2023
Triết gia Denis Moreau: Chúng ta phải phát triển một linh đạo thông minh”
Mùa Chay là thời gian thuận lợi để thực hành các công việc của lòng thương xót thiêng liêng. Triển khai từ sách này qua sách kia một linh đạo thông minh, triết gia Denis Moreau giới thiệu với quý độc giả việc làm của lòng thương xót hướng tới người khác.
Tôi được ơn ở trong đạo công giáo khi còn nhỏ. Cha mẹ tôi giáo dục tôi theo con đường này vì họ nghĩ điều này tốt cho tôi. Họ truyền cho tôi một kitô giáo thầm lặng mà tôi tiếp nhận như một chuyện dĩ nhiên.
Nhưng năm 18 tuổi, khi tôi về Paris để học triết, tôi là sinh viên tỉnh lẻ ngây thơ, đã có một chút khủng hoảng về đức tin. Không có gì bi thảm, nhưng tôi ý thức có một tách rời, thậm chí là một hố sâu ngăn cách, giữa đức tin ngây thơ vẫn còn của một đứa bé 12 tuổi, và những gì tôi bắt đầu nghĩ khi tôi là một thanh niên.
Phải nói sách giáo lý thời thơ ấu của tôi nhẹ về quan điểm giáo lý và bầu khí trí thức vào cuối những năm 1980 không còn thuận lợi cho kitô giáo. Với các giáo sư của tôi, câu “Chúa đã chết” là điều hiển nhiên và bạn phải là người cuối cùng của những kẻ ngu ngốc mới nhận mình là người công giáo!
“Là người kitô giáo và thông minh, không phải là không tương thích”
Tuy nhiên, quyết tâm ngừng cầu nguyện của tôi không kéo dài được bao lâu. Nhanh chóng, tôi cảm thấy thiếu thốn đến mức tôi tự nhủ: tại sao lại bỏ đi và cố tình làm tổn thương chính mình? Vào thời điểm đó, tôi gặp nhiều người công giáo cánh tả, họ rất dấn thân trong công việc bác ái: họ thể hiện một cách đáng ngưỡng mộ chương 25 của Tin Mừng theo Thánh Mátthêu.
Lời chứng của họ cũng như đức tin của một số trí thức vĩ đại can đảm, trong bối cảnh thù nghịch đã nuôi dưỡng đức tin đang dao động của tôi, đó là các ông: Jean-Luc Marion hoặc Jean-Louis Chrétien, Jean Delumeau hoặc René Rémond đã thuyết phục tôi, một tín hữu kitô và thông minh không phải là không tương thích. Thật nhẹ nhõm (cười). Sau đó, trong khi tiếp tục học tại Trường Cao đẳng Hành chánh (École Normale Supérieure), tôi phát hiện ra một số câu nói triết học đã làm phong phú đức tin của tôi và hỗ tương cho nhau.
Người hâm mộ Descartes và diễn từ của ông về Chúa
Tôi mắc nợ Thánh Augutinô và Thánh Tôma Aquinô rất nhiều, tôi cũng mắc nợ triết gia Descartes. Bất kể truyền thống chống chủ nghĩa Descartes đang hoạt động trong Giáo hội, tôi thấy những lập luận của ông ủng hộ sự tồn tại của Chúa và sự bất tử của linh hồn là tốt. Tôi thích cách tiếp cận và làm sáng tỏ vấn đề về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí một cách thanh thản của ông.
Cùng với Descartes và các môn đệ của ông, đặc biệt là Malebranche và Spinoza, tôi xác quyết có thể có một diễn từ về Chúa với sự trợ giúp của lý trí. Có thể, và thậm chí đáng mong đợi vì tính đặc thù của kitô giáo nằm trong cuộc phối hợp này giữa một bên là nguồn gốc sêmita, Mạc khải như được ghi lại trong Kinh thánh, và bên kia là sự hợp lý của hy lạp.
Trong phần mở đầu Tin Mừng của ngài, Thánh Gioan mô tả Chúa Giêsu là Logos, có nghĩa là “lý trí”. Trong suốt lịch sử, những cuộc tình giữa kitô giáo và triết học đã luôn bị chỉ trích. Khi Celsus hay Nietzsche cho rằng cội nguồn do thái đã làm hỏng tính duy lý đẹp đẽ của hy lạp, thì những người khác đổ lỗi cho tính duy lý triết học đã làm ung thối kitô giáo: chỉ cần đức tin thôi là đủ.
Lý trí là khả năng của cái phổ quát
Tôi lo lắng về sự trỗi dậy hiện nay của trào lưu tín ngưỡng này. Xin lưu ý! Mẹ tôi là hậu duệ của nông dân Berrichon, là những người có đức tin sâu sắc, tôi rất kính trọng “đức tin của người thợ mỏ than”.
Nhưng chúng ta nên ngay thẳng: ngày nay, đại đa số người công giáo là dân thành thị có học và có tư duy. Nhưng nhiều người trong số họ bác bỏ bất kỳ sự hợp lý nào trong các vấn đề tôn giáo. Họ bằng lòng với một đức tin bị giản lược thành cảm tính và rút vào “nội tâm”.
Chủ nghĩa phản-trí thức này làm tôi khó chịu vì nó thể hiện xu hướng bản sắc hướng tới chủ nghĩa cộng đồng. Lý trí là khả năng của cái phổ quát, cái cho phép đối thoại, chia sẻ và trao đổi: vì thế không dùng đến nó chẳng khác nào thu mình vào chính mình. Và thái độ này mâu thuẫn với tầm nhìn phổ quát, nghĩa là công giáo, với thông điệp kitô giáo.
Về phần mình, tôi chưa bao giờ bị cám dỗ để phải nương náu trong một diễn từ mang tính cảm xúc. Có lẽ vì tôi chưa bao giờ cảm nhận được sự hiện diện của Chúa. Tôi không xem đây là một thảm kịch. Và theo một cách nào đó, thậm chí là một may mắn, vì nếu không tôi buộc phải nghiêm túc thực hiện lệnh truyền của Thánh Phêrô: “Anh em hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em.” (1 Pr 3:15).
Dạy những học sinh có ao ước muốn học…
Công việc giải thích này lại càng cần thiết hơn vì trường đại học công lập nơi tôi có niềm vui dạy triết là “vùng ngoại vi” tuyệt đẹp, theo cách nói của Đức Phanxicô. Trên thực tế, mặc dù rất thiện cảm với tôi, nhưng các đồng nghiệp của tôi lại nhìn tôi như một gã hơi kỳ quặc, tin vào những điều kỳ lạ.
Còn với các sinh viên của tôi, hầu hết bây giờ không biết gì về kitô giáo, nhưng tôi ấn tượng vì ước ao mong muốn tìm hiểu của họ, chẳng hạn trong các môn tùy chọn, tôi đề nghị văn hóa Kinh thánh với họ. Ở bên cạnh những người thông minh, những người không nghĩ giống tôi là một kinh nghiệm quý giá. Tôi liên tục bị đặt vấn đề và khi làm như vậy, tôi không thể hoàn toàn thoải mái với những chứng cứ riêng của tôi, để thanh thản trong đức tin của tôi.
“Bảo vệ đức tin đang bị đe dọa ở châu Âu”
Tháng 5 năm 2007, tôi được mời tham dự một đại hội của các trí thức kitô giáo được tổ chức tại Vatican. Với tôi, lời mời thật bất ngờ vì tôi chỉ là một giáo sư đại học bình thường! Tôi đã viết một số sách và bài báo, nhưng với tư cách là một chuyên gia về triết học của thế kỷ 17 (vì thế đó là các tác phẩm học thuật, đầy những ghi chú bằng tiếng hy lạp và tiếng la-tinh, về lý thuyết Bất chấp tất cả, tôi đã nhận lời mời và khi đến đó, tôi có cảm giác mình không… ở đúng vị trí của mình. Cho đến khi Đức Bênêđictô XVI tiếp chúng tôi trong buổi tiếp kiến riêng. Bài phát biểu của ngài đã đánh động tôi: “Tôi đưa quý vị đến đây vì chúng tôi cần quý vị bảo vệ đức tin đang bị đe dọa ở châu Âu. Tôi trông cậy vào quý vị.”
Trên máy bay trở về, tôi tự nhủ tôi không còn giới hạn tôi trong công việc học thuật hàn lâm nữa, và bắt tay vào công việc biện hộ. Tôi không phải là người theo chủ nghĩa quan phòng, nhưng giáo hoàng rõ ràng là một tác nhân giúp tôi định hướng lại sự nghiệp của tôi; vợ tôi nói tôi trong cơn “khủng hoảng tuổi trung niên” (cười).
Tập trung vào các triết gia duy lý kitô giáo
Kể từ đó, tôi khiêm tốn tán thành truyền thống tốt đẹp của các triết gia duy lý kitô. Những tác giả vĩ đại này, từ Thánh Augutinô đến Bênêđictô XVI, từ Thánh Anselm xứ Canterbury đến Paul Ricœur, những người đã phát triển một linh đạo trí tuệ. Tham vọng của tôi không phải là đổi mới, mà là làm mọi người yêu thích những thứ cũ kỹ.
Để làm cho giáo lý công giáo trở nên dễ hiểu với người cùng thời với tôi, mặc dù không hoàn toàn hợp lý, nhưng dưới mắt tôi, nó đi từ bên này qua bên kia của hợp lý. Ví dụ, trong quyển sách đầu tiên của tôi về biện giáo, Các con đường cứu rỗi (Les Voies du salut), tôi đã cố gắng giải thích lại khái niệm “cứu rỗi”, vốn đã trở nên khó hiểu, bằng những thuật ngữ dễ tiếp cận hơn về “cứu rỗi”.
Người công giáo không thể cứ thường xuyên chống đối hoặc chỉ trích, ngoại trừ việc đồng ý với Nietzsche, người mà với ông, kitô giáo chỉ là một học thuyết phản ứng. Họ không thể chỉ bằng lòng “chống lại”. Chúng ta phải đề xuất một cách tích cực, trở thành sức mạnh của nhập thể, và cho thấy đức tin kitô có thể có những tác động hữu ích như thế nào đối với sự tồn tại của con người.
Một neo vững chắc trong bão tố
Thành thật mà nói, tôi không nghĩ việc trở thành một tín hữu kitô sẽ thay đổi cơ bản cuộc sống hàng ngày của tôi. Tôi chỉ cố gắng hành động như một “người chân chính” và tôi biết có những người vô than, họ có lòng bác ái hoặc chính trực hơn tôi. Vì thế, tôi không thoải mái với ý tưởng cho rằng, “nếu Chúa không tồn tại, đạo đức sẽ sụp đổ” hay với chủ đề “khốn khổ cho con người nếu họ không có Chúa” của triết gia Pascal.
Mặt khác, khi một viên gạch thực sự rơi trên đầu bạn (và ai có thể tránh được?), bạn nên có một thiết bị siêu hình có một chút hiệu quả. Kitô giáo là một trong những truyền thống tâm linh vĩ đại đã được lịch sử chứng minh có thể đóng vai trò đó. Trọng tâm của nó là câu chuyện về ba ngày Tuần thánh, từ tuyệt vọng tuyệt đối của Cuộc khổ nạn đến chổi dậy Phục sinh, nó cung cấp nguồn lực nội tâm để cố gắng vượt qua, bằng cách nào đó, những cơn bão hiện sinh.
Đây là chủ đề của quyển sách mới nhất của tôi, Những lần sống lại, vượt qua những đêm tối cuộc đời chúng ta (Résurrections, traverser les nuits de nos vies). Trong quyển sách này cũng như trong các quyển sách khác, mục tiêu của tôi không phải là áp đặt đức tin tin của tôi hay hoán cải bất kỳ ai (không có việc trở lại nào có được nhờ lập luận), mà chỉ đơn giản là nói với mọi người: Này, nó tồn tại, và nó thật thú vị!
Triết gia Denis Moreau
1967 Sinh tại Bordeaux.
1987 Học tại Trường Cao đẳng Hành chánh, École Normale Supérieure.
1990 Thạc sĩ triết.
1992 Kết hôn với bà Anne-Sophie và có bốn người con.
1996 Luận án về Malebranche. Dạy triết tại Đại học Nantes.
2010 Xuất bản Những con đường cứu rỗi (Voies du salut, nxb. Bayard), một tiểu luận triết học.
2014 Vì cuộc sống? Luận ngắn về hôn nhân và ly thân (Pour la vie , nxb. Seuil).
2017 Thần chết, chiến thắng của bạn nằm ở đâu? (Mort, où est ta victoire, nxb. Bayard).
2018 Làm thế nào để có thể là người công giáo, (Comment peut-on être catholique, nxb. Seuil).
Marta An Nguyễn dịch
2023
Ý cầu nguyện của ĐTC trong năm 2024
Ý cầu nguyện của ĐTC trong năm 2024
Ngày 10/2/2023, Đức Thánh Cha đã uỷ thác cho Mạng lưới Cầu nguyện Toàn cầu của Đức Giáo hoàng các ý cầu nguyện của ngài trong năm tới 2024.
Các ý cầu nguyện của Đức Thánh Cha cho từng tháng sẽ được Mạng lưới Cầu nguyện Toàn cầu của Đức Giáo hoàng phổ biến qua video ý cầu nguyện mỗi tháng, trong đó sẽ giải thích ý nghĩa của ý cầu nguyện và mời gọi các tín hữu cầu nguyện theo ý nguyện của Đức Thánh Cha.
Cầu nguyện cho sự đa dạng trong Giáo hội
Cụ thể, trong năm 2024 Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu cầu nguyện theo các ý chỉ sau đây: cho món quà là sự đa dạng trong Giáo hội; ngài nói: “Chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta nhận ra hồng ân của các đặc sủng khác nhau trong cộng đoàn Kitô hữu và khám phá ra sự phong phú của các truyền thống và nghi lễ khác nhau trong Giáo hội Công giáo.”
Cầu nguyện cho các phụ nữ
Tiếp đến là cầu cho các bệnh nhân giai đoạn cuối, cho các vị tử đạo mới – những người hy sinh mạng sống vì Tin Mừng tại nhiều miền khác nhau trên thế giới; cho vai trò của phụ nữ, “để phẩm giá và giá trị to lớn của phụ nữ được công nhận trong mọi nền văn hóa, và để chấm dứt sự phân biệt đối xử mà họ phải trải qua ở những nơi khác nhau trên thế giới.”
Cầu nguyện cho các lãnh đạo chính trị
Đức Thánh Cha cũng mời gọi cầu nguyện cho việc đào tạo các tu sĩ và chủng sinh, cho những người di dân đang rời bỏ quê nhà, cho việc mục vụ chăm sóc bệnh nhân, cho các nhà lãnh đạo chính trị, cho tiếng kêu của trái đất, cho sứ vụ chung, cho những người bị mất con.
Cầu nguyện cho các tín hữu trong Năm Thánh 2025
Và ý cầu nguyện cuối cùng, trong tháng 12/2024, Đức Thánh Cha mời gọi cầu nguyện cho các tín hữu hành hương của niềm hy vọng. Năm 2025 Giáo hội sẽ mừng Năm Thánh với khẩu hiệu “Những người hành hương của hy vọng.” Trước thềm Năm Thánh 2025, Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu “cầu nguyện để Năm Thánh này củng cố đức tin của chúng ta, giúp chúng ta nhận ra Chúa Kitô Phục Sinh trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, và để nó biến đổi chúng ta thành những người hành hương của niềm hy vọng Kitô giáo.” (CSR_664_2023)
Hồng Thủy
2023
Đức Thánh Cha tiếp các đại diện của Liên đoàn Bệnh hiếm gặp của Ý
Đức Thánh Cha tiếp các đại diện của Liên đoàn Bệnh hiếm gặp của Ý
Trong diễn văn trao cho các đại diện của Liên đoàn Bệnh hiếm Ý vào trưa ngày 13/2, Đức Thánh Cha khuyến khích họ tiếp tục dấn thân trong việc liên đới giúp đỡ nhau. Ngài cũng xin Đức Mẹ đồng hành với mỗi người và mỗi gia đình đang đối mặt với căn bệnh hiếm gặp.
Liên đoàn Bệnh hiếm gặp của Ý là một liên minh phi lợi nhuận gồm hơn 150 hiệp hội cùng hợp tác để cải thiện cuộc sống của những người mắc bệnh hiếm gặp, hỗ trợ gia đình họ và bênh vực quyền lợi của họ bằng cách thiết lập mạng lưới với các bên liên quan chính, bao gồm cả các nhà hoạch định chính sách.
Chia sẻ
Khẩu hiệu của Liên đoàn Bệnh hiếm Ý là “Chia sẻ”. Theo Đức Thánh Cha, khẩu hiệu này có thể được tóm lại trong từ “Chúng ta hãy liên kết lại” và ngài kêu gọi họ hãy liên kết các kinh nghiệm, sức mạnh và hy vọng.
Sự cần thiết và chọn lựa
Đức Thánh Cha nhận định rằng giá trị đầu tiên của Liên đoàn Bệnh hiếm chính là sự chia sẻ; sự chia sẻ này ban đầu là một điều cần thiết và sau đó trở thành một chọn lựa. Ngài giải thích rằng khi cha mẹ phát hiện con mình mắc một căn bệnh hiếm gặp, họ cần làm quen với những cha mẹ cũng đã và đang có con cái như họ. Rồi họ cần đến một hiệp hội quy tụ những người hàng ngày đối phó với căn bệnh đó: họ biết các triệu chứng, phương pháp điều trị, trung tâm điều trị, v.v. Dần dần, cách chia sẻ này trở thành một sự lựa chọn, vì hai lý do.
Ích lợi và tình bạn
Đức Thánh Cha nói: “Đầu tiên là chúng ta nhận ra rằng nó hữu ích, nó giúp chúng ta, nó cung cấp cho chúng ta các giải pháp, ít nhất là tạm thời, nó giúp chúng ta định hướng một chút trong hoàn cảnh mù mờ này. Và động lực thứ hai đến từ niềm vui của các mối quan hệ con người, từ những điều tốt đẹp mà tình bạn mang lại cho chúng ta với những người mà thậm chí cho đến ngày hôm qua chúng ta còn chưa biết và những người bây giờ chia sẻ kinh nghiệm của họ với chúng ta để giúp chúng ta cùng nhau gánh vác một hoàn cảnh rất nặng nề.”
Đóng góp cho công ích
Kế đến, theo Đức Thánh Cha, các hiệp hội còn có một giá trị quan trọng khác ở mức độ xã hội và chính trị, đó là tiềm năng đóng góp cho công ích. Cụ thể trong trường hợp của Liên đoàn Bệnh hiếm, họ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ y tế của một quốc gia, một vùng, một lãnh thổ.
Bên cạnh đó, hiệp hội có thể gây áp lực để vượt qua các rào cản quốc gia và thương mại để chia sẻ kết quả nghiên cứu khoa học, để có thể đạt được những mục tiêu mà ngày nay dường như rất xa vời, cũng như là tiếng nói cho những người đơn độc, những người không được lắng nghe. (CSR_677_2023)
Hồng Thủy
2023
Một phần ba nhà cửa tại Aleppo bị hư hại
Một phần ba nhà cửa tại Aleppo bị hư hại
Tổng thư ký phân bộ trợ giúp quốc tế của Caritas Đức, ông Andreas Knapp, cho biết một phần ba nhà cửa tại thành phố Aleppo ở miền Đông Syria bị hư hại vì động đất, vào ngày 06 tháng Hai vừa qua.
Ông Knapp đã đến viếng thăm Aleppo ngày 10 tháng Hai vừa qua. Aleppo là thành phố lớn thứ hai của Syria và trước chiến tranh cách đây 13 năm, có một triệu 900.000 dân cư. Đây cũng là nơi có đông Kitô hữu nhất tại nước này.
Theo Iman Shankiti, đại diện tổ chức Sức khỏe thế giới tại Syria, nước này có năm triệu nạn nhân bị thiệt hại vì động dân, trong đó có 200.000 người không còn gia cư tại Aleppo.
Trong cuộc phỏng vấn dành cho hãng tin Kathpress của Công giáo Áo, truyền đi hôm ngày 10 tháng Hai, ông Knapp cho biết phần lớn dân chúng ở công viên hoặc ở ngoài trời, vì gia cư của họ bị sụp đổ hoặc hư hại không còn an toàn. “Họ lo lắng vì dư chấn (aftershocks) và hiệu ứng domino, nhà cửa theo nhau sụp đổ. Ban đêm, những nơi trú ẩn khẩn cấp đầy ắp người. Điều quan trọng nhất đối với mọi người là có một mái nhà để qua đêm, đứng trước tình trạng nhiệt độ xuống tới mức 0 độ.
Ông Knapp cũng nói rằng: “Chương trình lập các lều tạm trú” là điều thiết yếu nhất, cùng với việc cung cấp cho các nạn nhân nước, lương thực, thuốc men và đồ vệ sinh, cũng như chăn mền. Tiếp theo đó là cần xác định xem dân chúng có thể trở về gia cư của họ hay không. Vì thế, trong những ngày này, rất cần thiết có các kỹ sư tình nguyện đến giúp đỡ tại vùng này.
Theo ông Tổng thư ký phân bộ ngoại viện của Caritas Đức, có nhiều dấu hiệu cho thấy viện trợ quốc tế đang được đưa tới miền này. Ông thấy những nhóm cứu trợ từ Algérie, Armeni, và từ Liban. Việc Hoa Kỳ tuyên bố nới lỏng các biện pháp cấm vận chống Syria trong 180 ngày để cộng đồng quốc tế giúp đỡ các nạn nhân động đất tại Syria là điều mang lại hy vọng phần nào.
Ông Knapp với tư cách là Chủ tịch chiến dịch cứu trợ “Người láng giềng gặp nguy khốn” còn lưu lại thành Aleppo đến thứ Ba, ngày 14 tháng Hai này, tiếp xúc với các đối tác địa phương cũng như giám đốc Caritas Syria và các vị đại diện Giáo hội, phối hợp các công tác cứu trợ.
Caritas Đức đã dành ngay 100.000 Euro cho các đối tác cứu trợ ở Syria. Một lợi điểm của Caritas Đức là đã hoạt động từ thập niên 1990 ở Syria và đã có sẵn những cơ cấu từ thiện tại nước này.
Tính đến sáng ngày 13 tháng Hai, số nạn nhân động đất sáng ngày 06 tháng Hai vừa qua tại Thổ Nhĩ Kỳ và Syria đã lên tới 40.000 người và Liên Hợp Quốc dự kiến con số các nạn nhân còn tiếp tục gia tăng. (Kathpress 10-2-2023)
Chứng từ của cha Karabach tại Aleppo
Cũng liên quan đến động đất tại Aleppo, cha Bahjat Karabach, cha sở giáo xứ Công giáo Latinh ở thành phố Aleppo, cho biết: “Dân chúng đang sống trong sự chờ đợi cứu trợ và đau buồn vì không biết đi đâu. Các lều tạm trú đã được thiết lập và trường học được mở cửa để đón tiếp họ, nhưng tình trạng vẫn ở mức độ rất thê thảm”.
Cha Karabach là thành viên Dòng Phanxicô tại Thánh địa. Trong cuộc phỏng vấn dành cho hãng tin Sir của Hội đồng Giám mục Ý, truyền đi ngày 11 tháng Hai, cha cho biết trong số những người thiệt mạng vì động đất, có hơn 3.500 người chết tại Syria, trong đó 2.166 nạn nhân ở miền đông bắc dưới sự kiểm soát của phiến quân.
Cha Karabach cũng nói rằng: “Mức độ các gia cư bị phá hủy rất cao”. Giáo xứ của cha đón tiếp 500 người tản cư, và Học viện Thánh địa của Dòng Phanxicô ở ngoại ô thành Aleppo, do cha Samar, Dòng Phanxicô coi sóc, đang đón tiếp 2.000 người di tản.
(Sir 11-2-2023)
- Trần Đức Anh, O.P.
