2023
Một nữ tu bị bắt cóc phải trả bao nhiêu?
Giống như các quốc gia khác, Tòa thánh thường xuyên trả các khoản tiền chuộc để trả tự do cho các con tin, linh mục hoặc nữ tu. Nhưng đây có phải là chiến lược tốt nhất? Điều gì sẽ xảy ra nếu “phi chính trị hóa” các vụ bắt cóc bằng cách giao cho các tổ chức phi chính phủ giải quyết để có thể trả ít hơn không?
la-croix.com, Jean-Pierre Denis, nhà văn và nhà báo. Giám đốc Văn hóa & Tôn giáo nhà xuất bản Bayard
Tại Đền thờ Thánh Phêrô, Đức Phanxicô chào nữ tu người Colombia vừa được trả tự do sau mấy năm bị cầm tù ở Mali, trong tay các kẻ khủng bố hồi giáo. Cảnh ngày 10 tháng 10 năm 2021 thật xúc động. Nhưng nữ tu Gloria Cecilia Narvaez đã thoát tay những kẻ bắt giữ sơ như thế nào? Manh mối câu hỏi mà không ai dám đặt lại đến từ người mà gần như mọi người không thể tin. Trong phiên tòa thối hoắc, hồng y Becciu, từng là hồng y phụ tá Quốc vụ khanh bị buộc tội tham nhũng, khẳng định Vatican đã trả khoảng một triệu âu kim và giáo hoàng đã biết chuyện này.
Đúng hay sai ? Khẳng định của hồng y Becciu có thể chấp nhận. Trong một thời gian rất dài, các tổ chức công giáo được huy động để giải thoát những người bị bắt, đặc biệt những người bị cướp biển vùng Bác-ba-ri bắt ở Maghreb. Các dòng cứu chuộc như Dòng Chúa Ba Ngôi, Dòng Đức Bà chuộc kẻ làm tôi được thành lập để làm việc này. Vì thế đã có tập tục chuộc con tin từ hàng thế kỷ.
Thói quen của những tình huống tế nhị
Từ đó, chính sách ngoại giao của Tòa Thánh đã quen với những tình huống tế nhị. Các giáo hoàng tuyên bố nói chuyện với mọi người và các nhà ngoại giao của Vatican có đường đi vào hầu như ở mọi nơi. Các dịch vụ của họ được nhờ đến cũng nhờ họ biết cách làm, đặc biệt trong lĩnh vực bắt cóc. Thông tin lượm lặt được từ các tin tức gần đây chứng thực cho điều này. Ông Roger Carstens, đặc phái viên của Joe Biden về các vụ bắt cóc dừng chân ở Vatican tháng 9 năm 2022. Tương tự như vậy, tháng 1 năm 2023, chính phủ Israel xin Rôma giúp trả tự do cho ông Avera Mengistu bị Hamas bắt giam ở Gaza từ năm 2014. Ngay trước lễ Giáng sinh, gia đình của ông đã được Đức Phanxicô tiếp.
Cũng cần phải nói thêm, các vụ bắt cóc các linh mục và nữ tu là phổ biến, từ Trung Đông đến Châu Mỹ Latinh qua châu Phi. Và rất may mắn, đa số đều được giải thoát. Tuy nhiên, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt, sẽ không được thả nếu không có tiền chuộc. Cho dù họ là mafia, khủng bố, chính trị mơ hồ, nửa-bê tha, nửa-ý thức hệ, các vụ bắt cóc hoạt động như cái chợ. Trừ khi can thiệp theo kiểu đặc công, còn không thì phải trả tiền.
Nhượng bộ trước vụ tống tiền
Nhưng giải cứu phải nhờ đến nhượng bộ có đạo đức không? Trong một quyển sách có lập luận chặt chẽ, Tiền chuộc khủng bố (La Rançon de la terreur, nxb. PUF), ông Étienne Dignat, một chuyên gia về đạo đức chiến tranh đã nói về một tình thế tiến thoái lưỡng nan khi các quốc gia đối diện với việc một công dân của họ bị bắt cóc. Nó đơn giản nhưng không thể hiểu được: “Trả tiền chuộc để giải cứu, hoặc đứng vững trước chủ nghĩa khủng bố.” Cho dù họ là nữ tu hay linh mục, binh lính, doanh nhân hay khách du lịch thì tình hình cũng không thay đổi đáng kể. Chỉ có hai cách tiếp cận có thể và cả hai đều gây tranh cãi.
Giải pháp đầu tiên là “đạo đức”. Nếu “con người tự nó là cứu cánh, thì con người có phẩm giá tuyệt đối”. Chúng ta phải cứu con tin bằng mọi giá. Đây là thông lệ không chính thức của Pháp, Tây Ban Nha, Ý hoặc Đức, ủng hộ cái mà ông Etienne Dignat gọi là cái nhìn “đoàn kết”.
Một cách tiếp cận mới
Thứ hai, được mô tả là “thuyết hệ quả” chú ý đến hậu quả của sự can thiệp có thể xảy ra. Người ta sợ các khoản thanh toán tạo ra động cơ làm gia tăng các vụ bắt cóc và củng cố các tổ chức khủng bố. Vì thế người Mỹ và người Anh lựa chọn cách tiếp cận hy sinh, dẫn đến cái chết của con tin trong đa số trường hợp. Nó cũng làm gia tăng tiền chuộc, qua các vụ hành quyết trên phương tiện truyền thông làm tăng nỗi sợ hãi, như vụ nhà báo Mỹ James Foley bị tổ chức Nhà nước Hồi giáo cực đoan chặt đầu một cách dã man.
Làm thế nào để giải thoát? Chính xác, có phương pháp và có sư phạm, ông Étienne Dignat đưa ra cách thứ ba. Ông gọi đó là “phương pháp trao quyền” và dành phần cuối cùng và sáng tạo nhất trong quyển sách của ông để nói về phương pháp này. Theo ông, bản thân những vụ bắt cóc không phải là công việc của Quốc gia, thậm chí cũng không phải là công việc của các Quốc gia hay công việc mà các Quốc gia làm một cách có hiệu quả nhất. Trên thực tế, nếu các chính phủ muốn biến nó thành đặc quyền chủ quyền của mình, là để thể hiện hoặc khôi phục quyền lực đang bị thách thức của họ, chứ không phải vì mục đích hiệu quả.
Chỗ đứng của Giáo hội
Khi các chính phủ tham gia, những kẻ bắt cóc có thể mong đợi thu được “nhiều tiền hơn và còn hơn cả nhiều tiền”, dưới hình thức nhượng bộ chính trị hoặc cố gắng tống tiền nhiều hơn bằng cách ngụy trang các hoạt động tội ác là khủng bố. Vì thế, vấn đề là “phi chính trị hóa” các vụ bắt cóc để làm cạn kiệt một phần thị trường khủng bố. Tác giả lập luận, các Quốc gia có “trách nhiệm tiêu cực” trong việc ngừng can thiệp vào các cuộc mặc cả. Họ phải học cách “ủy nhiệm”. Chúng ta không còn cấm trả tiền chuộc, chúng ta cũng không từ chối, nhưng chúng ta điều chỉnh nó, như phụ đề đưa ra, “kiểm soát thị trường con tin”.
Theo logic này, “các công ty, cá nhân hoặc công ty bảo hiểm được đặt ở tuyến đầu vì lợi ích của hoạt động nhượng bộ thuê bên ngoài”. Logic bảo hiểm, đã được thử nghiệm bởi các công ty lớn, gồm một phần là để phòng ngừa, một phần khác là để quản lý thảm họa. Dĩ nhiên nhà nước vẫn chịu trách nhiệm về quy định và trên hết là truy tìm tội phạm. Các tổ chức phi chính phủ cũng có thể được chấp nhận, đặc biệt là để bảo vệ những người dễ bị tổn thương, những người không có một công ty đa quốc gia đứng sau họ để có thể đưa ra chính sách bảo hiểm chống bắt cóc. Cách tiếp cận của ông Étienne Dignat là “tự do” mà ở Pháp thường bị xem như một từ bẩn thỉu. Nhưng về cơ bản, chẳng phải các dòng cứu chuộc trong quá khứ đã đóng vai trò trung gian chuyên nghiệp, kín đáo và thực dụng đó hay sao?
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2023
Andrea Tornielli: Chúng ta không bao giờ biết Chúa Giêsu cho đủ
Nhà báo người Ý xuất bản quyển sách “Cuộc đời Chúa Giêsu”, một câu chuyện nổi tiếng được Đức Phanxicô, người ông rất gần viết lời nói đầu. Bài phỏng vấn. Nhà xuất bản Cerf vừa phát hành quyển sách Cuộc đời Chúa Giêsu ấn bản tiếng Pháp của tác giả Andrea Tornielli, nhà báo, nhà vatican học. Ông làm việc cho nhật báo Ý La Stampa trong nhiều năm, tác giả của nhiều quyển sách về lịch sử Giáo hội và tiểu sử các giáo hoàng, bạn thân của Đức Phanxicô, hiện là giám đốc biên tập của các phương tiện truyền thông, đài phát thanh, truyền hình, bài viết được phát hành trên toàn thế giới.
Ấn bản tiếng Pháp Cuộc đời Chúa Giêsu ra mắt ngày 9 tháng 2 tại Pháp, với số lượng 20.000 bản. Với phong cách nhiều màu sắc, đúng là sách như một kỹ thuật phim màu, technicolor, các cảnh trong Phúc âm được tác giả dựng lên từng chi tiết, các đoạn trong sách thánh và các lời bình luận của Đức Phanxicô. Ông Jean-François Colosimo, sử gia tôn giáo và là ông chủ nhà xuất bản Cerf tuyên bố: “Không ai thực sự còn biết Chúa Giêsu là ai nữa. Người ta nói về một Chúa Giêsu do thái, Chúa Giêsu hồi giáo hay Chúa Giêsu phật giáo, nhưng ngày càng ít nói về Chúa Giêsu của các phúc âm kitô giáo. Với quyển sách này, độc giả bước vào cuộc đời của Chúa Kitô như đi vào một quyển tiểu thuyết. Đọc dễ dàng đến mức nó sẽ thu hút độc giả như Stephen King đã lôi cuốn độc giả với Harlequin của ông.”
Nhà văn Andrea Tornielli lấy cảm hứng từ các bản văn Kinh thánh, các bài giảng của giáo hoàng cũng như quyển sách Cuộc đời Chúa Giêsu sâu sắc và tinh tế của nhà văn công giáo François Mauriac, mà ở cuối lời nói đầu của ấn bản đầu tiên, ông đã nhắc lại câu nói của những người lính canh mà các giáo hoàng đã khiển trách vì đã không đặt tay trên Chúa Giêsu: “Chưa bao giờ có một người nào nói như người này.”
Vì sao ông kể lại cuộc đời Chúa Giêsu?
Andrea Tornielli: Vì chúng ta không bao giờ biết đủ về Chúa Giêsu. Vậy mà Chúa Giêsu lại hiện diện trong cuộc sống của mọi người. Khi chúng ta viết một bức thư hoặc một e-mail, chúng ta ghi ngày tháng bằng cách đếm số năm kể từ ngày Chúa giáng sinh. Tất cả chúng ta đều cảm thấy hạnh phúc khi nhận quà Giáng sinh, hoặc ngủ nướng thêm một chút sáng chúa nhật, dù chúng ta không tin vào Chúa. Chúa Giêsu tiếp tục tác động đến cuộc sống chúng ta, nhưng ngày càng có nhiều người không nhận thức được ảnh hưởng của Ngài với nền văn hóa và xã hội chúng ta.
Cuộc đời của Chúa Giêsu “của ông” khác với cuộc đời của những người viết tiểu sử khác như thế nào?
Sự khác biệt lớn là tôi xen vào văn bản cổ điển của các sách Phúc âm, những bình luận ngắn gọn từ giáo hoàng và thành quả của trí tưởng tượng của tôi. Ba phần phù hợp với nhau trong một câu chuyện duy nhất và dễ tiếp cận, nhưng chúng khá khác biệt, cho phép độc giả nắm bắt được sự khác biệt. Tất cả mọi thứ được xây dựng thành một câu chuyện duy nhất, đọc dễ dàng.
Đâu là nguồn cảm hứng của ông?
Tôi đã đọc nhiều sách về cuộc đời Chúa Giêsu, nhưng đặc biệt là quyển sách cơ bản của cha xứ Ricciotti xuất bản vào những năm 1940, tái tạo lại cuộc đời của Chúa Giêsu không chỉ từ quan điểm lịch sử mà còn từ quan điểm khảo cổ học và chú giải. Tôi cũng cảm hứng từ quyển sách Cuộc đời Chúa Giêsu của tác giả François Mauriac, trong đó tôi mượn đoạn văn viết về các Mối phúc và suy tư của linh mục thần học gia Thụy Sĩ Maurice Zundel, ngài nhấn mạnh và theo tôi, đó là đoạn văn đưa ra định nghĩa về kitô giáo phù hợp nhất, trước hết đó là cuộc gặp với một con người, chứ không phải với một học thuyết hay một triết lý.
Đó là ba quyển sách quan trọng vì chúng nắm bắt được toàn bộ cuộc đời Chúa Giêsu. Nhưng đó là bài bình luận thần học, cho phép chúng ta đi vào sự hiện hữu của Chúa Giêsu. Quyển sách của tôi ở mức độ thấp hơn. Tôi không tìm cách làm một công trình thần học, mà chỉ muốn kể câu chuyện cuộc đời của Chúa Giêsu.
Đức Phanxicô viết lời nói đầu mạnh mẽ cho quyển sách của ông, và những suy tư của ngài xuyên suốt văn bản. Một số người nói chính ngài nhờ ông viết quyển này…
Chuyện không phải như vậy. Trong thời gian khủng hoảng Covid, trong lần cách ly đầu tiên, mỗi buổi sáng Đức Phanxicô dâng thánh lễ ở Nhà nguyện Thánh Marta và được trực tiếp truyền hình, ngài chú giải cuộc đời Chúa Giêsu trong nhiều bài giảng khác nhau, như ngài vẫn làm kể từ đầu triều của ngài. Những bài giảng tự phát, xuất phát từ trái tim, không phải là bài diễn văn nên có nhiều tác động. Một hôm, một người bạn là linh mục gọi cho tôi và nói: vì sao anh không kể lại cuộc đời Chúa Giêsu qua các lời bình luận của giáo hoàng, dùng các bài giảng của ngài? Đây là cách ý tưởng được sinh ra.
Những nguồn nào ông đã dùng để kể cuộc đời Chúa Giêsu?
Tôi đã viết nhiều tác phẩm về tính lịch sử của các sách Phúc âm; và một khảo sát lịch sử về sự ra đời và phục sinh. Tôi đã đọc rất nhiều về chủ đề này nên đã giúp tôi nhiều để viết câu chuyện này. Từ đó tôi vào trọng tâm những cảnh trong Tin Mừng, cố gắng đặt mình vào vị trí của một nhân chứng kể lại những gì họ thấy, bằng cách mô tả càng sát càng tốt những cảnh sinh hoạt hàng ngày, họ ăn gì, mặc gì… Ngay cả những tên tôi dùng cũng gần nhất có thể với những tên của những người cùng thời.
Với ông, Chúa Giêsu là ai?
Tất nhiên, đó là Thiên Chúa nhập thể, Đấng bao gồm nhân tính trong con người của Ngài ở đỉnh cao. Chúng ta có thể nhìn thấy ở Ngài một nhân tính trọn vẹn, hoàn tựu. Đặc điểm của Chúa Giêsu trong mối quan hệ với người khác là để cho thực tại chạm đến mình, kể cả để cho chính mình bị tổn thương vì nó. Ngài không thờ ơ trước đau khổ của người khác. Như chúng ta thấy trong cảnh ở thành Naim. Chúa Giêsu dẫn môn đệ đi vào thành và Ngài đi ngang qua một đám tang. Một người phụ nữ góa chồng đưa con trai duy nhất của bà về nơi an nghỉ cuối cùng. Đó là một đám tang đầy đau khổ và nước mắt, rời thành phố để chôn đứa con. Hai nhóm chạm nhau. Chúa Giêsu nhìn người phụ nữ này, Ngài xúc động vì nỗi đau của người góa phụ, Ngài đến gần và làm cho con bà sống lại. Đức Phanxicô nhấn mạnh, trong các sách Tin Mừng, cái nhìn quan trọng hơn là lời nói.
Không phải chúng ta đã biết mọi thứ về cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô sao?
Mỗi lần đọc lại Tin Mừng, chúng ta dừng lại ở một điều gì đó mới mẻ đang thách thức chúng ta. Chẳng hạn khi viết quyển sách này, tôi nhận ra sự vĩ đại của viên đại đội trưởng la-mã. Ông là người tốt, ngoại giáo, được các nhà chức trách tôn giáo của Capharnaum đánh giá cao. Mọi người vào thời điểm đó đều muốn đón Chúa Giêsu Kitô vào nhà họ. Và người đàn ông này, dường như rất xa cách với Chúa đã nói một câu cơ bản mà ngày nay được lặp lại trong tất cả các cử hành phụng vụ: “Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời là đầy tớ tôi được khỏi bệnh.” Và Chúa Giêsu ngạc nhiên, Ngài nói với các môn đệ: “Ta chưa bao giờ thấy ai có đức tin mãnh liệt như người này.” Vậy mà ông là người ngoại đạo.
Làm thế nào chúng ta có thể chắc chắn về tính xác thực của những câu chuyện này?
Không ai còn nghi ngờ Chúa Giêsu đã tồn tại. Hiện nay có một số nguồn bên ngoài các sách Phúc âm hỗ trợ thực tế này. Sau đó, việc tin Chúa Giêsu là con Đức Chúa Trời lại là một chuyện khác. Các thánh sử viết Phúc âm đi theo Ngài bằng con mắt đức tin. Trở thành một phần của câu chuyện này không có nghĩa là chúng ta kém khách quan hơn. Kitô giáo là một sự kiện nối liền với lịch sử thế giới. Mỗi chúa nhật, ở mọi nơi trên thế giới, người công giáo đọc Kinh Tin Kính, là một tổng hợp ngắn gọn về những gì họ tin. Và từ niềm tin này xuất hiện một cái tên, quan tổng trấn Philatô, một người ít được biết đến trong vùng Giuđê. Ông có một liên kết rất mạnh với lịch sử của thời điểm đó. Vì thế cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô có một liên hệ với không gian và lịch sử chính xác và không thể nghi ngờ. Những khám phá về khảo cổ học và lịch sử không phủ nhận lời tường thuật của Phúc âm.
Ông là người gần gũi với Đức Phanxicô, ông tìm thấy gì nơi ngài về Chúa Giêsu Kitô?
Tôi biết hồng y Bergoglio năm 2005, tôi chạy theo ngài ở Quảng trường Thánh Phêrô để tặng ngài một trong những cuốn sách của tôi. Điều làm tôi ấn tượng nhất lúc đó là sự gần gũi của ngài với mọi người và lòng thương xót của ngài. Về điểm này, ngài là môn đệ xứng đáng của Chúa Giêsu. Thông điệp quan trọng nhất trong triều Đức Phanxicô là nói với mọi người, có một Thiên Chúa yêu thương chúng ta, đang chờ chúng ta để ôm chúng ta trong vòng tay Ngài và tha thứ cho chúng ta.
Làm thế nào để ông đến gần với giáo hoàng?
Tôi biết ngài trước khi ngài là giáo hoàng. Vì vậy, khi cần, ngài gởi các tờ giấy viết tay, được một trong các thư ký của ngài chụp lại và gởi cho tôi qua e-mail. Hoặc ngài gọi cho tôi, ngài luôn dùng điện thoại bàn, không bao giờ ngài dùng điện thoại di động.
Ngài có thay đổi khi ngài là giáo hoàng không?
Tôi thấy không có khác biệt trong mối quan hệ cá nhân giữa tôi và ngài. Nhưng trong tiếp xúc với mọi người là có thay đổi, chắc chắn. Khi còn là hồng y, ngài là người rất dè dặt. Ngài đã biến đổi khi là giáo hoàng.
Bây giờ ngài như thế nào?
Chúng ta biết ngài bị đau đầu gối, ngài đi lại khó khăn. Nhưng ngài tiếp tục hoàn thành chức vụ của ngài, lên kế hoạch cho những chuyến đi, nghĩ về tương lai. Tôi có thể đảm bảo với ông, ngài sẽ đi trọn con đường. Sự chú ý của thế giới đang tập trung vào cuộc chiến ở Ukraine, nhưng ngài chuyển sự chú ý sang những cuộc xung đột đã bị lãng quên, đặc biệt là ở Nam Sudan, nơi tôi đã đi theo ngài gần đây.
Ông có sẽ nói, như một số người ở Rôma nói, rằng sự ra đi của Đức Bênêđictô XVI sẽ làm cho Đức Phanxicô được tự do hơn không?
Không. Đức Bênêđictô XVI không bao giờ là một gánh nặng, mà đúng hơn là một trợ giúp. Ngài là người hiện diện, ngài không chống đối. Năm 2013, trong một phỏng vấn trên máy bay, Đức Phanxicô đã nói về ngài như người ông chúng ta có trong nhà. Phải nhìn nhận mối quan hệ của họ như vậy.
Giáo hội Công giáo có thể làm gì để thoát khỏi cuộc khủng hoảng cấu trúc mà Giáo hội đang sa lầy?
Sự kiện gặp Chúa Giêsu vẫn là giải pháp cho mọi vấn đề của Giáo Hội, quá khứ, hiện tại và tương lai. Lịch sử đã trải qua những giai đoạn khó khăn hơn nhiều. Hồng y Consalvi là hồng y Quốc vụ khanh vĩ đại nhất trong lịch sử Giáo hội dưới thời Đức Piô VII, khi được tin Napoléon muốn tiêu diệt Giáo hội, ngài đã vặn lại: “Ông sẽ không bao giờ thành công, chúng ta, chúng ta đã không đến đó trong suốt thời gian này, dù chúng ta tội lỗi, dù các tai tiếng của chúng ta.” Câu này đã được hồng y Ratzinger, trước khi là giáo hoàng Bênêđictô XVI nhắc lại năm 2000, khi trình bày việc thanh tẩy ký ức được Đức Gioan Phaolô II yêu cầu, cụ thể là lời xin tha thứ cho mọi tội lỗi giáo dân đã phạm trong suốt lịch sử. Có cần nhắc lại điều gì đã duy trì Giáo hội không thuộc thứ trật loài người không?
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
2023
Đức Phanxicô: “Chiến tranh phá hủy mọi thứ, chúng ta nhìn Ukraine và đừng xấu hổ vì đau khổ”
Vào ngày kỷ niệm đầu tiên cuộc xung đột, Đức Phanxicô đã tham dự buổi chiếu phim tài liệu “Tự do trong lửa: Cuộc chiến giành tự do của Ukraine” (Freedom on Fire: Ukraine’s Fight for Freedom) của đạo diễn Evgeny Afineevsky tại Vatican. Ngồi ở hàng cuối với em bé bên cạnh, ngài chào một số nhân vật chính của phim, mẹ của một người lính ở Azovstal và ông chủ xưởng thép Azovstal. Rồi ngài xin Chúa: “Xin Chúa chữa lành trái tim, tâm trí, đôi mắt của chúng con”.
“Tại sao chúng ta không thể sống trong hòa bình? Nó rất đơn giản…”.
Trong cuốn phim tài liệu “Tự do trong lửa: Cuộc chiến giành tự do của Ukraine”, với một giọng xúc động, trong ngây thơ, một cô gái trẻ đã hỏi Giáo hoàng, hỏi Giáo hội, hỏi thế giới: “Tại sao chúng ta không thể sống trong hòa bình? Nó rất đơn giản…”. Cuốn phim do đạo diễn Evgeny Afineevsky thực hiện, được chiếu vào chiều thứ sáu tại Vatican, 24 tháng 2, đánh dấu ngày kỷ niệm thảm kịch mà Đức Phanxicô gọi là một cuộc chiến “phi lý”.
Giáo Hoàng và em bé Sviatoslav
Đức Phanxicô ngồi ngồi hàng ghế sau, ngài chào một số nhân vật chính của phim. Trong số này có bà Anya Zaitseva, vợ của một người lính bị bắt, bà ngồi bên phải ngài, bế trên tay em bé Sviatoslav, mười sáu tháng tuổi, trong buổi chiếu em đã chơi với cây gậy của giáo hoàng. Thỉnh thoảng ngài quay lại để mỉm cười hoặc vuốt đầu em.
Chào những người có mặt
Đức Phanxicô cũng chào 240 người có mặt tại buổi chiếu phim: những người gặp khó khăn, người tị nạn và các thành viên của cộng đồng người Ukraine ở Rôma được đạo diễn mời. Văn phòng Báo chí Tòa Thánh cho biết, họ đi cùng với các hiệp hội bảo trợ họ và hồng y tuyên úy Konrad Krajewski.
Nỗi sợ của một dân tộc
Vào cuối buổi chiếu, Đức Phanxicô ban phép lành cho những người hiện diện, và cùng cầu nguyện với họ. “Chúng ta cùng cầu nguyện”, giọng xúc động ngài nói bằng tiếng Anh. Cuốn phim vừa dữ dội, vừa thực tế, gần như tự nói lên trong một số cảnh vì đối diện với thực tế của cuộc xung đột này, có rất ít điều để bình luận; chỉ có sự kinh hoàng của thực tế. Và đó là nỗi sợ của cả một dân tộc, mà một nghệ sĩ sân khấu, trong một cảnh đã thốt lên, bà kêu gọi chấm dứt chiến tranh càng nhanh càng tốt: “Cứ cách này, chúng ta tự hủy tất cả”.
Mười hai tháng sau cuộc xâm lược Ukraine của Nga, ngày 24 tháng 2 năm 2022, nhìn lại vô số lời kêu gọi và lời chứng về sự gần gũi của Đức Phanxicô liên quan đến cuộc chiến này…
“Tinh thần của chiến tranh là hủy diệt”
Trong lời cầu nguyện với những người hiện diện, Đức Phanxicô cũng nói về sự hủy diệt, ngài xin Chúa chữa lành cho nhân loại khỏi dòng sông hận thù châm ngòi cho chiến tranh: “Khi Thiên Chúa tạo dựng con người, Ngài phán hãy phát triển trái đất, làm cho nó đẹp. Tinh thần chiến tranh thì ngược lại: hủy diệt, hủy diệt. Đừng để phát triển, tiêu diệt tất cả mọi người: đàn ông, phụ nữ, trẻ em, người già, tất cả mọi người. Hôm nay, cuộc chiến này đã tròn một năm, chúng ta hãy nhìn Ukraine, cầu nguyện cho người dân Ukraine và mở rộng lòng chúng ta với nỗi đau. Chúng ta đừng xấu hổ khi đau khổ, khi khóc lóc vì chiến tranh là hủy diệt. Một cuộc chiến luôn làm suy yếu chúng ta. Xin Chúa làm cho chúng ta hiểu điều này.”
Lời cầu nguyện của Đức Phanxicô: “Xin gieo trong lòng chúng con hạt giống hòa bình”
Ngài cầu nguyện với Chúa Cha: “Lạy Cha chí thánh ở trên trời, xin Cha đoái nhìn đến những khốn khổ, những vết thương, những nỗi đau, những ích kỷ, những tư lợi thấp hèn, khả năng tự hủy diệt của chúng con. Xin Cha chữa lành trái tim, tâm trí và đôi mắt chúng con để chúng con có thể thấy vẻ đẹp mà Cha đã tạo dựng, để không vì ích kỷ mà hủy diệt nó. Xin Cha gieo trong chúng con hạt giống hòa bình.”
Gặp mẹ của một người lính
Trước khi về Nhà trọ Thánh Marta, Đức Phanxicô gặp một bà mẹ của một trong những người lính bị giam trong nhà máy thép Azovstal ở Mariupol, bị lính Nga bắt và hiện vẫn là tù nhân. Nhờ một linh mục làm thông dịch, bà nói con bà đã mất 40 kí lô trong những tháng gần đây và ước mong con bà và những người lính chiến đấu cho tự do sẽ sớm được trả tự do. Bà mang theo ba món quà cho ngài: một bông hoa, biểu tượng sự phản kháng cho đến khi được tự do; một lá cờ vàng-xanh của Ukraine, được Đức Phanxicô hôn và ban phép lành; và một túi muối, biểu tượng truyền thống của Ukraine. Bà giải thích: “Đó là muối của trái đất, là biểu tượng sức mạnh, sức mạnh cần thiết trong trận chiến rất dữ dội và rất bi thảm này.”
Lối thoát trong ngắn hạn của cuộc xung đột này có vẻ xa vời, nhưng cuộc xâm lược của Nga nổ ra một năm trước đã đặt ra nhiều câu hỏi về khả năng của phương Tây trong việc hiểu… cuộc chiến này.
Dừng Thế chiến thứ ba
Sau đó bà Natalia Nagornaya, phòng viên Đài Truyền hình Tin tức TSN phát biểu: “Dấn thân của mỗi người trong chiến tranh là làm điều tốt. Con hiểu không dễ để cha đi Ukraine trong những điều kiện này, nhưng nếu một ngày nào đó, cha đến vùng đất tử đạo này, con xin làm người hướng dẫn cha trong tất cả các thành phố bị phá hủy, tàn rụi và sống sót này. Chúng ta tất cả xin Chúa chấm dứt cuộc chiến này. Xin cha giúp để các tù nhân được trả tự do”. Phóng viên báo chí hy vọng Thế chiến thứ ba có thể dừng lại.
Đức Phanxicô cũng chào người chủ của Azovstal và ông đã tặng ngài món quà tượng trưng: một chiếc vòng tay làm từ kim loại của nhà máy thép. Đức Phanxicô đeo vào cổ tay, ngài cầu nguyện cho dân tộc đau khổ này.
Marta An Nguyễn dịch
2023
Triết gia Denis Moreau: Chúng ta phải phát triển một linh đạo thông minh”
Mùa Chay là thời gian thuận lợi để thực hành các công việc của lòng thương xót thiêng liêng. Triển khai từ sách này qua sách kia một linh đạo thông minh, triết gia Denis Moreau giới thiệu với quý độc giả việc làm của lòng thương xót hướng tới người khác.
Tôi được ơn ở trong đạo công giáo khi còn nhỏ. Cha mẹ tôi giáo dục tôi theo con đường này vì họ nghĩ điều này tốt cho tôi. Họ truyền cho tôi một kitô giáo thầm lặng mà tôi tiếp nhận như một chuyện dĩ nhiên.
Nhưng năm 18 tuổi, khi tôi về Paris để học triết, tôi là sinh viên tỉnh lẻ ngây thơ, đã có một chút khủng hoảng về đức tin. Không có gì bi thảm, nhưng tôi ý thức có một tách rời, thậm chí là một hố sâu ngăn cách, giữa đức tin ngây thơ vẫn còn của một đứa bé 12 tuổi, và những gì tôi bắt đầu nghĩ khi tôi là một thanh niên.
Phải nói sách giáo lý thời thơ ấu của tôi nhẹ về quan điểm giáo lý và bầu khí trí thức vào cuối những năm 1980 không còn thuận lợi cho kitô giáo. Với các giáo sư của tôi, câu “Chúa đã chết” là điều hiển nhiên và bạn phải là người cuối cùng của những kẻ ngu ngốc mới nhận mình là người công giáo!
“Là người kitô giáo và thông minh, không phải là không tương thích”
Tuy nhiên, quyết tâm ngừng cầu nguyện của tôi không kéo dài được bao lâu. Nhanh chóng, tôi cảm thấy thiếu thốn đến mức tôi tự nhủ: tại sao lại bỏ đi và cố tình làm tổn thương chính mình? Vào thời điểm đó, tôi gặp nhiều người công giáo cánh tả, họ rất dấn thân trong công việc bác ái: họ thể hiện một cách đáng ngưỡng mộ chương 25 của Tin Mừng theo Thánh Mátthêu.
Lời chứng của họ cũng như đức tin của một số trí thức vĩ đại can đảm, trong bối cảnh thù nghịch đã nuôi dưỡng đức tin đang dao động của tôi, đó là các ông: Jean-Luc Marion hoặc Jean-Louis Chrétien, Jean Delumeau hoặc René Rémond đã thuyết phục tôi, một tín hữu kitô và thông minh không phải là không tương thích. Thật nhẹ nhõm (cười). Sau đó, trong khi tiếp tục học tại Trường Cao đẳng Hành chánh (École Normale Supérieure), tôi phát hiện ra một số câu nói triết học đã làm phong phú đức tin của tôi và hỗ tương cho nhau.
Người hâm mộ Descartes và diễn từ của ông về Chúa
Tôi mắc nợ Thánh Augutinô và Thánh Tôma Aquinô rất nhiều, tôi cũng mắc nợ triết gia Descartes. Bất kể truyền thống chống chủ nghĩa Descartes đang hoạt động trong Giáo hội, tôi thấy những lập luận của ông ủng hộ sự tồn tại của Chúa và sự bất tử của linh hồn là tốt. Tôi thích cách tiếp cận và làm sáng tỏ vấn đề về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí một cách thanh thản của ông.
Cùng với Descartes và các môn đệ của ông, đặc biệt là Malebranche và Spinoza, tôi xác quyết có thể có một diễn từ về Chúa với sự trợ giúp của lý trí. Có thể, và thậm chí đáng mong đợi vì tính đặc thù của kitô giáo nằm trong cuộc phối hợp này giữa một bên là nguồn gốc sêmita, Mạc khải như được ghi lại trong Kinh thánh, và bên kia là sự hợp lý của hy lạp.
Trong phần mở đầu Tin Mừng của ngài, Thánh Gioan mô tả Chúa Giêsu là Logos, có nghĩa là “lý trí”. Trong suốt lịch sử, những cuộc tình giữa kitô giáo và triết học đã luôn bị chỉ trích. Khi Celsus hay Nietzsche cho rằng cội nguồn do thái đã làm hỏng tính duy lý đẹp đẽ của hy lạp, thì những người khác đổ lỗi cho tính duy lý triết học đã làm ung thối kitô giáo: chỉ cần đức tin thôi là đủ.
Lý trí là khả năng của cái phổ quát
Tôi lo lắng về sự trỗi dậy hiện nay của trào lưu tín ngưỡng này. Xin lưu ý! Mẹ tôi là hậu duệ của nông dân Berrichon, là những người có đức tin sâu sắc, tôi rất kính trọng “đức tin của người thợ mỏ than”.
Nhưng chúng ta nên ngay thẳng: ngày nay, đại đa số người công giáo là dân thành thị có học và có tư duy. Nhưng nhiều người trong số họ bác bỏ bất kỳ sự hợp lý nào trong các vấn đề tôn giáo. Họ bằng lòng với một đức tin bị giản lược thành cảm tính và rút vào “nội tâm”.
Chủ nghĩa phản-trí thức này làm tôi khó chịu vì nó thể hiện xu hướng bản sắc hướng tới chủ nghĩa cộng đồng. Lý trí là khả năng của cái phổ quát, cái cho phép đối thoại, chia sẻ và trao đổi: vì thế không dùng đến nó chẳng khác nào thu mình vào chính mình. Và thái độ này mâu thuẫn với tầm nhìn phổ quát, nghĩa là công giáo, với thông điệp kitô giáo.
Về phần mình, tôi chưa bao giờ bị cám dỗ để phải nương náu trong một diễn từ mang tính cảm xúc. Có lẽ vì tôi chưa bao giờ cảm nhận được sự hiện diện của Chúa. Tôi không xem đây là một thảm kịch. Và theo một cách nào đó, thậm chí là một may mắn, vì nếu không tôi buộc phải nghiêm túc thực hiện lệnh truyền của Thánh Phêrô: “Anh em hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em.” (1 Pr 3:15).
Dạy những học sinh có ao ước muốn học…
Công việc giải thích này lại càng cần thiết hơn vì trường đại học công lập nơi tôi có niềm vui dạy triết là “vùng ngoại vi” tuyệt đẹp, theo cách nói của Đức Phanxicô. Trên thực tế, mặc dù rất thiện cảm với tôi, nhưng các đồng nghiệp của tôi lại nhìn tôi như một gã hơi kỳ quặc, tin vào những điều kỳ lạ.
Còn với các sinh viên của tôi, hầu hết bây giờ không biết gì về kitô giáo, nhưng tôi ấn tượng vì ước ao mong muốn tìm hiểu của họ, chẳng hạn trong các môn tùy chọn, tôi đề nghị văn hóa Kinh thánh với họ. Ở bên cạnh những người thông minh, những người không nghĩ giống tôi là một kinh nghiệm quý giá. Tôi liên tục bị đặt vấn đề và khi làm như vậy, tôi không thể hoàn toàn thoải mái với những chứng cứ riêng của tôi, để thanh thản trong đức tin của tôi.
“Bảo vệ đức tin đang bị đe dọa ở châu Âu”
Tháng 5 năm 2007, tôi được mời tham dự một đại hội của các trí thức kitô giáo được tổ chức tại Vatican. Với tôi, lời mời thật bất ngờ vì tôi chỉ là một giáo sư đại học bình thường! Tôi đã viết một số sách và bài báo, nhưng với tư cách là một chuyên gia về triết học của thế kỷ 17 (vì thế đó là các tác phẩm học thuật, đầy những ghi chú bằng tiếng hy lạp và tiếng la-tinh, về lý thuyết Bất chấp tất cả, tôi đã nhận lời mời và khi đến đó, tôi có cảm giác mình không… ở đúng vị trí của mình. Cho đến khi Đức Bênêđictô XVI tiếp chúng tôi trong buổi tiếp kiến riêng. Bài phát biểu của ngài đã đánh động tôi: “Tôi đưa quý vị đến đây vì chúng tôi cần quý vị bảo vệ đức tin đang bị đe dọa ở châu Âu. Tôi trông cậy vào quý vị.”
Trên máy bay trở về, tôi tự nhủ tôi không còn giới hạn tôi trong công việc học thuật hàn lâm nữa, và bắt tay vào công việc biện hộ. Tôi không phải là người theo chủ nghĩa quan phòng, nhưng giáo hoàng rõ ràng là một tác nhân giúp tôi định hướng lại sự nghiệp của tôi; vợ tôi nói tôi trong cơn “khủng hoảng tuổi trung niên” (cười).
Tập trung vào các triết gia duy lý kitô giáo
Kể từ đó, tôi khiêm tốn tán thành truyền thống tốt đẹp của các triết gia duy lý kitô. Những tác giả vĩ đại này, từ Thánh Augutinô đến Bênêđictô XVI, từ Thánh Anselm xứ Canterbury đến Paul Ricœur, những người đã phát triển một linh đạo trí tuệ. Tham vọng của tôi không phải là đổi mới, mà là làm mọi người yêu thích những thứ cũ kỹ.
Để làm cho giáo lý công giáo trở nên dễ hiểu với người cùng thời với tôi, mặc dù không hoàn toàn hợp lý, nhưng dưới mắt tôi, nó đi từ bên này qua bên kia của hợp lý. Ví dụ, trong quyển sách đầu tiên của tôi về biện giáo, Các con đường cứu rỗi (Les Voies du salut), tôi đã cố gắng giải thích lại khái niệm “cứu rỗi”, vốn đã trở nên khó hiểu, bằng những thuật ngữ dễ tiếp cận hơn về “cứu rỗi”.
Người công giáo không thể cứ thường xuyên chống đối hoặc chỉ trích, ngoại trừ việc đồng ý với Nietzsche, người mà với ông, kitô giáo chỉ là một học thuyết phản ứng. Họ không thể chỉ bằng lòng “chống lại”. Chúng ta phải đề xuất một cách tích cực, trở thành sức mạnh của nhập thể, và cho thấy đức tin kitô có thể có những tác động hữu ích như thế nào đối với sự tồn tại của con người.
Một neo vững chắc trong bão tố
Thành thật mà nói, tôi không nghĩ việc trở thành một tín hữu kitô sẽ thay đổi cơ bản cuộc sống hàng ngày của tôi. Tôi chỉ cố gắng hành động như một “người chân chính” và tôi biết có những người vô than, họ có lòng bác ái hoặc chính trực hơn tôi. Vì thế, tôi không thoải mái với ý tưởng cho rằng, “nếu Chúa không tồn tại, đạo đức sẽ sụp đổ” hay với chủ đề “khốn khổ cho con người nếu họ không có Chúa” của triết gia Pascal.
Mặt khác, khi một viên gạch thực sự rơi trên đầu bạn (và ai có thể tránh được?), bạn nên có một thiết bị siêu hình có một chút hiệu quả. Kitô giáo là một trong những truyền thống tâm linh vĩ đại đã được lịch sử chứng minh có thể đóng vai trò đó. Trọng tâm của nó là câu chuyện về ba ngày Tuần thánh, từ tuyệt vọng tuyệt đối của Cuộc khổ nạn đến chổi dậy Phục sinh, nó cung cấp nguồn lực nội tâm để cố gắng vượt qua, bằng cách nào đó, những cơn bão hiện sinh.
Đây là chủ đề của quyển sách mới nhất của tôi, Những lần sống lại, vượt qua những đêm tối cuộc đời chúng ta (Résurrections, traverser les nuits de nos vies). Trong quyển sách này cũng như trong các quyển sách khác, mục tiêu của tôi không phải là áp đặt đức tin tin của tôi hay hoán cải bất kỳ ai (không có việc trở lại nào có được nhờ lập luận), mà chỉ đơn giản là nói với mọi người: Này, nó tồn tại, và nó thật thú vị!
Triết gia Denis Moreau
1967 Sinh tại Bordeaux.
1987 Học tại Trường Cao đẳng Hành chánh, École Normale Supérieure.
1990 Thạc sĩ triết.
1992 Kết hôn với bà Anne-Sophie và có bốn người con.
1996 Luận án về Malebranche. Dạy triết tại Đại học Nantes.
2010 Xuất bản Những con đường cứu rỗi (Voies du salut, nxb. Bayard), một tiểu luận triết học.
2014 Vì cuộc sống? Luận ngắn về hôn nhân và ly thân (Pour la vie , nxb. Seuil).
2017 Thần chết, chiến thắng của bạn nằm ở đâu? (Mort, où est ta victoire, nxb. Bayard).
2018 Làm thế nào để có thể là người công giáo, (Comment peut-on être catholique, nxb. Seuil).
Marta An Nguyễn dịch
