2024
HỌ TÌM CÁCH BẮT CHÚA GIÊSU
15.3 Thứ Sáu trong tuần thứ Tư Mùa Chay
Kn 2:1,12-22; Tv 34:17-18,19-20,21,23; Ga 7:1-2,10,25-30
HỌ TÌM CÁCH BẮT CHÚA GIÊSU
Hôm nay, Đức Giêsu trở lại Galilê vào một dịp Lễ Lều của người Dothái.
Lễ Lều là một trong những lễ mà người Dothái coi trọng, vì thế nó đã trở thành luật buộc đối với họ. Mục đích của Lễ Lều là tạ ơn Chúa sau vụ mùa, nhất là sau mùa hái nho. Tạ ơn Chúa vì Chúa cho vụ mùa bội thu. Hai là dịp nhắc cho con cháu nhớ lại những năm tháng ngược xuôi dòng rã trong sa mạc trước khi vào đất hứa. Họ thường mang những hoa màu ruộng đất do công khó của mình làm nên để tạ ơn và cầu xin cho vụ mùa tiếp theo được mưa thuận gió hòa.
Chúa Giêsu trở lại Galilê vào một dịp lễ Lều trại của người Do thái. Lễ lều trại là một trong những lễ mừng lớn nhất của họ (như Quốc khánh). Ban đầu, đó là ngày lễ tạ ơn sau vụ mùa, nhất là sau mùa hái nho, người ta thường mừng trong tám ngày liền từ 15 –21 Tischri (tháng 7-8) (Lev 25,34). Mục đích của họ gồm hai phần: một là tạ ơn Thiên Chúa cho vụ mùa thành đạt (Xac 33,16), hai là để tưởng nhớ đến những tháng năm ròng rã ở sa mạc sau thời gian thoát ách Ai cập (Lev 23,42). Dịp lễ lớn này, mọi người buộc phải trở lại đền thờ Giêrusalem dâng của lễ như hoa quả để cầu khấn xin mưa thuận gió hòa.
Chúa Giêsu đã đi lẻn vào một số khách lên đền này. Ngài đi trong âm thầm lặng lẽ, nhưng chẳng bao lâu người ta cũng biết, vì Người bắt đầu giảng dạy ngay tại đền thờ. Do đó cuộc tranh luận với Ngài sôi nổi hơn. Một mặt, các quan quyền trong dân lại đi tìm cách hại Ngài (c.25). Họ muốn hủy tiêu Ngài vì họ thấy Ngài quá nổi nang, họ chỉ biết Ngài là con bác thợ mộc mà không theo họ. Họ không chấp nhận bản tính thần linh của Chúa. Dù bao nhiêu chứng cớ cho vai trò Thiên Chúa đó như: Gioan tiền hô, Thiên Chúa Cha, Kinh thánh, chính lời Chúa nói và việc Chúa làm cũng không đánh động những tâm hồn chai đá đó. Họ quyết tâm từ chối thì đó là quyền tự do của mỗi người, Thiên Chúa cũng kính trọng sự tự do đó.
Chúa Giêsu đã đánh thức lương tâm họ, nhất là nhóm biệt phái, là những người học hỏi về Cựu ước, tinh thông lề luật mà không có lòng khiêm nhường thì thật là nguy hại biết bao nhiêu cho mình và cho người khác. Cổ nhân đã từng nói: “Có học mà không hạnh là kẻ ác”, “Có hạnh có đức mà không có học là đần”. Cho nên, ở đời này còn gì quí hơn “có tài, có đức, có hạnh”. Nơi Chúa Giêsu gồm đủ mọi sự khôn ngoan thông thái và đức độ. Nhưng quả chín thì thường bị nhiều con chim mổ lắm.
Với bao nhiêu lời giáo huấn và phép lạ kèm theo, Chúa mạc khải về Thiên Chúa Cha mà người Do thái không biết hoặc chưa biết cho đủ hay chưa biết như phải biết (Gio 5,37). Chúa Giêsu quả quyết Thiên Chúa Cha là người sai Ngài xuống trần gian để cứu chuộc họ (Gio 5,37. 7,33. 6,19. 20,21). Chúa Giêsu đã từng dùng dụ ngôn những người làm vườn nho hung ác để nói lên việc Thiên Chúa Cha sai Ngài xuống trần gian và bị đem giết đi (Mt 21,33-46). Phúc âm theo Gioan có hơn 25 lanà quả quyết Thiên Chúa Cha sai Ngôi Con xuống trần gian.
Nhưng khi nghe những nhân chứng và những lời chứng của Chúa Giêsu thì người Do thái cho là Chúa nói lộng ngôn phạm thượng… Nhưng thực ra họ cho là phạm thượng đối với chính họ. Từ đó, nhất là sau phép lạ ở Betsaida cho người bất toại vác chõng ra về (Gio 5,17), họ tìm cách hạ cho bằng được Chúa. Hại Ngài không phải Ngài lỗi luật ngày Sabat, nhưng vì Ngài vẫn theo họ nghĩ nguy hại cho họ, làm họ mất hết uy thế, mất miếng ăn chăng ? Họ tra tay bắt Ngài. nhưng giờ của Chúa chưa đến (c.30).
Nhân dịp này, Đức Giêsu xuất hiện, và chẳng mấy chốc, Ngài đã lên tiếng giảng dạy trong đền thờ. Sự kiện Ngài xuất hiện đã làm cho dân chúng không khỏi ngạc nhiên và bàn tán xôn sao vì đã trở thành cái gai trong mắt những nhà lãnh đạo.
Tại sao biết bao nhiêu lời chứng mà Đức Giêsu đã trưng dẫn cho họ về Ngài mà họ cũng không tin? Nào là Gioan tiền hô; Thiên Chúa Cha; Kinh Thánh… Rồi đến ngay cả những việc Ngài làm minh định điều đó mà họ vẫn không tin.
Thưa! Đơn giản vì cái tôi của họ quá lớn. Họ tự tôn là thành phần đặc quyền đặc lợi, ưu tuyển, nên không thể chấp nhận được giáo huấn cũng như bản tính thần linh của Đức Giêsu. Ngược lại, họ đã kết tội Đức Giêsu, cái tội mà chắc chắn sẽ chết, đó là nói lộng ngôn, phạm thượng. Là kẻ phản loạn, không giữ luật ngày Sabát… Chính vì tâm trí họ ra mù quáng mà sự hiện diện và lời dạy của Đức Giêsu không hề thức tỉnh lương tâm của họ.
Sự cứng lòng của những người Do Thái không tin đã nhốt kín họ trong những định kiến mê muội đối với những hành động khẳng khái của Chúa Giêsu. Thay vì khách quan đặt lại vấn đề để tìm ra nguyên do nào đã thúc đẩy Chúa hành động bất chấp nguy hiểm như thế, họ chỉ một mực bưng tai bịt mắt khư khư giữ lấy lập trường riêng của mình. Họ đem lòng dạ quanh co xấu xa của họ ra xét đoán tha nhân và những sự việc xảy ra chung quanh. Họ không nhận ra được sự thật mà Chúa Giêsu đã mang đến; cũng không nhìn thấy hình ảnh của Ðấng Thiên Sai nơi Chúa Giêsu. Thật ra, đó chỉ là những hình ảnh thô thiển do cái nhìn chủ quan của họ tạo ra. Còn Ðấng Cứu Thế đích thực đang đứng trước mặt họ thì họ lại khước từ.
Đức Ki-tô nhắc nhở chứng ta không phải chỉ biết Người theo phạm vi loài người mà chính là theo phạm vi Thiên Chúa. Như chúng ta, không phải chỉ sống theo khía cạnh là người này phải làm lụng vất vả để kiếm bánh ăn mỗi ngày : bánh cho xác, bánh cho con tim, cho trí óc mà còn cần thứ khác siêu việt hơn. Thứ khác đó thuộc phạm vi đức tin mà chúng ta phải khám phá. Thứ khác đó chính là Đức Ki-tô, Người đang sống trong chúng ta. Chính là ơn thánh, chân lý mầu nhiệm mà chúng ta biết Người ở trong chúng ta, Người an ủi chúng ta, không vượt xa mà hoàn toàn ở trong chính chúng ta.
Mùa Chay, mùa của hoán cải, chúng ta được mời gọi thay đổi trước tiên cái nhìn của chúng ta. Tin nhận Chúa Giêsu là con Thiên Chúa có nghĩa là đón nhận Ngài, là đi vào cái nhìn của Ngài, là đánh giá mọi sự bằng chính cái nhìn của Ngài. Mùa Chay là mùa quay trở lại với anh em. Ước gì cái nhìn của chúng ta đối với anh em không dừng lại theo những tiêu chuẩn thông thường của người đời, nhưng được mặc lấy ánh mắt tôn trọng, cảm thông, bao dung, tha thứ của Chúa. Ước gì cái nhìn của chúng ta về cuộc sống không đóng khung trong những phán đoán thông thường của người đời, nhưng được hướng dẫn bởi những tâm tình tin tưởng, phó thác, lạc quan của chính Chúa.
2024
ĐỪNG THỰC DỤNG
14.3 Thứ Năm trong tuần thứ Tư Mùa Chay
Xh 32:7-14; Tv 106:19-20,21-22,23; Ga 5:31-47
ĐỪNG THỰC DỤNG
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng nói về việc làm chứng. Chúa Giêsu đã nêu lên nguyên tắc : “Mình làm chứng cho mình thì chứng đó không xác thực”.
Người Do Thái thời Chúa Giêsu không tin rằng Ngài là Đấng Cứu Thế, cho dù đã Gioan Tiền Hô, có Thiên Chúa Cha, có sách Thánh và nhất là có những công việc Thiên Chúa Cha giao cho Ngài mà Ngài đã hoàn thành, làm chứng .
Như vậy thái độ không tin ấy là thái độ của những người cố chấp, không muốn nhìn nhận một sự thực.
Nhưng không phải chỉ có những người Do Thái thời Chúa Giêsu đã cố chấp như thế đâu, mà cho đến nay, trong nhân loại chúng ta cũng không thiếu gì những người vẫn cố chấp như thế. Sau 20 thế kỷ, Chúa Giêsu vẫn bị một số người coi như là một nhà cách mạng, một nhà hiền triết mà thôi.
Chúa Giêsu muốn minh chứng mình là Đấng cứu thế. Chúa chứng nhận rõ ràng về điều này. Nhưng vì Đấng cứu thế không hợp với quan niệm trần gian của người Do thái cho nên họ không tin.
Lời Chúa nói “Mình làm chứng cho mình thì không xác thực” (c.31). Đó là nguyên tắc tổng quát cho mọi người, khi chưa biết, chưa quen nhau thì không ai tự làm chứng cho mình được. Vì thế mà người ta thường dựa vào nhân chứng. Ngay từ thời Cựu ước cũng đã có luật làm chứng người xa lạ. Còn khi đã quen thuộc thì còn gì thành thật hơn chính đương sự nói ra. Tuy nhiên nếu chính đương sự nói ra và có những nhân chứng nữa, thì sự thực ấy càng xác thực. Chúa Giêsu đã làm như thế.
Một lần nữa, Chúa còn làm cho chúng ta ý thức về sự thật tỏ tường mà chúng ta đã từ chối. Nếu chúng ta liệng bỏ đời sống do Thiên Chúa ban, thì chính chúng ta lên án chính mình. Đức Ki-tô sẵn lòng hiện diện và luôn hoạt động, dù Người không cần gì phải bảo vệ.
Tất cả sứ điệp của Đức Ki-tô tóm lại trong hai thái độ nền tảng và bất khả phân ly này là : đức tin và tình yêu. Hoặc là chúng ta đón nhận cả hai hoặc là không. Đó là điều căn bản. Đừng lấy làm lạ khi người ta thấy khó theo Đức Ki-tô. Thật đáng buồn khi bị Ngài từ chối do những thái độ sống nửa vời, sống khô khan, hòa hoãn bủn xỉn, hẹp hòi.
Đức tin đặt nền tảng trên sự thật vào Đấng chúng ta tin, vào Đức Ki-tô của Chúa Cha : “Lời Ngài làm chứng về Tôi là lời chứng thật”.
Đức tin đặt nền tảng trên công việc mà Đức Ki-tô đã hoàn tất nhân danh Chúa Cha : “Chính những việc Tôi làm đó làm chứng cho Tôi rằng Chúa Cha đã sai Tôi”.
Đức tin đặt nền tảng trên Kinh thánh, chúng ta biết rằng Thánh kinh đã được linh ứng bởi Thiên Chúa : “Chính Kinh thánh lại làm chứng về Tôi”.
Chúng ta có đức tin không ? Làm sao chúng ta có thể nói : “Tôi tin”, nếu chúng ta không sống theo Đức Ki-tô, mà giáo huấn của Người từ Chúa Cha đến với chúng ta ? Chúng ta không tin Thiên Chúa nếu không tin Đức Giêsu Ki-tô. Tórn lại, đức Giê-su đã nói với chúng ta rằng: “Các ông không tin Chúa Cha vì các ông không tin Đấng Chúa Cha sai đến”.
Chúng ta nghe lời cảnh cáo của Đức Ki-tô, lời bày tỏ một lòng thương xót lớn lao đối với những người là anh em bạn hữu của Người. Và những lời này chắc chần cũng nói với các bạn và tôi nữa. Chúng ta hãy nghe lời Đức Ki-tô sắp kêu lên một lời than thở dường như tuyệt vọng : “Quả thật, Tôi biết rõ các anh, tình yêu Thiên Chúa không ở trong các anh”.
Và Người nói tiếp : “Không, các anh không tin Tôi, nhưng lại tin kẻ lường gạt đến đầu tiên”. Có phải Người đã chết vì điều đó chăng ? Đức Ki-tô đã nói với chúng ta rằng : “Phải, Tôi chết vì chúng trò dại dột của các bạn, vì những mê tín dị đoan của các bạn, để các bạn có ánh sáng. Thật khó khăn tin vào Tôi, Tôi rõ ràng hiển nhiên như thế đó. Tôi chết đi để cho các bạn có thể được gặp Cha chúng ta, ước mong các bạn là tín hữu trung thành”.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy ý thức hồng ân lớn lao mà Thiên Chúa ban cho mình, đó là được trở nên con cái Thiên Chúa, được Đức Giêsu đổ máu để cứu chuộc, thì chúng ta phải sống sao cho xứng đáng đặc ân cao quý này.
Đừng bao giờ đọc Kinh Thánh với thái độ khép kín hay biến Kinh Thánh để làm luận cứ để hậu thuẫn cho những lập trường bảo thủ của mình thay vì lòng yêu mến và mong được biến đổi nhờ Lời Chúa.
Không chỉ quở trách người Do thái cố chấp không tin, hôm nay Chúa cũng đang chất vấn và quở trách chúng ta về cách sống “thực dụng” của mình mang những dấu ấn không tin một cách thực tiễn, khi chúng ta khước từ Thiên Chúa để chạy theo vật chất, những danh vọng, những đam mê trên thế gian làm chúng ta xa dần Thiên Chúa – hạnh phúc đích thực.
2024
“TIN VÀ GIỮ LỜI TA THÌ ĐƯỢC SỐNG ĐỜI ĐỜI”
13.3 Thứ Tư trong tuần thứ Tư Mùa Chay
Is 49:8-15; Tv 145:8-9,13-14,17-18; Ga 5:17-30
“TIN VÀ GIỮ LỜI TA THÌ ĐƯỢC SỐNG ĐỜI ĐỜI”
Tin Mừng hôm qua cho chúng ta thấy Đức Giêsu chữa người bệnh bại liệt ba mươi tám năm. Sau khi chữa anh được khỏi, Đức Giêsu truyền cho anh vác chõng mà về. Điều đáng chú ý là khi trên đường về, những người không ưa Đức Giêsu đã chặn anh lại và hỏi nguyên cớ làm sao mà anh được khỏi bệnh, ai là người đã chữa anh?
Hỏi như thế, không phải để chia vui với anh, cũng không phải cùng anh tạ ơn Chúa! Nhưng hỏi như vậy là để tìm cho rõ xem ai dám cả gan chữa bệnh ngày Sabát?
Tin Mừng hôm nay cho thấy giữa Đức Giêsu và người Dothái trở nên gây cấn hơn khi Ngài tuyên bố: “Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc”. Nói như thế, Ngài minh định rằng: Thiên Chúa không nghỉ ngày Sabát thì Ngài không có lý do gì nghỉ và không làm việc thiện trong ngày này cả! Nhưng điều quan trọng hơn là Ngài mặc khải cho biết: Ngài đến để thực thi thánh ý của Cha Ngài. Cuối cùng, điều làm cho người Dothái chói tai, khiếm họ không chịu nổi, khi nghe Đức Giêsu nói: “Ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống”.
Người Do thái không tha thứ cho Đức Giê-su về sự vi phạm ngày Sa-bát khi Người chữa kẻ tê liệt. Người còn nói cho họ nghe Người làm như Cha Người hằng làm việc. Nên Người cũng không nghỉ làm việc dù là ngày Sabát.
Lời quả quyết đó càng làm họ tức giận hơn. Làm sao Đức Giêsu dám tự cho mình là Thiên Chúa nếu như Thiên Chúa không phải là Cha mình. HoÏ càng không ngớt nổi giận vì Đức Ki-tô nói thêm rằng : “Cha Tôi và Tôi cũng nhất tâm làm tất cả và ai không tôn vinh Con thì không tôn vinh Cha”. Người còn chủ trương rằng lời Người có sức mạnh ban sự sống đời đời cho những ai nghe theo, như thế là tột bậc rồi.
Thật là một chủ trương đầy phấn khởi và hào hùng ! Tuy nhiên, lời Đức Giê-su không chỉ là lời Thiên Chúa, mà còn là lời nhập thể hoàn toàn. Lời Người nói với chúng ta như anh em, như bạn tri kỷ, như sư phụ hoàn toàn biết rõ thân phận con người xác thịt của chúng ta. Người còn phối hiệp toàn diện với xác thân này ngay từ khi xuống thế. Do đó lời Người nắm bắt được mọi tâm tư nguyện vọng của chúng ta và thấy được tiếng lòng rung động kỳ diệu của con tim, khối óc của những ai nghe lời Người. Người cũng biết rõ những hoàn cảnh của mọi người nam nữ chúng ta trở lại với cái gì.
Chúa Giêsu đã trả lời cho những người biệt phái cách Ngài chữa lành cho người đang làm việc gần bên giếng nước rằng: “Cha Ta làm việc liên lỉ, Ta cũng làm việc như vậy”. Thiên Chúa Cha nhân từ luôn luôn trao ban điều tốt cho con người mà Ngài đã tạo dựng giống hình ảnh Ngài. Giờ đây đến phiên mình xuống trần để chu toàn thánh ý Chúa Cha, Chúa Giêsu cũng muốn liên lỉ làm việc, làm điều tốt cho con người, bất luận đó là ngày Sabát hay không. Ngày Sabát là cho con người chứ không phải con người cho ngày Sabát.
Cũng trong dịp này Chúa Giêsu mạc khải cho những kẻ chống đối Ngài mối tương quan giữa Thiên Chúa Cha và Chúa Con, tình yêu thương đó được thể hiện bằng những hành động nhân từ mà Chúa Con thực hiện cho con người, cho mỗi người chúng ta. Chúa Giêsu đã mạc khải chân tính tình yêu đời đời đó và mời gọi con người hãy đáp trả, hãy cộng tác với chương trình yêu thương này để được sống đời đời: “Ai nghe lời Ta và tin Ðấng đã sai Ta thì được sống đời đời, khỏi bị xét xử, nhưng được từ cõi chết mà qua cõi sống”.
Hãy nhìn mọi sự với đôi mắt của Thiên Chúa, ta sẽ thấy giá trị khác, kích thước khác: “Cha Ta làm việc liên lỉ và Ta cũng làm việc như vậy”. Chúa Giêsu đã không bao giờ ngừng yêu thương con người, cả khi con người chống đối Ngài.
Lời hằng sống đã được công bố trong bài giảng trên núi chứa đựng toàn bộ kế hoạch của Phúc âm về sự gắn bó của chúng ta vào Đức Kitô và được làm thành bản hiến chương nước-Thiên Chúa. Lời hằng sống đầy thương xót tha thứ làm sáng lên niềm hy vọng và tình yêu cho mọi người và được thốt ra từ miệng lưỡi của Đức Giê-su trước người đàn bà ngoại tình làm cho Ma-đa-lê-na thống hối, phụ nữ Sa-ma-ri bị chinh phục, ông Gia-kêu thấp bé hoán cải và người trộm lành ăn năn trở về. Cũng như Phê-rô khóc lóc vì chối Thầy. Lời hằng sống chứa đựng trong những dụ ngôn đầy hình ảnh tiêu biểu giáo huấn soi sáng, dẫn dắt chúng ta đến với Thiên Chúa.
Lời hằng sống loan báo những đau khổ để chuẩn bị các môn đệ và mọi người biết can đảm mạnh mẽ theo Đức Ki-tô qua mọi thời đại, sẵn sàng chịu vác thập giá khổ nạn như là nguồn hy vọng được sống lại vinh quang. Lời hằng sống nhất là đã trở thành lời hứa hấp dẫn của tế lễ Thánh Thể đưa lại sự hiện diện và tình yêu của Đức Ki-tô tồn tại mãi mãi.
Mùa chay là mùa của thanh luyện, của hoán cải, Giáo hội mời gọi chúng ta trở về : trở về với Chúa, với anh em, với bản thân. Tựu trung tội lỗi là một chối bỏ Thiên Chúa, khước từ anh em, đánh mất bản thân. Qua những việc làm của Mùa chay, như cầu nguyện, sám hối, hãm mình, thực thi bác ái, Giáo hội muốn chúng ta tìm lại được chính bản thân như Thiên Chúa mong muốn. Bản thân ấy chúng ta chỉ có thể nhân ra khi nhìn ngắm Chúa Giêsu.
Mùa chay thường gợi lại một thực hành có tính truyền thống trong Giáo hội, đó là hãm đẹp thân xác, tức là tham dự vào cái chết của Chúa Giêsu từng ngày qua những hy sinh, quên mình, để cũng được chia phần vinh quang phục sinh của Ngài, nghĩa là mỗi ngày một biến đổi để trở thành con người mới cho đến khi đạt được tầm quan mức viên mãn của Ngài. Đó là bức chân dung mà mỗi Kitô hữu đều mang trong mình và mỗi ngày họ cố gắng hoạ lại bằng cả cuộc sống của họ. Cùng với Chúa Kitô, Đấng đã nên một với Chúa Cha trong tất cả mọi sự cho đến chết, xin cho từng giây phút cuộc sống chúng ta luôn là một thể hiện thánh ý của Ngài.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết hướng tới sự sống đời đời. Khi hướng về sự sống đời đời, mọi việc chúng ta làm hay nói đều được tình yêu chi phối chứ không chỉ vì luật mà làm cho chúng ta xa rời tình yêu!
2024
“ĐỪNG PHẠM TỘI NỮA”
12.3 Thứ Ba trong tuần thứ Tư Mùa Chay
Ed 47:1-9,12; Tv 46:2-3,5-6,8-9; Ga 5:1-3,5-16
“ĐỪNG PHẠM TỘI NỮA”
(Ga 5, 114)
Đức Giêsu chữa người bất toại ở bờ hồ Bếtsaiđa. Nếu chúng ta đặt mình vào vai bệnh nhân 38 năm, chúng ta mới thấy những người hạch hỏi anh thật độc ác. Tại sao họ không cảm thông với anh khi anh bị khổ suốt 38 năm trong tình trạng khốn nạn. Đáng lý ra họ cùng phải với anh tôn vinh, tạ ơn Vị đã cứu giúp anh mới phải. Tại sao họ lại bắt bẻ Ngài ? Ngài và họ, ai là người thương yêu đích thực ? Ngài và họ, ai là người đi trong đường lối của Thiên Chúa ?
Đức Giêsu đã đề cao tinh thần sống đạo hơn là việc giữ đạo. Những việc làm bề ngoài chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó được tình yêu từ bên trong tâm hồn thúc bách. Bằng không, nó chỉ là một sự phù phiếm, giả tạo mà thôi. Đức Giêsu đã vì tình yêu, vượt lên trên lề luật để cứu chữa một người đau bệnh đã ba mươi tám năm. Tuy nhiên, chính trong hành động yêu thương này mà Đức Giêsu bị những người Do Thái không ưa Ngài tìm cách chống đối. Họ cho rằng Đức Giêsu đã không tuân giữ lề luật nên họ tìm đủ cách để hãm hại Ngài.
Tin mừng cho biết khi Đức Giêsu đến bờ hồ Bếtsaiđa, thì đã có rất nhiều bệnh nhân nằm la liệt cùng với thân nhân của họ chờ chực sẵn bên hồ. Giữa đám đông bệnh nhân ấy, Chúa nhận ra một người đau khổ cô độc nhất, anh bị tàn tật, bất toại hay tê liệt như lời anh thưa với Chúa: “Không có ai khiêng tôi xuống nước cả”. Anh đã nằm ở đây 38 năm rồi, thời gian quá dài. Bao nhiêu người đã đi qua, kể cả những vị lãnh đạo dân Do thái, không ai màng tới.
Nhưng Đức Giêsu đã nhìn thấy, động lòng thương và đã chữa lành anh. Không những Chúa chữa bệnh nơi thân xác mà Ngài còn muốn tiến xa hơn, khi kêu gọi người được chữa lành hãy nghĩ đến phần hồn của anh với lời nhắn nhủ: “Anh đừng phạm tội nữa”.
Đức Giêsu cho anh bại liệt lành bệnh và bước đi trong an vui trong ngày sabat – ngày của niềm vui. Trong lúc người biệt phái ngăn cản anh vác chõng lại hạch hỏi anh thật độc ác, chỉ vì ngày sabat, ngày nghỉ với họ cũng có nghĩa là không được vác chõng. Họ không thông cảm với anh khi anh bị khổ suốt 38 năm dài, họ vẫn cứ muốn trói buộc anh trong căn bệnh bại liệt chỉ vì câu nệ lề luật. Họ mang hình ảnh nhân loại không biết cảm thông nỗi khổ của nhau, đối xử với nhau từ ích kỷ đến tàn ác chỉ biết bắt bẻ và kết án.
Đức Giêsu đã thực hiện một dấu lạ để mời gọi con người mở mắt nhìn Ngài là Đấng Cứu Thế. Thế nhưng, không ai đã nhận ra sự hiện diện của Ngài. Riêng những người Do thái, những vị lãnh đạo tôn giáo Do thái đang có mặt ở đó lại dựa vào đó, để bắt bẻ Chúa đã lỗi ngày hưu lễ. Đối với Chúa, Ngài đến làm ơn cho người ta, mạng sống con người quí trọng hơn hết.
Hôm nay, Đức Giêsu đã vì tình yêu, mà Ngài vượt lên trên lề luật để cứu chữa một người ốm đã ba mươi tám năm.
Tuy nhiên, chính trong hành động yêu thương này mà Đức Giêsu bị những người Dothái không ưa chống đối. Họ cho rằng Đức Giêsu đã không tuân giữ lề luật và thường xuyên vi phạm ngày Sabát.
Đối với Đức Giêsu, luật vì con người chứ không phải con người vì luật. Hơn nữa, khi Đức Giêsu chữa anh này khỏi bệnh thì đồng thời Ngài cũng chữa anh khỏi những hệ lụy của nó mà người ta thường gán cho là tội. Không dừng lại ở đó, Ngài còn nhắc cho anh biết là hãy vác chõng mà về và đừng phạm tội nữa.
Vác chõng là việc anh phải làm để chu toàn bổn phận của chính mình. Đừng phạm tội là lời nhắc cho anh về việc từ nay anh đã được giải thoát khỏi tội và anh đã được thuộc về Chúa. Ngài đã tẩy rửa tâm hồn và thân xác anh sạch thì anh phải lo giữ nó, kẻo trở thành khốn khổ khi bệnh tình tái phát. Tội ở đây có ý muốn nói đến ảnh hưởng của sự dữ, thuộc về Ma Quỷ.
Mùa Chay là cơ hội để chúng ta quay trở về với Chúa và xin Ngài tha thứ, đồng thời cũng là dịp thuận tiện để ta hối cải, từ bỏ con đường cũ để làm lại cuộc đời.
Chúa không chấp nhận chúng ta ù lỳ trong tội, nhưng Ngài mời gọi chúng ta: “Hãy đứng dậy vác chõng mà ra đi”, đó là dứt khoát với con đường tội lỗi của mình, nếu không, chúng ta có thể sẽ khốn khổ hơn khi phạm tội.
Nhìn vào xã hội ngày hôm nay, chúng ta thấy căn bệnh vô cảm, thờ ơ trước những nỗi đau của đồng loại vẫn hiện diện khắp nơi, người ta sống vị kỷ, chỉ lo vinh thân cho gia đình mình, con cháu mình còn trước những khó khăn, đau khổ của kẻ khác thì họ bưng tai bịt mắt. Thánh Phao-lô khuyên: “ Vui với ai cùng vui, khóc với ai đang khổ sau” lối sống đó mới thể hiện chúng ta là những con người sống có trái tim yêu thương của Chúa.
Ngày hôm nay Đức Giê-su cũng đang chất vấn mỗi người chúng ta qua câu hỏi: “Anh có muốn lành sạch không?” và khi chúng ta muốn cho Ngài chữa lành thì chúng ta phải thi hành lệnh truyền của Ngài; Đó là: “Hãy trỗi dậy vác chõng mà đi”. Chỗi dậy vác chõng mà đi ở đây là phải biết dũ bỏ cái ích kỷ, cái vô tâm hờ hững trước những nỗi đau của tha nhân, biết mặc vào mình tâm tình của Đấng luôn cạnh lòng thương và biết ăn năn sám hối trước những lỗi lầm của mình.
