2023
Mối tương quan giữa Giáo Lý và Phụng Vụ
Mối tương quan giữa Giáo Lý và Phụng Vụ

Giáo lý và phụng vụ là hai phạm trù khác nhau với những đặc tính chuyên biệt. « Giáo lý là trình bày Lời Thiên Chúa một cách đơn giản, cụ thể, sống động, để giúp tín hữu hiểu và sống đức tin. »[1] Phụng vụ là nơi Lời Chúa được công bố, được lắng nghe, được nội tâm hóa và được giải thích[2]. Tuy nhiên, hai phạm trù này luôn liên kết với nhau và bổ sung cho nhau. Điểm chung của giáo lý và phụng vụ đều quy về một đức tin sống động, làm cho đối tượng tham gia được hiểu biết, yêu mến Thiên Chúa và gặp gỡ cá vị với Ngài, nhờ vào nguồn mạch Lời Chúa. Ngoài ra, mối tương quan này còn được biểu lộ khi mà giáo lý là nơi đọc lại kinh nghiệm sống đức tin trong phụng vụ ; phụng vụ là nơi nuôi dưỡng và củng cố đức tin được truyền đạt trong giáo lý. Thánh bộ giáo sĩ trong Hướng dẫn đại cương về việc dạy giáo lý nhận định rằng : « Do tính cách sinh động nội tại, đức tin buộc phải được biết, được cử hành, được sống và được diễn tả bằng sự cầu nguyện. Việc dạy giáo lý phải cổ động tất cả những chiều kích đó.» (số 84) Nói cách khác, giáo lý phải nối kết với cử hành phụng vụ và các bí tích để giúp người tham dự có kinh nghiệm sống động về đức tin- kinh nghiệm gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô và để Ngài lớn lên trong cuộc sống. Để hiểu rõ hơn mối tương quan này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu những điểm sau đây.
- Giáo lý là nơi đọc lại kinh nghiệm sống đức tin trong phụng vụ
- Học viên được tham gia phụng vụ qua cử chỉ làm dấu thánh giá để tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi; qua cầu nguyện, ca hát, băng reo, trò chơi, đố vui… để thờ phượng, tôn vinh, ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa; qua việc sám hối để lãnh nhận các Bí tích.
- Học viên được thấy ý nghĩa của các nghi thức được cử hành trong phụng vụ qua việc lắng nghe, học hỏi, giải thích, cắt nghĩa Lời Chúa. Ví dụ, việc đổ nước trong Bí tích Rửa tội có thể tìm thấy trong trình thuật sáng tạo: Thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước, khai sinh mầm sống (x.St 1,1-2) ; lụt hồng thủy làm chết đi một thế giới cũ đầy tội lỗi (x.St 7,21-23) và sinh ra một thế giới mới tràn ngập ân sủng (x.St 8,15-17) ; vượt qua biển đỏ- nước biển đỏ giết chết người Ai Cập, nhưng là nước tái sinh người Do Thái. « Cũng như người Do Thái vượt qua Biển Đỏ để đến bến bờ của tự do, người Kitô hữu, nhờ dòng nước tái sinh của bí tích này, trở nên con cái Thiên Chúa. Họ bước qua tăm tối để đến với ánh sáng. Dòng nước tái sinh đã gột rửa họ khỏi tội nguyên tổ và những tội lỗi đã phạm. »[3] Ngoài việc được thấu hiểu Lời Chúa, Lời Chúa còn đánh động tâm hồn, chất vấn con người và cuộc sống, để nhận biết mình hầu sửa đổi và tích cực làm chứng cho đức tin đã lãnh nhận.
- Học viên được mời gọi nối dài việc cử hành phụng vụ trong đời sống thường ngày, bằng việc tích cực sống đức tin được tuyên xưng, dám để cho những gì mình cảm nhận và xác tín được thể hiện trong cuộc sống dưới cái nhìn và cách thức của Đức Kitô.
- Phụng vụ là nơi nuôi dưỡng và củng cố đức tin được truyền đạt trong giáo lý
Ngoài ra, phụng vụ là nguồn mạch của giáo lý. Phụng vụ hiện tại hóa các mầu nhiệm Kitô giáo được truyền đạt trong giáo lý. Qua việc tham dự phụng vụ, học viên giáo lý được lắng nghe Lời Chúa, được lời của Chúa Kitô cảm hóa và biến đổi, được gặp gỡ cá vị và đón nhận các chân lý mạc khải của Thiên Chúa, được đi sâu vào mối tương quan hiệp thông thân mật với Ngài. Hiến chế về phụng vụ nêu rõ: « Trong việc cử hành Phụng Vụ, Thánh Kinh giữ vai trò tối quan trọng. Thực vậy, người ta trích từ Thánh Kinh những bài để đọc, những bài để dẫn giải trong bài giảng, cũng như những ca vịnh để hát. Chính nguồn cảm hứng và sức phấn khởi của Thánh Kinh cũng làm xuất phát những lời kinh, lời nguyện và những bài phụng ca, đồng thời còn làm cho những động tác và các biểu hiệu trở thành ý nghĩa. » (số 24) Quả thật, chính nhờ tham dự phụng vụ mà đức tin của học viên giáo lý được nuôi dưỡng. Một khi đức tin được lớn mạnh, chắc chắn họ tự nguyện tuyên xưng và can đảm sống lời Chúa dạy. Như vậy, đức tin được truyền đạt trong giáo lý được củng cố và được tuyên xưng cụ thể trong đời sống. Vì thế, học viên giáo lý cần tham dự phụng vụ cách tích cực, « một cách ý thức, thành kính và linh động: [Các Kitô hữu] được đào tạo bởi lời Chúa; được bổ sức nơi bàn tiệc Mình Chúa; họ tạ ơn Chúa; và trong khi dâng lễ vật tinh tuyền, không chỉ nhờ tay linh mục mà còn liên kết với ngài, họ tập dâng chính mình; và ngày qua ngày, nhờ Chúa Kitô Trung Gian, họ được tiêu hao trong tình kết liên với Thiên Chúa và với nhau, để cuối cùng Thiên Chúa trở nên mọi sự trong mọi người. »[4] Chính Đức Giêsu hiện diện trong các nghi thức phụng vụ và chính Ngài hướng dẫn đời sống mỗi người : « Người hiện diện thiết thực trong các Bí Tích nhờ quyền năng của Người […] Người hiện diện thiết thực trong lời của Người vì chính Người nói khi người ta đọc Thánh Kinh trong Giáo Hội. Sau hết Người hiện diện khi Giáo Hội khẩn cầu và hát Thánh Vịnh »[5]. Nếu học viên giáo lý tham dự phụng vụ cách tích cực như đã nêu trên, thì đức tin của họ thật sự sống động và có sức lan tỏa. Họ có kinh nghiệm sâu sắc về Chúa, sống đức tin cách chủ động hơn trong việc loan báo Tin Mừng, làm cho Tin Mừng vang vọng trong lòng mọi người. Thánh sử Luca cho chúng ta thấy rất rõ điều này, khi đọc tường thuật « Đức Giêsu hiện ra với hai môn đệ trên đường Emmau ». Sau khi được Chúa Giêsu đồng hành, chia sẻ, giải thích Thánh Kinh và nhất là qua cử chỉ « bẻ bánh », hai môn đệ tin nhận Ngài là Đấng phục sinh. Nhờ « tiệc » Thánh Thể này, đức tin của hai ông được củng cố- mắt họ mở ra, lòng họ bừng cháy và tim họ được thôi thúc lên đường làm chứng cho Chúa (x.Lc 24,13-35). Đức tin là quà tặng mà Thiên Chúa ban nhưng không cho mỗi người Kitô hữu. Nó không thể vững vàng nếu không được tuyên xưng, được cử hành, được sống và được gắn kết với Đức Kitô. Môi trường giáo lý và phụng vụ là nơi thuận tiện nhất để đào sâu sự hiểu biết về đức tin, nuôi dưỡng và phát triển đời sống đức tin. Sự liên kết chặt chẽ giữa giáo lý và phụng vụ dẫn đưa con người vào cuộc gặp gỡ và kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu Kitô. Đây cũng là mục đích tối hậu của giáo lý[6].
- Mối tương quan mật thiết giữa giáo lý và phụng vụ
Một học viên giáo lý phổ thông, sau khi rước lễ lần đầu, không tha thiết học giáo lý và bỏ học giáo lý ; nhưng vẫn tham dự thánh lễ ngày Chúa nhật. Việc em tham dự phụng vụ Thánh lễ có giúp em cảm nhận ơn ích của việc mình làm không, hay chỉ vì để chu toàn bổn phận- bỏ lễ sẽ mắc tội trọng ? Ngược lại, một em đi học giáo lý đều đặn, nhưng không bao giờ tham dự phụng vụ và bí tích, nhất là Thánh lễ. Có thể em biết về Chúa, biết trên lý thuyết (kiến thức đức tin), nhưng lại mới mẻ về việc cử hành đức tin (tham dự phụng vụ). Đức thánh cha Phanxicô, trong buổi tiếp kiến chung ngày 03/02/2021, nhận định : « Người Kitô hữu chúng ta cần phải tham dự vào các mầu nhiệm thánh. Một Kitô giáo không có phụng vụ là một Kitô giáo không có Chúa Kitô. »[8] Quả thật, nhờ phụng vụ mà ta liên kết với Đức Kitô, cảm nghiệm rất riêng về Ngài, đụng chạm đến Ngài, đức tin được vững vàng khi cọ sát với những thách đố và cám dỗ của thời đại. Cho nên, dạy giáo lý không dừng lại ở việc truyền tải đức tin, hiểu biết về đức tin, nhưng còn giúp học viên tuyên xưng đức tin trong cử hành phụng vụ, cầu nguyện và chiêm niệm mầu nhiệm Đức Kitô, giáo dục đời sống cộng đoàn và khai tâm cho việc truyền giáo[9]. Chính phụng vụ làm cho đức tin được thông truyền qua giáo lý trở nên rõ ràng và cụ thể hóa trong cuộc sống.
Mặc khác, toàn bộ nội dung giáo lý hầu như được xoay quanh các bài đọc Lời Chúa trong phụng vụ; và phụng vụ làm cho ta lặng sâu vào cuộc sống của Thiên Chúa thông qua các nghi thức cử hành. Nhờ lắng nghe, suy niệm các bài đọc trong Thánh lễ, ta biết được chính mình vì được Lời Chúa chất vấn. Quả thật, tiếp xúc với Lời Chúa là tiếp xúc với Đức Kitô. « Đức Kitô hằng hiện diện trong Hội Thánh, nhất là trong các hoạt động phụng vụ. Sự hiệp thông với Chúa Kitô đưa đến cử hành sự hiện diện cứu độ của Người trong các Bí Tích, đặc biệt trong bí tích Thánh Thể. Hội Thánh ước ao hết sức cho tất cả giáo dân được tham dự đầy đủ vào Bí tích đó, cách ý thức và linh động »[10]. Thánh bộ giáo sĩ nhận định rằng : « việc dạy giáo lý phải liên kết mật thiết với toàn thể sinh hoạt phụng vụ và bí tích. Thế mà thường xuyên việc dạy giáo lý chỉ có mối tương quan rất ít và rời rạc với phụng vụ. Người ta chỉ chú tâm đến dấu chỉ và nghi thức phụng vụ mà không đánh giá cao cội nguồn phụng vụ. Rất ít hay không hề có những phần giáo lý nói đến năm phụng vụ và những cử hành phụng vụ chỉ được coi như chuyện bên lề. »[11] Là giáo lý viên, việc dạy giáo lý của tôi có hướng đến phụng vụ nhằm giúp học viên đi « vào mầu nhiệm Đức Kitô (mystagon), dẫn từ hữu hình đến vô hình, từ dấu chỉ đến thực tại, từ “các bí tích” tới “các mầu nhiệm” »[12] không ? Tôi có thao thức giúp học viên tiếp xúc với Lời Chúa và giải thích Lời Chúa cách đơn giản, cụ thể, sống động trong giờ giáo lý, để giúp họ cảm được Chúa đang nói, đang sống, đang hoạt động trong cuộc sống, và nhất là trong mọi cử hành phụng vụ và các bí tích không ? Đức thánh cha Phanxicô nhấn mạnh rằng: “Mỗi khi chúng ta cử hành một Bí tích Rửa tội, hoặc thánh hiến bánh và rượu trong Bí tích Thánh Thể, hoặc xức dầu thánh cho thân thể một người bệnh, thì Chúa Kitô ở đây! Chúa hiện diện giống như Người đã hiện diện khi chữa lành chi thể đau yếu của một người bệnh, hoặc khi trao ban di chúc của Người trong Bữa Tiệc Ly để cứu độ thế gian.”[13]
Tạm kết
Bài viết nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự liên kết giữa giáo lý và phụng vụ, đối với đời sống đức tin của người Kitô hữu. Cả hoạt động giáo lý và phụng vụ đều hướng họ đến đức tin sống động và trưởng thành- một đức tin được tuyên xưng, được cử hành, được thể hiện qua cuộc sống, được chuyển thành lời cầu nguyện. Để có thể đạt đến điều này, một mặt, giáo lý viên cần quan tâm hơn nữa đến việc nối kết giáo lý với phụng vụ trong giờ gặp gỡ giáo lý, hầu giúp học viên giáo lý yêu thích tham dự phụng vụ và nhờ phụng vụ, họ đón nhận ân sủng Chúa ban để nuôi dưỡng đời sống đức tin ; giúp họ gặp gỡ và yêu mến Giêsu hơn, yêu mến Giáo hội hơn . Mặt khác, thừa tác viên cử hành phụng vụ và các bí tích, nhất là Thánh lễ cần chuẩn bị bài giảng thật chu đáo, vì « có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Ðức Kitô. » (Rm 10,17). Thông qua bài giảng, học viên và người tham dự thấy, hiểu, cảm Chúa đang nói với mình và mình trò chuyện với Chúa, gặp gỡ Chúa, chạm đến Chúa và được Chúa chạm đến. Gặp gỡ Chúa làm cho đức tin của họ được nuôi dưỡng, được củng cố, được đào sâu và được lớn lên. Nhờ thế, họ có thể làm chứng cho Đức Kitô ngay cả khi đối diện với mọi biến cố và thách đố của cuộc sống.
( MTG QN)
2023
Ban Thánh nhạc: Bản ghi nhớ để thực hiện việc hát cộng đồng trong phụng vụ
Ủy ban Thánh nhạc: Bản ghi nhớ để thực hiện việc hát cộng đồng trong phụng vụ
HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
ỦY BAN THÁNH NHẠC
BẢN GHI NHỚ ĐỂ THỰC HIỆN
VIỆC HÁT CỘNG ĐỒNG TRONG PHỤNG VỤ
Hội thảo Thánh nhạc Toàn quốc lần thứ 50 với chủ đề Nhận định và góp ý về việc ca hát của cộng đoàn phụng vụ đã diễn ra tại Trung tâm Mục vụ Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 25-4-2023. Với sự hiện diện và đồng hành của Đức cha Aloisiô Nguyễn Hùng Vị, Chủ tịch Ủy ban Thánh nhạc và cha Phêrô Kim Long, nguyên Phó chủ tịch, các Ban Thánh nhạc thuộc các Giáo phận đã chia sẻ về việc hát cộng đồng trong phụng vụ.
Các hội thảo viên đã thảo luận về các bản tường trình của các Giáo phận (Bà Rịa, Bắc Ninh, Bùi Chu, Đà Lạt, Hà Nội, Huế, Hưng Hóa, Mỹ Tho, Phan Thiết, Phát Diệm, Phú Cường, Qui Nhơn, Sài Gòn, Xuân Lộc) và đúc kết như sau:
- Nhận định:
- Trong phụng vụ, toàn thể việc phụng tự công cộng được thực thi nhờ Nhiệm Thể Chúa Kitô, nghĩa là Đầu cùng các chi thể của Người. Bản chất của phụng vụ đòi hỏi mọi người tham dự vào các việc cử hành phụng vụ cách ý thức và tích cực – đây là quyền lợi và bổn phận của mọi Kitô hữu nhờ được lãnh nhận phép Rửa tội.Hát cộng đồng là phương thế hàng đầu để có được sự tham dự trọn vẹn này.
- Ca đoàn hỗ trợ chứ không thay thế cộng đoàn.
- Cộng đoàn phụng vụ Việt Nam có được những thuận lợi: tín hữu thích hát và có khả năng hát, có nhiều bài hát cộng đồng, có dồi dào các phương tiện công nghệ.
- Và cũng có những khó khăn: nhiều cộng đoàn thiếu người chọn bài hát đúng phụng vụ và tập hát; nhịp sống đời thường khiến dân chúng khó dành thời giờ cho việc tập hát; nhiều ca đoàn quá chú trọng đến việc hát bài mới nhưng thiếu tính cộng đồng; một số nơi chưa có được sự chăm sóc mục vụ thánh nhạc đúng mức.
- Giải pháp thực hiện:
- Quan tâm đến cả hai thành phần: cộng đoàn và ca đoàn – vừa cổ võ việc đồng thanh ca hát của cộng đoàn, vừa khích lệ ca đoàn trau chuốt những bài ca có nghệ thuật cao.
- Chọn cho cộng đoàn bài hát mới hay cũ có ca từ chính xác, dễ hiểu, với giai điệu dễ hát và dễ nhớ.
- Chọn lựa hài hòa các bài hát cho các đại lễ và các Thánh lễ có nghi thức riêng, vì đây là dịp thuận tiện nhất để cả cộng đoàn và ca đoàn đều có thời gian để ca hát.
- Tạo lập dần dần sự thống nhất từ cấp giáo xứ đến tầm mức toàn quốc ở các bài ca cho những phần thường lễ mà giáo dân được đồng thanh ca hát (những phần đối đáp, bộ lễ, lời tung hô sau truyền phép, vinh tụng ca Amen kết thúc Kinh nguyện Thánh Thể, kinh Lạy Cha) và các bài ca cho các phần riêng (thánh vịnh đáp ca, Alleluia).
- Soạn thảo danh sách đề nghị các bài ca phụng vụ cho từng Chúa nhật và Lễ trọng với tỉ lệ đáng kể dành cho việc hát cộng đồng.
- Ban hành những chỉ thị chi tiết và cụ thể về mục vụ thánh nhạc cho cộng đoàn và ca đoàn.
TP.HCM, ngày 25 tháng 4 năm 2023
Chủ tịch Ủy ban Thánh nhạc
(đã ấn ký)
† Aloisiô Nguyễn Hùng Vị
Giám mục Giáo phận Kontum
Thư ký Ủy ban Thánh nhạc
(đã ký)
Lm. Rôcô Nguyễn Duy
2023
Hỏa Ngục Có Phải Là Một Nơi?
Hỏa Ngục Có Phải Là Một Nơi?
Hỏa ngục ở đâu? Nếu bạn đào sâu xuống dưới lòng đất, xuyên qua lớp vỏ bề mặt và lớp vỏ mắc ma (magna), bạn sẽ tới lõi sắt của trái đất, nhưng sẽ không tìm thấy Ma Quỷ và tay sai của hắn. Hỏa ngục không có vị trí trong không gian, không có kinh độ hoặc vĩ độ. Không GPS nào có thể tìm thấy và cũng không có mã ZIP, hoặc mã vùng hoặc URL.
Tuy nhiên, hỏa ngục là có thật. Bách khoa toàn thư Công giáo (The Catholic Encyclopedia) trích dẫn lời thánh Gioan Kim Khẩu [John Chrysostom (347–407 AD)] nói với chúng ta rằng “Chúng ta không nên hỏi hỏa ngục ở đâu, nhưng nên hỏi làm thế nào chúng ta thoát khỏi đó.” Chúa Giêsu cảnh báo về lửa hỏa ngục (tiếng Do Thái gọi là Gehenna) ít nhất mười lăm lần trong các sách Tin Mừng. Tiếng Hy Lạp sử dụng hai từ cho hỏa ngục là hádés và géenna. Cũng vậy, tiếng Do Thái sử dụng tương ứng với hai từ Sheol và Gehenna. Từ đầu tiên chỉ nơi cư ngụ tạm thời của người đã chết, và từ thứ hai là một nơi ở vĩnh viễn. Tuy nhiên, tiếng Anh sử dụng một từ để diễn tả cả hai: hỏa ngục. Cách duy nhất để chúng ta phân biệt là một từ để nói về “hỏa ngục của người chết” và từ còn lại để nói về “hỏa ngục của người bị kết án đời đời”.
Sau tội nguyên tổ, không một linh hồn nào có thể lên thiên đàng cho đến khi loài người được Đấng Cứu Thế, là đức Giê-su Ki-tô cứu chuộc. Chỉ có kẻ dữ mới đáng bị án phạt đời đời trong hỏa ngục, nhưng nếu họ không thể lên thiên đàng, mà lại không quá xấu để phải xuống hỏa ngục, thì họ đã đi về đâu? Điều gì đã xảy ra với A-Đam và E-và, Ab-ra-ham và Sa-ra, I-sa-ác, Gia-cóp, Giu-se, Ra-khen, Rút, Ét-te, Giút …? Các nhà thần học sử dụng thuật ngữ “hỏa ngục của người chết” để mô tả nơi các vị anh hùng tốt lành và đạo hạnh này của thời Cựu Ước đã đến và đợi hằng thế kỷ cho đến khi đấng Mê-si-a xuất hiện.
Tuy nhiên, kẻ dữ phải sa “hỏa ngục đời đời”. Đây là nơi ban đầu được tạo ra cho ma quỷ và và các sứ thần của nó. Thiên Chúa chỉ tạo ra những thiên thần tốt, nhưng một phần ba trong số họ đã ra hư hỏng vì ý chí tự do của mình. Lu-xi-phe là một trong những thiên thần thông minh nhất trong số đó. Mi-ca-e, Ga-ri-en, và Ra-pha-en (các tổng lãnh thiên thần) là một phần của hai phần ba các thiên thần đã chọn sự thiện. Những thiên thần xấu, Lucifer, Bê-en-dê-bun, As-mo-đê-us, và Lê-vi-a-than, trở thành những thiên thần “sa ngã”, và hỏa ngục được tạo ra cho chúng như là nơi ở vĩnh viễn; đó là một nơi rất khó chịu, đặc trưng bởi sự đau khổ triền miên, vì hoàn toàn vắng bóng tình yêu.
“Đau khổ của hỏa ngục” (poenae inferni) có hai loại. Đau khổ của mất mát (poena damni) là đau khổ vì vĩnh viễn xa cách Thiên Chúa, Đấng là tình yêu. Thiên Chúa là sự viên mãn những gì linh hồn con người khao khát và ước muốn – về căn bản, đó là chân lý và sự thiện – Hai điều này là đối tượng của của lý trí và ý chí. Lý trí tìm kiếm chân lý, và ý chí tìm kiếm điều thiện hảo; Cả lý trí và ý chí chỉ hoàn toàn thỏa mãn và trọn vẹn trong Thiên Chúa, Đấng là Chân Lý và Sự Toàn Thiện (summum bonum). Không bao giờ có được điều và chỉ điều duy nhất có thể khiến bạn hạnh phúc vĩnh cửu là đau khổ của mất mát. Đau đớn giác quan (poena sensus) là đau khổ thể chất đi kèm với đau khổ mất mát. Đó cũng chính là “lửa” và “khóc lóc nghiến răng”, là sự tra tấn và đau khổ phải chịu trong hỏa ngục – đặc biệt sau khi cơ thể được hợp nhất với linh hồn sau phục sinh.
Lửa là cách nói ẩn dụ, vì linh hồn phi vật chất nên không thể bị thiêu đốt, nhưng thân xác phục sinh có thể cảm nhận được đau đớn của sức nóng dữ dội và vĩnh viễn. Điều đó có nghĩa là những người trong hỏa ngục sẽ phải chịu khổ hình mãi mãi; sẽ không có dấu chấm hết cho sự trừng phạt. Hình phạt vĩnh viễn là một trong những lý do đáng để tránh sa hỏa ngục bằng mọi giá. Tuân thủ đèn đỏ và giới hạn tốc độ là một cách tốt để tránh tai nạn và tử vong, nhưng một động cơ khác là cảnh sát có thể lẩn trốn đâu đó và sẵn sàng phạt bạn chạy quá tốc độ. Cũng vậy, sợ hãi hỏa ngục có thể không phải là lý do tốt nhất để tránh phạm tội (do đó, nó được gọi là sám hối chưa trọn), nhưng cũng có thể là một lý do đủ. Lý do tốt nhất để tránh phạm tội hay để sám hối khi chúng ta phạm tội là tình yêu nhưng không của Thiên Chúa (gọi là sám hối cách trọn).
Đàng khác, thiên đàng hoàn toàn ngược lại. Hỏa ngục cô đơn, không phải vì không có ai ở đó, nhưng là vì mọi người ở đó thù ghét lẫn nhau. Mọi người trong hỏa ngục muốn được ở một mình; mọi người trên thiên đàng hạnh phúc vì có những người khác ở đó. Về căn bản, các linh hồn trên thiên đàng được ơn “phúc kiến”. Giáo lý Công Giáo số 1028 định nghĩa: “Thiên Chúa siêu việt, nên ta chỉ thấy được Người khi chính Người mặc khải mầu nhiệm cho ta chiêm ngưỡng và khi Người ban cho ta khả năng đó. Việc chiêm ngưỡng Thiên Chúa trong vinh quang Thiên Quốc được Hội Thánh gọi là “phúc kiến”. Nói cách khác, phúc kiến là biết Thiên Chúa trực tiếp và ngay lập tức, nhìn thấy Người diện đối diện và ở trong sự hiện diện của Người mọi lúc. Hiệu năng của ơn phúc kiến này là hạnh phúc vĩnh cửu và niềm vui bất tận.
Chuyển ngữ: Nhóm Maiorica, Học viện Dòng Tên
Nguồn: Rev. John Trigilio JR., Ph.D., and Rev. Kenneth D. Brighenti, Ph.D., The Catholicism Answer Book- The 300 Most Frequently Asked Question, (Naperville, Illinois: Sourcebooks, Inc., 2007), 71-73.
2023
Ai Được, Ai Không Được Lên Thiên Đàng?
Ai Được, Ai Không Được Lên Thiên Đàng?
Không ai sở hữu thiên đàng và cũng không ai tự mình lên thiên đàng. Thiên đàng là một quà tặng hoàn toàn nhưng không mà Thiên Chúa yêu thương trao tặng cho con người. Chính cá nhân mỗi người, trong sự tự do và ý thức, có thể đón nhận hay từ khước món quà này. Trong khi không ai xứng đáng được lên thiên đàng, thì nhờ cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô, mọi người đều có thể và có cơ hội lên thiên đàng.
Theo ngôn ngữ thần học, vì tội của Adam và Eva (tội nguyên tổ), bản tính con người đã bị tổn thương và sa ngã. Con người cần ân sủng Thiên Chúa thánh hoá. Ân sủng này là sự trợ giúp siêu nhiên thần linh, thánh hoá và cứu chuộc con người nhờ công nghiệp và hy tế thập giá nơi cái chết của Đức Ki-tô. Chỉ có bí tích Rửa Tội mới trao ban ân sủng đặc biệt này; không có ân sủng này, linh hồn không thể lên thiên đàng. Đức Giêsu chết cho hết thảy mọi người (thánh Augustine gọi túc sủng), nhưng ân sủng này chỉ phát sinh hiệu quả cho những ai tự do đón nhận và hợp tác (hiệu sủng). Đức Giê-su cứu chuộc bản tính con người bằng cách làm cho ơn cứu độ trở nên khả thi, nhưng ơn cứu độ chỉ diễn ra vào thời điểm khi một người được lên thiên đàng. Đó là lý do tại sao người Kitô hữu không gọi bất cứ ai còn sống nào là “được cứu độ”, vì chỉ các thánh ở trên thiên đàng mới thực sự được cứu độ (nghĩa là, họ được ở trên thiên đàng và sẽ ở đó mãi mãi). Các Kitô hữu nói họ được “cứu chuộc” vì tất cả mọi người đã được cứu chuộc nhờ hy tế thập giá của Đức Kitô.
Thử hình dung theo cách này. Ném sợi dây cứu hộ cho một người sắp chết đuối là cứu chuộc. Bây giờ anh ta có thể được cứu. Nếu không có sợi dây, anh ta sẽ chết chìm. Cứu độ là đưa anh ta ra khỏi mặt nước và đem lên trên thuyền. Chỉ những ai ở trên thiên đàng mới được cứu độ, còn chúng ta ở trên dương thế, dù đã được cứu chuộc, chúng ta vẫn phải chờ đợi ơn cứu độ, nhờ Đức Kitô vào ngày chúng ta qua đời.
Nếu phép rửa là cần thiết và Đức Kitô là con đường duy nhất để đạt đến ơn cứu độ, thì phải chăng chỉ các Kitô hữu mới được lên Thiên đàng? Không. Bất cứ ai không vì lỗi của họ, không khước từ Đức Kitô và Giáo Hội của Người một cách ý thức và có chủ ý, thì không có lỗi, vì Thiên Chúa không trừng phạt chúng ta vì những điều chúng ta không chịu trách nhiệm. Ngoài phép rửa bằng nước, còn có phép rửa bằng máu và bằng ước muốn. Nếu không vì lỗi của họ mà một người không nhận biết và tin vào Đức Kitô như là con đường cứu độ duy nhất, hay nhận biết và tin rằng Đức Giêsu đã thiết lập Giáo Hội để hoàn thành sứ mạng cứu độ các linh hồn, thì việc không nhận ra chân lý đó không tước đi phần thưởng thiên đàng của họ. Họ sẽ được phán xét dựa trên đời sống luân lý mà họ đã sống trong cuộc đời dương thế. Khi theo một niềm tin nào đó, họ sẽ bị phán xét theo điều họ đã làm hay đã không làm dựa trên niềm tin đó.
Giáo Hội Công Giáo kết án và tuyệt thông những ai nói rằng chỉ những thành viên chính thức của Giáo Hội (được rửa tội và ghi danh trong một giáo xứ) mới được ơn cứu độ. Cách hiểu đúng về châm ngôn extra ecclesia nulla salus (ngoài Giáo Hội không có ơn cứu độ) được giải thích ở câu hỏi 243. Vì Giáo Hội tin vào ý muốn cứu độ phổ quát của Thiên Chúa – nghĩa là Thiên Chúa ban ơn cứu độ (túc sủng) cho tất cả mọi người mặc dầu ơn cứu độ chỉ trở nên hữu hiệu cho những ai đón nhận và hợp tác với ân sủng đó – Giáo Hội cũng dạy rằng nhiều người không Công Giáo hoặc không phải là Kitô giáo vẫn sẽ được cứu độ một cách mặc nhiên. Họ được coi là những Kitô hữu vô danh (“anonymous” Catholic Christians). Những người Do thái kính sợ Thiên Chúa, người Hồi giáo, Hindu, Lão giáo, Phật giáo và những người thuộc mọi tín ngưỡng không nhận biết rằng Đức Kitô và Giáo Hội của Người là cần thiết cho ơn cứu độ, và do đó, không cố ý từ chối Đức Kitô và Giáo Hội của Người, thì không bị phạt vì điều họ không biết. Vì thế, Giáo Hội Công Giáo không dạy rằng những người Tin Lành, Do Thái, Hồi Giáo và các tín hữu không Công Giáo khác phải sa hoả ngục đơn giản chỉ vì họ không phải là Công Giáo. Nguyên nhân khiến ai đó không phải là Công Giáo mới quan trọng. Hầu hết mọi người không phải là Công Giáo vì họ không được sinh ra trong Công Giáo hay bởi vì không ai dạy họ. Hầu hết những người chọn không theo đạo Công Giáo, quyết định của họ dựa trên điều họ nghĩ, phỏng đoán hay được nói cho biết điều đạo Công Giáo dạy và làm. Giáo lý và kỷ luật chân thật không được giải thích thỏa đáng cho họ. Một vài người quyết định dựa trên cảm xúc và kinh nghiệm. Vì thế, gương xấu của các tín hữu Công Giáo từ giáo sĩ đến giáo dân – hoặc là láng giềng, bà con, bạn học, hay đồng nghiệp, tất tả là những hình ảnh méo mó về Giáo Hội Công Giáo (như những kết án người Công Giáo thờ Đức Maria, hay mại thánh, mua các linh hồn ra khỏi luyện ngục) – tất cả tô vẽ cho nhận thức sai lầm này.
Điều người ta từ chối là điều họ hiểu, nhưng ơn cứu độ của chúng ta phụ thuộc niềm tin chân thực và đúng đắn. Nếu nhận thức của chúng ta không rõ ràng, hoặc sai lệch, méo mó hay thậm chí mù quáng, thì đó không phải là lỗi của chúng ta. Chúng ta không thể chịu trách nhiệm cho điều nằm ngoài tầm kiềm soát của mình. Thế nên, ai cũng có khả năng và tiềm năng lên thiêng đàng, miễn là họ chân thành tìm kiếm để nhận biết và thi hành ý muốn của Thiên Chúa; và rõ ràng là, một phần trong ý muốn của Thiên Chúa là sai Con của Người, Đức Giêsu Kitô, và ý muốn của Đức Giêsu Kitô là thiết lập Giáo Hội và bảy bí tích do Giáo Hội cử hành.
Chuyển ngữ: Nhóm Maiorica, Học viện Dòng Tên
Nguồn: Rev. John Trigilio JR., Ph.D., and Rev. Kenneth D. Brighenti, Ph.D., The Catholicism Answer Book- The 300 Most Frequently Asked Question, (Naperville, Illinois: Sourcebooks, Inc., 2007), 73-75.
