập làm linh mục, số người vào nhà tập của các nhà dòng nam nữ, cũng đều xuống dốc. Do đó các chủng viện và nhà tập để trống đã được đổi thành những trung tâm tổ chức những khóa hội thảo, những lớp huấn luyện thích thời (hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và văn hóa) về Thánh Kinh, giáo lý, về việc đối thoại giữa các tôn giáo. Những trung tâm đó ngày nay do giáo dân đảm nhiệm, có linh mục hay thầy dòng làm cố vấn về tôn giáo, và hoạt động có kết quả, thu hút được nhiều người đến học hỏi.

Từ mấy chục năm nay ở Pháp, tôi nhận thấy rằng đại đa số các chủng sinh đều vào nhà trường muộn, sau khi họ đã có nghề nghiệp làm ăn, hay là đã có bằng cấp đại học. Họ muốn làm linh mục không phải là vì ở ngoài đời họ không làm được nghề ngỗng gì. Tôi biết có người đã làm kỹ sư có lương cao, khi nghe tiếng Chúa gọi, họ biết rõ là họ sẽ chỉ sống bằng đồng lương tối thiểu, do một thiểu số người công giáo đóng góp cung cấp mà thôi, nhưng họ vẫn quyết định. Trong hoàn cảnh như thế, những người có chí thì càng có ý thức hơn.

Từ nay những người có ăn học, biết tự lập và ý thức được tự do như thế, không phải là hạng người bảo sao nghe vậy, không phải là đầy tớ để sai vặt. Muốn bảo được giáo dân, hàng giáo sĩ phải có uy tín, muốn bảo được các linh mục thời nay, hàng giám mục cũng phải có uy tín. Có uy tín mới thuyết phục được những con người tự do. Vì thế việc truyền đạo đang chuyển sang hướng mới.

Cũng nên chú ý là: chính vì tình trạng văn hóa Âu Mỹ: 1) đã phân biệt tôn giáo với các phạm vi thế tục khác, 2) đã đề cao tự do và trách nhiệm của cá nhân, 3) đã duy lý về mặt tư tưởng và 4) duy nghiệm về mặt thực hành, cho nên đòi phải có lối mục vụ mới như thế. Chứ ở những nước mà tôn giáo vẫn còn lẫn lộn với văn hóa và chính trị, người dân chưa ý thức được tự do, chưa tự lập về mặt suy tư, thì xã hội, tập tục và người cầm quyền định đoạt về tất cả nếp sống cũng như về tôn giáo, về quốc giáo.

Hướng đi đang thành hình

Hướng đi mới đã manh nha từ lâu, do sáng kiến của nhiều người có lòng ưu tư về đạo Chúa. Từ hơn mười năm nay nhiều giáo phận, như Tournai (Bỉ), Poitiers (Pháp), v.v. đã thí nghiệm hướng đi mới. Ở trong cùng một hoàn cảnh, cùng có một tinh thần phục vụ, lại cùng do một thần khí của Chúa hướng dẫn, cho nên những sáng kiến song song với nhau, dần dần sát cánh nhau và vạch ra một lối đi chung. Lối đi chung này đã được đem ra thí nghiệm ở nhiều nơi, nhưng về mặt lý thuyết thì cũng mới được trình bày một cách tổng quát, có mạch lạc, trong hai cuốn sách bằng Pháp văn, viết tập thể, gồm nhiều tác giả người Bỉ, Pháp và Canada, do Philippe Bacq và Christoph Theobald chủ trương, dưới một cụm từ còn mới mẻ là “pastorale d’engendrement”[15]. Trong công việc này các cha dòng Tên (Jésuites) đóng vai trò quan trọng, vì một là có liên hệ chặt chẽ với Viện nghiên cứu về phương pháp dạy giáo lý Lumen vitae (Bruxelles, Bỉ) của dòng Tên, hai là cha dòng Tên, Christoph Theobald, mới cho xuất bản về hướng đi mới một cuốn sách lý thuyết gồm hai tập[16].

Lối đi này vừa là hội nhập văn hóa, đi vào văn hóa mới, lại vừa là trở về nguồn đã có trong Phúc Âm. Tôi xin giới thiệu, nhưng không thể trình bày tỉ mỉ về hướng đi này, chỉ xin tóm tắt mấy điểm chủ chốt.

Một là: Nhận định lại tình thế.

Thoạt nhìn vào đạo công giáo ngày nay ở Âu châu, thì thấy không có vẻ gì là khả quan. Sau Cách Mệnh Pháp và sau khi tách rời tôn giáo với chính trị, người ta không cần bám vào tôn giáo mới làm ăn nên, mới lên thang trong xã hội. Mà ngược lại thì có. Cho nên uy quyền của Giáo Hội đã mất, số người giữ đạo cũng bớt đi nhiều. Trong khi đó thì thấy nhiều tôn giáo hay Giáo Hội khác đang ồ ạt lôi cuốn quần chúng, có vẻ là rất thịnh hành, căn cứ vào một vài khẩu hiệu đơn sơ, theo phương pháp chiêu hàng ngày nay. Có điều dị biệt thật là quan trọng, nhưng ít ai để ý trong khi so sánh, là người Âu châu đã ý thức được tự do cá nhân, tự do tôn giáo: ngày nay người ta theo đạo Kitô không còn phải là vì thói quen, vì áp lực xã hội[17], hay là vì quyền lợi, vì danh lợi, như trường hợp ở nhiều xã hội xưa nay. Hiện nay có nhiều người biết rõ như thế, nhưng vẫn xin tòng giáo, và nhẫn nại học tập hai năm, cho nên lễ nhập đạo của họ có ý nghĩa sâu xa, chứ không còn phải như kiểu “nước đổ đầu vịt” nữa. Như vậy cũng đủ thấy Giáo Hội công giáo không phải là không còn uy tín.

Những người chủ trương lối đi mới thì nhận định rằng đây là “một cơ hội mới cho Phúc Âm”, vì nó hợp với quyền tự do tôn giáo: tôn giáo không còn phải là một yếu tố mà nhà nước hay xã hội bắt buộc người ta phải theo, như các định chế hay tập quán thế tục khác. Cũng là hợp với ý của Đức Giêsu chủ trương tách rời tôn giáo với chính trị. Và cũng đúng như quan niệm của vị giáo phụ Tertullianô (thế kỷ II-III): “người ta là môn đồ của đức Kitô không phải là do bẩm sinh, nhưng là vì đã trở thành như thế (Christiani non nascuntur, fiunt) ”. Cho nên việc theo đạo là do niềm thâm tín của cá nhân, và việc truyền giáo là việc lấy nếp sống mà chứng thực, lấy lời lẽ mà thuyết phục từng người, chứ không phải là tuyên truyền ầm ĩ như chiêu hàng, để lôi cuốn từng loạt quần chúng, càng không phải là dùng áp lực bắt người dân phải theo.

Có mấy điều có vẻ đáng lo ngại, là: đạo công giáo, tuy trước đây đã định hình sâu đậm cho văn hóa Âu châu, nhưng nay cả người ngoại cuộc lẫn người trong cuộc (sécularisation interne) đều kể như là đạo đã ra ngoài văn hóa đó. Nhưng cũng phải nhận rằng những lối hội nhập trước đây đã thích thời trong văn hóa cũ, thì chưa hẳn là bây giờ còn thích thời. Vấn đề không phải là chú trọng vào những bản thống kê hiện nay về tình hình tôn giáo, theo một số tiêu chuẩn bề ngoài như xưa, rồi thất vọng trong tinh thần hoài cổ, mà không xét đến những hình thức sống đạo sâu xa của giáo dân đang nảy nở. Cho nên nay có cơ hội mới để trở về nguồn là Phúc Âm, và dùng lối mới để đưa Phúc Âm vào văn hóa mới, đang đề cao con người cá nhân biết suy nghĩ, biết phê bình và định đoạt lấy cho mình.

Hai là: Xét lại con đường đã đi [18].

Cần phải nhận định ngay là những hình thức sống đạo và truyền đạo trước đây là những nỗ lực hội nhập văn hóa đã thành công ở Âu châu.

“Gặp thời thế thế thì phải thế”. Thực vậy, từ thế kỷ V trở đi, đạo và đời hợp nhất ở Âu châu, tôn giáo không tách rời ra khỏi chính trị và văn hóa chung, cho nên người ta truyền đạt văn hóa theo lối “encadrement”, là tập cho ai nấy “vào khuôn vào phép” bề ngoài. Trong tổ chức “tư giáo”, thì khuôn phép của đạo Kitô gồm có ba yếu tố: a) một số tín điều cần phải biết, tóm tắt trong Kinh Tin Kính, và trong Sách Bổn; b) một số điều luật phải giữ trong đời sống cá nhân và trong tổ chức Giáo Hội; c) một số nghi lễ phụng tự phải cử hành cho phải phép, cho thành phép. Tất cả đều tựa vào Phúc Âm, chứ không phải do ai tự tiện đặt ra. Điều thiều sót là ít ai để ý đến kinh nghiệm và niềm thâm tín của cá nhân. Tuy nhiên, cũng như trong các xã hội khác, khi đa số dân chúng còn nghèo đói và thiếu học, thì dễ tin theo tôn giáo của những người lãnh đạo, hoặc là vì họ có uy tín, hoặc là vì họ có uy quyền hay võ lực bắt buộc phải theo, cho nên người ta “vào khuôn vào phép” đã có sẵn một cách rất tự nhiên.

Khi dân trí tới mức độ cao hơn, khi cá nhân có học thức, biết suy luận và tự do định đoạt lấy cho mình, thì tất nhiên phải trình bày tôn giáo sao cho hợp lý hợp tình. Loại văn “minh giáo” (apologétique) đã được phát triển ngay từ khi đạo được truyền vào xã hội Hy Lạp, thì lại càng thích thời. Từ Cách Mệnh Pháp trở đi, thì đạo công giáo đã phải nghĩ đến những đường lối mới để truyền đạo, nhất là để ý đến việc giáo dục thanh thiếu niên, và việc bênh vực cho lớp công nhân trong chế độ tư bản đang lên.

Sau Thế Chiến thứ II, thì đường lối “tư giáo” là đón tiếp (accueil): là phải gần gũi với người ta, tìm hiểu lối suy luận, ước vọng bên trong của những cá nhân tự do, mà không ai lấy khuôn phép bên ngoài mà bắt buộc được. Có một đường lối khiêm tốn hơn, mà tôi thấy các linh mục làm công nhân, cũng như hội dòng tiểu đệ và tiểu muội theo tinh thần Charles de Foucauld[19], đã dùng, là chôn vùi (enfouissement), nghĩa là làm chứng nhân sống đạo ở giữa lớp dân nghèo, một cách âm thầm như hạt giống chôn vùi trong đồng ruộng, như Đức Giêsu đã sống ở Nazareth (30 năm ở cùng Đức Mẹ), chờ ngày Chúa cho đâm hoa kết quả.

Vào năm 1996 thì Hội đồng Giám mục Pháp viết một lá thư cho giáo hữu[20] trong đó có đưa ra phương pháp “tư giáo” mới, là đề nghị (proposition). Đề nghị tức là muốn lên tiếng, chứ không im lặng nữa. Cũng là hợp lẽ, vì không nói ra thì ai biết mình muốn gì, nhưng đối với người có tự do, thì mình chỉ có thể đề nghị niềm tin của mình mà thôi. Thế nhưng các tác giả theo hướng đi mới thì lại cho rằng như thế vẫn còn là bất cập, vì với thái độ đó, mình vẫn còn vô tình cho rằng mình ở vị trí cao hơn, có những điều muốn chia sẻ với những người không biết, mình không hỏi han đối thoại, mà đã biết sẵn câu trả lời rồi!

Ngoài ra trong thư vừa nhắc tới còn đưa ra một phương pháp nữa là đưa đường (initiation): làm sao cho xứ đạo có một nếp sống cộng đồng trong tình anh em, rồi đưa đường cho người ta tham gia vào đó, cũng như vào các lễ nghi, để dần dần kinh nghiệm được thế nào là nếp sống của đồ đệ của Đức Giêsu (Xem trong thư, trang 99-100).

Vấn đề bây giờ không phải là lôi cuốn người ta vào khuôn vào phép của tổ chức Giáo Hội, như là những hội viên vô danh, nhưng là làm cho người ta phát huy được cá tính trong khi đối thoại, trao đổi với người khác, và cùng sinh lại thành người mới. Vì thế những người chủ trương hướng đi mới muốn là phải đi ngược qua những yếu tố “khuôn phép”, để trở về nguồn, trở về những câu truyện được kể lại trong Tin Mừng Phúc Am, có thể đem lại sinh khí cho đời người.

Ba là: Hướng đi mới.[21]

Như ai ấy đều biết, cái tình trạng mới của xã hội Âu châu bây giờ là: Tổ chức xã hội đã thế tục hóa, cho nên không còn phải là tay vịn cho tôn giáo nào cả, vì cá nhân đã tự lập, suy nghĩ và tự do định đoạt lấy cho mình về niềm tin tưởng. Trong tình trạng đa nguyên trong phạm vi tin tưởng, việc “tư giáo” không còn phải là sản xuất một loạt tín đồ giống nhau như cùng đúc theo một cái khuôn đã có sẵn.

Lối “tư giáo” theo hướng đi mới này gọi là “pastorale d’engendrement”. Chính từ ngữ tiếng Pháp dùng đây, tự nó cũng chưa rõ nghĩa. Dự định muốn đưa ra là: đối thoại, trao đổi với người khác, và cùng sinh lại thành người mới, trong niềm tin mới. Thoạt nhìn thì nó gợi cho ta hai chữ “born again”[22] của một nhóm Giáo Hội Tin Lành phát nguồn từ miền Nam Hoa Kỳ và lan sang Nam-Mỹ và Phi- châu. Nhưng về đạo lý và về phương pháp thì khác xa, cho nên các Giáo Hội Tin Lành đã có lâu đời ở Âu châu cũng lấy làm nghi ngại, vì như đã nói trên đây, có nhiều mục sư, mỗi ông đều có thể tự tiện đứng ra lập ra một Giáo Hội, truyền giáo ầm ĩ như trong hội chợ, theo kiểu chiêu hàng và kinh tài lối Mỹ, và lại còn hay dùng tôn giáo để làm chính trị nữa.

Tư tưởng làm nền tảng cho hướng đi mới ở đây là: phải căn cứ vào niềm tin tưởng tự nhiên mà ai sống ở đời cũng đã sẵn có, rồi mới cùng đào sâu thêm, làm cho người ta khám phá ra Tin Mừng Phúc Âm như là đã có mầm mống trong hướng mình ước vọng. Vì lẽ rằng: nếu tự nhiên mà đã không tin được những người chứng nhân mà mình trông thấy, thì làm sao có thể tin được vị Thiên Chúa mà chưa ai thấy bao giờ[23], nhưng chỉ nghe qua những chứng nhân mà thôi.

Ba tiêu chuẩn trong hướng đi đang thành hình

Hướng đi này được thành hình, khi người ta lấy quan điểm Phúc Âm mà nhìn vào xã hội. Vì thế có ba tiêu chuẩn cần phải liên kết với nhau: Tin Mừng Phúc Âm là tiêu chuẩn chính, Giáo Hội là chứng nhân loan báo Tin Mừng, và xã hội là môi trường hành động.

Thứ nhất: Tin Mừng Phúc Âm.

Tin Mừng mà Thiên Chúa muốn thông báo cho mọi người đó là gì? Đó là tin rằng: xét cho cùng thì đối với mọi người cuộc đời là tốt đẹp.[24] Thực vậy, đọc Thánh Kinh thì ta thấy là từ đầu đến cuối đều có cái nhìn lạc quan về cuộc đời. Từ đầu trong Sách Sáng Thế, ta đã thấy rằng tất cả các vật được tác tạo nên, thì Thiên Chúa đều bảo là tốt cả. Lịch sử dân Chúa có lúc thăng lúc trầm, nhưng bao giờ cũng có hi vọng tìm ra giải pháp tốt đẹp. Có lạc quan, có hi vọng, mới sống được.

Cuộc đời là tốt đẹp? Thực ra cái đó xem chừng không có gì là hiển nhiên cả: người ta có nhiều lý do để không tin như thế. Có điều là một việc xảy ra một cách tự nhiên hay tất nhiên, thì không ai nghĩ là đáng đưa tin, ví dụ: nước Ả-rập vừa bầu một người Ả-rập làm quốc trưởng. Trái lại nếu nước Ả-rập vừa bầu một người Do Thái làm quốc trưởng, thì đó là một việc rất đáng đưa tin. Kinh nghiệm của ta cho thấy là ở đời ta gặp nhiều cái không tốt, và nhà Phật, như ta biết, cũng đã tổng quát hóa kinh nghiệm hạn hẹp của tất cả chúng ta trong câu: vạn sự khổ, đời là bể khổ. Hiển nhiên quá. Nhưng xét cho cùng nếu mà cuộc đời đối với mọi người là tốt đẹp, thì đó thực là một tin đáng mừng, đáng thông báo. Có điều là khi phải chạm trán với thực tại, thì lại thấy rằng cái Tin Mừng đó rất là mong manh, rất khó tin! Lấy gì, lấy ai, mà bảo đảm được?

Tuy vậy nếu không có niềm tin, niềm hi vọng phổ thông lạc quan như thế, thì làm sao trong cõi người ta lại có những cố gắng để sống, để đối phó với bao nhiêu trở ngại? Nói thế khác, sống tức là tín cẩn vào cuộc sống, tuy biết là nó chưa hoàn hảo, vì từ khi sinh ra ta đã tín cẩn vào người khác rồi. Nếu không tin được vào ai, thì làm sao sống được, nếu không có hi vọng gì thì lấy đâu làm lẽ sống? Thà đi ra ngoài cuộc đời còn hơn.

Niềm tin này là niềm tin tự nhiên cần phải có để sống, nhưng chưa tất nhiên đã là niềm tin tôn giáo.

Thứ hai: cộng đồng Giáo Hội.

Nói đến Tin Mừng, thì cũng phải nói có ai đưa tin. Vấn đề bao giờ cũng là: người đưa tin có đáng tin hay không?

Người đưa tin đầu tiên là Đức Giêsu Kitô. Nếu cho đến nay đạo của Người còn được truyền bá, thì là vì đã có những người thấy là đáng tin, rồi truyền lại tiếp đi cho người khác. Ngoài cái nội dung Tin Mừng có thể làm cho người ta sống có ý nghĩa, thì còn có ba lý do đã làm cho người ta tín cẩn vào Người. Một là: Người có uy tín, vì nói sao làm vậy, mà không sợ lụy đến thân[25]. Hai là: Người biết chờ cho người khác dần dần nhận ra mình là ai, vì Người thường hỏi: thiên hạ nghĩ tôi là ai? các anh nghĩ tôi là ai? Ba là: niềm tin vào Đức Giêsu không phải là từ ngoài ép vào, nhưng từ trong thâm tâm tự do của người ta mà phát ra, sau khi đã nghe báo Tin Mừng; nói thế khác, Người không tấn công từ ngoài vào để bó buộc người đuối lý phải chịu phục, nhưng đánh thức niềm tin đã có sẵn bên trong, đang mặc nhiên hướng ra ngoài về ai khác (Thiên Chúa).

Nhưng cái niềm tin ấy cũng rất là mong manh. Vì khi Người còn bình sinh, thì chỉ có một thiểu số tín cẩn vào Người, còn đa số những chức sắc về phần đạo đều không tin, lại còn cho rằng Người đáng tội tử hình. Thế rồi cái thiểu số tin như thế cũng không có bề thế vững chãi: họ không phải là chức sắc có uy tín trong đạo Do Thái, cũng không phải là vương tướng có uy quyền trong đế quốc Rôma, lại còn gặp nhiều trở ngại. Tin là dám tin, dám hi vọng. Nhưng chính cái mong manh đó là bảo đảm cho tính cách tự do của niềm tin.

Cái chuỗi người cho đến nay đã kế tiếp nhau làm chứng nhân cho cái Tin Mừng rất mong manh mà Người giảng giải, trong những hoàn cảnh lúc thuận, lúc nghịch, đó là Giáo Hội của Người. Khi người ta đọc Kinh Tin Kính thì nói lên là mình tin Giáo Hội, tin hội thánh, là thân thể Chúa Kitô, tức là nơi Chúa Kitô hiện hình và loan báo Tin Mừng của Người. Tuy được Chúa hứa là sẽ cho Giáo Hội được trường tồn, nhưng Giáo Hội không phải là một pháo đài cố định. Thực ra Giáo Hội gồm những chứng nhân sống trong cái thân phận mong manh, có nhiều quyến rũ, cho nên chỉ là hình thức lịch sử chưa hoàn thành, nhưng đang cố gắng mang sứ mệnh là truyền bá cái Tin Mừng, có thể gây ra cho mọi người một nếp sống có ý nghĩa, có hi vọng. Thế nghĩa là Tin Mừng đã tồn tại, qua nhân chứng của những con người mà nhiều khi “lực bất tòng tâm”, nhưng muốn chia sẻ với người khác một lối nhìn và một lối sống trong các hình thức văn hóa khác nhau.

Thứ ba: xã hội.

Xã hội là môi trường sống, gồm tất cả tư tưởng, hành vi, ước vọng của người ta. Phải biết môi trường ấy là thế nào mới có thể đưa Tin Mừng cho thích hợp.

Như ta vừa thấy trước đây, trừ Đức Giêsu là người đầu tiên đưa Tin Mừng, thì những người đưa tin tiếp theo (Giáo Hội) không hoàn toàn vững tâm, vì chính cái Tin Mừng đó cũng khó tin. Chỉ biết một điều là nó hợp với hi vọng của người muốn đạt thân trong đời, vì nếu không tin, không tín cẩn được vào đâu, không hi vọng rằng dù sao đi nữa đời người cũng vẫn là tốt đẹp, thì khó mà tìm ra lý do để có can đảm đối phó với các trở ngại trong đời, nghĩa là trong cái xã hội biến chuyển mà không ai đoán trước được.

Người ta mong muốn một xã hội đại đồng, trong đó con người hòa hợp được với thiên nhiên và với người khác[26], nhưng cái mong muốn ấy vừa khó tin, vừa gặp nhiều trở ngại. Ví dụ nước Pháp đã nêu ra từ hơn hai thế kỷ cái khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Huynh đệ”, nhưng vẫn chưa thực hiện được nhiều, vì ai nấy đều có tính ích kỷ. Cái Tin Mừng mà đồ đệ Đức Giêsu cố gắng giới thiệu là: cái ước vọng đó có thể thực hiện được, vì cuộc đời là tốt đẹp, đồng thời cũng giới thiệu quan điểm có thể giúp thực hiện, là coi mọi người là anh em, vì cùng là con của một cha chung. Vì lẽ rằng nếu không có cha chung thì cũng không có anh em. Cái hi vọng đó tự nó vẫn là mong manh, khó tin, nhưng nó không phải là ảo vọng vì có những người đáng tin đã dám tin và làm như thế.

Đi vào thực hành

Đi theo hướng mới không phải là phế bỏ tất cả ba yếu tố của khuôn phép cũ, nhưng là tương đối hóa, để trở về nguồn là Thánh Kinh nói chung và Phúc Âm nói riêng. Tương đối hóa là chấp nhận rằng có nhiều thể thức sống đạo. Những yếu tố thần học và lễ nghi nào đã thích hợp với văn hóa cũ, nhưng không hợp với tâm thức người bây giờ, thì sẽ dần dần nhường chỗ cho những sáng kiến mới, làm cho người ta sống đạo một cách thích thời hơn.

Có điều nên chú ý là: khi đi truyền đạo thì các giáo sĩ Tin Lành thường đưa sách Phúc Âm ra giảng ngay từ đầu. Ngược lại, các giáo sĩ công giáo thì mang khuôn phép đã có sẵn ra dạy, là: Sách Bổn, Sách Kinh, Sách các phép, và ít sách nguyện gẫm. Đó là cái khuôn do người Âu châu sáng tạo ra trong văn hóa riêng của họ. Thành ra người công giáo Việt Nam trong mấy thế kỷ đã bị thiệt thòi, vì không được đọc thẳng lời Phúc Âm. Cho nên đạo công giáo ở bên ta khó tránh được một ít hình thức Tây phương. Dù sao thì trong cuộc giao lưu văn hóa, không có tôn giáo nào mà không nhận ảnh hưởng của văn hóa khác để làm giàu cho mình. Cho nên cái hình thức Âu châu, tuy là tương đối, nhưng cũng không phải là vô ích, vì nó thêm kinh nghiệm cho ta, tránh cho ta cái đầu óc hẹp hòi, làm cho ta ý thức được tính cách phổ biến của đạo Chúa.

Nếu ta nhìn vào Giáo Hội buổi sơ khai thì theo như Sách Công Vụ Tông Đồ ta thấy là sau khi Đức Giêsu khuất đi thì các đồ đệ đọc và suy gẫm Thánh Kinh, nhớ lại nếp sống của Người và được Thần Khí của Chúa giúp sức, nhưng họ phải tùy theo các biến cố bất ngờ trong xã hội chung quanh mà tìm ra đường lối hoạt động.

Đọc Thánh Kinh, đọc Phúc Âm không phải là đóng cửa đọc một mình, chờ Thánh Thần hay Thần Khí của Chúa soi sáng riêng cho mình. Như thế có cái nguy hiểm là mỗi người đọc một “phách”, rồi không ai chịu nghe ai, và người ngoại cuộc sẽ có thể nghĩ rằng tôn giáo chỉ là do mỗi người tự tạo ra cho mình. Đọc ở đây là đọc trong Giáo Hội (en Église), là cùng đọc với nhiều người khác (tính cách cộng đồng), và đặt lời Tin Mừng vào trong hoàn cảnh cụ thể của mỗi người. Có thế mới nhận thức được cái âm vang của Tin Mừng trong lòng mình và trong lòng người khác. Có thế, những điều ta nói lên mới thực là do niềm thâm tín của ta, chứ không còn phải là bài học thuộc lòng mà thiên hạ tới tấp nhồi sọ cho nhau. Rồi sau đó ta phản ứng bằng lời nguyện và bằng hành động thích hợp. Có thế ta mới thực là chứng nhân, là người làm chứng cho Tin Mừng. Vì người làm chứng không phải là người nhắc lại điều đã nghe, nhưng chứng thực về điều mình đã chứng kiến hay là tin chắc.

Dĩ nhiên là có nhiều ý kiến, nhưng có trao đổi với nhau mới tương đối hóa được cái nhìn chủ quan của mình. Đồng thời cũng phải so sánh với cái nhìn và hành động của những người trong Giáo Hội đã sống trong hoàn cảnh văn hóa khác ta (tính cách lịch sử). Trao đổi về những hình ảnh và quan niệm về Thiên Chúa, về nhân sinh, và về truyền thống, làm cho ta học lẫn nhau, kèm cho nhau, để giúp nhau tự nhận ra đường lối, giúp nhau sinh lại thành người mới theo tinh thần Phúc Âm. Đó là lối “tư giáo” gọi là “engendrement”. Tôi xin đề nghị tạm phiên dịch là “tương sinh”.

Có lẽ chính vì đã quá quen với lối “tư giáo” cũ, mà ta thường muốn người khác cũng tin và làm y như ta, và như thế ta truyền bá đức tin theo kiểu “đúc theo khuôn” hay là đòi phải bắt chước ta. Cần phải nhìn nhận một cách khiêm tốn là khi đi kèm cho người xin tòng giáo thì ta đánh thức niềm tin vào cuộc đời đã sẵn có, nhưng không biết trước được cái kết quả của sự cộng tác giữa Thần Khí có sức sáng tạo của

Chúa và quyết định tự do của người ấy.

“Tư giáo” theo lối “tương sinh” này bắt đầu được áp dụng đó đây, không những trong khi gặp gỡ những người xin tòng giáo, mà cả trong sinh hoạt của xứ đạo nữa. Giám mục Albert Rouet, giáo phận Poitiers, đã trình bày mười năm kinh nghiệm mới trong cuốn sách Một bộ mặt mới của Giáo Hội. Kinh nghiệm các cộng đoàn địa phương tại Poitiers[27]. Một ví dụ khác mà tôi biết, là sau hội nghị năm 2001 của lớp người trẻ, thì tổng giáo phận Lille đã thành lập một hiệp hội gọi là Fraternités Diocésaines des Parvis, huấn luyện cho các thành phần, để cùng sống đạo theo lối “tư giáo” này. Cho đến nay đã có 5 nhóm, mỗi nhóm gồm có một linh mục và dăm sáu người nam nữ, có người độc thân, có người có gia đình, mỗi nhóm được tòa giám mục chính thức giao cho trách nhiệm hoạt động “tư giáo” trong một xóm có nhà thờ. Lễ ngày chủ nhật thường lâu chừng một giờ rưỡi, vì có để ra thì giờ suy gẫm và trao đổi kinh nghiệm và ý kiến. Hiệp hội bắt đầu lan ra mấy giáo phận chung quanh.

Hiện nay có một việc rất đáng chú ý, đó là Thượng Hội đồng Giám mục tại Rôma trong tháng 10 năm 2008, để bàn về đề tài “Lời Chúa”. Các vấn đề đã được đề cập là: chỗ đứng của các chuyên gia về Thánh Kinh, việc phiên dịch Thánh Kinh, các bài giảng trong thánh lễ. Hội đồng cũng tiếp tay với đức giáo hoàng để nhấn mạnh vào ba nền tảng không thể rời nhau của đời sống của đồ đệ Chúa Giêsu, là: Lời Chúa, Lễ Đại-tạ (Eucharistia) và các việc bác ái. Hội đồng này rất quan trọng, vì nó sẽ có ảnh hưởng nhiều lên đời sống người công giáo toàn cầu.

(*) Vài nét về tác giả Trần Văn Toàn:

Học Triết học tại Đại học Công giáo Louvain, Bỉ, 1950 1954; Tốt nghiệp tiến sĩ triết học (Luận án về Karl Marx, Đại học Công giáo Louvain, 1960). Nghiên cứu Thần học Công giáo tại Lyon, 1954-56; tại Mayence (Mainze/ Đức, 1956-1958); tại Lille (gián đoạn, 1978-1983).

Tốt nghiệp Thạc sĩ Thần học Công giáo (Luận văn về thánh Ambroise xứ Milan, Lille, 1983).

Từng dạy học tại các Đại học Huế, Sài Gòn và Đà Lạt, 1960 1965; Đại học Lovanium (Kinshasa/Congo), 1965-1973; Đại học Công giáo Lille, 1973 -1996.

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 63 (Tháng 1 & 2 năm 2011)

[1] Tiếng Pháp là “pastorale” (chăn dắt), tiếng Đức là “Seelsorge” (lo việc về phần linh hồn). Người công giáo Việt Nam dùng chữ “mục vụ” là dịch sát nghĩa tiếng Pháp. Tôi thấy nó làm sao ấy, vì lẽ rằng ta “dẫn dắt” người khác, chứ không có “chăn” ai cả. Vậy tôi xin tạm dùng chữ “tư giáo”.

[2] Sách viết về Công đồng này thì rất nhiều. Chỉ xin đơn cử một bộ sách về lịch sử Công đồng do Giuseppe Alberigo (Istituto per le scienze religiose, Bologna, Italia) đứng ra chủ trương, gồm 5 cuốn, do 26 tác giả chuyên môn cùng soạn. Bản Pháp văn của bộ sách đó thì do Etienne Fouilloux (Trung tâm nghiên cứu lịch sử tôn giáo, Lyon, Pháp) đảm nhiệm, cũng gồm 5 cuốn, in tại Paris, NXB Cerf, từ 1997 đến 2005, tất cả hơn 3600 trang. Sách sẽ được dịch ra nhiều thứ tiếng.

[3] Xem: Philippe Chanson, “Inculturation”, trong Dictionnaire oecuménique de missiologie. Cent mots pour la mission (sous la direction de Ion Bria, Philippe Chanson, Jacques Gadille, Marc Spindler), Paris, Cerf – Genève, Labor et Fodes Yaoundé, CLE, 2003, tr 165-170 . Đoạn văn trích dẫn là ở tr 165.

[4] Xem: Trần Văn Toàn, “Đó là lời Chúa”, Định Hướng, số 48, Mùa Đông 2006, tr 112-132.

[5] Xem: Tin Mừng theo thánh Mátthêu 22,21: “Bấy giờ Người bảo họ: Thế thì của Xê-da (= hoàng đế), trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”.

[6] Số là các thần linh được công nhận trong đế quốc thường chỉ là thần của riêng một dân tộc, chứ không có thần nào là thần của cả đế quốc. Vì thế hoàng đế Rôma là Augustô có quyền công nhận các thần linh, đã tự tôn chính mình lên hàng thần linh. Cũng như trong hoàn cảnh tương tự vua Minh Mạng đã tuyên bố: trẫm là chúa các thần.

[7] Thầy tu hành trong sa mạc gọi là ermite (eremita), là do tiếng Hy Lạp eremos có nghĩa là sa mạc.

[8] Triết học của Platon xuất hiện dưới hình thức những bài đối thoại.

[9] Ví dụ các tông phái Tin Lành thì bám vào nhà cầm quyền địa phương theo nguyên tắc: đất nào đạo ấy. Đó chính là lúc vua nước Anh là Henri VIII đã tự phong cho mình làm giáo chủ đạo Kitô ở nước Anh.

[10] Sau Thế chiến thứ hai, các lễ nghi tuy vẫn cử hành bằng tiếng La tinh, nhưng giáo quyền đã bắt đầu cho phiên dịch ra tiếng nói của giáo dân, để họ cho thể theo dõi và tham gia.

[11] Tôi chỉ xin giới thiệu một bộ sách của Adolphe Gesché (1926- 2005), giáo sư thần học ở đại học công giáo Louvain (Bỉ). Bộ sách tên là DIEU POUR PENSER, viết ra với mục đích là lấy cái ý niệm “Thiên Chúa” làm cơ hội để suy tư cho đáo lý về các vấn đề nhân sinh. Sách gồm 7 cuốn in tại NXB Cerf , Paris (1- Le Mal, 1993; 2- L’Homme, 1993; 3- Dieu, 1994; 4- Le Cosmos, 1994; 5- La Destinée, 1995; 6- Lr Christ, 2001; 7- Le Sens, 2003). Tác giả mất trước khi soạn xong cuốn thứ 8- La Foi.

[12] Sáng lập viên hiệp hội Jonas, căn cứ vào tình trạng “tư giáo” hiện thời, để đưa ra những đề nghị thiết thực, nhằm thực thi các quyết nghị của Công đồng. Xem: sách L’Avenir en face (Réflexions sur la crédibilité de la foi chrétienne et sur le ministère de l’Eglise), Paris, Desclée de Brouwer, 2002, 241 trang.

[13] Cuốn sách đã làm cho Eugen Drewermann không còn được làm giáo sư thần học công giáo ở đại học Paderborn (Đức) có nhan đề là Kleriker (= Hàng giáo sĩ), Olten, Walter-Verlag, 1989, thì người Pháp căn cứ vào nội dung mà dịch là Fonctionnaires de Dieu (= Công chức của Chúa), Paris, Albin Michel, 1993, 758 trang.

[14] Ví dụ số 12 trong văn kiện dạy rằng trong tang lễ phải có linh mục hay thầy phó tế “để cầu nguyện hẳn hoi cho người quá cố”: vì giáo dân không có chức thánh chỉ được làm khi thiếu người có chức thánh.

[15] Đó là: Une nouvelle chance pour l’Évangile (Một cơ hội may mắn mới cho Phúc Âm ). Vers une pastorale d’engendrement, trong tủ sách Théologies Pratiques, NXB: Lumen vitae NOVALIS Éd. de l’Atelier, 2004, 203 trang; và: Passeurs d’Evangile (Những người truyền đạt Phúc Âm). Autour d’une pastorale d’engendrement, Cũng các NXB trên đây, 2008, 231 trang.

[16] Theobald là người Đức, đi tu dòng Tên ở Pháp. Sách mới xuất bản là: Le christianisme comme style (Đạo Kitô xét như là một lối sống), Paris, Tủ sách Cogitatio Fidei, số 260 và 261, Paris, NXB Cerf, 2007, tất cả là 1110 trang.

[17] Hiện nay có nhiều nơi có quốc giáo, người ta kỳ thị những người theo đạo khác và xử tử hình những ai dám cãi giáo.

[18] Xem: Philippe Bacq, “Vers une pastorale d’engendrement”, trong sách Une nouvelle chance pour l’Evangile, 2004, trang 7-28.

[19] Trước khi làm giám mục giáo phận Huế thì linh mục Nguyễn Kim Điền đã làm việc ở miền Nam theo tinh thần đó.

[20] Proposer la foi dans la société actuelle / Lettre aux catholiques de France (Le rapport rédigé par Mgr Claude Dagens et adopté par l’assemblée plénière des évêques), Paris, Cerf, 1966, 130 trang.

[21] Xem: Christoph Theobald, “L’Evangile et l’Eglise”, trong sách Passeurs d’Évangile, 2008, trang 17-40. Và: Jean-Marie Donegani, “Inculturation et Engendrement du croire”, trong sách Une nouvelle chance pour l’Evangile, 2004, trang 29-45.

[22] Ý kiến này lấy từ lời Chúa dạy ông Nicôđêmô: “Không ai có thể thấy nước Thiên Chúa, nếu không được sinh lại bởi ơn trên” (Gioan 3, 3).

[23] Ở đây là tôi bàn rộng ra câu nói của thánh Gioan: “Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (Lá thư I của Gioan, 5, 20).

[24] Xem: Theobald, Sđd, trang 20-22.

[25] Về lý do thứ nhất, A. Gesché giải thích: “Vị Thiên Chúa mà Đức Giêsu giới thiệu, thì không phải là vị thần mà chúng ta nghĩ, vị thần mà chúng ta bầy vẽ ra theo như những mơ ước trẻ con, vị thần mà các triết gia gọi là coi được” (trang 141). Vị Thiên Chúa đó không phải là tầm thường: vì như một người cha nhân từ, ngài phục hồi nhân phẩm cho những người mà thiên hạ coi là tội phạm, ngài lại cho rằng muốn làm điều thiện thì có khi phải gác ra một bên các điều cấm kỵ trong tôn giáo, v.v. Và ông thêm rằng: Vì có nhiều người không tin, cho nên niềm tin của ông thật là tự do, và niềm tin như thế đã làm cho ông tín cẩn hơn vào con người và được thêm can đảm để sống. Xem A. Gesché, “Pourquoi je crois en Dieu”, trong sách Dieu pour penser, tập III, tr 125-151.

[26] Thầy Khổng nói: nhân giả, nhân dã: chữ nhân (lòng nhân, hợp với nhân đạo) gồm có chữ nhị (là hai) và chữ nhân (là người); Cũng xem: Karl Marx, “Entfremdete Arbeit (lao động bị vong thân)” (M.E.G.A.,, I / 2, tr 363-375).

[27] Un nouveau visage d’Église. L’expérience des communautés locales de Poitiers, Paris, Bayard, 2004.

Read More
07Tháng Mười
2020

Phỏng vấn Bộ trưởng bộ Kinh tế về bảng cân đối tài chính 2019 của Giáo Triều

07/10/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Phỏng vấn Bộ trưởng Bộ Kinh tế, người trình bày số liệu năm 2019: “Kinh tế của Tòa thánh phải như một ngôi nhà kính trong suốt; các tín hữu có quyền biết cách chúng ta sử dụng các nguồn lực tài chính như thế nào.”

“Các tín hữu có quyền biết cách chúng tôi sử dụng nguồn lực tài chánh”. Cha Juan Antonio Guerrero Alves, Bộ Trưởng Bộ Kinh tế (SPE), giải thích trong cuộc phỏng vấn với truyền thông Vatican về tình hình cân đối tài chánh của Giáo triều Rôma trong ngân sách năm 2019.

Thưa cha Guerrero, cha vừa trình bày bảng cân đối tài chánh của Giáo triều cho Hội đồng Kinh tế. Nhiều người đang yêu cầu Vatican phải hướng đến sự hoạt động minh bạch, phải giải thích cho các tín hữu lẫn người ngoài về tình trạng tài chính của Toà Thánh. Thông qua cuộc phỏng vấn này, cha có thể nói gì đến những người đưa ra yêu cầu này?

Những người yêu cầu sự minh bạch rất có lý. Kinh tế của Tòa thánh phải là một ngôi nhà bằng kính. Đây là điều mà Đức Giáo Hoàng yêu cầu ở chúng ta. Đây là cam kết của Bộ Kinh Tế (SPE) và của riêng tôi; và đây là những gì tôi thấy ở các cơ quan khác của Giáo triều. Đây là lý do cho cuộc cải cách, vốn đã được khởi xướng. Cũng vì điều này mà một số quy tắc đã được thay đổi. Và nó cũng là lý do tại sao chúng tôi đưa ra bộ Luật Cung Ứng. Chúng ta phải tiến lên theo con đường này. Các tín hữu có quyền biết cách chúng tôi sử dụng các nguồn lực tài chính ở Tòa thánh. Chúng tôi không phải là chủ sở hữu; chúng tôi là người giám sát tài sản được trao phó. Vì lý do này, khi trình bày bảng cân đối tài chánh năm 2019, chúng tôi muốn giải thích cho các tín hữu, theo cách dễ hiểu nhất có thể, về các nguồn lực tài chính của Giáo triều Roma, về nguồn gốc của chúng, và về cách thức chúng được sử dụng.

Có lẽ chúng ta nên lùi lại một chút. Trước tiên, xin cha giải thích những gì chúng ta đang đề cập. Đôi khi có sự nhầm lẫn giữa Giáo triều Rôma và toàn thể Giáo hội; đôi khi lại có nhầm lẫn giữa Giáo triều và Vatican. Giáo triều là gì?

Đúng thế. Vì vậy: trước hết, những gì chúng tôi đang trình bày không phải là ngân sách của Giáo hội. Chúng ta có các Hội đồng Giám mục, giáo phận, giáo xứ, tu hội, dòng tu, và vô số công trình của Giáo hội trải rộng khắp nơi trên thế giới, nhưng không nằm trong ngân sách của Tòa thánh. Và ngay cả những tài khoản mà chúng tôi đang trình bày cũng không phải là toàn bộ tài chính của Vatican, vốn còn bao gồm, ví dụ, ngân sách của Thành phố Vatican, tức là của Phủ Thống Đốc, của Viện Giáo vụ, hay còn gọi là Ngân hàng Vatican, của quỹ ‘Đồng Tiền Thánh Phê-rô’, và của rất nhiều Quỹ hợp tác với các thánh bộ. Tất cả các tổ chức này trình bày kết quả của họ và báo cáo cho các cơ quan tương ứng. Những gì chúng tôi trình bày với Hội đồng Kinh tế là ngân quỹ của Giáo triều Rôma, tức là của Tòa Thánh theo nghĩa chặt, gồm sáu mươi thực thể phục vụ Đức Giáo hoàng trong sứ mệnh hướng dẫn Giáo hội, phục vụ sự hiệp nhất trong bác ái, bao hàm truyền giáo, truyền thông, thúc đẩy phát triển con người toàn diện, giáo dục, trợ giúp cho các Giáo hội gặp khó khăn, đào tạo hàng giáo phẩm, v.v.

Tại sao cha định nghĩa ngân quỹ của Toà Thánh là ‘ngân quỹ sứ mạng’?

Bởi vì tôi liên kết tiền bạc với sứ mạng. Chúng để làm gì? Vì lý do này, trong phần trình bày bảng cân đối tài chánh, chúng tôi cố gắng giải thích các nguồn lực tài chính được sử dụng như thế nào, cho mục đích gì, cho sứ mạng gì. Nói cách khác, chúng tôi muốn bản thân bảng cân đối ngân sách cho thấy cách Tòa thánh sử dụng các nguồn lực của mình để thực hiện sứ mạng của Toà Thánh và của Đức Thánh Cha. Tiếp đến, còn một khía cạnh khác. Tòa thánh không hoạt động như một công ty hay một nhà nước. Toà Thánh không tìm kiếm lợi nhuận hoặc thặng dư. Do đó, việc Toà Thánh bị thâm hụt ngân sách là điều bình thường. Trên thực tế, hầu hết tất cả các phòng ban đều là “trung tâm phí tổn”: chúng thực hiện một loại hình dịch vụ không nhắm để rao bán, cũng không nhắm tìm tài trợ. Tránh thâm hụt ngân sách không phải là mục tiêu của Tòa thánh. Tinh thần của Toà Thánh hướng đến điều khác. Chúng tôi nghĩ rằng mục tiêu đó nằm ở chỗ các chi phí phải tương ứng với những gì cần có để phục vụ sứ mạng được giao phó cho chúng tôi. Theo nghĩa này, chúng tôi mong muốn rằng chúng tôi có thể có rất nhiều [nguồn lực tài chính] nếu điều đó giúp ích cho thứ dịch vụ mà chúng tôi phải cung cấp. Nói cách khác, chúng tôi phải phân biệt đâu là nhu cầu chính đáng phải sử dụng nguồn lực tài chính và đâu là các nguồn lực đang sẵn có: chúng tôi phải có sự thận trọng về kinh tế. Nhưng cũng không phải là chúng tôi chỉ khởi sự suy nghĩ và hành động dựa vào mức độ của các nguồn lực tài chính. Đôi khi chúng ta phải cho đi nhiều hơn những gì chúng ta có để hoàn thành sứ mạng của mình: chúng ta phải có sự táo bạo truyền giáo. Điều chúng ta cần lo lắng là liệu vấn đề thâm hụt tài chính có kéo rê mãi hay về lâu về dài sẽ được tài trợ. Có rất nhiều nhu cầu trên thế giới. Chúng ta phải tin tưởng vào Đấng Quan Phòng, vốn hoạt động qua những tấm lòng quảng đại của các tín hữu.

Vậy, cách cụ thể, sứ mạng của Toà Thánh là sứ mạng nào?

Sứ mạng của Tòa thánh, của Giáo triều Rôma, không phải chỉ là một tổ chức từ thiện của Giáo hoàng, nếu hiểu nó như một loại tổ chức phi chính phủ nhận các khoản quyên góp và phân phối chúng đến những nơi cần thiết. Giáo hội làm rất nhiều, rất nhiều để giúp đỡ những người khó khăn. Hầu hết loại viện trợ này được thực hiện tại địa phương, trong các giáo xứ và giáo phận. Và Giáo triều cũng làm rất nhiều. Sứ mạng chính của Tòa Thánh là giúp đưa sứ điệp Tin Mừng đến tận cùng thế giới, thông truyền sứ điệp đó, đưa vào những nơi tối tăm, với việc trợ giúp những người khó khăn, hoạt động vì thiện ích của nhân loại, hỗ trợ các Giáo hội địa phương gặp thiếu thốn, truyền đạt huấn quyền của Giáo hoàng, tìm kiếm sự hiệp nhất trong giáo lý và phụng vụ, xử lý các xung đột trong Giáo hội, cổ võ suy tư về một số vấn đề, thiết lập đối thoại ở cấp cao, đưa ra các chỉ dẫn cho các Giáo hội địa phương, v.v. Qua tất cả những hình thức đó, “tổ chức bác ái của Đức Giáo hoàng” diễn tả tình yêu của Đức Thánh Cha đối với Giáo hội và của Giáo hội đối với thế giới.

Các số liệu cho báo cáo tài chính hợp nhất năm 2019 là gì?

Như tôi đã nói trước đây, dù nhìn từ khía cạnh nào, thì Tòa Thánh không phải là một thực thể kinh tế lớn. Chúng tôi có doanh thu 307 triệu euro, chúng tôi đã chi 318 triệu euro. Thâm hụt của chúng tôi là 11 triệu. Chúng tôi có tài sản kế thừa với giá trị ròng vào khoảng 1.402 triệu euro. Có nhiều trường trung học ở Hoa Kỳ có số tài sản cao hơn cả Giáo triều La Mã như được chỉ ra trong báo cáo này.

Và ngân sách của cả Vatican thì sao?

Như tôi đã nói lúc đầu, Giáo triều không phải là toàn bộ Vatican. Nếu gộp cả ngân sách của Phủ Thống Đốc, Viện Giáo vụ, Quỹ ‘Đồng Tiền Thánh Phê-rô’, Quỹ Hưu trí và các Tổ chức giúp việc truyền giáo của Tòa thánh, chúng tôi có được giá trị ròng khoảng 4.000 triệu euro. Nếu chúng tôi hợp nhất mọi thứ, sẽ không có thâm hụt năm 2019, cũng như năm 2016, năm cuối cùng mà tất cả các khoản này được hợp nhất. Tuy nhiên, khi đề cập điều này, tôi không có ý nói rằng chúng tôi không gặp khó khăn và cũng không có ý rằng chúng tôi không bị ảnh hưởng lớn hơn trong cuộc khủng hoảng coronavirus này.

Chúng ta hãy trở lại với phạm vi Giáo Triều. Các nguồn thu của nó là gì?

Vào năm 2019, 54% thu nhập, tương đương 164 triệu euro, được tạo ra bởi tài sản kế thừa. Hoạt động thương mại (hoạt động thăm viếng các hầm mộ [không như trường hợp các viện bảo tàng] là một phần của Tòa thánh, các tác phẩm được bán bởi Bộ Truyền thông, nhà xuất bản Libreria Editrice Vaticana, v.v.) và hoạt động dịch vụ (lệ phí một số loại chứng chỉ, học phí của các tổ chức đại học, v.v.) mang về 14%, tức là 44 triệu euro. Các đơn vị của Vatican (Viện Giáo vụ, Phủ Thống Đốc, Vương cung thánh đường Thánh Phê-rô), vốn không được hợp nhất trong ngân sách này, cũng đã đóng góp gần 14% doanh thu, tức 43 triệu. Và các khoản đóng góp từ các giáo phận và các tín hữu lên tới 56 triệu euro, chiếm 18%.

Bây giờ chúng ta đến với các chi phí. Giáo triều chi hết bao nhiêu, chi phí của nó được phân chia như thế nào?

Chúng tôi có thể chia chi phí thành ba khối: phần mà chúng tôi gọi là quản trị tài sản là 67 triệu euro, chiếm 21% chi phí và bao gồm 18 triệu euro tiền thuế và 25 triệu euro chi cho bảo trì nhà cửa. Chúng ta có thể nói rằng 67 triệu euro này là những gì chúng ta phải trả để tạo ra thu nhập 164 triệu euro mà tôi đã đề cập trước kia và thu nhập đó có được từ tài sản này. Phần dịch vụ và hành chính chiếm 14% chi phí. Và chi phí sứ mạng chiếm hết 65% tổng chi phí. Nói chung, điều làm tôi ấn tượng nhất khi tôi hiểu rõ hơn về Giáo Triều là việc nó làm được rất nhiều với chi phí rất ít. Tôi đã kiểm tra ngân sách của các quốc gia và khu vực khác nhau, tôi không tìm thấy nơi nào có thể so sánh được với Toà Thánh trong việc duy trì 125 sứ thần và phái bộ thường trực trên thế giới chỉ với 43 triệu euro, mà vẫn đảm bảo được tính thích hợp, đảm bảo được vai trò trung gian và cầu nối cho các kế hoạch của Toà Thánh. Việc xuất bản một tờ báo nổi tiếng, chẳng hạn như L’Osservatore Romano, việc phát sóng hơn 24 giờ một ngày bằng 40 ngôn ngữ, như Vatican Radio và Vatican Media, việc đưa tin tức và giải thích chúng như Vatican News đã làm, tiêu tốn hết 45 triệu euro: Tôi không tìm thấy bất kỳ so sánh nào trong thế giới truyền thông. Thông điệp của Tin Mừng phải đến được tận cùng thế giới và càng xa càng tốt; điều mong muốn là nó đến được bằng ngôn ngữ của mỗi dân tộc và theo cách có thể hiểu được trong nền văn hóa của họ. Cũng rất thú vị khi thấy cách thức liên lạc của Tòa thánh đã được hiện đại hóa trong những năm gần đây, thậm chí giảm được cả chi phí. Và nữa, nếu chúng ta nhìn vào Thư viện Vatican, hay nhìn vào các văn khố hoặc nhìn vào viện Khảo cổ Ki-tô giáo, nơi liên quan đến di sản không chỉ của Giáo hội mà của cả nhân loại, và chúng ta so sánh nó với các cơ sở tương tự: chúng ta có thể nói rằng chúng hoạt động chất lượng với chi phí tương đối thấp. Điều tương tự cũng có thể nói về các tổ chức đại học, v.v. Nếu có một từ ngữ nào đó mà tôi có thể nói để so sánh với các cơ quan tương tự hoặc một thứ so sánh nào khác, thì đối với tôi, dường như Tòa Thánh làm được ‘nhiều mà ít’ [với chi phí ít], nhờ có nhiều người làm việc với lòng quảng đại lớn lao. Ý tôi không phải là chúng tôi không cần cải thiện nhiều thứ. Nhưng cũng phải nhấn mạnh rằng có nhiều việc được thực hiện tốt.

Mức thâm hụt ngân sách năm 2019 là 11 triệu USD, thấp hơn nhiều so với năm 2018 là 75 triệu USD. Có thể thấy rằng kết quả đạt được là nhờ các khoản đầu tư. Trong khi thâm hụt do chi phí hoạt động là 68 triệu so với 88 triệu năm 2018.

Như anh lưu ý, tài chính bao hàm cả phần của thâm hụt quản trị. Hơn nữa, trong việc so sánh, cần phải loại trừ một số chi phí và doanh thu bất thường trong năm 2018 hoặc 2019. Trung hoà các ‘pha ghi điểm ngoại thường’ này, sẽ cho kết quả thâm hụt 22 triệu euro trong năm 2019 so với 50 triệu euro vào năm 2018. Tôi đã nói rằng chúng tôi không thể coi mình đơn giản như những người tạo ra thâm hụt. Sứ mạng của chúng tôi sẽ luôn có xu hướng dẫn đến sự thâm hụt. Nó sẽ không tạo ra đủ thu nhập. Đó là một loại dịch vụ mà chúng tôi không làm vì lợi nhuận. Chúng tôi cần tìm cách hỗ trợ sứ mạng một cách lâu dài.

Vậy, con đường phía trước là gì?

Các biện pháp kiểm soát cần thiết nhằm mục đích tiết kiệm và kiềm chế chi phí là không đủ để giảm thâm hụt. Trong Tòa Thánh có nhiều cơ quan làm nhiều với chi phí ít. Tiết kiệm phải đi kèm với việc kiểm tra các khoản thu, tức là các khoản đầu tư, cho dù chúng là động sản hay bất động sản, để tìm kiếm sự tối ưu hóa. Công việc vốn mang tinh thần hợp tác này đang dần hoàn tất. Về vấn đề doanh thu, chúng tôi cũng phải nghĩ đến các khoản quyên góp. Các khoản quyên góp từ các tín hữu, bao gồm cả ‘Đồng tiền Thánh Phê-rô’, đã đóng góp 35% cho phần chi. Các tín hữu muốn đóng góp vào sứ mạng của Giáo hội, nhưng chúng tôi cần phải có một chính sách minh bạch hướng ngoại và thông tri, với khả năng truyền đạt chính xác cách chúng tôi sử dụng số tiền nhận được và cách quản lý chúng. Đây là mục tiêu chúng tôi muốn đạt được, cũng là phương hướng mà Đức Thánh Cha đã hướng dẫn chúng tôi. Đây là con đường phía trước. Như đã biết, Bộ luật Cung Ứng đã được phê duyệt trong những tháng gần đây. Hy vọng rằng, ngoài việc thúc đẩy tính minh bạch, nó cũng sẽ cho phép tiết kiệm được nhờ cạnh tranh. Chúng tôi cần một số hành động liên quan đến việc thúc đẩy mọi người có động lực và trách nhiệm hơn trong các nhiệm vụ được giao phó, hướng đến tính di động cao hơn, hiệu quả cao hơn và giảm chi phí. Chúng tôi cần tìm kiếm các mô hình linh hoạt hơn, hướng đến tưởng thưởng công trạng, cam kết và kỹ năng chuyên nghiệp.

Trong cuộc phỏng vấn với Vatican News vào tháng 5 năm ngoái, cha đã nói về dự án tập trung đầu tư. Nó đang tiến triển thế nào?

Có những quyết định cần có thời gian để thực hiện. Đang có những tiến bộ, diễn ra từng chút một. Theo Tông huấn Pastor Bonus (1984), Cơ quan quản trị tài sản của Tòa Thánh (APSA) là cơ quan quản lý của Tòa thánh. Vào tháng 11 năm 2018, Đức Giáo hoàng đã yêu cầu Đức Hồng y Marx, điều phối viên của Hội đồng Kinh tế, tập trung hóa các khoản đầu tư. Từng chút một, chúng tôi đang đi theo hướng này. Năm nay chúng tôi đã có nhiều cuộc họp và gặp gỡ, chúng tôi đã xem xét nhiều mô hình khả thi. Tôi nghĩ rằng chúng tôi đã đạt được những tiến bộ và có quyết định chín muồi khi chọn một mô hình bằng cách học hỏi từ những cách làm hay của người khác. Tôi tin rằng khả năng lớn là những bước cuối cùng sẽ được thực hiện vào cuối năm nay hoặc đầu năm sau. Việc tập trung hóa chắc chắn sẽ cho phép có sự minh bạch hơn và kiểm soát chính xác hơn, cũng như mang lại khả năng đầu tư theo cách thống nhất, tuân theo học thuyết xã hội của Giáo hội, với các tiêu chí đạo đức, bền vững, quản trị tốt và chuyên nghiệp. Phải nói rằng hầu hết các khoản đầu tư đều tập trung vào APSA. Nhiều khoản đầu tư khác được thực hiện bởi các tổ chức liên kết với Tòa thánh cũng diễn ra thông qua Viện Giáo vụ, tức Ngân hàng Vatican (IOR), nhằm đảm bảo các tiêu chí kiểm soát, minh bạch và đạo đức. Rõ ràng là IOR, vốn đã có một hành trình tuyệt vời trong những năm gần đây, cũng nên đóng một vai trò quan trọng trong việc tổ chức các khoản đầu tư của Tòa Thánh. Việc tập trung hóa thực sự phải kết hợp với sự bổ trợ: không phải mọi thứ đều có thể tập trung nếu chúng ta muốn có hiệu quả.

Cha nói về các khoản đầu tư như thể cha không đọc báo những tuần gần đây vậy…

Tôi sống trong hiện tại. Tôi đọc báo chứ. Rất có thể, trong một số trường hợp, Tòa thánh không những bị khuyên sai mà còn bị lừa. Tôi tin rằng chúng tôi đang học hỏi từ những sai lầm hay từ sự liều lĩnh trong quá khứ. Vấn đề bây giờ là, theo sự thúc đẩy quyết liệt và nhất quán của Đức Giáo hoàng, phải tăng tốc quá trình hiểu biết, sự minh bạch bên trong và bên ngoài, sự kiểm soát và cộng tác giữa các thánh bộ khác nhau. Chúng tôi đã đưa vào nhóm của mình các chuyên gia cấp cao nhất. Hiện thời đã có sự giao tiếp và hợp tác giữa các thánh bộ liên quan đến kinh tế để giải quyết những vấn đề này. Hợp tác là một bước tiến lớn. Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, Cơ quan quản trị tài sản của Tòa Thánh (APSA) và Bộ Kinh Tế (SPE) sẵn sàng hợp tác với nhau. Chắc chắn, chúng tôi vẫn có thể mắc sai lầm, mắc lỗi hoặc bị lừa đảo, nhưng đối với tôi, điều này có vẻ khó xảy ra hơn khi chúng tôi cộng tác và hành động với năng lực, sự minh bạch và tin cậy lẫn nhau.

Đâu là những nguy cơ trong tương lai?

Ngay cả các quốc gia, doanh nghiệp và tập đoàn lớn cũng đang gặp khó khăn về kinh tế. Bị căng thẳng trong chọn lựa giữa sức khỏe và khủng hoảng kinh tế, họ phải vay những khoản nợ khó trả, trì hoãn tất cả các khoản thanh toán lại cho tương lai, cố gắng duy trì tính thanh khoản khi đối mặt với những bất ổn ở phía trước. Chúng tôi là những thực thể bé nhỏ, không thể không gặp khó khăn. Chúng tôi phụ thuộc vào lợi tức tài sản và các khoản quyên góp, và cuộc khủng hoảng đang ảnh hưởng tiêu cực đến cả hai nguồn thu này. Điều tồi tệ nhất mà chúng tôi có thể làm là không thừa nhận khó khăn hoặc chọn phương án “mọi người vì mình “. Chúng ta phải đi cùng nhau. Chúng ta phải chống chọi, cùng nhau chống chọi, cùng nhau chia sẻ những hy sinh. Như Đức Giáo Hoàng đã nói, cuộc khủng hoảng có thể là một tình huống đặc ân giúp chúng ta trở nên tốt lành hơn. Nó cũng có thể là một cơ hội để giới thiệu những thay đổi cần thiết, những thay đổi đã được nhìn ra.

Đâu là lý do giải thích cho yêu cầu các bộ phải chuyển thanh khoản của họ cho Cơ quan quản trị tài sản của Tòa Thánh (APSA) vào tháng 4 năm ngoái?

Cơ quan quản trị tài sản của Tòa Thánh (APSA) là cơ quan được thiết kế để quản lý tài sản của tất cả các thánh bộ. Vào tháng 4, khi thấy tính bấp bênh gây ra bởi việc phong toả [do virus Corona], tôi có nhấn mạnh rằng không biết nó sẽ kéo dài bao lâu và tôi dự đoán rằng nó sẽ ảnh hưởng đến doanh thu. Chúng tôi đã quyết định không cắt các khoản quyên góp và viện trợ cho những người và những giáo hội đang cần – vốn là những người và những nơi trên thực tế có thể đang chịu cảnh tồi tệ hơn chúng tôi – và thậm chí không cắt tiền lương của những người làm việc cho Tòa Thánh. Và vì lý do này, các khoản quyên góp và viện trợ đã tăng lên. APSA đã phải trả lương, và chúng tôi không biết việc phong toả sẽ kéo dài bao lâu, cũng như không rõ liệu chúng tôi có đạt được doanh thu như mong đợi hay không. Do đó, chúng tôi đã yêu cầu các bộ duy trì thanh khoản của họ trong APSA.

Có thật là Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh sẽ vẫn không có “túi tiền” và các quỹ của nó sẽ được quản lý bởi APSA?

Phủ Quốc Vụ Khanh Toà Thánh đã ở trong tiến trình này từ nhiều tháng qua. Cơ quan này đang thực hiện công việc của mình, đang làm rất tốt sự rõ ràng, minh bạch và trật tự. Cơ quan này đã giao tất cả các khoản tiền của mình cho Ngân hàng Vatican (IOR) và Cơ quan quản trị tài sản của Toà Thánh (APSA); và sẽ tham gia vào quá trình tập trung hóa đầu tư, với sự quản lý chuyên nghiệp và kỹ thuật hơn. Theo như tôi biết thì tuyên bố về việc mất “túi tiền” là không chính xác. Việc quản lý sẽ được thực hiện theo cách khác, như xảy ra với các thánh bộ khác có sở hữu tài chính. Trong những tháng gần đây, tôi đã thấy rằng ở Vatican, cũng như ở phần còn lại của Giáo hội, có một sự tôn trọng thiêng liêng đối với điểm đến của các nguồn quỹ, cũng như sự tôn trọng đối với ý nguyện của các nhà tài trợ. Khi một khoản đóng góp đã được chấp nhận cho một mục đích cụ thể, nó sẽ được tôn trọng. Nhiều quỹ do Phủ Quốc Vụ Khanh quản lý đã được nhận cho một mục đích cụ thể, luôn gắn liền với sứ mạng của chúng tôi. Nếu các quỹ được quản lý bởi một tổ chức khác, chúng sẽ phải giữ được liên kết với mục đích đã nêu ra, và với những người thụ hưởng.

Quỹ ‘Đồng tiền thánh Phê-rô’ phục vụ cho mục đích gì? Tại sao các tín hữu lại được kêu gọi cho khoản quyên góp này?

Sự đóng góp của các tín hữu dành cho quỹ ‘Đồng tiền Thánh Phê-rô’ là một cách cụ thể để cộng tác với sứ mạng của Đức Thánh Cha vì lợi ích của toàn thể Giáo hội. Năm 2019, quỹ này đã giải quyết 32% chi phí cho sứ mạng của Tòa Thánh. Còn phần cơ cấu và các dịch vụ được chi trả bởi các quỹ riêng. Phần tồn quỹ từ ‘Đồng tiền thánh Phê-rô’ là 53 triệu euro, trong đó 10 triệu euro được quyên góp cho các mục đích cụ thể. Nói cách khác, quỹ đã hợp tác với sứ mạng của Đức Thánh Cha với số tiền 66 triệu euro, nhiều hơn 23 triệu euro so với số tiền quyên góp được. Điều này đã xảy ra trong vài năm gần đây. Điều này có nghĩa là quỹ này đang bị bào mòn. Tuy nhiên, sự bào mòn đó luôn luôn là vì sứ mạng mà quỹ này nhắm đến. Quỹ này cần phải được quản trị với sự khôn ngoan của người quản lý trung thực, tựa như cách những người khôn ngoan đầu tư, hay như cách xoay xở của ông bố tốt lành trong gia đình, để đảm bảo cho Đức Giáo hoàng thực thi sứ mạng của ngài.

Tuy nhiên, câu chuyện về Dinh thự London khiến nhiều người bối rối.

Tôi hiểu. Đúng vậy. Đây là lý do tại sao điều quan trọng là phải rõ ràng, minh bạch. Lúc này, tôi có thể nói một điều. Theo như tôi biết, phần mất mát của vụ dinh thự London không được bù từ quỹ ‘Đồng tiền thánh Phê-rô’, mà từ các quỹ dự trữ khác của Phủ Quốc Vụ Khanh Toà Thánh. Và một điều nữa tôi muốn kết luận: chúng ta phải luôn biết ơn Dân Thánh của Chúa, những người đã giúp đỡ sứ mạng của Đức Giáo Hoàng. Như Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết trong thông điệp gần nhất gửi đến các Hiệp hội Truyền giáo của Giáo hoàng, “Giáo hội luôn tiếp tục tiến về phía trước nhờ sự dâng cúng của bà góa, nhờ sự đóng góp của vô số nhóm người vốn cảm thấy được ơn an ủi và chữa lành của Chúa Giêsu, và vì điều này, vì lòng biết ơn tràn trề, họ cho đi những gì họ có”. Nhiệm vụ của chúng tôi là quản lý món quà của họ bằng sự trung thực, cẩn trọng và tầm nhìn xa của một người bố tốt lành trong gia đình.

 Nguồn: vaticannews.va/vi 

Read More
07Tháng Mười
2020

Nét đặc trưng của linh đạo giáo dân

07/10/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0
  1. GIÁO DÂN LÀ AI?

Giáo dân là một trong ba thành phần của Giáo Hội. Giáo Hội, Dân Thiên Chúa, gồm giáo dân, tu sĩ, và giáo sĩ[1].

Giáo sĩ là những người lãnh bí tích truyền chức, dù bí tích phó tế, linh mục, hay giám mục.

Tu sĩ là những người có ba lời khấn khó nghèo, trinh khiết, vâng phục, và có đời sống cộng đoàn, trong một hội dòng được Giáo Hội chuẩn nhận[2].

Công Đồng Chung Vaticanô II viết: “Hạn từ giáo dân ở đây được hiểu là tất cả những Kitô hữu, không kể những người có chức thánh và những người thuộc bậc tu trì được Giáo Hội công nhận, nghĩa là những tín hữu nhờ bí tích Thánh Tẩy, được nhận hiệp vào thân thể Đức Kitô, làm thành Dân Thiên Chúa, và được tham dự vào những chức năng tư tế, ngôn sứ và vương đế của Đức Kitô theo cách thức của mình, đồng thời góp phần thực hiện sứ mạng của toàn dân Kitô hữu trong Giáo Hội và giữa thế giới” (LG, 31).

  1. LINH ĐẠO LÀ GÌ?

Linh đạo là con đường thiêng liêng, con đường một người đi để đến với Thiên Chúa, con đường hay cách thế Thánh Thần hướng dẫn để đưa con người đến với Thiên Chúa. Con đường một người đi, có thể Thiên Chúa dùng để giúp những người khác đến với Thiên Chúa. Chúng ta thấy có linh đạo (thánh) Biển Đức, linh đạo Phanxicô, linh đạo Đaminh, linh đạo Inhã, v.v. Có nhiều tu sĩ và cả giáo dân nữa đi theo con đường thánh Biển Đức đã đi; cũng tương tự vậy có nhiều người đi con đường thánh Đaminh, thánh Phanxicô, thánh Inhaxiô đã đi.

Mọi linh đạo, đều họa lại con đường Đức Giêsu đã đi. Đức Giêsu nói: “Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” (Ga 14:6). Mọi linh đạo đều phải theo “con đường Giêsu.”

Linh đạo giáo dân là linh đạo, là con đường một giáo dân phải đi, để đến với Thiên Chúa. Tu sĩ Đaminh theo con đường thánh Đaminh đi, qua tu luật và cách sống, để đến với Thiên Chúa, để nên thánh. Tương tự vậy, tu sĩ Phanxicô theo linh đạo Phanxicô để nên thánh, v.v. Thế giáo dân đi theo con đường nào? Đâu là nét đặc trưng của linh đạo giáo dân? Đâu là những nét đặc trưng mà giáo dân sống trong cuộc sống thường ngày để nên thánh, để đến với Thiên Chúa?

Công đồng chung Vaticanô II nói với chúng ta: “Nền linh đạo giáo dân phải mang những nét riêng biệt tùy theo từng bậc sống như hôn nhân và gia đình, độc thân hay góa bụa, tùy theo tình trạng sức khỏe, tùy theo từng lãnh vực hoạt động nghề nghiệp và xã hội. Như vậy, mỗi người phải không ngừng phát triển những đức tính và tài năng thích hợp với từng hoàn cảnh sống, và biết tận dụng những ân huệ Chúa Thánh Thần ban riêng cho mỗi người” (AA, 4).

Linh đạo giáo dân rất đa dạng và phong phú, bởi vì “ơn gọi” giáo dân gồm nhiều thành phần (gia đình, độc thân, độc thân dâng hiến) với nhiều nghề nghiệp, thuộc nhiều tầng lớp xã hội (bình dân, trí thức), với những thành phần khác nhau (giàu, nghèo, trung lưu). Mỗi người, mỗi thành phần, tầng lớp xã hội, nghề nghiệp, v.v… đều có đường lối thiêng liêng và tông đồ khác nhau để đến với Thiên Chúa[3].

III. NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA LINH ĐẠO GIÁO DÂN

Giáo sĩ, tu sĩ, hay giáo dân, đều là Kitô hữu: những người tin Đức Giêsu là Thiên Chúa và lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy. Mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh và cộng tác với Đức Giêsu cứu độ con người.

  1. Hãy Là Thánh Vì Ta Là Thánh (ơn gọi của mọi Kitô hữu)

(Lv 19:2; LG, 39-42; CL, 16-17)

Mọi thành phần dân Do Thái đều được mời gọi nên thánh. Và như vậy, mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh.

Lêvi 19: 1 Yavê phán với Môsê rằng: 2 Hãy bảo toàn thể cộng đồng con cái Israel và nói với chúng: “Hãy là thánh, vì Ta là Thánh, Ta, Yavê Thiên Chúa của các ngươi.” (bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn)

“Ý muốn của Thiên Chúa là muốn là anh em nên thánh” (1Tx 4:3; Eph 1:4).

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta trở nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành (Mt 5:48). Chúng ta không có đích nào khác hơn là trở nên giống như Thiên Chúa, Cha của chúng ta.

Thánh Phaolô cũng nói: “anh em hãy bắt chước tôi như tôi bắt chước Đức Kitô” (1Cor 11:1). Nên thánh, là trở nên giống Đức Giêsu. Chúng ta có người mẫu tuyệt vời, đó là Đức Giêsu.

Sống yêu thương như Chúa dạy, đó là nên thánh: “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15:12; 13:34-35).

Giáo dân nên thánh giữa đời, nên thánh nơi trần gian, đó là nét đặc trưng của linh đạo giáo dân (CL, 17).

  1. Hãy Đi Làm Vườn Nho Cho Ta (sứ mạng của Kitô hữu)

Làm tông đồ, là bản chất của Kitô hữu. Không là Kitô hữu đích thực nếu không làm tông đồ.

“Phần các anh, các anh cũng đi làm vườn nho cho Ta” (Mt 20:4.7). “Ơn gọi làm Kitô hữu tự bản chất cũng là ơn gọi làm tông đồ” (AA, 2).

Huấn quyền Giáo Hội qua Công Đồng Vaticanô II và các tông huấn nhấn mạnh đến việc tông đồ rao giảng Phúc Âm, bảo vệ và thăng tiến phẩm giá con người, hoàn thiện cơ cấu xã hội nhằm phục vụ con người hữu hiệu hơn.

2.1. Rao giảng Phúc Âm

Làm tông đồ, là giúp con người nhận biết Thiên Chúa yêu thương họ vô cùng. Kitô hữu giáo dân làm chứng không chỉ bằng lời nói nhưng chính yếu bằng chính đời sống yêu thương của mình đối với họ.

Nếu người ta tin biết Đức Giêsu là Thiên Chúa, thì người ta sẽ biết Thiên Chúa yêu thương họ vô cùng. Đích nhắm của việc tông đồ là loan báo Tin Mừng[4].

Kitô hữu phải truyền giáo, vì Chúa Giêsu đã sai gởi chúng ta. “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con” (Ga 20:19). “Hãy đi làm cho muôn dân thành môn đệ, rửa tội cho họ nhân danh Cha Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ những điều Thầy đã dạy các con” (Mt 28:19).

2.2. Bảo vệ và thăng tiến phẩm giá con người

Con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa (St 1:26-28). Con người có giá trị tuyệt đối vì Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng, Đức Giêsu đã chết để cứu độ con người.

Giới răn nào trọng nhất? Yêu Chúa trên hết và yêu tha nhân như chính mình (Mc 12:28-34). Nếu ta nói ta yêu Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, thì đó là nói dối (1Ga 4:20-21).

Bảo vệ và thăng tiến phẩm giá con người, là bổn phận của mọi Kitô hữu, đặc biệt Kitô hữu giáo dân[5]. Bởi vì nếu không bảo vệ mạng sống, phẩm giá con người, thì không yêu thương con người đích thực. Giới răn yêu thương là giới răn nền tảng của Kitô giáo: “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13:34-35; 15:12).

2.3. Kiện toàn cơ chế xã hội phục vụ con người

Đôi khi có cơ cấu xã hội bất công. Vì thế, Kitô hữu cần tham dự và các hoạt động xã hội để hoàn thiện hóa cơ cấu xã hội nhằm bảo vệ giá trị và thăng tiến phẩm giá con người[6].

Giáo sĩ không được làm chính trị (GL, 285§3; 287§2), nhưng không như vậy với Kitô hữu giáo dân. Tham gia chính trị là ơn gọi của Kitô hữu giáo dân[7].

  1. Ở trong thế gian

“Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ, họ ở trong thế gian” (Ga 17:11.18). Sống trong thế gian, là sống trong gia đình, trong xã hội, với những công việc mình phải chu toàn, v.v. Kitô hữu giáo dân nên thánh và làm chứng cho Thiên Chúa nơi trần gian, môi trường sống của mình.

Tính trần thế là nét riêng biệt và đặc thù của Kitô hữu giáo dân[8].

Một tu sĩ dòng kín nên thánh trong tu viện của mình. Một giáo dân nên thánh ở giữa đời, nơi gia đình, giữa xã hội, nghề nghiệp mà mình phải chu toàn. Trần thế là môi trường sống và nên thánh của Kitô hữu giáo dân[9]. Kitô hữu giáo dân được mời gọi làm tất cả trong tình yêu (AA, 8).

Kitô hữu giáo dân không chỉ giúp người ta tin vào Đức Kitô bằng chứng tá đời sống nhưng còn bằng cả lời nói nữa[10].

3.1. Gia đình (CL, 40)

Gia đình là nguồn gốc và nền tảng của xã hội loài người (AA, 11). Bí tích hôn phối bất khả tiêu hủy: “sự gì Thiên Chúa kết hợp thì loài người không được phân ly” (Mt 19:6).

Gia đình phải là nơi mỗi người diễn tả tình yêu của Thiên Chúa cho các thành viên. Vợ chồng đại diện Thiên Chúa yêu thương người bạn đời của mình. Cha mẹ cộng tác với Thiên Chúa cho con cái ra đời, và đại diện Thiên Chúa yêu thương dạy dỗ con cái.

Mỗi thành viên nên thánh qua việc chu toàn bổn phận và yêu thương những người trong gia đình.

3.2. Giáo xứ (CL, 26-27)

“Mặc dù có chiều kích phổ quát, sự hiệp thông Giáo Hội được diễn tả cách trực tiếp và hữu hình nhất nơi giáo xứ” (CL, 26).

“Giáo dân ngày càng phải xác tín mạnh mẽ hơn về ý nghĩa của việc dấn thân hoạt động tông đồ trong giáo xứ của mình” (CL, 27).

Kitô hữu giáo dân tham gia sinh hoạt nơi cộng đoàn Giáo Hội: một cách cụ thể nơi giáo xứ với các đoàn thể, nơi giáo phận, và cả liên giáo phận, cùng Giáo Hội hoàn vũ (AA, 10).

3.3. Nghề nghiệp

Làm việc là bổn phận của con người (2Tx 3:10-12). Mỗi người phải làm để kiếm sống, và rồi có thể giúp đỡ người khác khi có thể.

Khi làm việc phục vụ, mỗi người phát triển tài năng Thiên Chúa ban cho mình. Chúng ta sẽ triển nở và hạnh phúc khi lao động và phục vụ.

Qua cung cách làm việc, chúng ta cũng có thể loan báo Tin Mừng, làm chứng cho Chúa cho đồng nghiệp, cho những người chúng ta phục vụ.

3.4. Xã hội

Sứ mạng của Kitô hữu giáo dân cũng là giúp cải tổ hay kiện toàn cơ chế xã hội để phục vụ con người, giúp con người có thể sống triển nở như Thiên Chúa muốn (Ga 10:10).

“Chắc chắn ý định của Thiên Chúa về thế giới là muốn con người đồng tâm kiến tạo và không ngừng hoàn thiện hóa các thực tại trần thế …. Giáo dân phải đảm nhận việc canh tân trật tự trần thế như là phận vụ của riêng mình” (AA, 7).

Theo Công Đồng Vaticanô II, làm tông đồ là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tín hữu không phân biệt giáo sĩ hay giáo dân; như thế các giáo sĩ và các tu sĩ phải quý trọng hoạt động tông đồ giáo dân[11].

Thánh Công Đồng Vaticanô II còn lưu ý: “Hoạt động tông đồ phải hướng tới toàn thể những người đang cư ngụ trong địa bàn và không từ chối bất cứ việc gì có thể mang lại lợi ích thiêng liêng hay vật chất cho mọi người” (AA, 13).

Việc tông đồ giáo dân rất thiết yếu và quan trọng, nên Kitô hữu giáo dân cần được huấn luyện về nhiều phương diện[12], và phải được huấn luyện ngay từ khi còn nhỏ[13].

WHĐ (7.10.2020)

[1] CĐ VATICANÔ II, Hiến chế Giáo Hội Lumen Gentium, 30 (viết tắt LG, 30).
GIOAN-PHAOLÔ II, Tông huấn Tín Hữu Kitô Giáo Dân Christifideles laici, 30/12/1988, 2.28 (viết tắt CL, 9.28).

[2] Công đồng chung Vaticanô II không xếp thành viên tu hội đời như tu sĩ nhưng như giáo dân: “Ngoài ra, những giáo dân, theo ơn gọi của mình, tham gia vào các hội đoàn hay tu hội được Giáo Hội nhìn nhận, phải nỗ lực trung thành sống theo đường hướng riêng biệt trong linh đạo của từng tu hội” (CĐ VATICANÔ II, Sắc lệnh về Hoạt Động Tông Đồ Giáo Dân Apostolicam Actuositatem, 4 (viết tắt AA, 4).

[3] “Sự khác biệt phong phú của Giáo hội được biểu dương một lần nữa ở bên trong mỗi bậc sống. Nói cách khác, mỗi bậc sống của người giáo dân đã có nhiều “ơn gọi” khác nhau, đó là những đường lối thiêng liêng và tông đồ khác nhau liên quan đến mỗi người tín hữu giáo dân. Trong những “ơn gọi chung” của người giáo dân cũng có nhiều “ơn gọi riêng”. Điều này, chúng ta có thể nêu lên kinh nghiệm sống thiêng liêng, viên mãn trong Giáo Hội ở thời gian gần đây và đã đua nở dưới nhiều hình thức các tu hội giáo dân khác nhau. Nó cho thấy rằng người tín hữu giáo dân và ngay cả linh mục cũng có thể sống lời khuyên Phúc âm là nghèo khó, khiết tịnh, và vâng lời bằng việc tuyên khấn hoặc tuyên hứa, nhưng vẫn có thể chu toàn đời sống giáo dân hay giáo sĩ đặc biệt của mình. Cũng như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã ghi nhận như sau: “Chúa Thánh Thần còn soi sáng những hình thức tận hiến khác nhau được các tín hữu giáo dân thực hiện trong khi vẫn hoàn toàn sống đời giáo dân của họ”(CL, 56).

“Trong chiều hướng đó, Công Đồng Vatican II đã viết: “Đời sống thiêng liêng này của giáo dân phải mặc những nét riêng biệt thể theo điều kiện sống của mỗi người (đời sống vợ chồng và gia đình, đời sống độc thân và goá bụa), hoàn cảnh đau ốm, sinh hoạt nghề nghiệp và xã hội. Mỗi người phải không ngừng phát huy phẩm cách và ơn đã nhận được, đặc biệt những ơn riêng thích ứng với điều kiện sống và sử dụng những ơn Chúa Thánh Linh đã ban cho minh” (CL, 56).

[4] CL, 33 “Các tín hữu giáo dân, vì thuộc thành phần của Giáo Hội nên được mời gọi và nhận lãnh sứ mệnh rao truyền Phúc âm: Họ đã được chuẩn bị để dấn thân chu toàn hoạt động này bằng các Bí Tích của đời sống Kitô hữu và ơn Chúa Thánh Thần…  Tất cả sứ mệnh của Giáo Hội quy tụ và biểu dương trong việc rao truyền Phúc âm. Con đường lịch sử của Giáo Hội được ơn Chúa che chở và đi theo mệnh lệnh của Đức Giêsu Kitô: “Chúng con hãy đi khắp thế giới, rao giảng Tin Mừng cho mọi người”. (Mk.16. 15) “Và Thầy sẽ ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thê” (Mt. 28.20). Đức Phaolô VI lại viết: “Rao truyền Phúc âm, đó là ân sủng và là lời mời gọi riêng của Giáo Hội, là bản tính sâu xa của Giáo Hội.” … Mệnh lệnh của Chúa “Chúng con hãy đi và rao giảng Phúc âm”, chắc chắn vẫn luôn giữ giá trị linh động và cần phải được thi hành. Tình thế hiện tại của thế giới cũng như của nhiều địa hạt trong Giáo Hội, càng đòi hỏi lời Đức Kitô phải được tuân theo một cách sẵn sàng, mau chóng, và đại độ Mỗi người được gọi riêng và không ai được quyền từ chối trả lời: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc âm” (1 Cor. 9:16).

[5] CL, 37 “Khám phá và giúp khám phá phẩm giá bất khả xâm phạm của mọi con người, đó là bổn phận chính yếu, là trung tâm căn bản có mãnh lực hiệp nhất mà Giáo Hội và con cái của Giáo Hội được kêu gọi để chu toàn đối với gia đình nhân loại. Trong các thụ tạo trên mặt đất, chỉ có con người là “một nhân vị, một chủ thể hiểu biết và tự do”, và vì thế nó là “trung tâm điểm và là cao điểm” của tất cả tạo vật khác sống trên mặt đất.

Phẩm giá nhân vị là tài sản quý hóa nhất của con người, nhờ đó mà nó trổi vượt trên cả thế giới vật chất này. Lời của Chúa Giêsu phán: “Được lợi lãi cả thế gian mà phải mất linh hồn nào có ích chi?” (Mk. 8:36), hàm chứa một lời quả quyết rõ ràng và đầy khích lệ. Giá trị con người không chủ tại nơi tài sản nó có, cho dù nó chiếm hữu trọn cả thế giới này, nhưng chủ tại nơi “bản chất” của nó. Của cải thế gian không đáng giá bằng của cải nhân vị vì nhân vị chính là của đáng quý.

Nếu chúng ta nhìn phẩm giá con người từ nguồn gốc và vận mạng của nó, chúng ta sẽ thấy nó rực rỡ sáng chói: Con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa và được Máu châu báu của Chúa Kitô Cứu Chuộc nên nó được kêu gọi trở thành “Những người con trong Đức Chúa Con ” và trở nên đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần, và được hưởng sự sống đời đời thông hiệp hạnh phúc với Thiên Chúa. Vì lý do này nên mọi xúc phạm đến nhân phẩm con người đều bị báo oán trước mặt Thiên Chúa và là sự xúc phạm đến Đấng Tạo Hoá đã dựng nên con người.

Nhờ có nhân phẩm, con người luôn luôn tự nó là một giá trị cho chính nó, và nó phải được nhìn nhận và đối xử với giá trị ấy, ngược lại, nó không thể bị nhìn nhận và đối xử như một vật để sử dụng, một phương tiện, hay một đồ vật.

Chính nhân phẩm con người là nền tảng của sự bình đẳng với nhau. Bởi đó tuyệt đối phải loại bỏ tất cả mọi hình thức kỳ thị. Tiếc thay, nạn kỳ thị đã và vẫn tiếp tục chia rẽ và làm ô nhục gia đình nhân loại, nào là kỳ thị chủng tộc, kỳ thị kinh tế, kỳ thị xã hội, kỳ thị văn hoá, kỳ thị chính trị, kỳ thị địa dư… Mỗi hình thức kỳ thị là một sự bất công không thể chấp nhận, không phải vì nó tạo nên những căng thẳng, những tranh chấp xã hội, nhưng vì nó làm nhục cho phẩm giá con người: không chỉ phẩm giá của nạn nhân bị nhục, mà phẩm giá của thủ phạm lại càng bị hổ nhục hơn.

Phẩm giá con người không chỉ là nền tảng của sự bình đẳng giữa mọi người, nó còn là nền móng của việc tham gia và liên đới giữa con người với nhau: đối thoại và thông cảm được bắt nguồn từ bản tính con người, chứ không phải do cái con người “có”.

Nhân phẩm là một tư sản không thể hủy diệt của mọi người. Lời quả quyết này có một sức mạnh phi thường, nó dựa trên đặc tính thuần nhất không thay thế được của mọi nhân vị. Vì đó, mà con người đã chống lại một cách bất khuất tất cả mọi toan tính đè bẹp, tiêu diệt họ bằng cách đặt họ vào tình trạng vô danh của tập thể, của thể chế, của cơ cấu hay hệ thống. Nhân vị trong cá tính của nó không phải là một con số, nó cũng không phải là một vòng tròn trong một dây xích, hay một bánh xe trong một hệ thống. Lời quả quyết căn bản và đầy ý nghĩa về giá trị của con người đã thể hiện bởi con Thiên Chúa khi Ngài nhập thể trong cung lòng của một trinh nữ. Lễ Giáng Sinh luôn luôn nhắc nhở chúng ta về lời quả quyết này.”

[6] “Công trình cứu chuộc của Chúa Kitô, dù chủ yếu liên quan đến việc cứu rỗi con người, nhưng cũng bao hàm việc canh tân toàn thể trật tự trần thế. Do đó, sứ mạng của Giáo Hội không chỉ là đem Tin Mừng và ân sủng của Chúa Kitô cho nhân loại, nhưng còn đem tinh thần Phúc Âm thấm nhuần và hoàn thiện hóa các thực tại trần thế … Người giáo dân hoạt động tông đồ ngay trong Giáo Hội cũng như giữa đời, trong lãnh vực thiêng liêng cũng như trong lãnh vực trần thế” (AA, 5).

[7] “Đồng thời các tín hữu giáo dân còn có nghĩa vụ cấp bách làm chứng nhân cho các giá trị con người và các giá trị Phúc âm liên kết mật thiết với chính các hoạt động chính trị, như sự tự do và công bình tình liên đới và lòng tận tụy trung thành, vô vị lợi đối với công ích, tình yêu đặc biệt với người nghèo khó và thấp hèn. Muốn thế các tín hữu giáo dân luôn luôn phải tìm nghị lực thiêng liêng trong việc tham gia thực sự vào đời sống Giáo Hội và lấy lý thuyết xã hội của Giáo Hội làm ánh sáng chỉ đạo. Trong công việc nặng nề này họ cần có các công đồng Công Giáo và các vị chủ chăn theo dõi và hỗ trợ” (CL, 42).

[8] LG, 31; AA, 5-6; CL, 15.

“Tính trần thế là nét riêng biệt và đặc thù của giáo dân… Còn giáo dân, do chính ơn gọi đặc biệt của mình, có bổn phận tìm kiếm vương quốc Thiên Chúa bằng cách dấn thân vào các việc trần thế và xếp đặt chúng theo thánh ý Thiên Chúa. Họ sống giữa trần thế, nghĩa là giữa tất cả và từng nghề nghiệp cũng như công việc trần thế, trong môi trường thông thường của cuộc sống gia đình và xã hội, tất cả những điều đó như thể dệt thành cuộc sống của họ. Trong khung cảnh đó, họ đã được Thiên Chúa mời gọi, để nhờ việc chu toàn những bổn phận riêng của mình và được tinh thần Tin Mừng hướng dẫn, họ trở nên như nắm men góp phần vào việc thánh hóa thế giới từ bên trong, và như thế, họ làm cho người khác nhận biết Đức Kitô, đặc biệt bằng chứng từ đời sống tỏa sáng đức tin, đức cậy, đức mến. Như vậy, họ có một phương thức đặc biệt để soi chiếu và đặt định các thực tại trần thế luôn gắn liền với cuộc sống, sao cho các thực tại ấy không ngừng trở nên như Đức Kitô muốn và luôn phát triển để nên lời ca ngợi Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Chuộc” (LG, 31).

[9] “Như vậy, trần gian trở thành môi trường và phương tiện cho ơn gọi Kitô giáo của giáo dân, bởi vì chính nó được dành để tôn vinh Thiên Chúa Cha trong Đức Kitô; từ đó, Công Đồng có thể chỉ ra ý nghĩa riêng biệt và đặc thù của việc Thiên Chúa mời gọi giáo dân. Họ không được mời gọi rời bỏ vị thế họ đang sống nơi trần gian” (CL, 15).

[10] “Việc tông đồ không chỉ giới hạn trong việc làm chứng bằng đời sống; người tông đồ đích thực còn tìm dịp loan truyền Chúa Kitô bằng lời nói, hoặc cho những người chưa tin để đưa họ đến đức tin, hoặc cho những người đã tin để hướng dẫn, củng cố và thúc đẩy họ sống sốt sắng hơn…” (AA, 6).

[11] “Các giám mục, các cha xứ, các linh mục dòng triều phải nhớ rằng, hoạt động tông đồ là quyền lợi và bổn phận của tất cả các tín hữu, không phân biệt giáo sĩ hay giáo dân, và chính giáo dân cũng có trách nhiệm phải góp phần trong việc xây dựng Giáo Hội … Sau cùng, các tu sĩ nam nữ phải quý trọng các hoạt động tông đồ giáo dân; theo tinh thần và nội quy của mỗi hội dòng, họ nên sẵn sàng dấn thân góp phần phát triển các hoạt động tông đồ giáo dân; đồng thời cũng tận tình nâng đỡ, hỗ trợ và giúp các linh mục chu toàn phận vụ” (AA, 25).

[12] “Việc đào tạo tông đồ cũng bao hàm việc đào tạo nhân bản toàn diện, phù hợp với nhân cách và hoàn cảnh của mỗi người… Nhưng trước tiên, người giáo dân phải học biết chu toàn sứ mạng của Chúa Kitô và của Giáo Hội bằng cách sống niềm tin vào mầu nhiệm Thiên Chúa tạo dựng và cứu chuộc, dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, Đấng làm cho Dân Chúa được sống và thôi thúc mọi người yêu mến Thiên Chúa là Cha, cũng như việc yêu thương thế giới và nhân loại trong Ngài… Bên cạnh chương trình đào tạo tu đức, cần phải cung cấp một kiến thức vững chắc về giáo lý, về thần học, luân lý …” (AA, 29).

[13] “Việc đào tạo tông đồ phải được khởi sự ngay trong chương trình giáo dục thiếu nhi. Nhưng phải đặc biệt lưu tâm dạy cho các thanh thiếu niên biết làm việc tông đồ và thấm nhuần tinh thần tông đồ. Việc đào tạo này phải được tiếp tục trong suốt cả đời… Ai có trách nhiệm trong việc giáo dục Kitô giáo đều phải lưu tâm đến phận vụ đào tạo tông đồ” (AA, 30).
Xem thêm CL, 57-64.

 

Giuse Phạm Thanh Liêm, S.J.

Read More
07Tháng Mười
2020

Hiệp ước giáo dục toàn cầu – Đường hướng giáo dục của Giáo hội hôm nay

07/10/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Giáo Hội luôn quan tâm đến vai trò vô cùng quan trọng của việc giáo dục trong đời sống con người, nhất là đối với giới thiếu nhi và giới trẻ. Do đó, trong suốt hành trình thực hiện sứ mệnh loan báo Tin Mừng, nhất là từ sau công đồng Vaticano II, Giáo Hội đã có nhiều văn kiện về việc giáo dục[1]. Trong các văn kiện của Giáo Hội, người ta có thể dễ dàng nhận ra viễn tượng nền tảng và những yếu tố thiết yếu của việc giáo dục, đồng thời cũng thấy những yếu tố riêng biệt của từng văn kiện phản ánh hoàn cảnh và những vấn đề của thời đại hay vùng miền của mỗi văn kiện.

Giáo huấn của Giáo Hội về giáo dục trong thời đại hiện nay chắc chắn sẽ được định hình qua sự kiện độc đáo “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu” và những tài liệu được công bố nhân dịp này. Mặc dù các văn kiện còn đang trong thời kỳ soạn thảo, nhưng nhờ những ý tưởng chỉ đạo đã được công bố[2], chúng ta có thể nhận thấy một viễn tượng mới về giáo dục được khai mở, mang đậm những dấu nhấn đặc thù của thời đại hôm nay. Những điều này sẽ được trình bày dưới hai tiêu đề chính:

– “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu”: ý nghĩa, tiến trình chuẩn bị và việc cử hành.

– Những yếu tố và ý tưởng nền tảng của “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu”.

  1. “HIỆP ƯỚC GIÁO DỤC TOÀN CẦU”: Ý NGHĨA, TIẾN TRÌNH CHUẨN BỊ VÀ VIỆC CỬ HÀNH

Sự kiện “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu” được Đức Thánh Cha Phanxicô chính thức công bố bằng một sứ điệp ngày 12/09/2019[3] và trao cho Bộ Giáo dục Công Giáo[4] của Tòa Thánh chịu trách nhiệm tổ chức. Theo dự kiến ban đầu, “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu” được cử hành vào 14 tháng 05 năm 2020, nhưng vì hoàn cảnh của dịch Covid-19, sự kiện này đã được dời đến ngày 15 tháng 10 năm 2020.[5]

  1. Ý nghĩa

“Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu” là sáng kiến của Tòa Thánh muốn mời gọi mọi người có liên hệ đến việc giáo dục về Roma để ký một hiệp ước về giáo dục. Trong sứ điệp giới thiệu “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu”, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói cụ thể như sau: “Ngay tại Roma, tôi muốn được gặp tất cả mọi người, dưới nhiều tước hiệu, đang hoạt động trong ngành giáo dục ở mọi cấp bậc của việc học tập cũng như việc nghiên cứu. Tôi mời gọi tất cả, nhờ một hiệp ước giáo dục, khích lệ nhau cùng thực hiện những phương thức thực hành đã đem đến cho lịch sử một ý nghĩa và đã biến đổi lịch sử cách tích cực. Cùng với anh chị em, tôi mời gọi các nhà lãnh đạo xã hội ở cấp độ quốc tế, hiện đang ở những vị thế có trách nhiệm và là những người có lòng quan tâm đến tương lai của các thế hệ trẻ. Tôi tin tưởng là họ sẽ đón nhận lời mời gọi của tôi. Cha kêu gọi cả các con, các bạn trẻ, hãy đến tham dự sự kiện này và đón nhận như trách nhiệm của mình phải xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Cuộc gặp gỡ này sẽ được tổ chức ngày 14 tháng 5 năm 2020[6] tại Roma, trong Đại thính đường Phaolô VI.”

Nhắm đến “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu”, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi hãy tìm những người bạn đồng hành cùng dấn thân trên hành trình giáo dục hơn là đề nghị những chương trình phải thực hiện; ngài cũng mời gọi tất cả hãy bắt tay vào một hiệp ước cùng trân trọng tính cách độc đáo của mỗi người. Chúng ta có thể nói kính trọng sự khác biệt là chất xúc tác của hiệp ước giáo dục. Hiệp ước toàn cầu về giáo dục không thể có hình thức nào khác hơn là chấp nhận tính cách không thể thay thế của những đóng góp của mỗi cá nhân để cùng nhau giải quyết vấn đề giáo dục.[7]

  1. Những buổi hội thảo chuẩn bị

Sự kiện “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu” không chỉ được công bố cách long trọng qua sứ điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô, mà còn được chuẩn bị qua nhiều cuộc hội thảo do các Đại học Giáo Hoàng hoặc Đại học Công Giáo tổ chức, để học hỏi về những khía cạnh liên quan đến nội dung của Hiệp ước. Các cuộc hội thảo này còn có mục đích phổ biến tin tức, gây ý thức nơi dư luận quần chúng để mời gọi nhiều người tham dự, vì “hơn bao giờ hết, hôm nay cần phải quy tụ các nguồn nhân lực thành một hiệp ước giáo dục để đào tạo những con người trưởng thành, có khả năng vượt thắng được những sự phân hóa và mâu thuẫn để kiến tạo môi trường các tương quan cho một nhân loại thân thiện huynh đệ hơn”[8].

Dưới đây là những sự kiện chuẩn bị đã hoặc đang được thực hiện, hướng đến ngày cử hành “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu”.

  1. a) Hội thảo tại Bộ Giáo dục Công Giáo

Quỹ Giáo hoàng “Gravissimum Educationis” của Bộ Giáo dục Công Giáo đã tổ chức cuộc Hội thảo hai ngày (16 – 17/09/2019) với đề tài “Dân Chủ: nhu cầu khẩn cấp cho việc giáo dục trong bối cảnh đa văn hóa và đa tôn giáo”. Tham dự cuộc Hội thảo này có hơn 30 giáo sư từ 14 Đại học.

  1. b) Hội thảo tại Đại học Giáo hoàng Lateranense (Roma)

Ngày 31/10/2019, Đại học Giáo hoàng Lateranense (Roma), với sự khích lệ và cộng tác của Bộ Giáo dục Công Giáo và Hội Giáo hoàng về Đối thoại Liên Tôn đã tổ chức buổi Hội thảo về đề tài “Giáo dục, nhân quyền, hòa bình. Phương tiện cho các hoạt động quốc tế và vai trò của các tôn giáo”. Buổi Hội thảo trên được lồng trong dự án lớn hơn của Đại học Lateranense nhắm đến việc thực hiện hòa bình, nhất là qua việc tổ chức một ngành học về Khoa học Hòa Bình. Ngành học này đã được tổ chức theo ý Đức Thánh Cha Phanxicô, nhắm đào tạo những chuyên viên có khả năng điều khiển thực tại phức tạp của những tiến trình biến đổi xã hội, tôn giáo, văn hóa, chính trị, kinh tế, luật pháp, giáo dục qua phương pháp hòa bình để hóa giải những hoàn cảnh xung đột đang là đặc tính của thế giới hiện tại trên bình diện lớn như các quốc gia, các cơ cấu và tổ chức, hoặc ở bình diện nhỏ như các nhóm, các hiệp hội, các phong trào.

  1. c) Hội thảo tại Đại học Antonianum (Roma)

Cuộc Hội thảo ba ngày, từ 14 – 16/01/2020 đã được tổ chức tại Đại học Antonianum (Roma), với sự cộng tác của Khoa Thần học Giáo hoàng San Bonaventura Seraphicum, với đề tài “Thiên nhiên và môi trường trong hiệp ước giáo dục: vẻ đẹp làm cho con người trở nên tốt”.

Đề tài của cuộc Hội thảo này phát nguồn từ lời xác quyết của Đức Thánh Cha Phanxicô là cần phải trao đổi với nhau về cách thức chúng ta đang xây dựng tương lai của hành tinh này và về nhu cầu phải quy tụ tài năng của mọi người, vì cuộc thay đổi nào cũng đòi phải có một hành trình giáo dục. Với đề tài đã được đề ra, cuộc hội thảo nhắm gây ý thức nơi mọi người về ý nghĩa và giá trị của việc giáo dục đối với cuộc khủng hoảng môi trường để đóng góp vào dự án giáo dục đang hình thành.

  1. d) Hội thảo tại Đại học LUMSA và Trường Đào tạo cao cấp EIS

Để chuẩn bị cho sự kiện “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu”, Đại học LUMSA và Trường Đào tạo cao cấp EIS tổ chức cuộc hội thảo ba ngày, từ 31/01 đến 01/02/2020, với đề tài “Xây dựng cộng đoàn. Đề nghị của Service Learning”. Cuộc hội thảo này nhắm hai mục đích: tìm hiểu những điều kiện cần thiết cho Hiệp ước và trình bày phương pháp “Thực tập – Phục vụ” trong việc xây dựng cộng đoàn.

  1. e) Hội thảo tại Học viện Giáo hoàng về Khoa học Xã hội

Học viện Giáo hoàng về Khoa học Xã hội đã tổ chức cuộc hội thảo hai ngày 06-07/02/2020 với đề tài “Giáo dục. Hiệp ước Toàn cầu”. Đến tham dự cuộc hội thảo này có rất nhiều người dấn thân trong việc giáo dục tại các nước nghèo cũng như nước giàu. Các bài trình bày đều xoay chung quanh vấn đề làm thế nào để việc giáo dục trong trường học mang tính cách nhân bản hơn, công bằng hơn, thích hợp hơn đối với các nhu cầu khác nhau của các quốc gia trên thế giới.

  1. f) Hội thảo Đối thoại giữa nhiều thành phần khác nhau

Ngày 22/02/2020 Phân khoa Khoa học Giáo dục của Đại học Giáo hoàng Salesiana (Roma) và Phân khoa Khoa học Giáo dục Auxilium cùng tổ chức một cuộc hội thảo về “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu”. Điều đặc biệt của cuộc hội thảo này là phương pháp thực hiện, tức là hình thức đối thoại giữa những thành phần có tương quan trực tiếp với nhau trong việc giáo dục để thiết lập một hiệp ước giáo dục có hiệu quả. Các thành phần hiện diện trong buổi hội thảo gồm: con cái và phụ huynh, người huấn luyện và người thụ huấn, sinh viên và giảng viên và nhiều thành phần khác cùng hoạt động trong ngành giáo dục.

  1. g) Hội thảo tại Đại học Giáo hoàng Gregoriana (Roma)

Ngày 24/02/2020 Đại học Giáo hoàng Gregoriana, với sự cộng tác của Học viện Giáo hoàng PISAI chuyên ngành Ả Rập và Hồi giáo đã tổ chức cuộc hội thảo với chủ đề “Giáo dục hướng tới một nhân loại huynh đệ hơn: đóng góp của các tôn giáo”. Trong buổi hội thảo có 7 thuyết trình viên, đại diện cho 7 truyền thống tôn giáo khác nhau: Công giáo, Do thái giáo, Hồi giáo, Ấn giáo, Phật giáo, Khổng giáo và các tôn giáo truyền thống Phi châu. Theo hướng chung của đề tài, mỗi thuyết trình viên trình bày về nguồn sinh lực riêng của tôn giáo mình có thể đóng góp để cùng xây dựng tình huynh đệ đại đồng.

Ngoài những sự kiện đã được thực hiện trên đây, còn một số sự kiện đã dự kiến, nhưng chưa thực hiện được vì hoàn cảnh đại dịch Corona:

  1. h) Hội thảo tại Đại học Công giáo Sacro Cuore (Brescia/Italia)

Theo dự kiến, một cuộc hội thảo sẽ được tổ chức tại Đại học Công giáo Sacro Cuore, ngày 03/03/2020 với đề tài “Những thách đố giáo dục cho việc hợp tác quốc tế”.

  1. i) Hội thảo tại Đại học Giáo hoàng Santa Croce (Roma)

Cuộc hội thảo tại Đại học Giáo Hoàng Santa Croce dự kiến được tổ chức ngày 05/03/2020 với đề tài “Tính cách gia đình của Trường học”.

  1. j) Thành phố người Trẻ (Città dei Ragazzi)

Theo chương trình đã được chuẩn bị, ngày 24/03/2020 được dành cho cuộc hội thảo tại Thành phố người Trẻ về đề tài “Những nẻo đường của quốc tịch: từ loại trừ đến bao gồm”.

  1. k) Abu Dhabi (United Arab Emirates)

Theo chương trình dự kiến ba ngày hội thảo, 03-05/02/2020, sẽ được tổ chức tại Abu Dhabi với đề tài “Tài liệu về tình huynh đệ nhân loại để cấu tạo Hòa Bình và chung sống trên Thế giới”.

  1. l) Học viện Sophia (Lopiano/Italia)

Một cuộc hội thảo hai ngày (14-15/05/2020) được dự tính tổ chức tại Học viện Sophia (Lopiano/Italia) với đề tài “Hiệp ước giáo dục. Để mở ra những nẻo đường trong một hiện tại cùng chia sẻ”.

  1. Bản Tuyên ngôn “Hiệp ước Giáo dục”

Ngoài những cuộc hội thảo nói trên, còn một công tác chuẩn bị rất quan trọng tiến đến ngày cử hành “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu”; đó là Bản Tuyên ngôn “Hiệp ước Giáo dục” sẽ được công bố và ký kết trong ngày cử hành. Bản Tuyên ngôn “Hiệp ước Giáo dục” này không đề ra một lý thuyết giáo dục hay chương trình hành động, nhưng nhắm đến việc mời gọi tất cả cùng hướng việc giáo dục đến một mục đích chung.[9]

Đức Tổng Giám Mục Vincenzo Zani, Tổng Thư ký Bộ Giáo dục Công Giáo, người được trao trách nhiệm trực tiếp điều hành việc chuẩn bị cũng như việc cử hành “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu”, trong cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Diane Montagna, được đăng trên báo điện tử Life Site News, ngày 25 tháng 02 năm 2020 nói rằng một nhóm chuyên viên đã được trao trách nhiệm soạn thảo bản tuyên ngôn này và nhóm này đã làm việc hơn một năm nay.

Nhóm chuẩn bị Bản Tuyên ngôn “Hiệp ước Giáo dục” gồm các chuyên viên thuộc nhiều ngành khoa học, khuynh hướng, chính kiến và tôn giáo khác nhau. Nếu nhóm chuyên viên thuộc nhiều thành phần khác nhau về mọi mặt có thể cùng nhau soạn thảo được một Bản Tuyên ngôn chung về giáo dục, người ta có lý do để hy vọng rằng Bản Tuyên ngôn phản ánh trung thực những thao thức của thế giới rất đa dạng và phức tạp và sẽ dễ được mọi người chấp nhận để cùng dấn thân thực hiện.

  1. Cử hành “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu”

Chương trình chi tiết của việc cử hành “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu” chưa được công bố, nhưng những nét chính yếu đã được quyết định và phổ biến. Chương trình cử hành sự kiện “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu” gồm ba phần:

– Trước sự kiện chính yếu: Tuần lễ “Làng Giáo dục”;

– Sự kiện chính yếu (15/10/2020): ngày ký “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu”;

– Sau sự kiện chính yếu (16/10/2020): ngày gặp gỡ của các Bộ trưởng Bộ Giáo dục của các quốc gia.

  1. a) Tuần lễ “Làng Giáo dục”

Một tuần trước ngày 15 tháng 10 là ngày chính yếu của sự kiện “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu” tất cả con đường Conciliazione (Hòa giải) dẫn vào Quảng trường đền thờ Thánh Phêrô sẽ được tổ chức thành “Làng Giáo dục” (Education Village). Ở đó sẽ được dựng lên những chiếc lều cho những vấn đề khác nhau liên quan đến giáo dục hoặc diễn tả công trình giáo dục thành công của một vùng hay miền tiêu biểu. Tại mỗi lều sẽ có những chuyên viên phụ trách, với những tranh ảnh và bài viết miêu tả vấn đề. Trong suốt tuần lễ, mỗi ngày “Làng Giáo dục” sẽ hoạt động từ 10g00 sáng đến 7g00 tối, đón tiếp bất cứ ai, nhất là các sinh viên, học sinh đến tham khảo, trao đổi và kể cả tranh luận.

  1. b) Sự kiện chính yếu

Ngày 15 tháng 10 năm 2020 là ngày chính yếu của chương trình cử hành “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu” (trước biến cố Coronavirus đã được ấn định vào ngày 14 tháng 5 năm 2020). Chương trình của sự kiện chính yếu sẽ được thực hiện trong Đại thính đường Phaolô VI, gồm 3 phần:

– Cuộc gặp gỡ với Đức Thánh Cha Phanxicô;

– Cuộc đối thoại giữa các bạn trẻ và các vị lãnh đạo thuộc nhiều thành phần: tôn giáo, chính trị, văn hóa… có nhiều ảnh hưởng trên thế giới xoay quanh những vấn đề: Việc giáo dục ngày nay phải thực hiện như thế nào trước những khó khăn và thách đố mà nhân loại đang phải đối diện, chẳng hạn những cuộc xung đột chiến tranh, vấn đề thay đổi khí hậu, vấn đề bạo động, nghèo đói, vấn đề những người bị gạt ra bên lề xã hội;

– Đại diện các nhà lãnh đạo thuộc nhiều thành phần trên thế giới: tôn giáo, chính trị, văn hóa, nghệ thuật, các vị đã nhận giải thưởng Nobel Hòa bình ký bản Tuyên ngôn “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu”.

  1. c) Ngày gặp gỡ của các Bộ trưởng Bộ Giáo dục các quốc gia

Ngày 16/10/2020, sau ngày ký Bản Tuyên ngôn “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu”, các Bộ Trưởng Bộ Giáo dục của các quốc gia đến tham dự sự kiện “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu”[10] họp mặt tại Đại học Giáo Hoàng Lateranense để trao đổi với nhau về Hậu Hiệp ước Giáo dục: những gì cần làm và có thể làm tại các quốc gia để thực hiện Bản Tuyên ngôn “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu”.

  1. NHỮNG YẾU TỐ VÀ Ý TƯỞNG NỀN TẢNG CỦA “HIỆP ƯỚC GIÁO DỤC TOÀN CẦU”

Dự án “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu” không phải là một ý tưởng hoàn toàn mới, nhưng bắt nguồn từ và dựa trên giáo huấn của Đức Thánh Cha Phanxicô, đặc biệt trong tông huấn “Niềm vui Tin Mừng” (Evangelii gaudium)và thông điệp “Laudato sí”. Cũng có thể nói: “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu” là giáo huấn của Đức Thánh Cha Phanxicô áp dụng trong môi trường giáo dục.

  1. Những vấn đề căn bản
  2. a) Văn hóa ích kỷ

Người ta nhận thấy trong xã hội hôm nay đang nổi lên và lan tràn ở nhiều nơi khuynh hướng đóng cửa lòng, quy hướng tất cả về mình, bảo vệ những quyền lợi và đặc ân của cá nhân hay một tổ chức đến độ trở thành vô tâm đối với tha nhân và loại bỏ người già cũng như mầm sống đang bắt đầu.

Khuynh hướng tự kỷ và đóng kín cửa lòng trước tha nhân phát xuất từ sự biến đổi sâu xa trong quan niệm về con người[11]. Hiện nay, khắp thế giới đang lan tràn một thứ văn hóa xây nền tảng trên quyền tối thượng của con người, hiểu như cá nhân hay tập thể, trên mọi thực tại. Có thể nói đây là văn hóa tôn thờ “cái tôi” của cá nhân hay tập thể đến độ người ta sẵn sàng hy sinh tất cả, kể cả những tình cảm quý báu nhất. Thứ văn hóa tôn thờ cá nhân và tập thể đã gây ra những rạn nứt sâu đậm và lớn lao. Đó là rạn nứt giữa các thế hệ, các dân tộc, các nền văn hóa, giữa người giàu và người nghèo, giữa người nam và người nữ, giữa kinh tế và luân lý, giữa loài người và trái đất[12].

  1. b) Ảnh hưởng của kỹ thuật

Ảnh hưởng của kỹ thuật trên tâm trí người thời đại, nhất là giới trẻ có thể nói là hàm hồ và mâu thuẫn, tức là vừa tích cực, vừa tiêu cực. Tính cách hàm hồ của kỹ thuật đã được Đức Thánh Cha Bênêđictô diễn tả như sau: “Xã hội ngày càng đi đến toàn cầu hóa làm cho chúng ta gần nhau hơn, nhưng không làm cho chúng ta thêm tình nghĩa huynh đệ hơn”[13].

Một trong những yếu tố chính yếu hình thành tính cách toàn cầu hóa của xã hội là sự phát triển kỹ thuật, đặc biệt là những kỹ thuật liên quan đến công nghệ thông tin và đời sống ảo trên mạng. Việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật số đang đặt ra những vấn đề vô cùng gay go đối với việc giáo dục. Những vấn đề đó có thể chia làm hai loại như sau:

– Khác biệt về tốc độ thực hiện

Các thế hệ trẻ hôm nay đang phải trải nghiệm sự mâu thuẫn do sự khác biệt về tốc độ thực hiện của kỹ thuật, nhất là internet và sự biến đổi hay thăng tiến theo tiến trình tự nhiên của đời sống thể lý, nhất là của hành trình luyện tập tiến tới sự trưởng thành nhân bản và tinh thần[14]. Vì năng tiếp cận với các phương tiện kỹ thuật, nhất là internet, người ta quen thuộc với những kết quả “lập tức” và “đồng thời” với ý muốn và hành động nên dễ mất kiên nhẫn với những biến chuyển chậm chạp trong lãnh vực nhân bản, tinh thần và thiêng liêng. Do đó, con người thời đại dễ mất an bình nội tâm trong tương quan với tha nhân, còn với đời sống nhân bản và thiêng liêng của mình thì dễ chán nản và buông xuôi.

Như thế, internet và phương tiện truyền thông đại chúng đang làm thay đổi tận căn mối tương quan giữa những con người với nhau cũng như những ao ước, khát vọng và chính căn tính của mỗi cá nhân vì chúng làm thay đổi nhiều khả năng của con người, chẳng hạn trí nhớ, khả năng sáng tạo, khả năng chú ý và tự giác. Ngoài ra, vì quá dựa trên kỹ thuật, người ta cũng rất dễ đánh mất khả năng nhận ra tính cách mầu nhiệm của các mối tương quan giữa các thực tại[15].

– Tính vô cảm toàn cầu

Nhờ các phương tiện truyền thông, người thời đại có thể biết được mọi việc xảy ra trên khắp thế giới nên được mở rộng tầm nhìn và sự hiểu biết. Tuy nhiên, các sự kiện được phương tiện truyền thông cung cấp thuộc đủ loại: vui – buồn, thành công – thất bại, cao thượng – tàn ác, hạnh phúc – đau khổ… Tất cả, như một dòng nước cứ chảy triền miên vào trí óc mỗi người và ít khi một sự kiện đọng lại lâu giờ vì các sự kiện liên tục thay thế nhau trong tâm trí. Thực trạng này làm cho người ta dần dần quen thuộc với sự đau khổ của tha nhân và trở thành vô cảm trước những thảm cảnh của nhân loại[16].

– Sự phân hóa tâm lý

Sự phân hóa tâm lý phát sinh do sự tiếp cận thái quá những phương tiện kỹ thuật tân tiến là một trong những vấn đề trầm trọng và khẩn cấp cần được quan tâm trong việc giáo dục các thế hệ trẻ[17].

Tâm trí của người thời đại, nhất là của giới thiếu nhi và giới trẻ luôn luôn bị lôi cuốn bởi những yếu tố kích thích đa dạng, gây cản trở cho việc luyện tập sống thinh lặng. Thời gian và không gian cần thiết để nhận ra những khát vọng cũng như những sợ hãi của riêng mình bị đổ đầy bởi những giao tiếp liên tục và hấp dẫn, có sức lôi cuốn tâm trí. Những tương giao đó hướng tâm trí về những khía cạnh bề nổi, có thể tính toán và đo lường được, nhưng không hướng tâm trí đến ý nghĩa[18] chiều sâu của cuộc đời và của sự vật. Do đó, trong sự phong phú của các yếu tố và các sự kiện, người ta nghiệm thấy sự nghèo nàn về nội tâm, về khả năng suy nghĩ, khả năng lắng nghe tha nhân và lắng nghe chính mình. Ngoài ra, những kích thích đa dạng và liên tục đến từ kỹ thuật số còn “dẫn đến việc đánh mất ý thức về tổng thể, về tương quan giữa các sự vật và về viễn tượng xa cũng như về ý nghĩa”.

  1. Hướng đi căn bản cho việc giáo dục

Trước những hoàn cảnh trên đây, việc giáo dục cần quan tâm đến một số yếu tố quan trọng sau:

  1. a) Quan niệm về việc giáo dục

Dựa theo tinh thần của Thông điệp “Laudato sí”, tài liệu chuẩn bị cho “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu” xác quyết là việc giáo dục sẽ không mang lại kết quả mong muốn nếu không truyền đạt được một mẫu sống mới về con người, về đời sống, về xã hội và về tương quan với thiên nhiên[19]. Do đó, cần phải hiểu việc giáo dục theo viễn tượng rộng lớn bao gồm các kinh nghiệm sống và hành trình luyện tập, giúp người trẻ phát triển nhân cách của mình[20].

Theo cách nhìn này, việc giáo dục không thể bị giới hạn trong việc học biết các kiến thức văn hóa và khoa học, nhưng còn phải mở rộng tới các khía cạnh nhân bản và thiêng liêng. Nói cách khác, việc giáo dục không chỉ nhắm đào tạo các thế hệ trẻ thành các chuyên viên tài giỏi, mà còn phải đào luyện họ thành những con người trưởng thành và đạo đức. Trong ý niệm này, việc giáo dục không được giới hạn trong các phòng lớp mà còn phải mở rộng ra môi trường gia đình, tôn giáo và các cơ cấu có thể hỗ trợ gia đình trong trách nhiệm giáo dục[21].

  1. b) Kiến tạo lại căn tính của mỗi người

Internet và các phương tiện truyền thông xã hội đang làm cho các tương quan của mỗi người với tha nhân, với thiên nhiên và với chính mình thay đổi sâu xa đến nỗi làm biến dạng hình ảnh mỗi người có về chính mình và tạo ra một căn tính gẫy vụn trong con người. Hoàn cảnh này làm phát sinh trong nội tâm mỗi người nỗi buồn khổ và tâm trạng bất an. Trong bối cảnh này, trách nhiệm khẩn cấp của giáo dục là giúp các bạn trẻ kiến tạo lại căn tính và tìm lại nội tâm của mình[22].

Trách nhiệm nói trên của việc giáo dục có thể được thực hiện qua hai tác động. Tác động thứ nhất là trực diện khuynh hướng tôn thờ “cái tôi”để biến đổi nó[23]; tác động thứ hai là nối kết lại các tương quan rộng lớn bao trùm con người; đó là tương quan xã hội, văn hóa và môi trường. Các tương quan trên lệ thuộc và bổ túc lẫn nhau. “Coi thường việc nuôi dưỡng mối tương quan trung thực với tha nhân… sẽ làm tổn hại mối tương quan nội tâm với chính mình, với Thiên Chúa và với thiên nhiên”[24].

  1. c) Tình liên đới

Một trong những khía cạnh nổi bật của thế giới hôm nay là tình trạng phân hóa, chia rẽ, xung đột và chiến tranh. Do đó, nhu cầu khẩn cấp của thế giới là cấu tạo lại tình liên đới giữa các thành phần và giữa các thế hệ trong xã hội. Đứng trước tình trạng này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết trong Tông huấn “Niềm vui Tin Mừng: “Chúng ta thấy bị thách thức phải khám phá ra và thông truyền ‘huyền nhiệm’ sống chung, gặp gỡ và xen trộn vào nhau, sát cánh với nhau, dựa vào nhau, tham dự vào đám đông có chút hỗn độn, nhưng có hy vọng sẽ trở thành một kinh nghiệm về tình huynh đệ, về đoàn người liên đới cùng tiến bước.”[25] Việc giáo dục cần phải tham dự vào việc biến đổi này qua hai hành động:

– Viễn tượng tình huynh đệ nguyên thủy

Các vấn đề phân hóa, chia rẽ, xung đột, chiến tranh và loại trừ nhau bắt nguồn từ sự thiếu vắng ý thức về nguồn gốc chung, về việc tất cả cùng thuộc về nhau và cùng chung một tương lai[26].

Yếu tố chung này được diễn tả bằng cụm từ “tình huynh đệ nguyên thủy”, hiểu theo phạm trù văn hóa và nhân chủng học, tức là yếu tố thuộc vào bản tính. Người ta có thể tự do lựa chọn những người bạn hay những người đồng hành, nhưng không tự do chọn người anh em vì mỗi người, khi sinh ra là nhận một bản tính “người” chung với mọi người[27]. Do đó, “tình huynh đệ nguyên thủy” bao gồm tất cả mọi người, không loại trừ ai và được thực hiện qua những thái độ chính yếu như: gặp gỡ, liên đới, thương xót, quảng đại, đối thoại, trao đổi[28].

– Hiệp nhất trong khác biệt

Nguồn gốc của tình trạng phân hóa và chống đối nhau dẫn đến xung đột dưới nhiều hình thức lắm khi phát sinh từ việc sợ hãi sự khác biệt[29]. Do đó, để cấu tạo sự hiệp nhất cần phải có một bước nhảy vọt về tư tưởng và thay đổi tận căn cách suy nghĩ thông thường. Cho đến bao giờ sự khác biệt còn bị coi là đối nghịch với sự hiệp nhất thì chiến tranh vẫn luôn rình rập trước cửa. Trách nhiệm của giáo dục là trình bày một hệ tư duy mới, biết gìn giữ cách hài hòa hiệp nhất và khác biệt, bình đẳng và tự do[30].

Hiệp nhất và khác biệt không loại trừ nhau, mà trái lại còn cần nhau. Tách biệt khỏi nhau, hiệp nhất sẽ loại trừ những gì là khác biệt, làm cho cuộc sống của tha nhân và của chính mình trở thành ngột ngạt, còn sự khác biệt mà không có hiệp nhất sẽ sớm biến thành rối loạn. Việc giáo dục cần phải hành động ở bình diện này là bình diện tư tưởng, giúp nhận ra là hiệp nhất cần sự khác biệt và tha nhân với sự khác biệt là ơn phúc chứ không phải là rào cản không cho mình thăng tiến. Việc giáo dục này hết sức cần thiết vì “các cuộc chiến tranh bắt đầu từ trong lòng chúng ta khi chúng ta không có khả năng mở lòng cho tha nhân, khi chúng ta không có khả năng nói với tha nhân”[31].

Việc giáo dục không được dừng lại ở những nguyên tắc, mà phải tiến sang việc thực hành làm phát sinh văn hóa gặp gỡ, lắng nghe, đối thoại nên cả khi phải tranh luận, “cần nhớ mình là anh em và vì vậy cần đào tạo và tự đào tạo để không coi người kia là kẻ thù hay quân địch cần phải loại trừ”[32]. Chính trong đối thoại và lắng nghe, “chúng ta tập đón nhận tha nhân trong sự khác biệt về cách sống, cách suy nghĩ và cách diễn tả của họ”[33]. Do đó, nền giáo dục thành công và kết quả không chỉ tùy thuộc khả năng chuyên môn của các giảng viên, cũng không hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng tài giỏi của các sinh viên, học sinh, mà còn tùy thuộc vào chất lượng mối tương quan giữa các giáo viên và học viên[34].

Sau tất cả những điều đã được trình bày, một câu hỏi được đặt ra: “Thế giới này có thể thay đổi nên tốt hơn không?” Thực ra câu hỏi này đã được đặt ra trong Tài liệu chuẩn bị sự kiện “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu” và câu trả lời là “Thế giới có thể thay đổi nên tốt hơn”[35]. Đây chính là nguyên tắc nền tảng cần phải đưa vào chương trình giáo dục. Nếu không có xác tín là thế giới có thể thay đổi nên tốt hơn, người ta, nhất là giới trẻ sẽ thiếu đi một sức mạnh thúc đẩy và sẽ không dấn thân thực hiện. Thực ra, hình ảnh một thế giới tương lai tốt đẹp hơn là viễn tượng của thời cánh chung, là chương trình cứu độ của Thiên Chúa: “Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa. Và tôi thấy Thành Thánh là Giêrusalem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang… Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất. Đấng ngự trên ngai phán: ‘Này đây Ta đổi mới mọi sự’. Rồi Người phán: ‘Ngươi hãy viết: Đây là những lời đáng tin cậy và chân thật’.” (Kh 21,1-6).

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 119 (tháng 7 & 8 năm 2020)

[1] Dưới đây là một số văn kiện: ĐTC Piô XII, Huấn từcho Hiệp hội Giáo chức Công giáo Trung học Ý (U.C.I.I.M.), 5.1.1954: Discorsi e Radiomessaggi XV, tr. 551-556; GIOAN XXIII, Huấn từcho Đại hội Hiệp hội Giáo chức Công giáo Ý (A.I.M.C.) lần VI, ngày 5.9.1959: Discorsi, Messaggi, Colloqui, I, Roma 1960, tr. 427-431; ĐTC Phaolô VI, Huấn từ cho Cơ quan Quốc tế Giáo dục Công giáo (O.I.E.C.), 25.2.1964: Encicliche e Discorsi di Paolo VI, II, Roma 1964, tr. 232; Vaticano II, Tuyên ngôn về Giáo Dục Kitô Giáo Gravissimum Educationis; Bộ Giáo dục Công Giáo: The Religious Dimension of Education in a Catholic School (April 7, 1988); The apostolate of religious teaching in the Catholic schools (October 15, 1996); Consecrated Persons and their Mission in Schools. Reflections and Guidelines (October 28, 2002); Educating Together in Catholic Schools. A Shared Mission between Consecrated Persons and the Lay Faithful (September 8, 2007); “Reform of the Higher Institutes of Religious Sciences” (June 28, 2008);“Educating to Intercultural Dialogue in Catholic Schools. Living in Harmony for a Civilization of Love” (October 28, 2013); Educating Today and Tomorrow: A Renewing Passion (Instrumentum laboris) (April 7, 2014); Educating to fraternal humanism – Building a “civilization of love” 50 years after Populorum progressio (April 16, 2017); Male and female he created them: towards a path of dialogue on the question of gender theory in education (February 2, 2019).

[2] Những văn kiện chính yếu chỉ đạo cho việc chuẩn bị “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu”:
ĐTC Phanxicô, Tông huấn “Niềm vui Tin Mừng” (http://www.vatican.va/content/francesco/en/apost_exhortations/documents/papa-francesco_esortazione-ap_20131124_evangelii-gaudium.html ),
Thông điệp “Laudato sí” (http://www.vatican.va/content/francesco/en/encyclicals/documents/papa-francesco_20150524_enciclica-laudato-si.html ),
Sứ điệp giới thiệu “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu”(https://www.educationglobalcompact.org/it/invito-di-papa-francesco/ );
Bộ Giáo dục Công giáo, Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), (https://www.educationglobalcompact.org/resources/Risorse/instrumentum-laboris-en.pdf ).

[3] https://www.educationglobalcompact.org/it/invito-di-papa-francesco

[4] Bộ Giáo dục Công Giáo có trách nhiệm hướng dẫn 216.000 trường học Công giáo, nơi có hơn 60 triệu học sinh theo học và 1.750 Đại học Công giáo nơi có hơn 11 triệu sinh viên theo học.

[5] https://www.educationglobalcompact.org/it/

[6] Như đã nói trên đây, vì hoàn cảnh dịch corona, sự kiện “Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu” được dời đến ngày 15/10/2020.

[7] x. Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), Il Progetto, số 2.

[8] Sứ điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô, https://www.educationglobalcompact.org/it/invito-di-papa-francesco/

[9] Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), Il Progetto, n. 2.

[10] Trong Đại Hội Nghị của Bộ Giáo Dục 17-21/2/2020, ĐTGM Vincenzo Zani, Tổng Thư ký của Bộ Giáo Dục Công Giáo, cũng là người tổ chức “Hiệp ước Giáo dục Toàn Cầu” thông báo là đến ngày 20/2/2020 đã có 47 Quốc gia ghi danh sẽ gửi Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục sang tham dự “Hiệp ước Giáo dục Toàn Cầu”.

[11] ĐTC Phanxicô, Bài phát biểu cho các thành viên của Hàn lâm viện giáo hoàng về sự sống, Đại Hội nghị tháng 10 năm 2017.

[12] Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), Il Contesto, số 1.

[13] ĐTC Bênêđictô, thông điệp “Đức ái trong Sự thật”, số 19.

[14] Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), Il Contesto, số 2.

[15] x. ĐTC Phanxicô, Thông điệp “Laudato sí”, số 20.

[16] x. ĐTC Phanxicô, Sứ điệp cho Ngày Hòa Bình thế giới, 1 tháng 1 năm 2014; x. Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), Il Contesto, số 2.

[17] Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), Il Contesto, số 3.

[18] ĐTC Phanxicô, Thông điệp “Laudato sí”, số 110; x. Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), Il Contesto, số 3.

[19] x. ĐTC Phanxicô, Thông điệp “Laudato sí”, số 215.

[20] Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), Il Progetto, số 1.

[21] x. Diễn văn của ĐTC Phanxicô trong buổi Triều yết dành cho Ngoại Giao đoàn bên cạnh Tòa Thánh, ngày 09/01/2020; Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), Il Progetto, số 1.

[22] x.Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), Il Contesto, số 4.

[23] Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), Il Contesto, số 1.

[24] ĐTC Phanxicô, Thông điệp “Laudato sí”, số 70.

[25] ĐTC Phanxicô, Tông huấn “Niềm vui Tin Mừng”, số 87; x. Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), Il Progetto, số 1.

[26] x. ĐTC Phanxicô, Thông điệp “Laudato sí”, số 220.

[27] x. Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), Il Progetto, số 3.

[28] x. Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), Il Contesto, số 3.

[29] x. ĐTC Phanxicô, Sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế giới, 01/01/2020.

[30] x. Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), La Visione, số 1.

[31] Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), đã trích.

[32] ĐTC Phanxicô, Sứ điệp Ngày Hòa Bình Thế giới, 01/01/2014.

[33] ĐTC Phanxicô, Tông huấn “Niềm vui Tin Mừng”, số 250; x. Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), La Visione, số 1.

[34] x. Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), La Visione, số 2.

[35] x. Tài liệu chuẩn bị (Instrumentum Laboris), La Visione, số 3.

 

Giám mục Giuse Đinh Đức Đạo

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 105
  • Page 106
  • Page 107
  • …
  • Page 154
  • Next page
Bài viết mới nhất
CÔNG NGHỊ HỒNG Y BÀN VỀ THẾ GIỚI, THÔNG ĐIỆP VÀ THƯỢNG HỘI ĐỒNG
12/06/2026
GIỚI THIỆU SỔ TAY HÀNH HƯƠNG “CON ĐƯỜNG TRÁI TIM - HÀNH HƯƠNG VÀO TRÁI TIM SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG”
12/06/2026
ĐỜI SỐNG MỚI TRONG CHÚA KITÔ - SỨ ĐIỆP THIÊNG LIÊNG CỦA THƯ RÔMA
12/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.