Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu phụng vụ

Home / Phụng vụ / Tài liệu phụng vụ
16Tháng Năm
2023

Sự khác biệt giữa tội trọng và tội nhẹ?

16/05/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0
Philip Kosloski

Tội trọng và tội nhẹ là những kiểu phân loại khác nhau về những hành vi phạm tội chống lại Thiên Chúa và tha nhân.

Tội lỗi không phải là điều mà chúng ta thích nhấn mạnh vì chúng nhắc chúng ta nhớ về những lỗi lầm và thiếu sót của mình.

Tuy nhiên, Giáo hội thúc giục chúng ta biết nhận ra mức độ nghiêm trọng của tội lỗi và trở về với Chúa Cha bằng cách xưng tội. Khi làm như vậy, chúng ta được hợp nhất với Thiên Chúa và mối tương quan giữa chúng ta với Chúa được phục hồi.

Khi nói về tội lỗi, Giáo hội Công giáo ghi nhận sự khác biệt giữa tội trọng và tội nhẹ.

Tội trọng

Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo định nghĩa, tội trọng là “phá hủy đức mến trong lòng con người do vi phạm nghiêm trọng luật Thiên Chúa. Khi phạm tội, con người quay lưng với Thiên Chúa là cùng đích và chân phúc của mình, bằng cách yêu chuộng một thụ tạo thấp kém hơn” (GLCG 1855).

Để được gọi là tội trọng, vốn cắt đứt mối liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa, nó phải đáp ứng ba tiêu chuẩn cụ thể như Sách Giáo Lý đã nêu.

“Tội trọng đòi phải có nhận thức đầy đủ và hoàn toàn ưng thuận. Điều này giả thiết người phạm tội phải biết hành vi đó là tội, trái với luật Thiên Chúa. Tội trọng bao hàm một sự ưng thuận có suy nghĩ cặn kẽ để trở thành một lựa chọn cá nhân. Việc thiếu hiểu biết do lỗi mình và lòng chai đá không làm giảm bớt, mà còn gia tăng tính cách cố tình của tội lỗi” (GLCG 1859).

Tóm tắt ba phẩm chất của tội trọng: một tội là trọng phải liên quan đến vấn đề nghiêm trọng, vi phạm với sự hiểu biết đầy đủ và có sự đồng ý hoàn toàn của người đó.

Tội nhẹ

Tội nhẹ là xúc phạm đến đức ái, tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta và tình yêu của chúng ta đối với người lân cận. Mặc dù chúng không cắt đứt mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa hoặc với đời sống ân sủng, nhưng tội nhẹ có thể gây ra những hậu quả sâu rộng. Thông thường khi phạm tội nhẹ nhiều lần, làm suy yếu quyết tâm của chúng ta và khiến chúng ta dễ phạm tội trọng hơn.

Giáo hội mời gọi chúng ta thú nhận những “tội nhẹ” này, vì chúng làm tổn hại mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa và với người khác. Hơn nữa, “việc năng xưng các tội nhẹ giúp chúng ta rèn luyện lương tâm, giúp ta chiến đấu chống lại các khuynh hướng xấu, sẵn sàng để Đức Kitô chữa lành và tiến tới trong đời sống theo Thánh Thần” (GLCG 1458).

Sự khác biệt cơ bản giữa tội trọng và tội nhẹ là khi đi xưng tội chúng ta buộc phải xưng tất cả các tội trọng, và tuy không bắt buộc nhưng chúng ta được khuyến khích xưng tất cả tội nhẹ.

Tội nhẹ thường là những yếu đuối hàng ngày của chúng ta, trong khi tội trọng là những điều chia cắt chúng ta với Thiên Chúa và Giáo hội.


G. Võ Tá Hoàng
Read More
13Tháng Năm
2023

Mười cách mừng kính tháng năm của Đức Mẹ

13/05/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Mười cách mừng kính tháng năm của Đức Mẹ

Tháng 10 là tháng Rất Thánh Mân Côi; Tháng 11, tháng cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời; Tháng Sáu chúng ta dìm mình trong đại dương thương xót của Thánh Tâm Chúa Giêsu; Tháng Bảy chúng ta ngợi khen và tôn thờ Máu Châu Báu Chúa Giêsu, giá cứu chuộc chúng ta. Tháng Năm là tháng của Mẹ Maria.
Mẹ Maria là Nữ Tử của Chúa Cha, Mẹ của Chúa Con và là Hiền Thê mầu nhiệm của Chúa Thánh Thần, Nữ Vương các thiên thần, các thánh, trời đất. Và Thánh Louis de Montfort tôn vinh Mẹ là Nữ Vương của mọi tâm hồn và là kiệt tác tạo dựng của Thiên Chúa.

Các thánh tung hô vinh quang của Đức Trinh Nữ Maria bằng những lời lẽ mạnh mẽ, đầy cảm hứng và thơ mộng.

Chúng ta có thể bày tỏ tình yêu và lòng sùng kính của mình đối với Đức Trinh Nữ Maria trong tháng của Mẹ như thế nào? Có mười cách.

  1. Tận hiến.

Cử chỉ đầu tiên chúng ta nên làm mỗi sáng là cầu nguyện – lời cầu nguyện tận hiến cho Chúa Giêsu qua Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Bắt đầu ngày mới nhờ Mẹ Maria!

Thánh Têrêsa Calcutta cảm động trước tình yêu lớn lao dành cho Mẹ Maria đã nói:

“Lạy Mẹ Maria, xin ban cho con trái tim của Mẹ: thật đẹp, thật tinh tuyền, vô nhiễm; Trái tim của Mẹ tràn đầy tình yêu và sự khiêm nhường để con có thể tiếp nhận Chúa Giêsu trong Bánh sự sống và yêu mến Người như Mẹ yêu mến Người và phục vụ Người trong hình dáng đau khổ của người nghèo.”

  1. Kinh Truyền tin / Kinh Nữ Vương Thiên đàng

Theo truyền thống, lời kinh này được đọc vào buổi trưa, nhưng kinh đó cũng được đọc bất cứ lúc nào. Tại sao không cầu nguyện ba lần một ngày – lúc 9 giờ sáng, 12 giờ trưa và 6 giờ chiều. Bằng cách này, chúng ta sẽ thánh hóa những giờ buổi sáng, những giờ buổi chiều và những giờ buổi tối nhờ sự hiện diện thánh thiện và ngọt ngào của Mẹ Maria.

Những lời kinh kính Đức Mẹ này gợi nhớ đến sự hiện diện quan trọng của Mẹ Maria trong các Mầu nhiệm cứu rỗi chúng ta – Sự Nhập thể, Cuộc khổ nạn, cái chết và Sự Phục sinh của Chúa Giêsu Kitô và là Đấng Cứu độ! Cha xứ Ars, Thánh Gioan Vianney, nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện và hành động thường xuyên của Mẹ Maria trong cuộc đời chúng ta:

“Chỉ sau Ngày phán xét cuối cùng, Mẹ Maria mới được nghỉ ngơi; từ giờ đến lúc đó, Mẹ quá bận rộn với con cái. Để phục vụ nên Nữ Vương Thiên đàng ngự trị ở địa vị đó, và sống dưới sự chỉ huy của Mẹ thì còn tốt hơn cả cai trị.”

  1. Dâng Hiến Ngôi Nhà và Gia Đình cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria

Chuẩn bị cho lễ thánh hiến bằng một tuần chín ngày lần hạt Mân Côi và những lời cầu nguyện và kết thúc bằng việc xin linh mục ban phép lành cho bức ảnh cũng như ngôi nhà và các thành viên trong gia đình. Từ phép lành và sự thánh hiến này, Thiên Chúa Cha sẽ tuôn đổ muôn vàn ơn lành xuống trên bạn và mọi thành viên trong gia đình bạn.

  1. Dâng Mình. 

Chính thức dâng hiến toàn bộ con người bạn cho Chúa Giêsu nhờ Mẹ Maria. Bạn có thể chọn nhiều hình thức khác nhau. Việc dâng mình này có thể thay đổi đáng kể cả cuộc đời bạn.

Nếu bạn đã làm việc đó rồi thì bạn có thể làm mới lại việc tận hiến hàng năm và tiến sâu hơn vào kho chứa vô tận của tình yêu Thiên Chúa đã mang đến cho chúng ta qua sự chuyển cầu của Mẹ Maria! Mẹ Maria có quyền lực đối với chúng ta bằng những cách thế vượt xa trí tưởng tượng mãnh liệt nhất của chúng ta. Thánh Louis de Montfort nhắc nhở chúng ta:

“Vì Thiên Chúa, khi đã ban quyền năng trên Người Con duy nhất của Ngài, thì cũng ban quyền năng trên các nghĩa tử của Ngài – không chỉ những gì liên quan đến thể xác, vốn không đáng kể – mà còn cả những gì liên quan đến linh hồn nữa”.

  1. Noi gương Mẹ Maria

Nếu chúng ta thực sự yêu ai đó, thì chúng ta muốn hiểu họ hơn, theo sát họ hơn và cuối cùng là bắt chước những phẩm chất tốt đẹp của họ mà chúng ta gọi là đức tính tốt. Thánh Louis de Montfort trong tác phẩm kinh điển Lòng sùng kính đích thực dành cho Mẹ Maria cho chúng ta một danh sách mười nhân đức chính của Mẹ Maria. Hãy noi theo các nhân đức ấy và bạn sẽ đi trên con đường thánh thiện.

– Đức khiêm tốn sâu xa của Mẹ,

– Đức tin sống động,

– Lòng vâng phục trọn vẹn,

– Cầu nguyện không ngừng,

– Liên tục từ bỏ chính mình,

– Sự tinh khiết vượt trội,

– Tình yêu mãnh liệt,

– Nhẫn nại anh hùng,

– Ân cần như thiên thần,

– và Đức khôn ngoan của trời cao!

Thánh Louis dạy chúng ta:

“Các vị thánh vĩ đại nhất, những người giàu ân sủng và nhân đức nhất sẽ là những người siêng năng nhất trong việc cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Rất Thánh, nhìn lên Mẹ như một mẫu gương hoàn hảo để bắt chước và như một trợ thủ đắc lực để trợ giúp các ngài.”

  1. Những cám dỗ ư? Hãy kêu cầu Mẹ Maria.

Cuộc sống của chúng ta là một vùng chiến trận liên tục, cho đến khi chết! Chúng ta không nên chiến đấu một mình chống lại ma quỷ, xác thịt và thế gian. Thay vào đó, trong cơn cám dỗ như lửa đốt, khi tất cả dường như bị mất hết, hãy kêu cầu Thánh Danh Đức Maria; hãy đọc Kinh Kính Mừng! Làm được như thế, tất cả quyền lực của địa ngục sẽ bị đánh bại.

Mẹ Maria là “Tướng Lĩnh Đạo Binh”. Theo mệnh lệnh của Mẹ, kẻ thù – những thần dữ xấu xa – bỏ chạy, biến mất và bị đánh bại! Khi thánh Phanxicô Salê bị cám dỗ tuyệt vọng nhưng nhờ lời kinh dâng lên Mẹ Maria, “Memorare – Xin hãy nhớ” – được cho là của Thánh Bênađô – sự cám dỗ đã bị khuất phục.

Thánh Antôn Maria Claret đã bị cám dỗ dữ dội đầu hàng trước sự cám dỗ lỗi phạm đức trong sạch. Chính nhờ những lời cầu nguyện tha thiết của ngài với Mẹ Maria mà ma quỷ ô uế đã bị trục xuất và người thanh niên Antôn đã được ban cho những ân sủng đặc biệt để sống khiết tịnh, thành lập một Dòng tu, rao giảng liên tục và viết nhiều cuốn sách làm nhiều điều tốt đẹp. Như Thánh Bonaventura khẳng định:

“Người ta sợ một đội quân thù địch hùng mạnh không bằng quyền lực hỏa ngục sợ danh thánh và sự che chở của Mẹ Maria.”

  1. Đức Maria và Năm Phụng Vụ

Hãy nhận biết sự hiện diện mạnh mẽ của Mẹ Maria trong Nhiệm Thể Chúa Kitô là Giáo Hội. Đặc biệt là nhận biết sự hiện diện của Mẹ Maria trong Năm Phụng Vụ – các Thánh Lễ. Mục đích cuối cùng của Thánh lễ là ca tụng và tôn thờ Thiên Chúa Cha, nhờ việc dâng Chúa Con làm của lễ và nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, Mẹ Maria có một vị trí đặc biệt trong Năm Phụng Vụ.

Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Giáo Hội và là Mẹ chúng ta xét theo hệ trật ân sủng! Hãy đọc và suy niệm một cách chăm chú Tông Thư của Đức Thánh Cha Phaolô VI Marialis Cultus, giải thích rõ ràng về sự hiện diện của Mẹ Maria trong lịch Phụng Vụ. Đây là một kiệt tác tâm linh. Bạn phải đọc Tông thư này!

  1. Đọc sách viết về Mẹ Maria

Để có một nền Thánh Mẫu học được hình thành tốt đẹp và toàn diện, chúng ta nên trau dồi cả giáo lý và lòng sùng kính. Giáo lý không có lòng sùng kính có thể trở nên khô khan và cằn cỗi. Trong khi đó, lòng sùng kính mà không có giáo lý có thể dễ dàng biến thành chủ nghĩa đa cảm!

Tại sao không đọc Tông Thư của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II Rosarium Virginis Mariae – Đức Trinh Nữ Maria Đầy Ơn Phúc và Kinh Mân Côi. Viên ngọc thiêng liêng này kết hợp cả giáo lý Công giáo vững chắc (Mariology – Thánh Mẫu học) với tình yêu dịu dàng và lòng sùng kính đối với Mẹ Maria. Vị thánh giáo hoàng khuyên toàn thế giới hãy chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Giêsu qua đôi mắt và trái tim của Mẹ Maria. Mẹ Maria là con đường nhanh nhất, ngắn nhất, dễ dàng nhất và hiệu quả nhất để đến với Chúa Giêsu.

  1. Tông đồ cho Mẹ Maria

Hãy trở thành một Tông đồ nồng nhiệt và nhiệt thành của Mẹ Maria. Một trong những vị thánh hiện đại nổi tiếng nhất của Mẹ Maria là thánh Maximilian Kolbe. Tình yêu của ngài dành cho Mẹ Maria không thể giữ lại được. Một trong những phương pháp tông đồ mà thánh Kolbe đã sử dụng là truyền bá lòng sùng kính Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội bằng Ảnh đeo Phép lạ (Miraculous Medal) hay còn gọi là Ảnh đeo có hình Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội (Medal of the Immaculate Conception).

Bất cứ khi nào có cơ hội, thánh Maximilian sẽ trao ảnh đeo miễn phí cho người đó. Ngài gọi đó là những “viên đạn tinh thần”. Sau đó, ngài sẽ giải thích về Đức Mẹ, về ý nghĩa giáo lý của ảnh đeo có tính bùng nổ này. Ảnh đeo được gọi là “làm Phép lạ” vì lý do đơn giản là nhiều phép lạ đã được quy cho những người sử dụng ảnh đeo đó với đức tin, tình yêu lớn lao và tin tưởng vào sự chuyển cầu của Mẹ Maria.

Tại sao không trở thành một tông đồ hiện đại của Đức Mẹ ngày nay, theo bước chân của thánh Kolbe? Vị thánh vĩ đại này của Mẹ Maria đã khẳng định với niềm xác tín:

“Chỉ có Đấng Vô Nhiễm mới có được từ Thiên Chúa lời hứa chiến thắng Satan. Mẹ tìm kiếm những linh hồn sẽ dâng mình hoàn toàn cho Mẹ, những linh hồn sẽ trở thành những công cụ mạnh mẽ trong tay Mẹ để đánh bại Satan và mở rộng Nước Chúa.”

  1. Kinh Rất Thánh Mân Côi

Tại Fatima, Mẹ đã hiện ra sáu lần với các trẻ chăn cừu – Lucia, Giacinta và Phanxicô. Trong mỗi lần hiện ra, Mẹ đều nhấn mạnh đến việc lần chuỗi Mân Côi.

Thánh Gioan Phaolô II trong Tông Thư Rosarium Virginis Mariae về Đức Trinh Nữ Maria và Kinh Mân Côi đã nhấn mạnh, nài xin toàn thế giới hãy lần chuỗi Mân Côi để cứu rỗi các gia đình và cho hòa bình thế giới.

Linh mục nổi tiếng cổ võ Kinh Mân Côi, Cha Patrick Peyton đã nói một cách ngắn gọn: “Gia đình cầu nguyện cùng nhau sẽ ở bên nhau”… và “Một thế giới cầu nguyện là một thế giới hòa bình.” Tại sao không vâng lời Thánh Gioan Phaolô II? Tại sao không vâng lời Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Fatima yêu cầu? Nếu thực hiện được như thế, gia đình sẽ được cứu và sẽ có hòa bình mà cõi lòng con người hằng khao khát.

Phêrô Phạm Văn Trung
Chuyển ngữ từ: 
catholicexchange.com

 

Read More
11Tháng Năm
2023

Đức Maria trong âm nhạc

11/05/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Đức Maria trong âm nhạc

Đức Maria trong âm nhạc

Sergio Militello
Phân khoa Thần học “Marianum” – Roma
Ngôn ngữ âm nhạc là một tổng hợp của nghệ thuật,
Thánh Mẫu học và linh đạo
“Sự hiện diện” của Đức Maria trong âm nhạc rộng lớn đến độ để có được một nghiên cứu chuyên sâu cần phải viết rất nhiều tập. Thật vậy, trải qua các thời đại, không có nhạc sĩ nào mà không bày tỏ lòng tôn kính Mẹ Thiên Chúa bằng âm nhạc. Vì thế, nếu không thể điểm lại lịch sử của hàng thế kỷ, người ta không thể không nhận ra lời tiên tri “từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1,48) đã được khẳng định đúng lúc trong tác phẩm âm nhạc, những tác phẩm bác học lẫn bình dân, nơi mà lòng đạo đức, lòng sùng kính và thần học đan xen với nhau.
Trong phạm vi bài viết này, tôi giới hạn trong việc khảo sát về mối tương quan giữa lòng sùng kính Đức Mẹ và âm nhạc, bằng cách nêu bật những lý do đầy cảm hứng để ca tụng Đức Maria, như những trọng điểm của sự kết hợp chặt chẽ qua nhiều thế kỷ đã tạo ra một di sản âm nhạc vô giá về Đức Maria và khó định lượng, rất rộng lớn và hấp dẫn đến mức biện minh cho một khóa trình hàn lâm, chẳng hạn về “Đức Maria trong âm nhạc”, do người ký tên dưới đây tổ chức tại Học viện Thần Học “Marianum”, của các sư huynh dòng Tôi tớ Đức Bà, ở Rôma
Nguồn gốc và xuất xứ
Chúng ta biết rằng việc cầu nguyện và tôn sùng Đức Trinh Nữ có một lịch sử lâu dài, bắt nguồn từ Kinh Thánh và đã được thể hiện nơi thế hệ Kitô hữu đầu tiên, và qua các thời kỳ đã tạo thuận lợi cho chuỗi các biểu hiện ca ngợi, cầu khẩn, yêu mến và tín thác nơi Mẹ, cho những yếu tố làm nên cứ liệu thường xuyên của lòng tôn sùng Đức Mẹ.
Nguồn gốc của việc ca ngợi Đức Maria trong Tân Ước có thể được tóm tắt trong hai đoạn được thánh sử Luca ghi lại: lời chào của thiên thần (Lc 1,28) và lời chào của bà Êlisabét (Lc 1,42.45). Từ những nguồn Kinh thánh này – bao hàm những hình ảnh báo trước của Cựu Ước – đã nảy sinh vô số thuộc tính ngợi khen và cầu khẩn, làm nên “những lời nguyện về Đức Mẹ” và do đó, đã trở thành những động cơ truyền cảm hứng cho các tác phẩm âm nhạc.
Vì thế, Giáo Hội đã ca tụng Mẹ Maria qua những kinh nguyện đầy tráng lệ, qua các bài giảng lễ, những bài ca tụng, kinh cầu, điệp ca, thánh ca… qua tác phẩm của những tác giả vô danh hay nổi tiếng, ở Đông phương cũng như Tây phương. Trong vùng biển bao la (mare magnum) này, việc nghiên cứu âm nhạc về lòng tôn sùng Đức Mẹ phải đề cập đến cả các sự kiện lịch sử và phụng vụ, kể cả lòng sùng kính và những tác phẩm ngoài phụng tự.
Như chúng ta đã biết, không có ký hiệu âm nhạc nào của thế hệ kitô giáo đầu tiên còn tồn tại, một thế hệ vốn sử dụng lối hát của người Do Thái. Cho đến nay, lời kinh đầu tiên về Đức Mẹ được biết đến là Sub Tuum praesidium, một bài thánh ca ngắn dành riêng cho Mẹ của Chúa Giêsu, có từ thế kỷ thứ 3 và được phát hiện ở Ai Cập.
Bản văn này có thể phát xuất từ bài hát của phụng vụ Giáng sinh thuộc giáo hội Coptic, vẫn còn sử dụng cho đến ngày nay như một đối ca trong mọi nghi thức phụng vụ chính yếu.
Với chứng từ đầu tiên này, chúng ta thấy bài ca phụng vụ gắn liền với lịch sử như thế nào: việc biên soạn lời cầu khẩn chung này thực tế đã diễn ra vào thời kỳ bách hại, các Kitô hữu đã hướng về Mẹ Maria để tìm nơi Mẹ một nơi ẩn náu an toàn khi gặp nguy hiểm. Hình ảnh dưới bóng cánh (sub umbra alarum) thân thương đối với người Sêmít và người Ai Cập, được nhắc lại như một biểu tượng diễn tả sự che chở của Thiên Chúa (Is 49,2; 51,16; x. Tv 16,8), một đề tài thường xuyên trong các sáng tác về Đức Mẹ.
Ngay cả các soạn tác âm nhạc sau này, Byzantine và cả Đông phương nói chung, đều thể hiện niềm phó thác vào sự chuyển cầu của Mẹ Thiên Chúa (Theotòkos), được cộng đồng kitô giáo khẩn cầu ngay từ buổi đầu, là tước hiệu mà Công đồng Êphêsô chính thức công nhận vào năm 431.
Do đó, chủ đề về sự chuyển cầu của Mẹ Thiên Chúa trở thành nền tảng trong biểu thức ca tụng Đức Maria. Ngoài ra, qua dòng lịch sử, còn có những chủ đề về lòng tôn sùng và noi gương Mẹ, hiện diện trong các nhạc phẩm của mọi thời đại.
Tuy nhiên, tôi muốn chỉ ra rằng đôi khi âm nhạc ca ngợi dành riêng cho Đức Maria không tìm thấy nền tảng nơi Lời Chúa cũng như trong suy tư thần học, do đó nó tạo ra một chủ đề ca ngợi xa lạ so với trước đó và có thể được định nghĩa như là chủ nghĩa sùng kính chung chung, đề cập nhiều đến những khơi gợi về con người Đức Maria hơn là vai trò của Mẹ trong nhiệm cục cứu độ.
Ở Đông phương
Quay trở lại lịch sử, chương quan trọng để khám phá những bước đầu của việc tôn sùng Đức Maria bằng âm nhạc nảy sinh từ các ngày lễ kính Mẹ, vốn được du nhập từ Đông sang Tây.
Mặc dù nảy sinh vào những thời điểm cụ thể, liên quan đến các câu chuyện địa phương hoặc các cuộc hiện ra ra cụ thể, nhưng các bản văn được chuyển tải trong phụng vụ đề cập đến nguồn mặc khải, nơi người Mẹ Chí Thánh Vẹn Sạch của Thiên Chúa có một vị trí trung tâm bên cạnh người Con của mình.
Chúng ta đang ở trong giai đoạn của những hình thức thi ca cao nhất và những lối ca hát có liên quan đến phụng vụ Byzantine: Thánh ca và Chuẩn mực (những hình thức sáng tác đầu tiên do Thánh Basiliô và Thánh Gioan Kim Khẩu định hướng trong phụng vụ) được định hình như một phản ứng đối với cuộc tranh luận bài trừ ảnh tượng, liên quan đến nghệ thuật tượng ảnh, nhằm mục đích tấn công và triệt tiêu khả năng sáng tạo âm nhạc. Đó là thời đại của những tuyển tập về Đức Maria, trong đó giai điệu (thơ phổ nhạc) cố gắng diễn tả những tình cảm của tôn giáo Đông phương được trình bày bằng dấu ấn khổ hạnh sâu đậm, nhắm đến sự chiêm niệm và chiều sâu tâm linh. Qua việc gán nhiều “danh hiệu” cho Đức Trinh Nữ, nền thần học được thực hiện dưới hình thức thơ ca, bằng cách sử dụng các phản luận và hình ảnh. Theo cách này, phụng vụ ca hát đã hoàn thành nhiệm vụ tạo ra suy tư thần học qua các tác phẩm âm nhạc, trong đó các chủ đề dành riêng cho Đức Maria có sự tham chiếu kitô học rõ ràng và có mặt ở khắp mọi nơi. Để tìm ra những lý do ca ngợi mới dành cho Đức Trinh Nữ, chúng ta phải đặt mình vào giữa thế kỷ thứ 4 và thứ 11, thời của các nhạc sĩ lớn ở Đông phương, trong số đó có ít nhất là: Ephrem người Syria (306-373), người đã viết ra những bài thánh ca của mình như bài giáo huấn và giáo lý, đặc biệt nhấn mạnh đến Mẹ Chúa Giêsu trong vai trò “cộng tác viên”; Romanus il Mèlode (490-556 ca), tác giả của Akathist, bài thánh ca về Đức Mẹ nổi tiếng nhất mọi thời đại được coi là một kiệt tác văn chương và thần học, đồng thời diễn tả sự chiêm ngắm và tán dương cao nhất của lòng tôn sùng Mẹ Thiên Chúa; Andrea di Creta (khoảng 660-740), người được cho là đã phát minh ra Canon; Giovanni Damasceno (676 ca-749), một trong những giọng ca Đông phương về Đức Trinh Nữ vĩ đại nhất, những bài thánh ca được sáng tác như những luận thuyết thực sự về thần học; Teodoro (759-826) và những người khác.
Các chủ đề thường xuyên ca ngợi Đức Maria trong thánh ca Byzantine là lời cầu khẩn và đòi hỏi lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ để được cứu rỗi: đây là cách nó xuất hiện, chẳng hạn như trong Paraklisis (kêu xin cứu giúp), một bài thánh ca phổ biến đến nỗi nó có thể được hát trong mọi hoàn cảnh và mọi thời điểm trong năm; hơn nữa, Mẹ Maria được tôn vinh vì sự thánh thiện của Mẹ, được trình bày như khí cụ của ơn cứu rỗi trái ngược với Evà và Mẹ được hát lên trong mầu nhiệm Mẹ được nâng lên vinh quang trên trời, nơi đó Mẹ không quên loài người và không ngừng giúp đỡ họ.
Ở Tây phương
Vai trò trung gian của Đức Maria và tình mẫu tử thiêng liêng của Mẹ đối với con người cũng được tìm thấy ở Tây phương, trong các bài thánh ca và trong các kinh nguyện được đưa vào trong Kinh Nhật tụng và trong Thánh lễ. Việc sử dụng các bài thánh ca trong số này (ra đời ở Tiểu Á vào thế kỷ thứ 2-3) lan rộng ở phương Tây bắt đầu từ thế kỷ thứ 4, trước hết là nhờ Thánh Ambrôsiô, vì nó dễ hát và phù hợp với mọi tín hữu.
Từ đây, sự phát triển nhạc Bình Ca dẫn đến việc tạo ra một di sản đáng kể về những bài ca kính Đức Mẹ, bao gồm bốn điệp ca “chính” được hát trong các giờ kinh phụng vụ hoặc khi kết thúc thánh lễ: Alma Redemptoris Mater, Ave Regina Caelorum, Regina Caeli, Salve Regina.
Do đó, đối với Đông phương cũng như ở Tây phương, các lý do để hát mừng Đức Maria đó là lý do chuyển cầu, tôn kính và bắt chước. Vì vậy, việc xây dựng một lộ trình có hệ thống liên quan đến sự hiện diện của Đức Maria trong lịch sử âm nhạc có ích biết bao và liệu âm nhạc dành riêng cho phụng vụ người ta có thực sự chú ý đến các lý do đầy cảm hứng nói trên của những bài thánh ca về Đức Mẹ hay không.
Tôn sùng Đức Maria và âm nhạc.
Việc phân tích các sáng tác về Đức Mẹ được nảy sinh qua nhiều thế kỷ cần phải bắt đầu trở lại với nguồn gốc, nghĩa là, trở lại với các thúc đẩy lịch sử và thần học của thánh ca về Đức Mẹ. Vì lý do này, một giáo trình về “Đức Maria và âm nhạc” không những phải trình bày hình ảnh của Đức Maria trong lịch sử âm nhạc, mà còn phải đưa ra những tiêu chuẩn đánh giá để hiểu đúng về việc sùng kính Đức Mẹ được thể hiện qua việc ca hát.
Nếu thần học đã sử dụng ngôn ngữ âm nhạc để diễn tả lòng sùng kính Đức Maria, điều đó có nghĩa là âm nhạc là phương tiện ưu tiên cho việc dạy giáo lý về Đức Mẹ. Thực vậy, ca hát được hình thành như một trong những yếu tố tự nhiên đầu tiên của các ngày lễ về Mẹ và là một phương tiện dễ dàng để diễn tả suy tư thần học trong việc thờ phượng, khi nó diễn tả phẩm giá của Đức Maria, vị trí và vai trò của Mẹ trong mầu nhiệm Chúa Kitô, trong lịch sử cứu độ và trong lịch sử Giáo hội.
Mỗi giai đoạn lịch sử đã trình bày một cách tốt nhất có thể những nội dung cơ bản của bài nhạc về Đức Mẹ: tình mẫu tử thiêng liêng của Đức Maria và sự liên kết của Đức Maria với mầu nhiệm Chúa Kitô.
Tôi tin rằng bắt đầu từ những ngày lễ về Mẹ, lịch sử âm nhạc có thể được vẽ lại, bằng cách làm nổi bật nơi chốn và thời đại mà trong đó nội dung của bài ca về Đức Maria được nhấn mạnh hoặc bị phản bội nhiều nhất. Ngay cả một danh sách đơn giản và ngắn gọn của các ngày lễ cũng rất quan trọng.
Các ngày lễ về Đức Mẹ có thể được tóm lược như sau: ở Đông phương, có Lễ Sinh nhật Đức Mẹ (được cử hành tại Giáo hội Giêrusalem), Maria Mẹ Thiên Chúa; Dâng Con Trong Đền Thờ hoặc Lễ Nến (Đức Maria là người đã kết hợp với những đau khổ cứu chuộc của Chúa Kitô, được tiên tri bởi ông già Simeon), Lễ Truyền Tin của Mẹ Thiên Chúa và Đức Maria Trọn Đời Đồng Trinh (Đức Maria là Eva mới kết hợp cách bất khả phân ly với Chúa Kitô là Ađam mới), Lễ Acathistus (được cử hành long trọng bằng bài thánh ca nổi tiếng, một bản tóm tắt thực sự về Thánh Mẫu học), Lễ Đức Mẹ Ngủ (Mẹ đã chiến thắng tội lỗi, đã bước theo Con của Mẹ đến sự sống; Mẹ cũng đã bước theo người Con của mình đến sự thánh thiện bằng sự vâng phục hoàn toàn của Mẹ) và các ngày lễ mang tính sùng mến hơn; ở phương Tây, các ngày lễ được cô đọng qua Lễ Giáng Sinh (ra đời ngay sau khi xây dựng đền thờ Liberia ở Roma), Lễ Dâng Mình, Lễ Truyền Tin, Lễ Mông Triệu và Sinh nhật Đức Maria.
Sự tiến triển tiếp theo
Những kinh nghiệm đầu tiên đề cập đến “hai lá phổi thiêng liêng” giữa Đông và Tây xác định mức độ sâu rộng của ý hướng hát mừng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, gắn liền với mầu nhiệm Cứu Chuộc, trong khi ở các thời đại tiếp theo, chúng ta cũng tìm thấy một cách thức để cầu nguyện và xây dựng mối liên hệ với Thiên Chúa, và nhờ đó mà Đức Maria được tôn sùng và gần gũi hơn. Vì thế, nếu ở Đông phương có thánh ca Byzantine và nhạc Bình Ca ở Tây phương thì chúng vẫn duy trì những điểm trọng tâm là luôn quy chiếu đến sự phong phú và tính vững chắc về nội dung. Các ngôn ngữ âm nhạc sau này đã dần dần bộc lộ một “khuôn mặt” mới hoặc khác của Đức Maria, có khi tương phản và có khi bổ túc cho nhau.
Chẳng hạn như Ars Antiqua, vào khoảng thế kỷ IX-X trong môi trường văn hóa của Pháp và Tây Ban Nha, và môi trường dân gian ở thế kỷ XIII, tác phẩm âm nhạc rất đặc thù được thực hiện bằng tiếng bản ngữ, tiếng Ý, ​​nơi mà hình ảnh Đức Trinh Nữ hiện diện tầng suất cao với những hình ảnh đầy thi vị (viên ngọc quý, người phụ nữ đội vương miện, nguồn suối nước v.v.), nhưng không phải lúc nào cũng liên quan đến Kinh thánh.
Tuy nhiên, vào thế kỷ 15, trong các bản chép tay quan trọng nhất, các bài hát thể hiện lòng nhiệt thành đối với Đức Mẹ vẫn chiếm ưu thế, gây bất lợi cho suy tư thần học.
Thời Phục hưng đã chứng kiến ​​sự gia tăng thực sự của âm nhạc dành cho Đức Mẹ trong phụng vụ (bốn đối ca kết thúc, Magnifcat, Litanies, Motets, Messa).
Giai đoạn Barốc, nhiều tác phẩm âm nhạc về Đức Mẹ nhìn thấy ánh sáng trong các hình thức đặc thù và hoa mỹ nơi các oratorio và cantata, với những sáng tác tự do đầy chất thơ.
Thời kỳ cổ điển ca ngợi Đức Maria với nền âm nhạc tinh tế và sự quý giá qua đó nó thêu dệt nên bản văn (chẳng hạn như tác phẩm nổi tiếng Litanies Lauretane của Mozart), trước khi nhường chỗ cho “thời lãng mạn”, đã lồng vào âm nhạc về Đức Mẹ một cảm giác chủ quan và không đúng cách của giáo hội, ngay cả khi nó được hỗ trợ bởi một tôn giáo sống động và chân thành.
Thế nhưng, thời hiện đại, không thiếu những tác phẩm xuất sắc dành riêng cho Đức Maria, với sự trở lại với các bản văn phụng vụ và những nội dung chân thực hơn về lòng tôn sùng Đức Mẹ.
Do đó, mỗi tác giả, tùy theo bối cảnh, đã ca ngợi Đức Maria với cảm thức tôn giáo đặc trưng của thời đại của mình. Vì vậy, chúng ta không thể luôn luôn và trong mọi tình huống nói về “sự phát triển” của thánh ca về Đức Mẹ, đặc biệt là nơi lòng sùng kính đã thất bại trong việc đan kết danh Đức Mẹ với bài ca về các mầu nhiệm của Chúa Kitô.
Kết luận
Việc phân tích sự hiện diện của Đức Maria trong lịch sử âm nhạc không thể thiếu tham chiếu Kitô học và Giáo hội học, để sao cho Đức Maria cùng được chiêm ngắm cách hòa hợp trong mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo hội.
Dưới ánh sáng này, tôi hy vọng rằng một Lịch sử “mới” đối với âm nhạc về Đức Mẹ có thể được viết ra, không có nghĩa là đưa ra một danh sách các tác giả và tác phẩm, nhưng đúng hơn là làm nổi bật tầm quan trọng vị trí của Đức Maria trong kế hoạch cứu độ. Điều này có thể được viết, bằng cách làm nổi bật và phân biệt các lý do truyền cảm hứng và nội dung cơ bản của bài ca về Đức Mẹ, thông qua một cuộc nghiên cứu lịch sử-mỹ học dành riêng cho con người Đức Trinh Nữ Maria trong tài liệu âm nhạc, từ khởi đầu cho đến ngày nay, nhằm nắm bắt các mô hình văn hóa – những hạn chế hoặc đôi khi bị biến dạng – ở mọi thời đại và mọi miền lãnh thổ.
G. Võ Tá Hoàng chuyển ngữ
Từ tạp chí Riparazione Maria; 2/2019; Trang 4-6

Tác giả bài viết: Giuse Võ Tá Hoàng chuyển ngữ

Read More
11Tháng Năm
2023

Thông dịch viên Lời Chúa

11/05/2023
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

 

Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

Than phiền bài giảng của các linh mục đã trở thành chuyện dài nhiều tập đến nỗi đi vào cả Tông huấn của Giáo hoàng: “Tôi đặc biệt chú ý đến bài giảng lễ và việc chuẩn bị bài giảng vì có quá nhiều lời ta thán về phận vụ quan trọng này, và chúng ta không thể không biết đến… Chúng ta biết rằng người giáo dân dành cho bài giảng tầm quan trọng đặc biệt, nhưng cả họ cũng như các thừa tác viên có chức thánh đều phải khổ sở vì các bài giảng: giáo dân khổ vì phải nghe, còn người giảng thì khổ vì phải giảng” (Evangelii Gaudium, 135). Trong câu trích dẫn trên, Đức Thánh Cha Phanxicô không chỉ nói đến nỗi khổ của giáo dân khi phải nghe giảng, mà còn nói đến nỗi khổ của các linh mục khi phải giảng! Mà đây lại là điều ít người để ý đến.

Trong thực tế, các linh mục có những khó khăn khi giảng Lời Chúa, những khó khăn mà các diễn giả khác không phải đối diện. Chẳng hạn cử tọa không thay đổi. Một giáo sư dạy một môn học, ông biên soạn một giảng trình và cử tọa của ông là các sinh viên, mỗi năm là một lớp sinh viên mới nên tuy giảng trình vẫn thế (có thay đổi chút đỉnh) mà người nghe vẫn thấy mới. Hoặc một diễn giả được mời thuyết trình trong hội nghị, ông biên soạn bài diễn văn công phu, và vẫn bài ấy, ông trình bày tại những hội nghị khác với cử tọa khác, bài thuyết trình của ông lúc nào cũng được người nghe coi là mới mẻ. Còn linh mục giảng Lời Chúa thì sao? Cũng một cử tọa ấy, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, và nếu linh mục ấy phục vụ tại giáo xứ từ 5 năm trở lên thì lấy đâu ra cái mới! Có khi vừa nghe mấy câu thì người ta đã xầm xì “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”!

Chưa hết, cử tọa của một giáo sư trên giảng đường là các sinh viên cùng trình độ, cử tọa của một diễn giả về một đề tài là những người quan tâm đến đề tài đó, vì thế họ có thể trình bày cách thích hợp với cử tọa. Còn cử tọa của linh mục tại giáo xứ thì sao? Thưa, đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi trình độ, làm sao để thích hợp với mọi người? Trong Triết Kinh viện có câu: “Bất cứ điều gì được đón nhận đều được đón nhận theo thể thức của người đón nhận”. Nếu lấy câu đó áp dụng cho việc giảng lễ của các linh mục, sẽ thấy rất phức tạp.

Nói thế không phải để than thở, cũng không phải để bênh nhau nhưng để có thể nói với nhau cách chân thành rằng dù có những khó khăn như thế, anh em linh mục phải luôn cố gắng chu toàn trách nhiệm cao quý đã lãnh nhận, và bài viết này mong được là sự chia sẻ thân tình trong bầu khí huynh đệ ấy.

Thông dịch viên

Để tìm một hình ảnh diễn tả việc giảng lễ của linh mục, tôi nhớ đến một linh mục đàn anh đã qua đời. Có lần ngài kể cho tôi nghe chuyện một người bạn cùng lớp ở chủng viện nhưng đã xuất tu, sau đó anh dồn sức học tiếng Anh để làm thông dịch viên cho người Mỹ. Vị linh mục đàn anh ấy nói với tôi: hắn học đến nỗi ho ra máu để làm thông dịch viên cho Mỹ, thế còn chúng ta học để làm thông dịch viên Lời Chúa thì sao! “Thông dịch viên Lời Chúa”, tôi nhớ mãi cụm từ ấy và muốn mượn hình ảnh này để suy nghĩ về nhiệm vụ giảng lễ của các linh mục.

Khi đất nước mở ra với các nước ngoài về hoạt động thương mại cũng như giao lưu văn hóa, thông dịch viên trở thành một ngành nghề cần thiết. Vậy, đâu là những phẩm chất cần thiết của một thông dịch viên giỏi?

Thông dịch viên giỏi là người phải thông thạo cả hai ngôn ngữ, ngoại ngữ và ngôn ngữ bản xứ. Giỏi ngôn ngữ bản xứ nhưng kém ngoại ngữ đương nhiên không thể thông dịch, nhưng giỏi ngoại ngữ mà yếu về ngôn ngữ bản xứ cũng không thể là thông dịch viên tốt. Do đó, sở hữu vốn từ vựng rộng lớn trong cả hai ngôn ngữ sẽ giúp thông dịch viên nhanh nhạy trong việc dùng từ chính xác và sinh động.

Cùng với sự thông thạo ngôn ngữ, thông dịch viên giỏi còn phải có kiến thức tổng quát và hiểu biết về văn hóa. Ngôn ngữ là phương tiện diễn tả tư tưởng, tâm tình, cảm xúc bên trong, và ngôn ngữ gắn liền với văn hóa. Vì thế nếu có sự hiểu biết rộng về lịch sử và văn hóa bản xứ cũng như nước ngoài, thông dịch viên có thể hiểu sâu về những điều người ta muốn diễn tả và truyền đạt cho người khác.

Ngoài ra, cũng như trong bất cứ lãnh vực nào khác, đạo đức nghề nghiệp là đòi hỏi tất yếu. Trong ngành thông dịch, đạo đức nghề nghiệp trước hết đòi hỏi sự trung thực, chuyển tải đúng những điều người khác muốn, không tự ý thêm bớt điều gì. Cùng với sự trung thực là bảo mật thông tin, tác phong lịch sự, nghiêm túc trong công việc.

Cuối cùng, thông dịch viên giỏi là người phải không ngừng trau dồi khả năng. Ngôn ngữ và kiến thức là biển cả mênh mông và không ngừng tiến triển, vì thế để là thông dịch viên giỏi, phải không ngừng trau dồi ngôn ngữ và sự hiểu biết, nhờ đó mới có thể đáp ứng nhu cầu cách thích đáng.

Thông dịch viên Lời Chúa

Lời của Chúa và lời của đời

Thông dịch viên là cầu nối cho cuộc đối thoại giữa hai người không cùng ngôn ngữ. Cũng thế, thông dịch viên Lời Chúa là cầu nối cho cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân của Người. Để phục vụ cuộc đối thoại ấy, linh mục phải hiểu biết Lời Chúa, cụ thể là các bài đọc trong Thánh Lễ. Thông thường các linh mục giảng lễ hay tự hỏi: “Tôi sẽ giảng điều gì để người nghe thấy hấp dẫn?” nhưng thực ra câu hỏi đầu tiên phải là: “Lời Chúa muốn nói gì với dân của Chúa?”, vì thế việc đầu tiên là phải đọc và tìm hiểu Lời Chúa qua các bài đọc. Đức Phanxicô trong Tông huấn Evangelii Gaudium (EG) cũng như Đức Bênêđictô XVI trong Verbum Domini (VD) đều nhấn mạnh đến phần việc quan trọng này và đưa ra những chỉ dẫn cụ thể (x. EG 150; VD 59):

– Phải đọc kỹ, chậm rãi, không vội vã, để ý đến những từ ngữ được lặp lại nhiều lần cũng như để ý cấu trúc của bản văn, mục đích là để tìm hiểu đâu là sứ điệp chính của trích đoạn mà ta đang đọc.

– Phải liên hệ bản văn ta đang đọc với giáo huấn của toàn bộ Kinh Thánh vì Chúa Thánh Thần không chỉ linh hứng một phần nhưng là toàn bộ Kinh Thánh.

– Đồng thời bản thân linh mục phải đọc bản văn Kinh Thánh như Lời Chúa nói với chính mình. Ai muốn rao giảng, phải sẵn sàng để cho Lời chạm đến và làm cho Lời hình thành cụ thể trong đời sống của mình, như thế mới có thể truyền đạt cho người khác điều mình chiêm ngắm; nếu không sẽ có nguy cơ chỉ là tiên tri giả. “Người giảng dạy Lời Thiên Chúa ở bên ngoài mà không nghe Lời ấy ở bên trong thì không thể mang lại hoa trái” (Augustino).

Tiếp đến, giảng không chỉ là giảng cái gì nhưng còn là giảng cho ai, vì thế cùng với việc hiểu biết Lời Chúa, linh mục còn cần phải hiểu biết cử tọa và đời sống của họ: “Người giảng phải có khả năng nối kết sứ điệp của bản văn Kinh Thánh với hoàn cảnh sống của con người, với một trải nghiệm đang kêu gào ánh sáng Lời Chúa. Đây không phải là chuyện tính toán cơ hội nhưng là đòi hỏi tôn giáo và mục vụ sâu xa” (EG 154). Chính điều này làm cho bài giảng lễ khác với bài chú giải Kinh Thánh, và cũng có thể nói là thách đố lớn nhất của việc giảng lễ, đòi hỏi linh mục phải vừa lắng nghe Lời Chúa vừa lắng nghe lời của đời, nhất là tâm tư của những người mình được sai đến công bố Lời Chúa cho họ. Chính vì thế, “Bài giảng là viên đá thử để đánh giá việc gần gũi của mục tử với giáo dân” (EG 135).

Soạn giảng

Thông dịch viên là một nghề và đòi hỏi phải có đạo đức nghề nghiệp, huống chi thông dịch viên Lời Chúa là một ơn gọi, thì linh mục giảng lễ lại càng phải có tinh thần trách nhiệm lớn hơn, trách nhiệm trước mặt Chúa và trách nhiệm với dân Chúa. Trách nhiệm ấy đòi hỏi linh mục phải chuẩn bị bài giảng lễ cho chu đáo hết sức có thể: “Mỗi tuần nên dành một thời gian cá nhân hay tập thể rất cần thiết cho trách nhiệm này, dù phải bớt thời giờ cho những công việc khác, kể cả những việc thật quan trọng” (EG 145). Nếu không chuẩn bị bài giảng cho tốt, linh mục giảng lễ sẽ làm mất thời giờ của cộng đoàn, tệ hơn nữa, còn làm cho cộng đoàn chán ngán Lời Chúa và đời sống đức tin sa sút.

Lý do thường được viện dẫn để biện minh cho việc thiếu chuẩn bị bài giảng là “không có giờ, quá nhiều việc phải lo”! Tuy nhiên nếu chúng ta chân thành nhìn lại đời sống của mình, có lẽ vấn đề không phải là không có giờ nhưng “đâu là ưu tiên hàng đầu của chúng ta?” Nếu ưu tiên hàng đầu là giảng Lời Chúa thì chúng ta sẽ có thể sắp xếp thời gian thích hợp cho công việc này.

Lý do khác cũng hay được viện dẫn là “các bài đọc đã quá quen, chẳng có gì mới nên không cần chuẩn bị”! Chúng ta quên rằng Lời Chúa luôn mới mẻ và cuộc sống con người cũng không ngừng thay đổi. Hãy thử đọc những bài giảng của Đức Bênêđictô XVI hoặc của Đức Phanxicô xem, cũng cùng một bài Tin Mừng ấy, các ngài giảng nhiều năm và lần nào cũng cung cấp cái nhìn mới về Lời Chúa. Vì thế viện dẫn lý do “đã quá quen” thực ra chỉ là để biện minh cho sự lười biếng của mình.

Một bài giảng tốt là bài giảng tác động trên con người toàn diện: soi sáng trí khôn, đánh động tâm hồn, thúc đẩy hành động. Vì vậy cần có thời giờ chuẩn bị kỹ lưỡng bằng việc cầu nguyện, suy nghĩ, đào sâu, tìm kiếm cách diễn tả. Nên tập trung vào một chủ đề hơn là trình bày quá nhiều ý tưởng rải rác, thiếu liên kết, khiến người nghe khó lĩnh hội. “Một ý tưởng, một tâm tình, một hình ảnh” là lời khuyên cụ thể của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nếu được, nên viết ra vì khi viết, chúng ta có thể chọn những từ ngữ và cách diễn đạt thích hợp và giúp người nghe dễ đón nhận hơn.

Thuyết giảng

Biên dịch chỉ cần dịch cho đúng và hay, thông dịch còn đòi hỏi thêm là phải nói, phát âm chuẩn để người ta hiểu. Linh mục giảng lễ cũng thế, phải nói sao cho người ta nghe được, hiểu được, cảm được: “Một số người nghĩ rằng họ có thể trở thành những nhà giảng thuyết tốt vì họ biết phải nói cái gì, nhưng lại chểnh mảng về việc phải nói thế nào, cách cụ thể là khi trình bày bài giảng. Họ than phiền là người ta không chịu lắng nghe hoặc không đánh giá họ cao, nhưng có thể là họ đã không chú tâm đến cách trình bày sứ điệp” (EG 156). Vì thế, linh mục giảng lễ nên quan tâm đến một số điều về thuyết giảng:

– Giọng nói: phát âm chuẩn, không nói ngọng hoặc nói sai, không quá nhanh vì sẽ khó nghe, không quá chậm vì sẽ tạo cảm giác mệt mỏi, hơn nữa là giọng nói có khả năng diễn đạt cảm xúc và chạm đến tâm hồn người nghe.

– Ngôn ngữ thích hợp: không dung tục vì đây là lời rao giảng trong khung cảnh phụng vụ, cũng không quá chuyên môn, xa lạ với cử tọa. Ngôn ngữ giảng là ngôn ngữ đơn sơ, rõ ràng, tích cực: “Điều thường xảy ra là các vị giảng thuyết sử dụng những ngôn từ có tính học thuật nhưng không phải là ngôn từ thông dụng của người nghe. Đó là những thuật ngữ đặc thù của thần học và giáo lý, nhưng phần đông các tín hữu lại không hiểu… Để có thể giúp họ tiếp cận Lời Chúa, vị giảng thuyết phải lắng nghe, chia sẻ đời sống của họ và chú tâm đến họ nhiều hơn” (EG 158).

– Thời lượng: giảng lễ là giảng trong cử hành phụng vụ chứ không phải trong một giờ học hoặc hội thảo, vì thế bài giảng lễ không thể quá dài. Hơn nữa, bài giảng quá dài có thể làm mất đi sự hòa hợp giữa các phần phụng vụ cũng như nhịp điệu phụng vụ (x. EG 138). Không thể ấn định cách quá máy móc về thời lượng bài giảng lễ, tuy nhiên cách chung vì các linh mục làm việc tại các giáo xứ phải giảng thường xuyên mỗi Chúa nhật (chưa kể hằng ngày) nên có thể chọn khung thời gian cho một bài giảng lễ Chúa nhật là 7 – 10 phút.

– Tác phong: linh mục giảng lễ mang trên người phẩm phục phụng vụ, giảng trong bầu khí cử hành phụng vụ, sau bài giảng lễ là Phụng vụ Thánh Thể … tất cả những điều đó bày tỏ ý nghĩa đặc biệt của bài giảng lễ và vai trò đặc biệt của vị giảng lễ. Chính ý nghĩa và vai trò ấy đòi hỏi vị giảng lễ phải có tác phong thích hợp. Nói cách khác, linh mục giảng không chỉ bằng lời nói mà còn bằng ngôn ngữ không lời, và tác phong của ngài trong toàn bộ cử hành phụng vụ đóng vai trò quan trọng. Một bài giảng tốt cùng với việc cử hành sốt sắng và trang nghiêm chắc chắn sẽ mang lại ơn ích thiêng liêng cho cộng đoàn dân Chúa.

Vun trồng vốn liếng

Trong chương trình đào tạo ở các đại chủng viện, Giảng thuyết là môn học thường được xếp vào năm cuối của chương trình. Như thế, cách nào đó, việc giảng lễ của các linh mục vừa là kết quả vừa thể hiện ra bên ngoài tất cả những điều linh mục đã tiếp thu trong chương trình đào tạo. Nói như thế có nghĩa là bài giảng lễ của các linh mục được hình thành trên nền tảng đã có trước, tức là kiến thức Kinh Thánh và thần học, kinh nghiệm thiêng liêng và mục vụ, vốn sống và khả năng suy tư của mỗi người. Đây là lý do giải thích tại sao cũng dựa trên cùng các bài đọc nhưng các bài giảng lại được khai triển khác nhau.

Nền tảng ấy đã có nhưng không phải là một món hàng thủ đắc một lần là xong, nền tảng ấy cần phải tiếp tục được củng cố và phát triển trong suốt đời sống linh mục. Chính vì thế các linh mục được khuyến khích không ngừng học hỏi: “Những kiến thức của các thừa tác viên thánh cũng phải thánh vì phát xuất từ nguồn mạch thánh và quy hướng về cùng đích thánh. Vì thế kiến thức đó trước hết được kín múc từ việc đọc và suy gẫm Thánh Kinh, đồng thời cũng tăng thêm hiệu quả nhờ việc nghiên cứu những tài liệu của các Giáo phụ, các thánh Tiến sĩ và các chứng từ khác của Thánh Truyền. Ngoài ra, để trả lời thỏa đáng cho những vấn nạn của con người thời nay, các linh mục phải tìm hiểu thấu đáo những tài liệu của Huấn Quyền, nhất là của các Công đồng và các Giáo hoàng, cũng như phải tham khảo những tác giả thần học thời danh đã được Giáo Hội thừa nhận” (Presbyterorum Ordinis, 19).

Hơn thế nữa, chúng ta đang sống trong một thời đại mà tri thức nhân loại phát triển rất nhanh, vì thế linh mục lại càng cần tự trau dồi: “Trong thời đại ngày nay, văn hóa nhân loại và ngay cả các ngành học thánh đã có những bước tiến mới, vì thế các linh mục phải không ngừng trang bị thật đầy đủ kiến thức về Thiên Chúa và về con người, đó là cách tự chuẩn bị để có thể đối thoại cách thích hợp hơn với những người đương thời” (Presbyterorum Ordinis, 19). Đây là lý do các Giáo phận cố gắng tổ chức các khóa thường huấn hằng năm cho các linh mục. Tuy nhiên điều cần thiết không kém là mỗi linh mục phải tự đào tạo, dành thời giờ để đọc sách và học hỏi thêm.

* * *

Giảng lễ là tác vụ cao quý được trao ban cho các thừa tác viên có chức thánh: “Mỗi người đều có bổn phận và nhiệm vụ liên quan tới Lời Thiên Chúa: các tín hữu phải lắng nghe và suy niệm Lời; còn chỉ những ai đã nhận được nhiệm vụ giáo huấn do Bí tích Truyền chức thánh hoặc những ai đã được trao phó thi hành thừa tác vụ này, tức là các Giám mục, linh mục và các phó tế, thì mới trình bày Lời Chúa” (VD 59). Câu trích dẫn này cho thấy giảng lễ vừa là đặc ân dành riêng cho các linh mục và cũng là trách nhiệm nặng nề. Trách nhiệm ấy đòi hỏi linh mục phải gắn bó mật thiết với Lời Chúa: “Chúa muốn sử dụng chúng ta như những con người sống động, tự do và sáng tạo, hoàn toàn để cho Lời của Người thấm nhập chúng ta, trước khi chúng ta truyền đạt Lời này; sứ điệp của Chúa phải đi ngang qua vị giảng thuyết, không chỉ ngang qua lý lẽ của ngài nhưng chiếm hữu trọn vẹn cuộc sống của ngài” (EG 151).

Câu hỏi mỗi linh mục phải đặt ra cho mình không phải là “tôi giảng có hay không, có được người ta ca tụng không?” nhưng là “tôi đã cố gắng làm hết sức mình chưa?” Hãy làm hết sức như thể kết quả hoàn toàn là do mình, và phó thác nơi Chúa như thể mọi kết quả là từ nơi Chúa.

Nguồn: giaophanmytho.net (08.5.2023)

Đọc thêm bài trong mục “Câu chuyện đầu tuần” của Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm:

17 – Thông dịch viên Lời Chúa

16 – Thánh Giuse và nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa

15 – Tôn vinh lòng thương xót

14 – Mầu nhiệm Phục Sinh và giá trị thân xác

13 – Giới trẻ và Chúa nhật Lễ Lá

12 – Những nấm mồ trên mạng xã hội

11 – Thánh Giuse và nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa

10 – Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, máng thông ơn Chúa

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 18
  • Page 19
  • Page 20
  • …
  • Page 78
  • Next page
Bài viết mới nhất
Phụ nữ Công giáo trẻ mang đức tin vào cuộc sống hàng ngày trực tuyến
09/05/2026
‘Mẹ tôi là Why’ của tôi: Mối liên kết không thể phá vỡ của Fernando Mendoza với mẹ và trận chiến của bà với MS
09/05/2026
Đức Giáo Hoàng Leo XIV Thực Hiện Cuộc Hành Hương Thánh Mẫu Nhân Kỷ Niệm 1 Năm Làm Giáo Hoàng
09/05/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.