2024
ĐỪNG NÔ LỆ CHO TỘI
20.3 Thứ Tư trong tuần thứ Năm Mùa Chay
Đn 3:14-20,91-92,95; Đn 3:52,53,54,55,56; Ga 8:31-42
ĐỪNG NÔ LỆ CHO TỘI
Đối với người Do thái, tự do là quyền bẩm sinh của họ. Họ cho tự do một giá trị rất cao, đến nỗi luật quy định rằng, dù nghèo hèn đến đâu, người Do thái không thể bị hạ thấp xuống hàng nô lệ: “Nếu người anh em của ngươi lâm cảnh túng thiếu bên cạnh ngươi và phải bán mình cho ngươi, thì ngươi không được bắt nó làm công việc của người nô lệ” (Lv 25: 39).
Vì thế, khi Chúa Giêsu nói “sự thật sẽ giải phóng các ngươi”, thì họ nổi điên lên vì cho rằng Chúa Giêsu nói họ đang sống trong sự nô lệ và cần phải được giải phóng. Tuy nhiên, ở đây Chúa Giêsu không nói đến sự nô lệ về thể xác, mà về phương diện tinh thần: “Ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội” (Ga 8: 34).
“Nô lệ cho tội” là một mối tương quan giữa tôi tớ và chủ nhân. Trong mối tương quan này, người tôi tớ phải vâng lời chủ, vì họ thuộc về chủ. Tôi tớ không được làm theo ý riêng của mình. Họ bị ràng buộc với chủ nhân. Cũng vậy, khi chúng ta trở nên nô lệ cho tội lỗi, thì tội lỗi trở thành chủ nhân của chúng ta, còn chúng ta là tôi tớ, chúng ta không thể chống lại tội lỗi.
Tuy nhiên, tội lỗi lại ẩn nấp dưới nhiều hình thức khác nhau, nó có thể là: thú vui, sở thích… Đây là những điều chưa phải tội lỗi, nhưng nó là khởi đầu cho mọi tội lỗi. Ai cũng có thú vui hoặc sở thích trong cuộc sống, nhưng quan trọng là, chúng ta điều khiển thú vui và sở thích hay để chúng điều khiển chúng ta? Điều đó sẽ là khởi đầu cho tội lỗi.
Chúa Giêsu nói cho người Do Thái biết điều gì trói buộc họ khiến họ làm nô lệ, và điều gì sẽ giải thoát khiến họ được tự do. Điều trói buộc họ thành nô lệ là tội, nhất là tội tự mãn mình là con cháu Abraham nhưng không làm theo gương Abraham là mở rộng cõi lòng để tin vào Thiên Chúa và Đấng mà Thiên Chúa đã sai đến. Điều giải thoát cho họ được tự do là nghe lời Chúa Giêsu để biết Sự Thật, “Sự thật sẽ giải thoát con người”.
Đức Giêsu đã nói: Ai ở lại trong Ta thì biết sự thật và sự thật sẽ giải phóng cho kẻ đó được tự do. Sự tự do mà Đức Giêsu muốn nói ở đây là sự sống trong ân sủng của Thiên Chúa. Khi chúng ta phạm tội mất ơn thánh, nghĩa là chúng ta phải sống xa Chúa là sự tự do tuyệt đối. Khi phạm tội, chúng ta bị trói buộc vào con đường của ma quỉ, của những đam mê dục vọng. Chúng ta chỉ có thể sống hạnh phúc và tự do khi sống đúng địa vị làm con Thiên Chúa. Sự tự do ấy chỉ có được trong Đức Giêsu, khi chúng ta liên kết cuộc đời chúng ta với Ngài.
Trong bài Tin mừng, Đức Giêsu nói cho người Do thái biết điều gì đã trói buộc họ khiến họ phải làm nô lệ, và điều gì sẽ giải thoát họ để họ được tự do. Điều giải thoát họ khỏi nô lệ và được tự do: “Nếu các ngươi cứ ở trong lời Ta, các ngươi sẽ thật là môn đệ của Ta, và sẽ được biết sự thật, và sự thật giải thoát các ngươi”.
Giải phóng cho chúng ta tự do… Sự tự do mà Đức Giêsu muốn nói ở đây là sự sống trong ân sủng Thiên Chúa. Khi chúng ta phạm tội mất ơn thánh, nghĩa là chúng ta phải sống xa Chúa là sự tự do tuyệt đối. Sự tự do ấy chỉ có lại được trong Đức Giêsu, khi ta gắn bó lại, liên kết lại cuộc đời chúng ta với Ngài. Chúng ta chỉ có thể hạnh phúc khi sống địa vị làm con Thiên Chúa – con cái tự do.
Khi nguyên tổ Adong-Evà phạm tội lỗi nghịch cùng Chúa, ma quỉ đã đem tội lỗi vào trần gian. Và khi tội lỗi xâm nhập trần gian, con người đắm chìm trong tội, nô lệ cho mọi khuynh hướng xấu, bị giam hãm trong tội nguyên tổ, sự xuống cấp của một luân lý suy đồi “tội trần gian” và làm tôi cho ma quỉ. Tự sức mình con người không thể tự giải thoát mình, nên cần đến ơn Cứu độ. Đức Giêsu đã phải trả giá đắt để chuộc con người và đem con người trở nên con cái tự do. Đức Giêsu cũng khẳng định: “Kẻ nô lệ thì không được ở trong nhà luôn mãi, người con mới được ở luôn mãi” (Ga 8,35).
Muốn được sống tự do, muốn giải thoát con người của mình khỏi những trói buộc của lỗi lầm và khuyết điểm, thì điều cần thiết trước tiên là phải biết sự thật về mình. Nhà văn văn Shakespeare nói: “Người dại thường nghĩ rằng mình khôn, còn người khôn lại tự biết mình dại”. Như vậy, chúng ta cần phải khôn ngoan. Có nhiều người bỏ xưng tội rước lễ cả mấy chục năm, nhưng khi đề nghị với họ nên xét mình xưng tội, thì họ trả lời: “Con chẳng có tội gì!”
Nhìn lại cuộc sống của mình, nhiều khi bị quở trách vì những điều này điều kia, chúng ta thường lý sự rằng: “Đó là sở thích của tôi, tôi làm theo sở thích của tôi chứ có ảnh hưởng gì đến anh đâu; tôi có tiền mà, tôi thích thì tôi mua; tôi có quyền, tôi thích thì tôi làm; anh có quyền và có tiền thì anh cũng làm như vậy đi…”. Dĩ nhiên, chúng ta có thể làm điều chúng ta thích. Nhưng sự thật là người phạm tội chẳng làm điều mình thích, mà làm điều tội lỗi thích. Nhưng mấy ai nhận ra vấn đề này trong “cơn lốc đam mê” của mình! Nhiều khi chúng ta để cho thói quen và sở thích bám chặt lấy mình đến độ không thể nào thoát ra được. Thời gian dần dần trôi qua với những thú vui và sở thích đó, đến một lúc chúng ta có thể lâm vào tình thế “vừa ghét” và “vừa yêu” sở thích và thú vui của mình. Chẳng hạn, cả ngày ngồi lướt Facebook coi hết video này đến video khác; chúng ta biết nó chiếm nhiều thời gian của chúng ta, nhưng chúng ta vẫn cứ cầm điện thoại lên bấm liên tục và lướt không rời tay! Vậy, trong những sở thích và thú vui đó, cái gì là chủ nhân? và ai là nô lệ? Chúng ta có tự do không hay chúng ta đang bị tội lỗi (thú vui, sở thích) điều khiển?
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã đưa ra một lời cảnh tỉnh cho đời sống của chúng ta. Lời cảnh tỉnh này mời gọi chúng ta nhìn lại đời sống của mình trước các hình bóng của tội lỗi được ẩn nấp dưới nhiều hình thức khác nhau. Qua đó, chúng ta lấy lại quyền làm chủ trước các thú vui và sở thích đang chiếm hữu cuộc sống của mình.
Chúng ta là những người mang danh hiệu Kitô hữu, là những người tự nhận mình là con cái Thiên Chúa. Tuy nhiên, danh xưng ấy không làm nên thực chất, cái áo không làm nên ông thầy tu, chỉ có danh hiệu bên ngoài và thậm chí ngay cả những việc đạo đức bên ngoài mà thôi, thì vẫn chưa làm nên một đời sống đức tin đích thực. Đức tin chân chính được thể hiện qua những việc làm công chính. Người ta thường nói “xem quả biết cây”, chúng ta đã suy nghĩ, nói năng, hành động như thế nào trong cuộc sống hằng ngày, nhất là trong Mùa Chay thánh này?
2024
ĐẤNG CÔNG CHÍNH
19.3 Thánh Giuse Bạn Đức Mẹ Maria
Ds 21:4-9; Tv 102:2-3,16-18,19-21; Ga 8:21-30
ĐẤNG CÔNG CHÍNH
Trong Giáo Hội, sau Đức Mẹ, Thánh Giuse là vị thánh cả trong Giáo Hội, được mọi người tôn kính mến yêu cách đặc biệt. Trong Kinh Thánh, thánh Giuse được gọi là người công chính. Thánh Giuse được Giáo Hội tôn vinh với nhiều tước hiệu cao quý. Một trong những tước hiệu đó là: “Thánh Giuse – Đấng bảo trợ Giáo Hội và những tâm hồn dâng hiến.”
Đức Thánh Cha Piô IX, một vị Giáo hoàng có lòng sùng kính thánh Giuse đặc biệt, đã viết về thánh Giuse như sau : “Ngoài Đức Mẹ ra, thì trên trời dưới đất không tìm được vị thánh nào có thần thế để bênh vực Giáo Hội cho bằng thánh cả Giuse”.
Chính vì thế, ngày 8-12-1870, Ngài đã long trọng tuyên bố đặt Thánh Giuse làm quan thầy Giáo Hội hoàn vũ, ký thác Giáo Hội cho sự che chở phù trì của Thánh Cả Giuse.
Riêng đối với Giáo Hội Việt Nam, thánh Giuse đã trở nên gần gũi và thân thương. không chỉ vì Ngài là bạn thanh sạch của đức Maria và là cha nuôi của Đấng Cứu Thế, nhưng còn là Đấng bảo trợ luôn đồng hành với Giáo Hội Việt Nam suốt chặng đường dài lịch sử, từ lúc mới phôi thai cho tới trưởng thành.
Việc nhận thánh Giuse làm Đấng bảo trợ bắt nguồn từ một biến cố lịch sử trọng đại. Đó là sự kiện cha Alexandre de Rhodes và cha Marquez, sau những ngày vượt trùng dương nguy hiểm, nhờ lời khấn thánh Giuse hai cha đã cập bến an toàn, tại cửa Bạng – Thanh Hóa, đúng vào ngày 19-3-1627, ngày lễ kính thánh Giuse.
Hôm ấy, hai cha đã dâng thánh lễ cảm tạ thánh Giuse và phó thác Miền này cho Ngài gìn giữ.
Mừng lễ thánh Giuse hôm nay, chúng ta không chỉ dừng lại ở một vài nét lịch sử liên quan giữa Ngài với Giáo Hội, nhưng còn là dịp để chúng ta tìm hiểu và noi gương các nhân đức của Ngài.
Trong Tin Mừng, Thánh Giuse được giới thiệu là “người công chính” gắn liền với đời sống âm thầm. Không một lời nào của ngài được ghi nhận. Nhưng giữa những biến cố bên cạnh Chúa Giêsu và Mẹ Maria, thánh Giuse lại xuất hiện trong một diện mạo khác, vừa năng động mau mắn vừa xác quyết tin yêu. Nếu đức tin là một sự lên đường liên tục thì thông qua những đáp ứng lên đường mau mắn của Giuse trong những lần được mộng báo, ta có thể gọi ngài là “con người của niềm tin”.
Thánh Kinh không ghi lại một lời nói trực tiếp nào của thánh nhân. Ngài chỉ xuất hiện một vài lần cách mờ nhạt. Ngài sống ra sao, chết cách nào chẳng có bút tích nào ghi lại. Cả đời Ngài chỉ sống âm thầm, khiêm tốn, cầu nguyện và lao động. Hoàn toàn lo lắng phục vụ Chúa Giêsu và Đức Maria. Có thể nói lẽ sống của Ngài, vinh dự của Ngài, niềm vui và hạnh phúc của Ngài chính là chu toàn bổn phận Chúa Cha đã giao phó cho.
Thánh Giuse là người công chính. Công chính ở điểm nào? Kinh Thánh ghi: ‘ ông không chịu tố cáo bà Maria đã có thai trước khi hai ông bà về sống chung. Không chịu tố cáo để trở nên công chính. Như vậy, công chính ở đây bắt đầu ở cẩn ngôn khi phán đoán. Cẩn trọng trong lời ăn, tiếng nói. Người trưởng gia đình cần phải cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói, nhất là khi cần phải bình phẩm về người khác. Cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói là bằng chứng cho biết người đó công chính. Thánh Giuse không nói cũng không có nghĩa là ông bỏ qua, không nói gì hết. Thánh nhân đã nói rất nhiều. Khi nào? Thưa nói trong lúc cầu nguyện cùng Thiên Chúa, xin Chúa soi sáng cho biết việc phải làm. Chính việc cầu nguyện này biến thánh Giuse trở thành người công chính. Như thế công chính không phải do lời nói, cẩn ngôn, cũng không phải do hành động mà chính là lòng tin. Thánh Giuse không thể tự làm cho mình nên công chính. Thánh Giuse trở nên công chính là do Lời Chúa, ân sủng Chúa giúp thánh Giuse trở nên công chính. Lời Chúa là lời công chính và ai tin vào Lời đó sẽ được Lời làm cho ra công chính. Có lẽ tư tưởng bài hát Lời Ngài dậy con trong đêm tối. Lời Ngài dậy con lúc lẻ loi lấy từ tư tưởng này của thánh Giuse.
Thánh Giuse cầu nguyện rất nhiều, nhất là về đêm vì thánh thần linh ứng cho ông vào ban đêm, trong giấc mơ, giấc mộng. Không phải một lần mà là nhiều lần với những sứ vụ khác nhau. Nghe tiếng nói trong mơ, mộng có thể rất thật mà cũng có thể rất mơ hồ. Không thể xác định thánh Giuse có nghi ngờ gì về điều nghe biết trong giấc chiêm bao. Có hai trường hợp có thể xảy ra. Thứ nhất thánh Giuse không tin tuyệt đối vào những gì nghe biết trong giấc chiêm bao. Nếu giả thuyết này đúng thì thánh Giuse đặt trọn niềm tin vào Người Con mà Thiên Chúa trao cho ông coi sóc là một người hết sức đặc biệt. Giả như suy đoán này đúng thì thánh Giuse có thể nghi ngờ vào giấc chiêm bao nhưng lại tin vào Người Con. Mà tin vào Người Con là tin vào Chính Thiên Chúa vì Người Con này là Thiên Chúa giáng trần. Rất có thể Giuse không hiểu như chúng ta hiểu ngày nay. Ông chỉ hiểu là Người Con này có một sứ mạng rất đặc biệt. Bởi đây là Người Con với sứ mạng hết sức đặc biệt nên dù trong cuộc lữ hành có nguy hiểm, khó khăn đến mấy kết quả cũng hoàn thành tốt đẹp vì đây là Người Con Chúa đặc biệt lưu tâm, để ý. Tin tưởng vào lí luận đó mà Thánh giuse vượt qua mọi gian nan, thử thách. Khó khăn mấy cũng cố hoàn thành, thử thách nào cũng gắng vượt qua. Đau khổ nào cũng chấp nhận.
Thánh Giuse không hề than phiền hay đặt nghi vấn về sứ mạng thần linh linh ứng khi ông gặp khó khăn, hoàn cảnh hoạn nạn. Nếu nghi ngờ ông đã bỏ cuộc. Rất dễ chỉ cần quay ngược lại, làm theo ý riêng, suy nghĩ riêng là Giuse tránh khỏi biết bao phiền toái, lo lắng, đau khổ. Bị xua đuổi, bị nằm ngủ nơi chuồng bò, đồng hoang nhưng thánh nhân vẫn một mực trung kiên, tuyệt đối tin tưởng phó thác vào Chúa. Khó khăn, nguy hiểm, khổ sở, rét mướt, đói khát không làm cho thánh Giuse mất lòng tin, hay than van, kêu cầu Chúa thay đổi ý định hay hoàn cảnh. Trái lại thánh nhân quyết tâm tin tưởng, phó thác. Có lẽ thánh Giuse cảm thấy bình an, tự tin trong việc mang gia đình ra đi. Điều này cho thấy thánh Giuse rất tin tưởng vào sức mạnh của cầu nguyện. Chính sự tin tưởng, phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa khiến thánh Giuse trở thành người công chính.
Nhìn vào cuộc đời của Ngài, có lẽ Ngài là một người cha đầy bôn ba, đầy vất vả. Ngài đã phải dẫn dắt gia đình đi qua biết bao sóng gió nguy nan ùa tới như muốn nhận chìm gia đình. Sự khốn khó nguy nan đã khởi sự từ ngày Con Thiên Chúa hạ sinh. Thánh Giuse đã phải đối phó với biết bao cực nhọc. Từ việc bôn ba tìm kiếm quán trọ cho mẹ con hài nhi. Rồi đưa vợ con trốn chạy sang Ai Cập. Nơi đất khách quê người Ngài đã phải vật lộn với miếng cơm manh áo từng ngày cho gia đình. Thế nhưng, Ngài đã vượt qua tất cả. Ngài vẫn mãi mãi là chỗ dựa vững chắc cho gia đình thánh gia. Ngài đã chu toàn bổn phận một gia trưởng trong gia đình đầy khó khăn, với những sóng gió tư bề. Vì thế, cuộc đời của Ngài thực sự là một mẫu gương cho các người cha. Một người cha không sợ nghi nan, không thoái thác trách nhiệm nhưng luôn là điểm tựa cho gia đình được yên vui và hạnh phúc.
Và có lẽ, cuộc đời hôm nay vẫn rất cần những con người như Cha Thánh Giuse. Một người cha để bảo vệ gia đình khỏi những sự tấn công của tục hoá đang làm băng hoại luân lý gia đình và xã hội. Một người cha có trách nhiệm để mang lại cho vợ con điểm tựa của cuộc sống. Một người cha dám quên đi hạnh phúc riêng của mình để mang lại an cư lạc nghiệp cho gia đình. Một người cha biết tuân phục thánh ý Chúa để nêu gương sống đạo cho con cái.
Thánh Giuse tuy không nói một câu nào trên đầu môi cửa miệng, nhưng Ngài vẫn đang nói với chúng ta rất nhiều qua mẫu gương thánh thiện của Ngài. Ngài là ‘Người Công chính’ không phải theo nghĩa hẹp, tức là chỉ tuân giữ lề luật cách nghiêm túc, nhưng Thánh nhân đã hoàn thiện lề luật một cách trọn hảo qua tình yêu nồng cháy dành cho Chúa Giêsu và Đức Maria.
2024
LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA
18.3 Thứ Hai trong tuần thứ Năm Mùa Chay
Đn 13:1-9,15-17,19-30,33-62; Tv 23:1-3,3-4,5,6; Ga 8:1-11; Ga 8:12-20; Ga 13:41-62
LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA
Câu chuyện Tin Mừng hôm nay diễn ra trong khung cảnh Lễ Lều. Khi nói đến Lễ Lều, là nhắc lại cho dân về hành trình trong Samạc suốt bốn mươi năm trường. Đây cũng gọi là lễ tạ ơn sau mùa gặt. Lễ này được dành cho mọi người không phân biệt giàu nghèo, giai cấp, địa vị trong xã hội. Vì thế, không ai bị loại trừ, cho nên người ta gọi lễ này là lễ của Vui Mừng.
Vì là lễ hội vui mừng nhất của người Dothái, nên người ta hứng khởi và vui tươi khi về dự lễ. Vì vậy, nó cũng cuốn hút lượng người có lẽ là đông nhất trong các dịp lễ của năm. Đây cũng là cơ hội để họ hẹn hò, tâm sự, chia sẻ…
Nhân có hội này, các Kinh Sư và Pharisêu cố tìm ra cho được một lời tố cáo Đức Giêsu nhằm hạ uy tín của Ngài, bởi vì đây là dịp đông người, hơn nữa, nếu thắng thế, họ có đủ lý do thuận tiện để giết Ngài.
Và cơ hội ngàn năm một thủa đã đến khi họ bắt được quả tang một người phụ nữ đang ngoại tình, và họ dẫn nàng đến với Đức Giêsu.
Họ dẫn đến để xin Ngài xét xử. Họ nói: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môisê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?”.
Tuy nhiên, vì biết rõ lòng họ độc, nên Đức Giêsu phản ứng bằng việc bình tĩnh lấy tay viết trên đất! Hành động này của Đức Giêsu khiến cho họ sinh thêm bực bội và nóng lòng sốt ruột.
Họ sốt ruột là vì cái bẫy đã giăng, chỉ chờ Đức Giêsu mắc phải là ra tay đối với Ngài! Thật thế, nếu Đức Giêsu tuyên bố tha thì Ngài rơi vào bẫy chống luật Môsê, còn nếu tuyên án tử cho chị phụ nữ thì sẽ bị mất uy tín và đi ngược lại đường lối của Thiên Chúa cũng như những lời rao giảng của Ngài.
Sự thinh lặng và viết trên đất là cách thế Đức Giêsu thức tỉnh lương tâm những người Pharisêu khi chuyển phiên tòa dành cho chị phụ nữ, rồi đến Đức Giêsu, giờ đây sang phiên tòa lương tâm của chính họ khi nói: “Ai trong các ông không có tội, hãy ném đá chị này trước“. Bị bại lộ ý đồ và xấu hổ vì thấy mình tội lỗi, nên họ đã dần dần bỏ đi.
Cuối cùng, Đức Giêsu lên tiếng với chị phụ nữ: “Không ai lên án chị sao?”; “tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”.
Ngày nay cũng không thiếu gì những con người có lòng bỉ ổi, hẹp hòi, tàn nhẫn, nên đã đẩy anh chị em mình vào chỗ chết như vậy.
Điều đau buồn hơn cả là nhiều khi lại nhân danh Thiên Chúa để hạ uy tín anh chị em mình. Không phải vì tình yêu, cũng chẳng phải lòng tốt, càng không phải vì sự công chính hay phẫn nộ tội lỗi, mà là do ghen tỵ mà tìm dịp thuận tiện để gài bẫy và đẩy đưa anh chị em chúng ta đến chỗ chết. Những người này thuộc hạng: “Miệng tụng lời nam mô nhưng bụng chứa đầy bồ dao găm”.
Sự tha thứ của Thiên Chúa không đồng nghĩa với sự dung túng thường tình. Ngài không tha thứ sự dữ, nhưng tha thứ cho người tội lỗi biết ăn năn.
“Ta không kết tội “. Khi nghe những lời trên, làm sao chúng ta không cảm nghiệm được một niềm tín thác trào dâng trong tâm hồn chúng ta? Sao không nhìn thấy nơi đó một “Tin Vui” cho cả và nhân loại ở thời đại chúng ta, những con người đang mong chờ khám phá lại ý nghĩa đích thật của lòng nhân từ và sự tha thứ.
Thời đại chúng ta đang cần đến sự tha thứ của Thiên Chúa, một sự tha thứ làm phát sinh niềm hy vọng và phó thác, mà không làm yếu đi cuộc chiến chống lại sự dữ.
Người phụ nữ trong Tin Mừng hôm nay đại diện cho tất cả chúng ta, những tội nhân. Cách nào đó, chúng ta cũng là những người ngoại tình trước mặt Thiên Chúa, là những kẻ phản bội lòng trung tín của Ngài. Thiên Chúa không kết án chúng ta nhưng cứu độ chúng ta nhờ Ðức Giê-su. Ngài đã lấy ngón tay viết trên đất, trên cái bụi mà từ đó con người được tạo dựng nên (x. St 2,7). Phán quyết của Thiên Chúa là: ‘Ta không muốn con phải chết, nhưng muốn con được sống”. Chúa không cứ tội ta mà trách phạt, cũng chẳng đồng nhất ta với những lỗi lầm trót phạm. Chúa muốn giải thoát chúng ta.
Trong Thông điệp “Thiên Chúa giàu lòng thương xót”, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II viết: “Đối với nhân loại ngày nay, không còn niềm hy vọng được cứu rỗi nào khác, ngoài lòng thương xót của Thiên Chúa.” Và cũng từ niềm xác tín mãnh liệt vào mầu nhiệm này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã khai mở Năm Thánh Lòng Thương Xót (x. Tông sắc Dung nhan Lòng Thương Xót, số 11).
Phần chúng ta, chúng ta là con cái của ảnh sáng, được mời gọi làm chứng cho sự thật trong gia đình, trong giáo xứ và trong môi trường xã hội mà mình được Chúa sai đến. Mùa Chay là thời gian thuận tiện để trong chay tịnh, cầu nguyện và làm việc bác ái, chúng ta nhận ra một điều là: “Sự thật sẽ giải thoát chúng ta”, và khi nhận ra chúng ta được Thiên Chúa thương xót và giải thoát chúng ta bằng cái chết và sự phục sinh của Ngài thì Người cũng mời gọi chúng ta hãy làm chứng và rao truyền về lòng thương xót của Chúa bằng trọn cuộc sống hằng ngày của chúng ta
2024
Ðón Nhận Sự Thật
16.3 Thứ Bảy trong tuần thứ Tư Mùa Chay
Gr 11:18-20; Tv 7:2-3,9-10,11-12; Ga 7:40-53
Ðón Nhận Sự Thật
Không phải hôm qua họ đã chia rẽ vì Đức Giê-su. Tin mừng hôm nay còn cho chúng ta thấy họ chia rẽ nhau. HoÏ đã chia rẽ ở thời đức Giê-su, họ vẫn còn chia rẽ nhau cho đến ngày nay. Một ngày nào đó, chỉ cần đến Đền thờ Mộ Thánh ở Giê-ru-sa-lcm, thì thấy rõ sự chia rẽ đó. Tất cả đều nói về Đức Ki-tô, nhưng lại tranh luận xem những phần nền nhà này, bến đậu kia là đất thuộc về tôn giáo nào ! Xin Người mau chóng lập lại trật tự đi.
Hẳn đó không phải là điều Đức Ki-tô đến dạy chúng ta. Nhưng đó là sự kiện thật như Đức Ki-tô đã nói : “Tôi mang gươm giáo đến, ai thuận với Tôi và ai chống lại Tôi”. Không có chuyện nửa vời. Thuận với Người thì phải từ bỏ những lý lẽ của lý trí, ít ai chịu bỏ. Muốn nhận biết Người cần phải trở nên bé nhỏ và khiêm nhường mới hợp với giáo lý và những đòi hỏi của sứ điệp Đức Giê-su và đi sâu hơn vào mầu nhiệm của Người. Bản văn thánh Gioan cho chúng ta thấy những ý kiến khác nhau xoay quanh vấn đề Đức Giê-su, còn xa mới đi tới nhất trí.
Kết cục, chính các vệ binh có nhiệm vụ giữ an ninh trật tự công cộng, tuy ít học, nhưng đã có những suy nghĩ rất chính xác và rất rõ nét : “Xưa nay chưa hề có ai nói năng như người ấy, Câu nói ngây ngô trước những ông biệt phái, đã xúc phạm nặng nề đến các ông nhưng nhận xét của những kẻ mà các ông coi là dân đen lại thật sáng suốt và có lương tri rất tốt.
Các ông trách họ tàn tệ : “Cả các anh nữa, các anh cũng bị mê hoặc rồi sao ? Trong hàng thủ lãnh và giới tri thức biệt phái có ai tin vào tên ấy đâu ? Chỉ có bọn hạ lưu cặn bã như các anh mới phạm sai lầm xét đoán như thế thôi”. Các ông biệt phái luôn luôn có thái độ kiêu ngạo, khinh bỉ quá khích đối với những người đã khâm phục sự khôn ngoan của Đức GSiê -su .
Đức Ki-tô sẽ không bao giờ đạt tới kết quả là quy tụ được tất cả loài người. Xin đừng ngạc nhiên vì Người đã tiên báo về chính Người : “Tôi sẽ là dấu chỉ gây ra sự mâu thuẫn”.
Những người chống đối Chúa Giêsu kiên quyết bảo vệ lập trường sai lầm của mình. Họ tự hào rằng mình am hiểu Kinh Thánh, rằng mình thông thạo lề luật, và họ khư khư căn cứ vào sự hiểu biết của họ để mô tả hình ảnh của một Chúa Kitô theo trí tưởng tượng của họ và kết quả là họ đã không gặp được Ngài.
Nhóm người tán thành Chúa Giêsu thì ứng xử theo lối khác. Họ lắng nghe những lời Chúa Giêsu nói, quan sát những việc Chúa Giêsu làm. Họ thấy cả những lời nói và việc làm này có một sự thật, một tình thương, một sức giải phóng tâm hồn. Thế là họ tin vào Người, họ không lý luận bằng chữ nghĩa, họ chỉ nghe ngóng với con tim. Lời lẽ của họ thật là đơn sơ: “Ông này là vị ngôn sứ. Ông này là Ðấng Kitô”. Người ta có thể nói rằng hãy nhắm mắt lại để thấy, hãy bịt tai lại để nghe. Quả thật, có nhiều điều chúng ta chỉ có thể thấy được, nghe được, hiểu được bằng cách vượt lên khỏi lối nhìn, lối nghe và lối hiểu thông thường dựa vào hình tướng bên ngoài.
Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy một vị Thiên Chúa đã bị hiểu lầm trước sự tự do của con người. Biết được Ngài, đón nhận Ngài là hai vấn đề khó khăn. Chúa Giêsu là đá tảng, người cũng có thể là đá vấp ngã nữa (Rm 9,33; 1Pr 2,6). Cái đó tùy ở mỗi người, tùy thái độ chúng ta trước Thiên Chúa.
Xưa kia trong Cựu ước, Thiên Chúa đã trao sứ mệnh cho Isaia: “ngươi hãy đi bảo dân này: các ngươi có nghe cũng không hiểu, có nhìn cũng chẳn thấy. Hãy làm cho lòng dân này chai đá, hãy làm cho chúng nặng tai, bịt mắt chúng lại, kẻo mắt thấy được, tai nghe được, lòng hiểu được mà chúng trở lại Chúa được chữa lành chăng” (Is 6,9t. cf. Mt 13,13. Sđcv 28,35t).
Thật ra, đây là câu tiên báo sự cứng lòng hoàn toàn và không cưỡng bức ai. Chúa muốn nói lên sự cứng lòng không hoán cải và đó là hình phạt. Dù sao, sự cứng lòng đó cũng nói lên sự kiên nhẫn của Chúa (Rm 10,20. Is 65,2 Os 11,1) và lòng từ bi cuối cùng của Ngài. Chúng ta cầu xin được hưởng lòng từ bi đó trong mùa chay này.
Sự hiểu biết mà Chúa Giêsu muốn chúng ta có về Ngài không phải là một hiểu biết trên lý thuyết hoặc chỉ là lời tuyên xưng trên môi miệng, mà phải là vác thập giá mỗi ngày và đi theo Ngài. Liền sau khi Phêrô tuyên xưng Ngài là Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã loan báo về cuộc Tử nạn của Ngài và Ngài đề ra như một mệnh lệnh :” Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác Thập giá và đi theo ta” . Danh hiệu kitô gắn liền với Thập giá. Không thể tuyên xưng Chúa kitô mà lại chối bỏ Thập giá của Ngài, không thể tự cho mình biết Chúa Kitô mà không liên kết với Ngài trong cuộc tử nạn Thánh Phaolô đã nói lên kinh nghiệm của ngài : ” phần tôi chỉ biết có mỗi Đức Kitô chịu đóng đinh”. Biết theo nghĩa kinh thánh là một sự kết hợp thâm. Biết do đó phải là một cam kết. Biết Đức Kitô như thánh Phaolô diễn tả chính là nên một với Chúa Kitô trong mầu nhiệm tử nạn. Biết Đức Kitô chịu đóng đinh chính là bổ túc nơi mình những gì còn thiếu trong cuộc Tử nạn của Ngài. Biết Đức Kitô chịu đòng đinh chính là đón nhận cuộc sống khổ đau từng ngày với niềm hiệp thông vào cuộc Tử nạn của Ngài.
Mùa chay là mùa của thanh luyện, chúng ta được mời gọi để sống một cách ý thức hơn bản sắc đích thực của người kitô hữu, đó là để Đức Kitô chiếm hữu và sống bằng chính sức sống của Ngài. Điều đó cũng có nghĩa là người kitô hữu không chỉ mang danh hiệu của Đức Kitô, lời tuyên xưng của họ không chỉ đọng lại trên môi miệng, mà phải là một cuộc sống kể hiệp với Ngài, với những cố gắng không ngừng của từ bỏ, quảng đại, yêu thương và phó thác.
