Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • uncategorized
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Giáo dục

Home / Giáo dục
18Tháng Tám
2020

Làm gì khi tình yêu tan vỡ?

18/08/2020
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Làm gì khi tình yêu tan vỡ?

Nếu được hỏi “cái gì là tuyệt vời nhất trên đời này”, có lẽ ta sẽ trả lời rằng đó là “tình yêu”. Tình yêu là một huyền nhiệm vô cùng cao sâu đến chẳng ai có thể giải thích được ngọn nguồn về nó. Có người còn cho rằng tình yêu không phải là cái được đem ra để phân tích, nhưng chỉ nên được cảm nghiệm mà thôi.

Khi đã yêu, lý trí nhường chỗ cho trái tim vì lý lẽ của lý trí không thắng được lý lẽ của con tim vào thời điểm ấy. Một tình yêu chân thật thì có đủ sức làm biến đổi một con người, có thể làm người ấy từ xấu thành đẹp, từ hung dữ nên hiền lành, từ yếu đuối nên mạnh mẽ. Tình yêu chính là chiếc cầu đưa người ta từ trái đất lên thiên cung, là ngọn đèn xóa tan cái màn đêm cô đơn buồn tủi, là nắng ấm dọi vào những giá lạnh thê lương. Chẳng có loài nào không thích mình được yêu. Chẳng có ai không muốn cho tình yêu của mình được trọn vẹn. Nhưng, lỡ như tình yêu ấy không thành, thì sao?

Ta gọi đó là “con tim tan vỡ”. Có một nỗi đau nào đấy cứ nhói nhói ở lồng ngực, nơi con tim nhỏ bé của ta cư ngụ. Ta nghe như có mũi tên xuyên qua, làm con tim ấy muốn vỡ ra nhiều mảnh. Một nỗi đau làm ảnh hưởng đến có toàn bộ con người. Một khi con tim bị một tình yêu không thành làm tổn thương, mọi thứ trong cuộc sống như đảo lộn. Ta chẳng có đủ sự tỉnh táo để làm việc, chẳng có chẳng có tâm trí để học tập hay nghỉ ngơi, chẳng có, hay thậm chí chẳng còn thấy ý nghĩa của cuộc sống. Có vẻ như động cơ để người ta sống là kiếm tìm một tình yêu, nên khi tình yêu không còn nữa, người ta cũng muốn mình chết đi, tiêu tan đi, không còn hiện diện nữa. Cánh hoa không còn đẹp nữa, khung trời xanh cũng trở nên u ám sầu buồn, thức ăn ngon cũng trở nên nhạt nhẽo vô vị, giọt cà phê hay khói thuốc lá chất chứa đầy những mối tâm tư. Thất bại trong tình yêu, chia cắt trong tình yêu, đích thực để lại trong ta một nỗi mất mát và trống trơn đau đớn khôn cùng. Vào giây phút này, điều duy nhất mà ta cảm thấy chỉ là một nỗi buồn. Nhưng liệu đó có là cái kết cho cuộc sống của ta?

Khi yêu, ta luôn mong tình yêu của mình được đi đến sự trọn vẹn. Nhưng mong ước là một chuyện, thực tế có đáp ứng mong ước ấy của ta hay không lại là chuyện khác. Tự cổ chí kim, đã có không ít những mối tình đẹp như mơ, vậy mà có được cái kết tốt đẹp đâu! Người ta đổ lỗi cho ông Trời đã nhẫn tâm chia cắt đôi lứa, trách ông đã tạo nên những nghịch cảnh khiến hai người không thể mãi chung đôi, đã nỡ cắt đi sợi chỉ uyên ương đang từ từ kết nối. Ông Trời vẫn cứ im lặng, không nói gì, để mặc cho người ta tha hồ oán hờn trách móc. Biết đâu tình yêu của ta là một tình yêu lệch đường, đi vào vùng cấm nào đó. Biết đâu tình yêu của ta không được xã hội chấp nhận. Biết đâu tình yêu của ta đi ngược lại với thuần phong mỹ tục… Tình yêu thì không có lỗi. Yêu một người thì không phải là tội, vì yêu là cứ yêu thôi, đâu ai có thể bắt mình yêu hay không yêu một người nào đó được. Yêu là tiếng nói của con tim, chứ không phải của lý trí. Thế nhưng, con người chúng ta không phải là hòn đảo đơn độc giữa đại dương nhân thế này. Ta có mối tương quan chằng chịt với những con người khác. Nếu tình yêu của chúng ta không đi vào con đường chung, ta không còn cách nào khác, ngoài việc chịu đau, cắt đứt đi tình yêu ấy. Thà có một cái kết đau, còn hơn là đau hoài mà không bao giờ kết.

Nếu ta phải chia ly vì hai người chọn hai con đường khác nhau thì việc ta nhớ đến lý do mình chia tay sẽ là một trợ lực rất nhiều giúp ta vượt qua được nỗi đau này. Chia tay là cách tốt nhất để hai người giải thoát cho nhau. Chia tay để trả lại cho mỗi người vùng trời riêng của mình. Chia tay vì hướng đến điều tốt đẹp của cả hai. Nỗi đau sẽ từ từ được hàn gắn nhờ niềm hy vọng vào một tương lai tốt đẹp sẽ dành cho cả hai.

Nếu hai người vẫn còn yêu nhau tha thiết, không thể sống cuộc sống này mà thiếu nhau và tình yêu ấy chẳng gặp ngăn trở gì nhưng chỉ vì những giận hờn, trách cứ vu vơ mà “trái tim tan vỡ” thì hãy chữa lành nó bằng cách chạy thật nhanh đến bên người mình yêu, nói thật nhiều lời ngọt ngào, ôm người ấy thật chặt và quyết tâm giữ người ấy đến cùng. Tình yêu cũng hệt như chiếc bình pha lê. Đẹp đấy, nhưng dễ vỡ vô cùng. Nó cần được nâng niu và chiều chuộng, cần được trân quý và yêu thương. Khi đã yêu, hãy gạt bỏ hết cái tôi, hãy luôn tỏ ra mình có lý. Một chút mềm và một chút nhẹ mới giúp giữ trọn vẹn tình yêu.

Nói chuyện lý lẽ với một người đang thất tình dường như là một điều vô ích. Khi ta thất tình, chung quanh họ chỉ còn một nỗi u buồn mà thôi. Tuy nhiên, dù nỗi đau có thể làm chúng ta suy sụp, nó không thể và không nên là cái cắt đứt hết mọi nguồn lực và lý tưởng của ta. Nếu Trời đã không muốn tình yêu của ta nên trọn là vì Ngài muốn dành cho ta một tình yêu khác trọn vẹn hơn. Nếu Trời muốn chúng ta chia ly, chắc là vì Ngài muốn dẫn chúng ta đến một cuộc hội ngộ khác sâu sắc hơn. Hãy cố gắng vượt qua nỗi buồn phiền vì còn có biết bao người đang cần đến ta, và bao nhiêu việc khác đang chờ ta hoàn tất. Tình yêu nam nữ đâu phải là cái duy nhất ta có trên đời. Ta còn có cha mẹ, anh chị em, bạn bè với bao nhiêu tình thương và trách nhiệm khác. Nếu vì chuyện tình yêu của riêng mình mà ta lãnh quên bổn phận với họ, ta thật là người ích kỷ. Nếu chỉ vì một tình yêu không có đoạn kết mà ta cứ buồn phiền, thất vọng, lơ là đạo nghĩa và đánh mất tương lai, ta thật là con người yếu đuối và vô dụng quá chừng.

Để không phải dẫn đến một cái kết đau, có đôi khi ta cần phải tỉnh thức và cảnh giác thật nhiều trước khi đi sâu vào một tương quan nào đấy. Đừng để cảm xúc và những thú vui mau qua che mờ đôi mắt. Đừng để cái tôi cao ngạo làm hại bản thân. Hãy biết làm chủ mình trước những lời mời mọc và ngọt ngào của cám dỗ. Nếu nhận thấy mình và người ấy không có một tương lai tốt đẹp, đừng dấn thân vào quá sâu, để rồi tự mình làm hại mình, tự mình chuốc họa vào thân.

Khi tình yêu tan vỡ, đó là khi con tim của ta tan vỡ, khi mà mọi kỳ vọng và ảo tưởng của ta không còn. Nhưng đó cũng là lúc ta học cách đứng lên, dùng nghị lực để chữa lành con tim mình. Và cùng với một niềm hy vọng vào tương lai, ta tập đứng lên để làm lại cuộc đời, đi tìm một tình yêu mới mà Tạo Hóa dành sẵn cho ta.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Read More
17Tháng Tám
2020

Nghệ thuật giáo dục con cái

17/08/2020
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Giáo dục là nghệ thuật dẫn đưa và thúc đẩy tiềm năng của cá nhân. Người làm công tác giáo dục tương tự công việc của một người hộ sinh, nghĩa là giúp trẻ sinh ra và có cuộc sống tự lập. Vì là một nghệ thuật, thế nên giáo dục không giống kiểu công thức có sẵn như mì ăn liền và có giá trị cho mọi trường hợp được.

Trách nhiệm của cha mẹ trong việc giáo dục con cái là hướng dẫn từng bước để chúng sống tự lập. Cha mẹ không chỉ dạy dỗ, hướng dẫn, đồng hành với con cái, mà còn phải giúp chúng biết chịu trách nhiệm về những nhu cầu cá nhân và biết tự giáo dục.

  1. Vai trò của các mô hình giáo dục tính tự lập

Cách thức giáo dục con cái –có thể tạo thuận lợi hoặc cản trở sự tự lập – sẽ đưa đến những kết quả khác nhau trong tiến trình phát triển và hạnh phúc của chúng.

Có rất nhiều cách để mô tả hành vi của cha mẹ đối với con cái. Ở đây chúng ta nói đến hai khía cạnh quan trọng trong cách hành xử của cha mẹ:

– Những đòi hỏi của cha mẹ (demandingness): đó là những điều mà cha mẹ yêu cầu con cái phải cư xử đúng mực và sống có trách nhiệm tương ứng với lứa tuổi của chúng, những quy tắc chính đáng phải tuân thủ trong đời sống hằng ngày về các sinh hoạt, giờ giấc, ăn uống, ngủ nghỉ, học tập, sống đạo.

– Những đáp ứng của cha mẹ (responsiveness): đó là những hỗ trợ, nâng đỡ về mặt tinh thần lẫn vật chất của cha mẹ trước những đòi hỏi chính đáng của con cái.

Từ hai khía cạnh trên trong cách giáo dục của cha mẹ, chúng ta có bốn mô hình giáo dục sau:

  1. Uy tín: cả hai khía cạnh đều ở mức cao

Cha mẹ có uy tín vừa đầy tình thương nhưng cũng rất cương nghị. Họ xác định những chuẩn mực tương xứng với lứa tuổi của con cái và buộc chúng phải nghiêm túc tuân thủ. Họ giúp con cái phát triển sự tự lập và tự quyết nhưng họ vẫn đảm đương trách nhiệm cuối cùng về hành vi của con cái. Cha mẹ cùng giải quyết với con cái những khó khăn, trao đổi và giải thích cho chúng những vấn đề liên quan đến kỷ luật. Cha mẹ thiết lập những kỷ cương cần tuân thủ, nhưng không phải là những luật lệ cứng ngắc, mà phải uyển chuyển và hướng đến việc thảo luận, đối thoại cách cởi mở và chân thành. Ngoài ra, các quy tắc phải được giải thích và thực thi trong bầu không khí của sự gắn kết, yêu thương và công bằng. Tình thân gia đình, sự nâng đỡ, khích lệ về tinh thần lẫn việc chu cấp những đòi hỏi thiết yếu và chính đáng của con cái sẽ giúp chúng biết tự chủ và sống có trách nhiệm.

  1. Độc đoán: cha mẹ đòi hỏi con cái nhiều (khía cạnh thứ nhất ở mức cao), nhưng lại không quan tâm và đáp ứng đúng mức những nhu cầu chính đáng của chúng (khía cạnh thứ hai ở mức thấp).

Cha mẹ độc đoán thường chỉ đưa ra mệnh lệnh và kỷ luật phải tuân thủ. Họ không thích trao đổi, thảo luận bởi vì họ cho rằng con cái cần chấp nhận vô điều kiện các chuẩn mực bất biến của họ. Những bậc cha mẹ theo phương cách giáo dục này không khuyến khích mà lại giới hạn tính tự lập của con cái. Trong các gia đình độc tài, nơi mà các quy tắc được thực thi một cách cứng nhắc, và rất hiếm khi có sự giải thích hay điều chỉnh, dễ xảy ra những khó khăn, nhất là trong giai đoạn con cái đến tuổi vị thành niên. Cha mẹ độc đoán nghĩ rằng việc con cái không lệ thuộc vào họ là dấu hiệu sự nổi loạn và thiếu tôn trọng người lớn, và họ sẽ tìm cách ngăn cản tính độc lập của chúng. Thay vì khuyến khích sự tự lập, cha mẹ độc tài vô tình có thể giữ sự phụ thuộc của con, không cho phép chúng học cách tự đưa ra quyết định và chịu trách nhiệm về việc mình làm. Trong trường hợp con cái ở ngoài tầm kiểm soát của cha mẹ kèm với việc thiếu tình thương của cha mẹ, trẻ ở tuổi vị thành niên có thể công khai nổi loạn chống lại cha mẹ hòng khẳng định sự độc lập của mình. Tuy nhiên, trong những trường hợp này, các cuộc nổi loạn không phải là dấu hiệu của sự độc lập thực sự về mặt tình cảm, mà chỉ là một cuộc dấu chỉ cho thấy sự thất vọng của tuổi vị thành niên trước sự cứng nhắc quá mức và thiếu hiểu biết của cha mẹ.

  1. Nhu nhược và nuông chiều: ngược với mô hình thứ hai, nghĩa là cha mẹ ít đưa ra những đòi hỏi (khía cạnh thứ nhất ở mức thấp), nhưng bày tỏ tình thương và sự nuông chiều thái quá (khía cạnh thứ hai ở mức cao)

Cha mẹ theo mô hình này biểu lộ sự nhân nhượng và thụ động đối với vấn đề kỷ luật. Họ chỉ đòi hỏi con cái vài thứ lặt vặt và cho chúng tự do hành động như chúng muốn. Họ nghĩ rằng sự kiểm soát là một trở ngại cho việc tự do hành động, và như thế sẽ cản trở sự phát triển lành mạnh của con cái nói chung. Thay vì lưu tâm đến hành vi của con cái, họ lại xem mình như nguồn tài nguyên mà con cái có thể khai thác tùy thích.

  1. Dửng dưng: cả hai khía cạnh đều ở mức thấp

Cha mẹ thờ ơ với bổn phận nhằm giảm bớt thời gian và công sức cho những tương tác với con cái; trong những trường hợp cực đoan, họ bỏ bê chúng. Cha mẹ biết rất ít về đời sống và các hoạt động của con mình, ít quan tâm đến những trải nghiệm của chúng ở trường và với bạn bè, ít khi nói chuyện với chúng và hiếm khi để tâm đến các quan điểm của chúng khi chúng phải quyết định điều gì đó. Những bậc cha mẹ theo mô hình này thường quy hướng mọi sự về mình, và tổ chức gia đình trước hết chỉ cho nhu cầu và lợi ích bản thân.

Trong những gia đình theo mô hình thứ ba và thứ tư nảy sinh những vấn đề khác biệt so với các gia đình độc tài (mô hình thứ hai). Mô hình ba và bốn cho thấy cha mẹ không hướng dẫn đúng mức con cái khiến chúng không có được những chuẩn mực cho hành vi.

Bốn mô hình giáo dục nêu trên đưa đến các kết quả khác nhau về sự phát triển tâm lý của trẻ. Con cái có bố mẹ theo mô hình uy tín dễ thích ứng về mặt tâm lý xã hội, sống có trách nhiệm, tự tin, thích nghi, sáng tạo, ham thích học hỏi, có kỹ năng xã hội tốt hơn và thành công hơn ở trường học so với các bạn đồng trang lứa mà được giáo dục theo các mô hình khác. Ngoài ra các trẻ này thường cảm thấy hạnh phúc, có đời sống tâm lý ổn định, và chúng cảm thấy hài lòng với những mối quan hệ trong gia đình.

Trẻ có cha mẹ độc đoán thường sống phụ thuộc, thụ động, ít thích ứng về mặt xã hội, kém tự tin và ít ham thích học hỏi.

Còn các em có bố mẹ nuông chiều thì kém trưởng thành, sống thiếu trách nhiệm, thích sống tuân thủ hơn là giữ các vị trí lãnh đạo.

Con cái của cha mẹ dửng dưng thường bốc đồng và nhiều khả năng sau này chúng sẽ tham gia vào các hành vi nguy cơ (tình dục bừa bãi, rượu chè, ma túy, phạm pháp).

  1. Tại sao mô hình uy tín có tính ưu việt?

Trước hết, mô hình này mang lại cho trẻ một sự cân bằng tối ưu giữa kiểm soát và được phép, mang lại cho chúng tính độc lập, cung cấp cho chúng cơ hội để phát triển khả năng tự quyết và đồng thời cung cấp các tiêu chuẩn, giới hạn rạch ròi và những hướng dẫn khi chúng cần đến. Chúng có được sự tự lập theo kiểu tiệm tiến, và điều này giúp chúng tự tin và tự quyết. Mô hình này cũng thúc đẩy sự phát triển các kỹ năng và tăng cường khả năng đề kháng những ảnh hưởng tiêu cực, bao gồm những căng thẳng và những ảnh hưởng xấu của bạn bè.

Kế đến, các bậc cha mẹ theo mô hình này đối thoại nhiều với con cái, thế nên chúng phát triển tốt về mặt trí tuệ là cơ sở của sự trưởng thành về tâm lý xã hội. Các cuộc thảo luận trong gia đình, việc giải thích các quyết định, quy tắc và kỳ vọng từ phía người lớn giúp trẻ hiểu được hệ thống xã hội và quan hệ xã hội.

Thứ ba, vì mô hình uy tín dựa trên mối quan hệ yêu thương, cho nên con cái sẽ gắn bó với cha mẹ và lưu tâm đến những bận tâm của cha mẹ. Điều này tạo điều kiện cho những ảnh hưởng tốt của cha mẹ trên con cái về những giá trị cũng như cách ứng xử.

Cha mẹ uy tín có trách nhiệm đối với con cái, biết cách hướng dẫn và đồng hành với chúng. Họ rất nhạy cảm với nhu cầu của con cái, nhưng họ cũng tính đến khả năng của họ trong việc giải quyết những nhu cầu chính đáng của con cái. Họ khuyến khích con cái trao đổi về những đòi hỏi của chúng. Họ thảo luận với chúng về những lối hành xử trong những tình huống khác nhau. Họ cũng đánh giá cao và khuyến khích sự phát triển của một ý chí tự chủ của con cái, đưa ra những quy tắc về trách nhiệm tương xứng với từng lứa tuổi, và hướng chúng đến việc tự rèn luyện kỷ luật bản thân.

Tóm lại, trong lãnh vực giáo dục nói chung, mô hình uy tín thích hợp hơn các mô hình khác. Mô hình này giúp con cái và người thụ huấn nói chung phát triển tư duy phê phán, sự tự tin, tự chủ, và cảm thấy hạnh phúc. Mô hình này cho phép người ta có được cách hành xử trưởng thành và đúng mực trong những tình huống khác nhau của cuộc sống.

Lm. Giuse Đặng Chí Lĩnh

SÁCH THAM KHẢO

CICOGNANI E. – B. ZANI, Genitori e adolescenti, Roma, Carocci, 2003.

MAIOLO G., L’occhio del genitore. L’attenzione ai bisogni psicologici dei figli, Trento, Erickson, 2000.

MAIOLO G., Adolescenze spinose. Come comunicare senza fare (e farsi) del male, Trento, Erickson, 2002.

PALMONARI A., Gli adolescenti, Bologna, il Mulino, 2001.

RENAUD H. – J. P. GAGNÉ, Essere genitore. Avviamento alla professione, Milano, San Paolo, 2003.

Read More
17Tháng Tám
2020

Một chia sẻ về đồng hành thiêng liêng với giới trẻ

17/08/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0
  1. TRÊN ĐƯỜNG VỀ EMMAUS (Lc 24,13-35)

Con đường từ Giêrusalem về Emmaus dài khoảng 11 cây số. Hai môn đệ của Chúa Giêsu đang trên đường về nhà của họ. Vì cái chết đau đớn và nhục nhã của Thầy trên thập giá, họ mất niềm tin, mất hy vọng, trái tim họ trở nên nguội lạnh. Qua trình thuật của Luca, chúng ta có thể học nơi Đức Giêsu cách đến với tha nhân, đồng hành với họ, để loan báo Tin Mừng cho họ.

  1. Chúa Giêsu đến đúng lúc và trở thành bạn đồng hành (c. 15)

Ngài đến đúng lúc, không sớm hơn, không muộn hơn. Đến đúng lúc họ đang bỏ cuộc, quay quắt, ray rứt về chuyện đã qua. Đến đúng lúc là điều quan trọng, vì sớm quá thì chưa chín, muộn quá thì chuyện đã hỏng. Ngài “tiến đến gần và cùng đi với họ.” Để nâng đỡ một người, cần khiêm tốn đi chung với họ, trở nên bạn của họ. Đến gần và đi chung để gây thiện cảm, để không làm họ sợ. Để đồng hành, cần điều chỉnh tốc độ: đi nhanh với người đi nhanh, đi chậm với người đi chậm.

  1. Chúa Giêsu gợi chuyện (cc. 17-19)

Ngài không cắt đứt, nhưng muốn tham dự vào câu chuyện dở dang của hai người: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” Đức Giêsu giả vờ không biết khi Ngài hỏi: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” (c. 17). Ngài là người đi bước trước, mở lời trước. Nỗi buồn có thể làm người ta khép lại, vậy đừng chờ họ đến với mình. Đức Giêsu nhận được một câu trả lời lạnh nhạt, có chút mỉa mai: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” Nhưng Ngài không vội nản lòng, và khiêm tốn tiếp tục gợi chuyện: “Chuyện gì vậy?” (c.19). Ngài làm như không biết để hai ông có cơ hội bày tỏ nỗi đau của mình.

  1. Chúa Giêsu lắng nghe (cc. 19-24)

Ngài lắng nghe nỗi đau của hai ông. Thầy Giêsu của họ là một ngôn sứ đầy uy quyền của Thiên Chúa, vậy mà Thầy lại bị đóng đinh như một người bị Thiên Chúa nguyền rủa. Đây là điều các ông không thể nào hiểu nổi, khiến các ông rơi vào thất vọng: “Trước đây chúng tôi vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng cứu chuộc Ítraen”(c. 21). Hai ông còn kể chuyện các phụ nữ trong nhóm của họ ra thăm mộ. Nhưng xem ra họ không tin vào những điều các bà này nói (cc. 22- 23). Mất hy vọng vào Thiên Chúa, mất niềm tin vào con người. Hai môn đệ đã bày tỏ nỗi lòng cho một người ngoài cuộc, một người lạ tình cờ gặp trên đường.

Thầy Giêsu không ngắt lời họ. Ngài thinh lặng lắng nghe để họ cởi mở nói cho hết. Cởi mở là bước cần thiết để họ lấy lại niềm tin và hy vọng.

  1. Chúa Giêsu giải thích, soi sáng bằng Kinh Thánh (cc. 25-27)

Sau khi đã lắng nghe, “bấy giờ” Đức Giêsu mới vén mở cho hai ông thấy ý nghĩa của mầu nhiệm đau khổ mà Thầy các ông phải chịu. Nhờ lắng nghe hai ông tâm sự, Đức Giêsu biết được đâu là mấu chốt của vấn đề, đâu là nút thắt cần phải gỡ. Và Ngài đã trả lời vào chính vấn đề hiện nay của họ. Họ bị sốc trước cuộc Thương Khó của Thầy mình, nên Ngài cho họ thấy đau khổ là nhịp cầu Đức Kitô phải đi qua để vào vinh quang (c. 28). Đây không phải là một tai họa do con người hay do Thiên Chúa chúc dữ. Đức Giêsu đã dùng Kinh Thánh để giúp các ông hiểu rằng con đường Thầy các ông đi nằm trong chương trình của Thiên Chúa. Sau này, các ông nhớ lại giây phút ấy: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và cắt nghĩa Kinh Thánh cho chúng ta, trái tim chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (c. 32). Như thế, Đức Giêsu chẳng những soi sáng cho trí tuệ để hiểu, Ngài còn làm ấm lại trái tim đã ra nguội lạnh của hai người. Tình yêu đã trở lại.

  1. Chúa Giêsu đồng bàn với hai môn đệ (cc. 28-31)

Đức Giêsu giả vờ muốn đi xa hơn để họ có tự do mời Ngài. Thật vậy, họ đã bắt đầu thấy thích người khách lạ này nên nài ép Ngài ở lại với họ, và mời Ngài dùng bữa. Chính lúc Ngài bẻ bánh, thì mắt họ nhận ra Ngài. Kinh nghiệm của hai môn đệ Emmaus cũng là kinh nghiệm của chúng ta. Lúc ta tưởng Ngài vắng mặt, thì thật ra Ngài đang ở bên. Lúc ta nhận ra Ngài ở bên, thì Ngài lại biến mất. Nhưng chính lúc Ngài biến mất, ta lại thấy Ngài ở gần bên. Ngài đến lúc ta không ngờ. Ngài đi mà ta không giữ lại được. Ngài ở lại với ta, ngay cả khi ta không thấy Ngài nữa. Cuối cùng, hai môn đệ đã lấy lại được niềm tin, yêu, và hy vọng đã mất.

Khi suy niệm đoạn Tin Mừng nổi tiếng trên đây, chúng ta đã thấy đôi nét của công việc Đồng Hành Thiêng Liêng, đặc biệt với giới trẻ. Chúa Giêsu phục sinh đã đồng hành, cùng đi với hai môn đệ theo nghĩa đen, trên con đường từ Giêrusalem về Emmaus. Đây đúng là một đồng hành thiêng liêng, vì vấn đề được trao đổi có tính thiêng liêng. Hầu chắc hai môn đệ cũng là người trẻ. Chúa Giêsu là mẫu mực cho những nhà đồng hành. Các vị đồng hành có thể học tập được nhiều điều nơi Ngài. Tập đến với tha nhân và cùng đi với họ như một người bạn, tập gợi chuyện cho họ nói, tập lắng nghe, tập soi sáng vấn đề bằng Lời Chúa, và cùng chia sẻ bữa ăn với họ.

Hôm nay vẫn có nhiều bạn trẻ đang lê gót về Emmaus. Họ đang buồn và đang cần những người đồng hành.

  1. ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG LÀ GÌ?

Đồng hành thiêng liêng (spiritual accompaniment) là một lối nói mới thay cho lối nói được dùng trước đây: linh hướng (spiritual direction). Lối nói mới này cũng phản ánh một cái nhìn mới. Khi nói đến linh hướng, người ta dễ nghĩ đến chuyện một vị linh hướng hướng dẫn một người thụ hướng trong đàng thiêng liêng. Khi linh hướng, vị linh hướng thường được coi là người “thay mặt Thiên Chúa dẫn dắt một tập thể hay cá nhân ngang qua sự chỉ đạo một chiều, mà ít để ý đến tác động của Thánh Thần nơi tâm hồn người thụ hướng hay khả năng của người ấy trực tiếp mở ra với Thánh Thần”[1] Còn trong đồng hành thiêng liêng, vị đồng hành cũng giúp đỡ một người khác, nhưng là giúp người đó nhận ra hoạt động của Thiên Chúa trong đời người ấy. Như thế có thể nói, vai trò của vị đồng hành thu hẹp hơn vì có nhân vật thứ ba hiện diện, đó là Chúa Thánh Thần. Đây mới là nhân vật chính. Đây mới là “Thầy dạy đích thực và tối thượng” mà cả vị đồng hành lẫn người được đồng hành đều phải lắng nghe và vâng phục trên con đường cùng nhau tìm kiếm Ý Thiên Chúa[2]. Đời con người là một cuộc hành trình dài, Thiên Chúa vẫn ngỏ lời với từng người cách riêng tư kín đáo trong mọi thời điểm và biến cố. Người đồng hành giúp tôi nhận ra và đáp lại tiếng Chúa nói riêng với lòng tôi, cũng như giúp tôi thực thi những đòi hỏi của Chúa.

III. HÌNH ẢNH CỦA NGƯỜI ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG

Trong Tông huấn Niềm Vui của Tin Mừng (2013), Đức Thánh Cha Phanxicô viết về đồng hành như sau: “Trong thế giới chúng ta, các mục tử có chức thánh và các nhà hoạt động mục vụ khác có thể làm cho hương thơm của một Đức Kitô gần gũi và cái nhìn thân mật của Ngài trở nên hiện thực. Hội Thánh sẽ phải khai tâm mọi người – linh mục, tu sĩ và giáo dân – trong “nghệ thuật đồng hành” này. Nó dạy chúng ta biết cởi dép khi đứng trên nền đất thánh thiêng của người khác” (169).

Như thế theo Đức Thánh Cha, vị đồng hành thiêng liêng là những mục tử có chức thánh và những người làm công tác mục vụ, các tu sĩ và giáo dân. Theo ngài, nét đầu tiên và quan trọng của vị đồng hành thiêng liêng là sự gần gũi của người đó với Đức Kitô. Vì nếu không gần gũi với Đức Kitô thì vị đồng hành cũng không thể làm người khác gần gũi với Đức Kitô được. Vị ấy phải gần đến mức hương thơm của Đức Kitô thấm vào mình và hồn nhiên tỏa hương thơm ấy đến nỗi người được đồng hành cũng cảm được. Vị đồng hành phải có kinh nghiệm bắt gặp được cái nhìn thân mật của Đức Kitô trong cầu nguyện, rồi được ghi dấu sâu đậm và được biến đổi bởi cái nhìn ấy, để rồi qua cái nhìn của vị đồng hành, người khác bắt gặp được cái nhìn thân mật của chính Đức Kitô.

Tuy nhiên, có một đời sống thân thiết và thiết thân với Đức Kitô cũng chưa đủ. Đức Thánh Cha còn coi đồng hành là một nghệ thuật cần được trau dồi, tập luyện, “nghệ thuật đồng hành.” Vị đồng hành cần có hiểu biết về tâm lý đầy đủ để nắm được tiến trình phát triển và trưởng thành của người trẻ. Lắm khi vị đồng hành cũng phải nhìn nhận giới hạn của mình trước một trường hợp khá nghiêm trọng, để giới thiệu người bạn trẻ đó cho một vị khác có chuyên môn hơn về tâm lý trị liệu. Ngay cả vị đồng hành cũng cần được đồng hành và được linh hướng. Vị đồng hành nào mà không ý thức được Thánh Thần đang làm việc trong đời mình, thì cũng chẳng có khả năng giúp các bạn trẻ nhận ra hoạt động của Thánh Thần trong đời họ. “Không phải cứ linh mục hay tu sĩ là có thể đồng hành hay linh hướng một cách phù hợp được. Ai muốn làm đồng hành hay linh hướng, cần được huấn luyện chuyên nghiệp và đào luyện liên tục.”[3] Vị đồng hành cần biết mình, biết khả năng và giới hạn của mình, nhờ đó dễ giúp bạn trẻ tiến bước trên hành trình đức tin của họ.

  1. ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG KHI NÀO?

Khi nghĩ đến linh hướng, người ta thường nghĩ đến chuyện vị linh hướng ngồi với người thụ hướng, trong một chiếc phòng ấm cúng, đôi khi có một ngọn nến cháy lung linh trên bàn. Đồng hành thiêng liêng với người trẻ không nhất thiết phải theo hình thức đó. Đức Giêsu đã đồng hành trong thực tế với hai môn đệ Emmaus, khi đi chung với họ mấy cây số. Thánh Luca nhấn mạnh chuyện Ngài gặp họ “dọc đường” (Lc 24,32.35). Trong hình thức đơn sơ nhất, đồng hành có thể diễn ra bất cứ nơi nào, lúc nào thuận tiện, khi nào có cuộc gặp gỡ bề sâu giữa vị đồng hành và người bạn trẻ. Có khi chỉ qua ít phút trao đổi cũng đủ làm cho vấn đề được soi sáng. Dĩ nhiên một cuộc gặp gỡ có thể kéo dài lâu giờ, và đôi khi cần có nhiều lần gặp gỡ mới mong thấy được ý Chúa. Thường cuộc gặp gỡ diễn ra giữa hai người, vị đồng hành và người bạn trẻ. Nhưng cũng có khi vị đồng hành phải giúp đỡ cho cả một nhóm, có cùng mối quan tâm thiêng liêng, có cùng mục tiêu phụng sự Chúa và Giáo Hội. Đồng hành cho một nhóm bạn trẻ là giúp nhóm ấy có tương quan thân thiết với Chúa Giêsu, trưởng thành trong ba nhân đức tin cậy mến, và trở nên những người có khả năng làm chứng cho Chúa trong môi trường mình đang sống.

  1. LẮNG NGHE TRONG ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG

Như ta thấy trong trình thuật Emmaus, trước khi Đức Giêsu gỡ rối cho hai môn đệ, Ngài đã chăm chú lắng nghe họ, không ngắt lời. Lắng nghe là phần không thể thiếu trong đồng hành thiêng liêng.

Đức Thánh Cha đã trình bày về lắng nghe như sau: “Chúng ta cần phát triển nghệ thuật lắng nghe, chứ không chỉ là nghe suông. Khi giao tiếp, lắng nghe là mở lòng để có được sự gần gũi mà thiếu nó thì không thể có sự gặp gỡ thiêng liêng. Lắng nghe giúp chúng ta tìm ra cử chỉ và lời nói thích hợp để chứng tỏ chúng ta không chỉ là những khách qua đường. Chỉ khi có thái độ lắng nghe với lòng tôn trọng và cảm thông, chúng ta mới có thể bước vào con đường tăng trưởng đích thực và đánh thức một khát vọng về lý tưởng Kitô giáo: ước muốn đáp lại trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa và làm cho những gì Ngài đã gieo trong cuộc đời chúng ta sinh hoa kết quả.” (Niềm Vui Tin Mừng, 171). Như thế Đức Thánh Cha đã coi lắng nghe là một nghệ thuật. Để nắm được nghệ thuật này, ngài đòi vị đồng hành phải mở lòng, chứ không chỉ mở tai. Mở lòng để có thể nghe được những điều mà tai không nghe được, những điều nằm phía sau hay phía dưới điều người kia nói. Ngài còn cho thấy hai thái độ cần có khi lắng nghe, đó là lòng tôn trọng và cảm thông. Tôn trọng vì biết những gì mình đang nghe là những điều thánh thiêng, thấy Thiên Chúa đang chạm vào chỗ sâu thẳm của lòng người, chờ mong người ấy mở ra và đáp lại. Đức Thánh Cha đã diễn tả thái độ tôn trọng như sau: “chúng ta cần biết cởi dép khi đứng trên nền đất thánh thiêng của người khác” (Niềm Vui Tin Mừng 169). Thông cảm vì biết con người có những giới hạn về nhiều mặt, mỗi người có những giới hạn riêng, nên không vội vã xét đoán hay kết án. Vì hoàn cảnh mỗi người mỗi khác, vị đồng hành phải đặt mình vào trong hoàn cảnh của người đối diện, để thực sự hiểu hết được câu chuyện đời người ấy. Bây giờ người ta dùng lối nói “lắng nghe thấu cảm” (empathetic listening) để diễn tả lối lắng nghe này.

Có người chia ra ba loại lắng nghe.

  1. LOẠI LẮNG NGHE THỨ NHẤT là chú tâm vào những gì giới trẻ nói để tìm ra những vấn đề của họ, những nhu cầu của họ, những mối bận tâm của họ.Có những bạn trẻ mất đức tin vì không ai gỡ cho mình một khúc mắc đã có từ lâu. Đức tin vẫn cần sự ưng thuận của trí khôn nữa.

Lắng nghe là cách thức để khám phá những câu hỏi của người trẻ, mà chúng ta có thể trả lời với giáo huấn của Giáo Hội. Theo tôi, loại lắng nghe thứ nhất này không phải là không quan trọng, thậm chí đây là điều thường xảy ra. Nhiều người trẻ đến với vị đồng hành mà họ tin tưởng vì họ đang gặp vấn đề mà tự họ không giải quyết được. Có những vấn đề về đức tin, thí dụ về cách cầu nguyện, về bùa ngải, về một người bị quỷ ám, về làm sao biết được ý Chúa, đặc biệt trong việc chọn lựa ơn gọi. Có những vấn đề về luân lý, thí dụ như vấn đề quan hệ trước hôn nhân, thủ dâm, đồng tính… Cũng có cả những vấn đề có vẻ đời thường, thí dụ như chọn người bạn đời, chọn việc làm, giải quyết vấn đề trong gia đình… Người đồng hành được nghe những điều làm người trẻ nặng lòng. Có thể là một vấn đề rất khó giải quyết, những cũng có thể là một vấn đề quá đơn sơ và dễ dàng. Trong loại lắng nghe thứ nhất này, người bạn trẻ có vẻ thụ động để lắng nghe lời giải đáp từ người đồng hành. Họ sẽ sung sướng khi thấy vấn đề của mình được giải quyết ổn thỏa, nhận được ánh sáng để hiểu rõ hơn, hay thấy lương tâm thanh thản hơn trước chuyện đã qua. Cũng phải cho thấy giáo huấn của Chúa Giêsu hay của Giáo hội không phải là một áp đặt vô lý trên tự do con người, nhưng nhằm bảo vệ cho con người khỏi những trói buộc của tội lỗi.

Để có thể trả lời những vấn đề làm người trẻ bận tâm, những vấn đề thuộc đủ mọi lãnh vực, có tính thiêng liêng nhiều hay ít, vị đồng hành phải là người có kiến thức sâu rộng về nhiều mặt: về thần học, Kinh Thánh, về truyền thống linh đạo trong Giáo Hội, về tâm lý… Đức tin của bạn trẻ có thể bị rơi vào khủng hoảng chỉ vì không thấy Thiên Chúa là đấng toàn năng trước sự dữ đang xảy ra. Thiên Chúa cũng bị coi là Thiên Chúa vô cảm, không biết yêu thương, khi người trẻ hay gia đình của họ gặp nhiều thử thách quá sức chịu đựng. Như thế người đồng hành phải cho họ thấy khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa, một Thiên Chúa tôn trọng tự do con người, một Thiên Chúa chấp nhận cỏ lùng mọc chung với lúa tốt, một Thiên Chúa cho phép Xatan ảnh hưởng trên con người (SGLCG 760). Thập giá của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, là sự dữ lớn nhất mà Thiên Chúa cho phép xảy ra, để trao ban ơn cứu độ của Ngài qua cái chết thảm khốc của người Con Một. Nơi đây, tưởng như Thiên Chúa chịu thua lòng độc ác của loài người tội lỗi, tưởng như tử thần có khả năng nuốt chửng Đấng ban sự sống, Đấng là Sự Sống. Nơi đây tưởng như Thiên Chúa vắng mặt, thinh lặng hay khoanh tay. Nhưng chính qua thập giá Chúa Giêsu, Thiên Chúa cho thấy một Tình Yêu lớn lao (Ga 3,16), tình yêu mạnh hơn cái chết, khi cho Đức Giêsu được phục sinh. Mầu nhiệm thập giá giải quyết được nhiều khúc mắc trong đời sống đức tin của người trẻ. Hiểu biết về Kinh Thánh cũng cần cho vị đồng hành, vì thi thoảng có những câu lời Chúa đặt vấn đề cho bạn trẻ khiến họ bối rối. Vị đồng hành không cần phải có chuyên môn Kinh Thánh, nhưng phải có đủ khả năng để cho thấy câu lời Chúa đó nằm trong bối cảnh nào, được viết theo thể văn nào, nên thực sự nó mang ý nghĩa gì và phải áp dụng ra sao. Thí dụ như lời khuyên đưa má ra sau khi bị tát, hay phải yêu kẻ thù…

Hơn nữa, vị đồng hành còn phải thông thạo những vấn đề mà giới trẻ ngày nay đang đối diện, những điều làm họ say mê, và những điều bị họ coi là không hợp thời, những cám dỗ đang lôi kéo họ, và những lý do khiến họ rời xa Chúa và Giáo Hội. Những hiểu biết rành rẽ về người trẻ của vị đồng hành sẽ giúp cho cuộc đối thoại dễ dàng hơn. Không thể đồng hành với người trẻ nếu không biết khá rõ về vấn đề đồng tính, ngừa thai, phá thai, thủ dâm, phim sex, oral sex hay quan hệ trước hôn nhân; về hậu quả của chúng và về lý do tại sao Giáo Hội cấm đoán chúng.

  1. LOẠI LẮNG NGHE THỨ HAI là nghe xem người trẻ nghĩ gì về Giáo Hội để biết Giáo Hội phải thay đổi như thế nào.

Có những người trẻ muốn được đồng hành để giải quyết những vấn đề của mình, nhưng cũng có một số ít người trẻ thao thức về sứ mạng của Giáo Hội. Họ thấy Giáo Hội có những bất toàn hay bất cập, chậm chạp trong việc đối diện và giải quyết những vấn đề cấp bách. Họ biết Giáo Hội có những vị lãnh đạo bất xứng, những lạm dụng về tiền bạc hay thân xác, những chia rẽ và bè phái, những quan liêu trong cách phục vụ, những chạy đua về tiếng tăm, vật chất, hưởng thụ… Không nên coi những người này là thành phần nổi loạn, chống đối Giáo Hội. Trái lại, vị đồng hành có thể nhận ra họ là những người mang nặng mối ưu tư về Giáo hội và nóng lòng muốn đóng góp phần của mình. Chấp nhận đối thoại thẳng thắn và tích cực lắng nghe, vị đồng hành có thể tìm thấy một người trẻ tích cực cộng tác với mình trên con đường canh tân bộ mặt Giáo Hội hay giúp Giáo Hội ứng phó với một tình huống khó khăn chưa từng thấy. Khiêm tốn lắng nghe một bạn trẻ, dù ý kiến người đó còn non nớt, nông cạn hay phiến diện, vị đồng hành cho thấy thái độ của Giáo Hội: đón nhận đóng góp của bất cứ ai có thiện chí với lòng biết ơn. Tinh thần sáng tạo của người trẻ, nhất là người trẻ trí thức, sẽ giúp cho Giáo Hội giữ được vẻ tươi mới, hợp thời, và khiến Giáo Hội hấp dẫn những người trẻ khác.

  1. LOẠI LẮNG NGHE THỨ BAmà Thầy Alois, tu viện trưởng cộng đoàn Taizé ở Pháp đang thực hành, rất gần với điều chúng ta đã nói đến trên đây về đồng hành thiêng liêng.

Tu viện Taizé ở Burgundy nổi tiếng vì thu hút những người trẻ, kể cả những người không bao giờ đi nhà thờ. Thầy Alois giải thích rằng những người làm việc ở Taizé là những người biết lắng nghe người trẻ để khám phá ra nơi Thánh Linh đang hoạt động trong cuộc đời họ, ngay cả trong cuộc đời những người không coi mình là tín hữu. Công việc của những người lắng nghe này là không áp đặt ý tưởng của họ lên giới trẻ, mà là giúp các bạn trẻ thấy sự hiện diện của Thánh Thần trong cuộc đời họ. Thầy Alois xác tín rằng nếu Thiên Chúa là tình yêu, thì nơi nào có tình yêu và lòng trắc ẩn, nơi nào có khát khao công lý và sự hòa giải, thì Thiên Chúa hiện diện ở đó, ngay cả trong những người chưa được rửa tội. Alois tin rằng những người trẻ đã tràn đầy Thánh Thần rồi. Họ chỉ cần chúng ta giúp đỡ để nhận ra điều đó thôi.

Lối đồng hành trên đây của Taizé nhấn mạnh đến việc vị đồng hành không hướng dẫn người trẻ đi tìm ý Chúa ở ngoài cuộc đời của họ, nhưng hướng dẫn họ tìm ý Chúa trong cuộc đời của họ. Không quay ra, nhưng quay vào trong lòng mình. Điều này giả thiết là Thánh Thần đã hiện diện và hoạt động trong cuộc đời mỗi bạn trẻ, bất chấp họ là ai, họ có phải là kitô hữu không, hay có phải là kitô hữu ngoan đạo hay không. Đồng hành là giúp họ nhận ra sự hiện diện và hoạt động ấy, dù còn mờ nhạt và kín đáo. Khi người trẻ khám phá ra điều đó, họ sẽ ngỡ ngàng và reo vui, vì bấy lâu họ tưởng đời họ là mảnh đất bỏ hoang, cằn cỗi, không người canh tác. Họ ngây ngất khi vị đồng hành cho thấy Thánh Thần hay Thiên Chúa đã có mặt cả trong lúc họ cô độc hay tự cô lập mình, đã tế nhị nâng đỡ họ cả trong lúc họ tưởng mình phải một mình chèo chống. Giúp bạn trẻ nhìn lại đời mình, thấy đời mình dưới một ánh sáng mới, thấy Thánh Thần luôn đồng hành với mình: đó là việc của người đồng hành. Để làm được việc đó, vị đồng hành cần có nhiều kinh nghiệm thiêng liêng, có khi là kinh nghiệm của chính cuộc đời mình. Như Simôn và người môn đệ Chúa yêu ra thăm mộ, dù ngôi mộ tối tăm u ám, họ vẫn nhìn thấy tấm khăn che đầu được xếp gọn gàng và được để sang một bên. Chỉ cần một chi tiết nhỏ trong cuộc đời đầy vấp ngã của người bạn trẻ, cũng đủ làm sáng lên tất cả những gì tưởng như là đổ vỡ hoàn toàn. Vị đồng hành phải là người nhận ra cái biến cố tưởng như vô nghĩa đó, cái may mắn tình cờ đó, cái cố gắng nhỏ nhoi đó của tình yêu khi lòng đã muốn buông xuôi, đều nằm trong sự quan phòng của Thiên Chúa, từ đó giúp bạn trẻ thấy chẳng có gì phải thất vọng hay tuyệt vọng. Cơ hội để làm lại vẫn còn. Niềm tin không bị mất…

Nhà văn Antoine de Saint-Exupéry có viết: “Đừng đi trước tôi, tôi không đi theo đâu. Đừng đi sau tôi, tôi không dẫn đường đâu. Hãy đi bên tôi và là bạn của tôi.” Vị đồng hành thật là một người bạn, bạn đường của người bạn trẻ, dù vẫn là người thầy.

  1. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG

Nếu vị đồng hành chấp nhận dành thì giờ để đồng hành với bạn trẻ, và nếu người bạn trẻ cũng có ý muốn gặp gỡ vị đồng hành, hẳn cả hai đều hướng đến một mục tiêu nào đó. Dù cuộc gặp gỡ như thế nào đi nữa, mục tiêu vẫn là làm sao khám phá ra ý Chúa cho cuộc đời người bạn trẻ và giúp họ hạnh phúc sống theo ý Chúa. Mỗi bạn trẻ có một hoàn cảnh riêng, một ơn gọi riêng từ Thiên Chúa. Chỉ khi chọn đúng điều Chúa muốn, người đó mới được hạnh phúc thật sự. Nếu tôi phải đồng hành với một bạn trẻ đồng tính, làm sao tôi giúp bạn ấy đón nhận khuynh hướng tính dục của mình? Làm sao tôi giúp bạn ấy cắt đứt với những tương quan không phù hợp trước đây? Và hơn nữa, làm sao tôi cho thấy bạn ấy hoàn toàn có khả năng là một người Công giáo tốt lành, hạnh phúc và triển nở ngay khi bạn ấy vẫn là người đồng tính.

Vị đồng hành là người bạn đường có nhiệm vụ đi chung và giúp người bạn trẻ nhận ra những dấu hiệu cho thấy ý Chúa. Vị đồng hành không áp đặt ý của mình lên người bạn trẻ, nhưng tôn trọng những suy nghĩ và tình cảm của người bạn này. Như thế vị đồng hành cần có thái độ “bình tâm” (indifference) như lối nói của thánh I-nha-xi-ô trong Linh Thao. Bình tâm ở đây không phải là bình tĩnh hay lãnh đạm lạnh lùng, mà là thái độ khiêm tốn của người đang tìm kiếm chứ chưa tìm thấy. Chính vì thế bình tâm là tạm thời không nghiêng hơn về chọn lựa nào cả. Một trong những nguy hiểm của vị đồng hành là vội vã cho rằng mình đã thấy hướng đi cho người bạn trẻ rồi, không cần phải tìm kiếm thêm nữa. Như thế vị đồng hành quên rằng mình vẫn đang trong hành trình cùng tìm kiếm với người bạn trẻ này. Đồng hành là lắng nghe những chuyển động âm thầm của Thánh Linh đang tác động nơi tâm hồn người bạn trẻ. Có khi người đồng hành đành phải bỏ đi ý nghĩ của mình sau khi lắng nghe người trẻ, đơn giản là vì, qua cuộc trò chuyện, họ cảm nhận tác động của Thánh Linh lôi cuốn mãnh liệt một người trẻ bước theo con đường rất riêng tư, ít người đi.

Vị đồng hành và người bạn trẻ cùng nhau tìm ý Chúa. Người bạn trẻ kể cho vị đồng hành nghe những biến cố đã và đang xảy ra trong đời mình, cũng như những chuyển động nội tâm của mình, nói theo kiểu của Linh Thao là những “an ủi” hay “sầu khổ”. Vị đồng hành lắng nghe, cảm thông, và cùng với người bạn trẻ “phân định” xem đâu là tác động của Thiên Chúa hay Ác thần. Vị đồng hành phải là người có kinh nghiệm về phân định (discernment), thậm chí nhạy bén trong việc nhận ra cả chuyện quỷ dữ giả dạng thần lành, lôi kéo người ta đi theo con đường của nó, trông có vẻ rộng và tốt, nhưng cuối cùng lại dẫn đến diệt vong (Mt 7,13-14). Để có kinh nghiệm về phân định, vị đồng hành cần nắm vững các nguyên tắc, nhưng cũng cần trải qua những kinh nghiệm thương đau nơi chính bản thân mình. Thánh I-nha-xi-ô chỉ đưa ra những nguyên tắc để phân định xem đâu là tác động của Chúa, đâu là cám dỗ của quỷ, sau khi chính Ngài đã có nhiều kinh nghiệm cá nhân về việc bị ma quỷ đánh lừa, được kể trong sách Tự Thuật.[4]

Đồng hành thiêng liêng là một tiến trình huấn luyện cần thiết giúp người trẻ trưởng thành trong đời sống kitô. Người trẻ bước vào đời, sống đức tin của mình với bao câu hỏi và thắc mắc mà tự mình không sao trả lời được, với bao cám dỗ và vấp ngã thấy khó tự mình đứng lên. Có được một người đồng hành với mình, hiểu mình, gần gũi mình như một người bạn, giỏi hơn mình như một người thầy: đây thật là một ơn phúc. Việc đồng hành trước hết giúp người trẻ giữ vững đức tin giữa những sóng gió của lạc thuyết, sau nữa làm đức tin ấy mạnh mẽ và phát triển đến tột cùng. Nếu vị đồng hành là một người say mê Giêsu và có đời sống gương mẫu, thì chắc chắn người trẻ ấy sẽ trưởng thành trong ơn gọi kitô và có khả năng làm chứng về đức tin của mình trong mọi môi trường sống. Nhờ quen quay vào trong để nhận ra con người nội tâm, quen có kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa một cách cá vị, và nhờ quen với việc phân định để tìm ý Chúa, người bạn trẻ sau này có thể đứng vững và dễ dàng tìm thấy cách thức mình phải sống đức tin trong hoàn cảnh riêng của mình, dù khó khăn đến đâu.

Vị đồng hành là một người bạn gần gũi và hiểu được những sâu kín của lòng người bạn trẻ, nên có thể nảy sinh tình cảm giữa hai người. Không phải ai cũng bắt chước được tình bạn linh hướng giữa thánh Phanxicô và thánh nữ Clara, hay thánh Têrêsa và thánh Gioan Thánh Giá. Chính vì thế vị đồng hành cần giữ khoảng cách và thường xuyên xét mình để nhận ra những thay đổi nơi tình cảm của mình, và có thể cả nơi tình cảm nơi người bạn trẻ. Cha De Guibert, S.J. khuyên: “Nếu vì tình cảm mà vị linh hướng cảm thấy ngại tiếp tục đồng hành, thì hãy tìm cơ hội để chuyển đương sự đến một vị linh hướng khác.” Bầu khí của cuộc gặp gỡ giữa vị đồng hành và người bạn trẻ phải là bầu khí thiêng liêng, đáng tin cậy, và an toàn.

KẾT: Đồng hành với giới trẻ là việc mục vụ quan trọng. Để có một thế hệ kitô hữu trẻ trung, trưởng thành, năng động, không thể nào không có bóng dáng của những vị đồng hành đứng phía sau. Nhu cầu có những vị đồng hành cho giới trẻ là nhu cầu có thực và khẩn trương, nếu không chúng ta sẽ chỉ lôi kéo được một lớp trẻ đông đảo, với những sinh hoạt vui vẻ ồn ào bên ngoài, nhưng lại thiếu sự sâu lắng bên trong để tĩnh lặng mà gặp Đấng Vô Hình. Mặt khác, có được một vị đồng hành tốt lại không phải là chuyện dễ dàng. Đồng hành là một ơn gọi, một “nghệ thuật” như lời Đức Thánh Cha Phanxicô nói. Cần phải “khai tâm”, phải tốn công huấn luyện các vị đồng hành. Các linh mục, tu sĩ là những người dễ có được nền huấn luyện cần thiết để trở nên một vị đồng hành: đời sống thiêng liêng, nhân bản; kiến thức thần học, Kinh Thánh, tâm lý và cả kinh nghiệm trong việc sống với giới trẻ, biết sử dụng ngôn ngữ của họ. Giáo dân cũng có thể đồng hành với người trẻ, miễn là hội đủ những điều kiện cần thiết. Dù là ai đi nữa, vị đồng hành cũng phải là người kết hiệp sâu xa với Thiên Chúa, nhạy bén với tác động nhỏ của Thánh Linh, có phán đoán chín chắn và quân bình, có sự khiêm tốn dễ thương để hạ mình tiếp xúc với người trẻ, dám dành thời giờ để lắng nghe chuyện tưởng như không quan trọng.

Làm thế nào để duy trì sức sống của Giáo Hội? Cần thế hệ trẻ. Nếu chúng ta để giới trẻ bơ vơ, nếu họ không thấy ai đáng tin để họ có thể tâm sự và đặt câu hỏi, mong một câu trả lời, nếu họ không thấy ai coi họ là quý và dám dành giờ ngồi bên họ… thì tương lai của Giáo Hội sẽ là những nhà thờ vắng bóng người trẻ, xa lạ với đức tin và lạnh lùng với giáo sĩ. Chỉ mong Giáo Hội Việt Nam, nhờ ơn Chúa nhà thờ và hội đoàn vẫn còn thu hút người trẻ, biết nắm lấy cơ hội đang có, để đồng hành với người trẻ hôm nay.

WHĐ (17.8.2020)
Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, số 118 (tháng 5 & 6 năm 2020)

[1] Trương Thanh Tùng, “Việc Phân Định của Vị Linh Hướng trong Đồng Hành và Trợ Giúp Phân Định,” trong Phân Định Thiêng Liêng, Tạp chí Linh Đạo I-Nhã (nxb Đồng Nai, 2019) 279.

[2] Ibid., 281.

[3] Một tài liệu chưa xuất bản của Julio Giulietti, S.J. “Ai dám dạy dỗ, thì không bao giờ tránh học hỏi” (Quicumque audet docere, numquam desistat discere).

[4] Trong bài này tôi không đi sâu vào vấn đề “phân định”. Muốn nghiên cứu thêm, xin đọc cuốn Phân Định Thiêng Liêng do Tạp Chí Linh Đạo I-Nhã ấn hành, nhà xuất bản Đồng Nai, 2020.

Read More
16Tháng Tám
2020

Mục đích của việc dạy giáo lý là kết hiệp với Chúa Kitô

16/08/2020
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Mục đích của việc dạy giáo lý là kết hiệp với Chúa Kitô

http://phanxico.vn/wp-content/uploads/2020/08/muc-dich-cua-viec-day-giao-ly-la-ket-hiep-voi-chua-kito-631x420.jpg

Phỏng vấn bà Pauline Dawance, giám đốc Ban Phục vụ Quốc gia giáo lý và tân tòng của Hội đồng Giám mục Pháp. Bà trả lời về Chỉ nam Huấn giáo được Tòa Thánh công bố ngày thứ năm ngày 25 tháng 6.

http://phanxico.vn/wp-content/uploads/2020/08/maxresdefault-696x391.jpg

La Croix: Chỉ nam mới về Huấn giáo được Tòa Thánh công bố ngày 25 tháng 6 mang lại những đổi mới nào?

Bà Pauline Dawance: Cơ quan làm tài liệu đã khác so với các Chỉ nam đã công bố trước đây năm 1997, vì bây giờ là Hội đồng Giáo hoàng về Tân Phúc âm hóa công bố, hội đồng được Đức Bênêđictô XVI lập ra, có trách nhiệm dạy giáo lý, và không còn thuộc Bộ giáo sĩ. Đây là điều đáng kể, vì năng lực truyền giáo theo sau Thượng Hội đồng về Tân Phúc âm hóa ở trong chiều hướng này, và cũng nhấn mạnh đến các giáo huấn đã đi theo chiều hướng trước. Ở đây chúng ta thấy có nhiều tài liệu tham chiếu của Đức Bênêđictô XVI và Đức Phanxicô. Có Tông huấn Niềm vui Tin Mừng, đường hướng này nhắc chúng ta nhớ mục đích của việc dạy giáo lý là kết hiệp với Chúa Kitô. Mầu nhiệm Phục sinh là trọng tâm của đức tin kitô giáo và sự loan báo này luôn trên môi miệng của giáo lý viên. Đức Bênêđictô XVI cũng đã nói, việc dạy giáo lý là cuộc gặp gỡ với nhân vị Chúa Kitô. Gốc rễ thần học này đưa ra một định hướng cho việc dạy giáo lý, dựa trên mô hình dự tòng. Vai trò của cộng đồng kitô thể hiện rất rõ trong tài liệu giáo huấn này, trong đó có một chương dài nói về các giáo lý viên: đâu là cơ sở hành động của việc dạy giáo lý, mục tiêu của việc dạy giáo lý, ai sẽ dạy… Ở đây chúng ta thấy tầm quan trọng trong việc quan tâm đến đời sống thiêng liêng và đào tạo giáo lý viên, tất cả những điều này thuộc thẩm quyền của giám mục là người giáo lý viên đầu tiên.

Nó có thực sự mới không?

Người Pháp thấy mình rất tốt trong đường hướng này, vì văn bản quốc gia về định hướng dạy giáo lý của các giám mục Pháp năm 2005 đã yêu cầu đưa việc dạy giáo lý vào mô hình dự tòng. Ngoài ra chúng ta còn thấy ở đây về sự phát triển và đồng hành, những người thiết thân với đường hướng của Đức Phanxicô. Các nhà biên khảo Chỉ nam mới đã xem xét những gì đang xảy ra ở tất cả các quốc gia, và Pháp không vắng mặt trong kết quả này… Trong hoàn cảnh khó khăn, với ít nguồn nhân lực, chúng tôi đã có thể chứng minh rất nhiều cho tinh thần sáng tạo. Chúng tôi đã thấy điều này trong thời gian cách ly, trong mối quan tâm hàng đầu là nâng đỡ các dự tòng không được rửa tội vào dịp Lễ Phục sinh.

Việc đào tạo các giáo lý viên, trong đức tin thần học, Kinh thánh và thiêng liêng là thường trực, đặc biệt vì ở Pháp, các giáo lý viên là các tình nguyện viên và thường thay đổi. Việc đào tạo này trước hết là việc nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của họ. Đây là lãnh vực có các thách thức quan trọng về tinh thần hoán cải và đổi mới đức tin của chính họ.

Chỉ nam mới này sẽ được thực hiện như thế nào?

Vào tháng 1 và tháng 6 năm năm 2021, chúng tôi sẽ có các buổi làm việc với các người và các nhóm có trách nhiệm trong giáo phận, họ sẽ giúp chúng tôi xem kinh nghiệm cách ly gần đây để có thể có một số phát triển và các suy tư trong những năm vừa qua về sự tiến hóa của người học giáo lý, các giáo lý viên, các phương tiện… Vấn đề kỹ thuật số cũng có mặt rất nhiều trong Chỉ nam mới.

Chúng ta biết việc giảm sút số người học giáo lý đi kèm với việc các nhóm của giáo phận được cung cấp ít hơn, nhưng đồng thời chúng tôi cũng phát triển công việc của liên giáo phận. Các mô hình và tổ chức mới đang được thiết lập, với nhịp điệu khác, nhân vật khác để cố gắng tạo lại mối liên kết trong giáo hội.

Một giờ học giáo lý mỗi tuần, như đã làm trước đây vẫn còn giá trị trong một thế giới vẫn còn theo kitô giáo trên toàn cầu. Nhưng nó không thể thay thế một liên kết giáo hội. Do đó, có các mô hình mới xuất hiện như “giáo lý trong kỳ nghỉ hè”, học cầu nguyện, các loại hướng dẫn khác nhau… Chúng ta không có câu trả lời duy nhất nào có thể. Và điều này đã và đang phát triển ở nhiều nơi nhưng không vì thế chúng ta từ bỏ những nơi mà việc dạy giáo lý cổ điển vẫn hoạt động, kèm theo đời sống bí tích.

Chúng tôi sẽ tiếp tục suy nghĩ về cách đào tạo con người, và tiếp cận với những người đang đi tìm, như phụ huynh các em học giáo lý. Với mối quan tâm trong nỗ lực loan báo Chúa Kitô, vừa ngầm vừa rõ ràng. Một dự án to lớn, dù đã có cả một công trình khổng lồ kể từ Công đồng Vatican II đã đặt Sách Thánh trong việc dạy giáo lý. Việc các giáo lý viên đã nói lên Kinh Thánh là thứ trật của kinh nghiệm và hoán cải.

Một dự án khác mà chúng tôi muốn thực hiện là sự liên kết giữa các linh mục và giáo dân trong việc dạy giáo lý. Bản Chỉ nam mới nói về sứ vụ của giáo lý viên. Sự hiện diện của các linh mục trong việc dạy giáo lý là rất quan trọng, nhưng không phải chỉ để có mặt. Các cha xứ phải đào tạo giáo lý viên, biết rằng đối với họ, việc tuyên xưng đức tin là lớn lên trong đức tin.

NTL

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 105
  • Page 106
  • Page 107
  • …
  • Page 152
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ
11/02/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2025
20/12/2025
THƯ GỬI ANH CHỊ EM GIÁO CHỨC CÔNG GIÁO NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11.2025  
17/11/2025
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.