2024
BÀY TỎ LÒNG TIN MẾN CHÚA
25.3 Thứ Hai Tuần Thánh
Is 42:1-7; Tv 27:1,2,3,13-14; Ga 12:1-11
BÀY TỎ LÒNG TIN MẾN CHÚA
Trong 3 ngày đầu Tuần Thánh, các bài đọc thứ nhất đều trích từ sách tiên tri Isaia, viết về người tôi tớ Thiên Chúa, chịu đau khổ một cách nhẫn nhục để chuộc tội cho loài người. Còn các bài Phúc Âm thì thuật lại những việc xảy ra trong những ngày cuối cùng trước khi Chúa Giêsu bước vào cuộc thương khó.
Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu được xức dầu tại Bêtania, “6 ngày trước Lễ Vượt Qua”, tức là 6 ngày trước khi Ngài chết. Có 3 vai đáng chú ý:
Maria: Việc cô lấy một cân dầu thơm hảo hạng xức chân Chúa Giêsu và lấy tóc mình mà lau biểu lộ lòng yêu mến (không tiếc tiền của) và sự kính trọng (lấy tóc lau chân) đối với Ngài. Phần Chúa Giêsu thì còn coi việc làm này có ý nghĩa cử hành trước nghi thức mai táng Ngài.
Giuđa: Lời hắn chỉ trích Maria phí của biểu lộ lòng tham tiền của hắn. Đối với Giuđa lúc này, tiền của còn quý hơn tình nghĩa đối với Chúa Giêsu. Chính vì thế thánh Gioan là người vốn tế nhị mà hôm nay còn nói “Y nói thế không phải vì lo cho người nghèo mà vì y là một tên ăn cắp: y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những thứ gì người ta bỏ vào quỹ chung”.
Các thượng tế: Họ “quyết định giết luôn cả Ladarô nữa, vì tại anh mà nhiều người Do Thái đã bỏ họ và tin vào Chúa Giêsu”. Rõ ràng họ đang bị tính ghen ghét xui khiến. Nếu họ có nói lý do giết Chúa Giêsu là gì đi nữa thì việc họ muốn giết Ladarô rõ ràng là vì uy tín của Chúa Giêsu vượt hơn uy tín của họ.
Trước khi về giáo đô mừng lễ Vượt Qua, Đức Giêsu rời Giêricô, về trú tại Bêtania.
Chúng ta trở lại gia đình ở làng Bêtania này. Đây là gia đình rất thân thiết với Chúa Giêsu và Người thương ghé thăm. Điều đặc biệt là trong bữa ăn ấy, cô Maria đã lấy dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá mà xức chân Chúa Giêsu.
Cô Maria đã không nghĩ đến sự tốn kém khi xức chân Chúa dầu thơm này. Nếu nó có đắt đỏ và quý giá thì chỉ có nghĩa là lòng yêu mến của cô đối với Chúa vô cùng lớn lao. Không phải là ai có mặt ở đó hôm ấy cũng hiểu được hành động của cô Maria, như Giuđa chẳng hạn. Giuđa có nhắc đến người nghèo, nhưng thực ra y đâu có quý mến gì người nghèo. Giuđa chỉ đưa người nghèo ra làm cớ để tìm cách bớt xén mà thôi. Người ta phải học biết yêu mến Chúa Giêsu trước đã rồi mới biết yêu mến tha nhân, nhất là người nghèo. Chỉ khi ấy yêu mến và chia sẻ cho người nghèo mới thật sự đáng tin.
Ở đây, người ta dọn bữa ăn tối thết đãi Đức Giêsu. Trong bữa ăn, cô Maria là em cô Matta và chị của Lazarô xức dầu thơm chân Chúa.
Trong bữa tiệc này chúng ta sẽ để ý đến ba nhân vật quan trọng để biết cách cư xử và tâm trạng của mỗi nhân vật trước sự kiện này.
Trong những bữa tiệc trước đây, cô Maria thường ngồi dưới chân mà nghe Chúa giảng dạy, lần này cô lấy bình thuốc thơm hảo hạng xức chân Đức Giêsu. Việc xức thuốc thơm cho khách là phong tục phổ thông của người Do thái. Thông thường người ta xức trên đầu, nhưng nếu là thân tình, họ xức cả đầu lẫn chân. Hôm nay, không những cô xức đầu Chúa mà còn xức cả chân nữa. Hành động này diễn tả lòng khiêm nhường và yêu mến Chúa (Ga 12, 8; Mt 26, 7).
Bình dầu này chứa khoảng 327 gr nước hảo hạng rút từ tinh chất cây tùng hương. Lẽ ra chỉ xức một vài giọt trên đầu là đủ, nhưng Maria đã đập bể cổ bình và dội cả lọ nước hoa lên chân Chúa rồi lấy chính mái tóc thề của mình mà lau chân Chúa. Maria chấp nhận sự phí phạm này, vì tình yêu của cô đối với Chúa, hay đúng hơn, vì tình yêu quá lớn của Chúa đối với gia đình cô. Tắt một lời Maria đã làm thế vì lòng mến Chúa.
Trước việc làm của cô Maria, Giuđa cho là một việc làm uổng phí, vì 300 đồng bạc, giá của bình dầu, theo thánh Gioan, là giá của 300 ngày công của một người lao động. Việc Giuđa chỉ trích việc làm phí phạm của Maria càng biểu lộ lòng tham tiền của hắn. Đối với Giuđa lúc này, tiền còn quý hơn tình nghĩa đối với Chúa. Chính vì thế, thánh Gioan là một người vốn tế nhị mà hôm nay còn nói: “Y nói thế không phải vì lo cho người nghèo mà vì y là một tên ăn cắp: y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung”.
Giuđa là con người đạo đức giả, quá ham mê tiền của vật chất, đã phản bội Chúa. Y tượng trưng cho những người yếu đuối, chiều theo sức lôi cuốn của thế gian, xác thịt và ma quỷ, đang tâm phản bội tình thương của Chúa.
Còn những kẻ chống đối Chúa: đó là các thượng tế, luật sĩ, biệt phái. Họ tượng trưng cho nếp sống ích kỷ, vụ lợi. Khi không có lợi cho mình thì từ chối, khi thấy mình mất mát và phải hy sinh thì trốn tránh và chống đối.
Họ “quyết định giết luôn cả Lazarô nữa, vì tại anh mà nhiều người Do thái đã bỏ họ và tin vào Đức Giêsu”. Họ có thái độ “giận cá chém thớt”, một thái độ mà nhiều khi, nếu không để ý, chúng ta cũng dễ mắc phải. Rõ ràng họ đang bị tính ghen ghét xui khiến. Nếu họ có nói lý do giết Chúa là gì đi nữa thì việc họ muốn giết Lazarô rõ ràng là vì uy tín của Đức Giêsu vượt trên uy tín của họ.
Còn dân chúng thì làm sao? Thánh Luca cũng cho biết: “Một đám đông người Do thái biết Đức Giêsu đang ở đó. Họ tuốn đến. . .”. Chúng ta thấy họ đến với Chúa không chỉ bằng niềm tin, nhưng còn vụ lợi, hoặc tò mò xem Đức Giêsu và Lazarô được phục sinh. Họ tượng trưng cho những người theo đạo vì gạo, thích thú về ơn Chúa hơn là chính Chúa, một nếp sống đạo hời hợt, nông cạn. Và khi gặp thử thách, họ dễ thất bại, sa ngã, phạm tội. . .
Cử chỉ của cô Maria hôm nay là kiểu mẫu cho cử chỉ và việc làm cụ thể để tỏ lòng yêu mến Chúa đặc biệt nơi tha nhân, nhất là những người nghèo khổ.
Mỗi người chúng ta cũng phải tìm cho ra cách độc đáo của mình trong việc tin mến Chúa, như gương sáng trên và như cô Maria lấy dầu thơm xức chân Chúa. Thực vậy, nếu chúng ta có lòng mến Chúa thật chúng ta sẽ tìm ra cách tỏ lòng mến Chúa riêng của mình, chẳng hạn như quyết tâm sửa đổi một thói hư tật xấu nào đó, quyết tâm làm một việc tốt, vì không ai giàu sáng kiến cho bằng người đang yêu.
2024
CHẾT THAY CHO NHÂN LOẠI
23.3 Thứ Bảy trong tuần thứ Năm Mùa Chay
Ed 37:21-28; Gr 31:10,11-12,13; Ga 11:45-57
CHẾT THAY CHO NHÂN LOẠI
Câu chuyện Đức Giêsu đến Bêtania và làm phép lạ cho Ladarô sống lại đã làm rúng động trong dân chúng và nhiều người đã tin vào Đức Giêsu và giáo huấn của Ngài.
Chính vì điều này mà cuộc thương khó của Đức Giêsu ngày càng gần kề. Sự kiện này được đánh dấu bằng việc những nhà cầm quyền và các Thượng Tế quyết định họp Hội Đồng và ra lệnh bắt, giết Đức Giêsu. Họ đã ra lệnh truy nã đối với Ngài: ai biết được ông ấy ở đâu thì phải báo cho họ đến bắt.
Lý do họ bắt và quyết định giết Đức Giêsu là vì họ đã ghép cho Ngài cái tội chính trị. Họ nói: “Người này làm nhiều dấu lạ. Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rôma sẽ đến phá huỷ cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta“. Rồi một câu nói đầy uy lực của nhóm Thượng Tế mà Caipha là đại diện đã đem đến quyết định loại trừ Đức Giêsu: “Thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt”.
Tuy nhiên, thực tế thì lý do chính yếu khiến họ giết Đức Giêsu đó là sự ghen tỵ và sợ bại lộ lối sống hình thức và mất uy tín trong dân, đồng thời sợ bị mất lợi lộc mà các Thượng Tế đang được hưởng.
Bài Tin Mừng: các thượng tế và biệt phái hạ quyết tâm giết Chúa Giêsu. Thượng tế Caipha nói: “Thà một người chết thay cho dân…” Thánh Gioan hiểu lời này, tuy Caipha nói ra một cách vô ý thức, nhưng thực sự diễn tả rất đúng ý nghĩa và giá trị cái chết của Chúa Giêsu: “Không phải tự ông nói điều đó, nhưng với danh nghĩa là thượng tế năm ấy, ông đã nói tiên tri rằng Chúa Giêsu phải chết thay cho dân. Và không phải cho dân mà thôi, nhưng còn quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác về một mối”.
Lời tiên tri trên chính là lời của Giêrêmia, được thuật lại trong Bài Đọc 1: “Này Ta sẽ đem con cái Israel ra khỏi các dân tộc mà chúng đang cư ngụ. Từ khắp nơi, Ta sẽ quy tụ chúng lại và đưa chúng về quê hương”. Giêrêmia chỉ mới hiểu những kẻ mà Thiên Chúa quy tụ là dân Israel mà thôi. Thực sự dân mới của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu dùng cái chết của mình để quy tụ không chỉ là những người Israel, mà còn là tất cả những ai tin vào Ngài.
Tin mừng hôm nay cho thấy sự bất đồng giữa Chúa Giê-su và lãnh đạo tôn giáo Do thái đã lên đến cao trào, họ đã hạ quyết tâm giết Chúa Giê-su. Thượng tế Cai-pha phân trần nhằm thuyết phục mọi người giết Chúa Giê-su: “Thà một người chết thay cho dân”.
Thánh Gio-an hiểu lời của Cai-pha nói nhắm ý khác, ông nói một cách vô thức, nhưng lại thực sự diễn tả rất chính xác về ý nghĩa và giá trị cái chết của Chúa Giê-su. Ông tưởng mình đang phát biểu một lời khôn ngoan theo phương diện loài người. Nhưng dù không biết, ông thực sự đang hoàn thành chương trình của Thiên Chúa. Nên thánh Gio-an kết luận: “Không phải tự ông nói điều đó, nhưng với danh nghĩa là thượng tế năm ấy, ông đã nói tiên tri rằng Chúa Giê-su phải chết thay cho dân. Và không phải cho dân mà thôi, nhưng còn qui tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác về một mối”.
Những người Do thái đã nhìn những hành động của Chúa Giê-su theo mầu sắc chính trị. Họ đã lập luận: “Ta phải làm gì? Vì con người ấy làm nhiều sự lạ. Nếu cứ để như vậy, mọi người sẽ tin vào ông ta và quân Rô-ma sẽ đến hủy diệt nơi thánh và dân tộc ta”. Một thứ lý luận lộn xộn, thiếu logic: dân chúng tin theo Chúa là việc tôn giáo, quân Rô-ma đến phá hủy là việc chính trị, làm sao việc tôn giáo lại kéo theo hậu quả chính trị như thế được. Vả lại chính quyền Rô-ma lúc đó cho người Do thái tự do hành đạo, và chính Tổng trấn Phi-la-tô sau này cũng đâu muốn kết án Chúa về tội chính trị: xúi dân làm loạn, không nộp thuế cho César. Thật là trớ trêu, nhưng Chúa Giê-su không phản đối. Ngài chấp nhận một cái chết bất công để biến nó thành cái chết hy sinh cứu chuộc nhiều người
Chúa đã Giê-su chết thay cho người khác. Ngài nêu lên cho chúng ta một lý tưởng tốt đẹp mà sự khôn ngoan của chúng ta không bao giờ nghĩ tới được. Phải chết thay cho người khác, có thể là một hành động bất công do hận thù; nhưng với tình yêu Chúa, người Ki-tô có thể hiến mạng sống mình cho người khác. Chính Chúa Giê-su đã trải qua kinh nghiệm này: những người Do thái đã bắt Chúa phải chết thay để người Rô-ma khỏi huỷ diệt dân tộc Do thái; nhưng trong chương trình cứu độ, Ngài đã chấp nhận hiến mạng sống mình để mọi người được sống.
Lời Chúa hôm nay nhắc nhở mỗi người hãy ý thức lại việc sống đạo bấy lâu nay: có bao giờ chúng ta theo Chúa chỉ vì muốn được hưởng lợi lộc trần gian? Nếu vì giá trị Tin Mừng đòi ta phải từ bỏ lối sống và hành vi không phù hợp, liệu chúng ta có sẵn sàng không? Hay có khi nào chúng ta cũng vì ghen tức mà loại bỏ anh chị em mình như những Pharisêu và Kinh Sư hôm nay đối với Đức Giêsu?
2024
Đấng Thiên Sai khẳng định thiên tính
22.3 Thứ Sáu trong tuần thứ Năm Mùa Chay
Gr 20:10-13; Tv 18:2-3,3-4,5-6,7; Ga 10:31-42
Đấng Thiên Sai khẳng định thiên tính
Tin Mừng hôm nay cho ta thấy công cuộc loan báo Nước Thiên Chúa của Chúa Giêsu đã gần đến hồi kết thúc.
Ba năm say sưa miệt mài với mọi cách thức giảng dạy, Chúa Giêsu dùng những dụ ngôn thiết thực, những lời nói cao siêu hay đơn sơ dễ hiểu. Nhất là Người đã dùng đến quyền phép của Thiên Chúa mà làm những phép lạ để ban ơn giáng phúc cho người Do Thái, dân riêng của Người. Hầu cho họ nhận ra Thiên Chúa quyền phép tạo dựng yêu thương, là cha của họ cùng toàn thể nhân loại. Đặc biệt là muốn cho họ nhận ra Đấng Thiên Chúa yêu thương ấy cũng chính là Đức Giêsu đã đang ở với họ mà dạy dỗ, mà cứu chuộc, cho họ được sống muôn đời. Vậy mà công ơn của Người với họ như là vô hiệu. Từ việc bới móc, chê bai bất tuân lời Chúa dạy, đến hôm nay sự thù ghét đã gần đến đỉnh điểm: “Họ lượm đã ném Đức Giêsu” và họ còn “tìm cách bắt Người” nữa..
Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, Đấng thánh thiện tốt lành đến với trần gian u mê tội lỗi, như ánh sáng đến với bóng đêm mà Chúa Giêsu đã nói với ông Nicôđêmô: “Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta yêu chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. Quả thật ai làm điều ác thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. (Ga 3,19-20).
Đến ngày phán xét, nhiều dân tộc có thể họ bào chữa cho mình rằng: Vì tôi chưa được nghe giảng Tin Mừng. Nhưng với người Do Thái họ không những được nghe, còn được nài nỉ van xin, chỉ vẽ để cho họ dù không nghe lời dạy, thì ít ra cũng tin yêu những việc kỳ diệu của Đấng Thiên Sai đã làm.
Họ tỏ ra tôn kính Thiên Chúa: “Chúng tôi ném đá ông… vì ông chỉ là người mà lại tự cho mình là Thiên Chúa”. Nhưng không nhận những việc thiện hảo bởi quyền phép Thiên Chúa. Họ nại đến Thiên Chúa mà giết người tin kính Thiên Chúa, điều mà Chúa Giêsu đã nói: “Họ sẽ khai trừ anh em khỏi hội đường, hơn nữa sẽ đến giờ kẻ nào giết anh em cũng tưởng mình phụng thờ Thiên Chúa.” (Ga 16,2). Tâm hồn họ mù tối ích kỷ, kiêu căng ghen ghét, không muốn nhìn nhận một điều gì tốt lành nơi người khác. Họ như những con mắt bệnh tật không muốn tiếp nhận ánh sáng chói lọi là lời Chúa Giêsu đem đến cho họ: “Ta là Con Thiên Chúa… Cha ở trong Ta và Ta ở trong Cha”.
Lòng dạ mù tối ác độc đã dẫn họ đến phạm tội ác tầy đình có một không hai trong lịch sử nhân loại: Giết Chúa Cứu Thế. Một tội ác, một vết nhơ, họ đã bị nhân loại nguyền rủa hai nghìn năm qua. Nhưng công đồng Vaticano II (1965) đã nhắc nhở mọi người: “Mặc dầu chính quyền Do Thái và thuộc hạ đã đưa đến cái chết của Chúa KiTô, nhưng không thể quy trách một cách hàm hồ những tội ác đã phạm trong khi Người bị khổ nạn cho hết mọi người Do Thái thời đó… cũng như thời nay.”).
Thật vậy, Tin Mừng hôm nay kể dù “nhiều kẻ tìm cách bắt Người”… Nhưng cũng “… có nhiều kẻ đến cùng Người. Họ nói: Gioan đã không làm một phép lạ nào, nhưng mọi điều Gioan nói về người này đều đúng cả”.
Tin Mừng hôm nay: “Chúng tôi muốn ném đá ông không phải vì việc lành, nhưng vì một lời lộng ngôn, bởi vì ông chỉ là người mà lại tự cho mình là Thiên Chúa”. Người Do Thái thời ấy tôn thờ Thiên Chúa là bậc Chí Tôn uy quyền ở trên cao vời vợi, và con người là kẻ bé mọn, các Thượng tế, Biệt phái không thể chấp nhận được điều Chúa Giêsu nói với họ: “vì Ta đã nói Ta là Con Thiên Chúa?”, dù họ đã biết khi Chúa Giêsu đi rao giảng mời gọi mọi người đón nhận Tin Mừng, Người không chỉ nói lý thuyết mà luôn có hành động của Lòng Chúa Thương Xót là cứu chữa các bệnh nhân.
Lòng yêu thương con người từ Chúa Cha và Chúa Con đã thực hiện điều ấy thay Chúa Cha. Chúa Giêsu muốn tỏ bày cho dân Chúa biết Người là Con Thiên Chúa và cũng muốn nhân loại biết về Chúa Cha, nhưng những nhà lãnh đạo Do Thái tỏ thái độ chống đối, có thể là do xuất thân của Chúa Giêsu là con của gia đình lao động, quá tầm thường. Ông bà xưa có câu : “Miệng nhà giàu nói đâu ra đấy” hay thành ngữ có câu “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền” thật chẳng sai. Trong đời sống xã hội từ thời xưa đã có sự phân biệt người quyền thế, giàu có, người có tiền, thì luôn dễ dàng chiếm lĩnh ưu thế.
Bài học cho chúng ta là những vị Mục Tử tại các giáo phận, giáo xứ là những vị đại diện cho Giáo Hội với trọng trách chăm sóc linh hồn của giáo dân, thực thi sứ vụ truyền giáo tại các địa phương rất cần sự hợp tác, đón nhận của người Kitô hữu. Theo thánh Augustino chia sẻ: “Nếu mặc khải là con đường Thiên Chúa đến với con người thì đức tin là con đường con người đến với Thiên Chúa, là sự đáp trả của con người trước tiếng nói của Thiên Chúa”.
Chúa Giêsu xuống thế gian để cứu rỗi và nâng con người lên làm con cái Chúa Cha, để cùng hưởng hạnh phúc với Chúa Cha. Hành trình trở thành con cái Chúa là sự tự nguyện của mỗi người, Lời Chúa giúp chúng ta biến đổi từ bên trong và thể hiện ra bên ngoài với mọi người chung quanh từ cách giao tiếp, cư xử… làm đời sống Kitô hữu ngày một nên thánh thiện. Ngày nay, khi nghe Giáo Hội giảng dạy Lời Chúa, cũng có những Kitô hữu không chấp nhận mà còn có hành động như: coi thường Lời Chúa, vi phạm luật công bình, bác ái, phản đối luật lệ Hội Thánh, chống đối chủ chăn…
Ngày nay, Tuy rằng Thiên Chúa không còn trực tiếp để nói với nhân loại về Ngài nữa: Song, qua Kinh Thánh, qua Giáo hội và qua những dấu chỉ của thời đại Chúa vẫn tiếp tục mạc khải về Ngài, về tình yêu thương và công trình cứu độ của Ngai . Điều quan trọng nằm ở phía con người có biết mở đôi mắt, mở đôi tai và mở tấm lòng ra đón nhận Thiên Chúa hay không?
Thiên Chúa đã tôn trọng và ban cho mọi người được quyền tự do để tùy đó lựa chọn cho mình sự sống hay cái chết. Vì vậy. Chúng ta hãy nên khôn ngoan biết dùng chính cái quyền được tự do ấy mà đón nhận Thiên Chúa bằng việc mang Lời Ngài ra thực hành trong cuộc sống, có như thế chúng ta mới hy vọng sẽ được sống đời đời bên Chúa sau cuộc lữ hành trần gian này.
2024
XIN CHÚA MỞ CON MẮT ĐỨC TIN
21.3 Thứ Năm trong tuần thứ Năm Mùa Chay
St 17:3-9; Tv 105:4-5,6-7,8-9; Ga 8:51-59
XIN CHÚA MỞ CON MẮT ĐỨC TIN
Chúa Giêsu cố gắng làm cho người Do Thái hiểu về Ngài. Trong bài trích Phúc Âm này, Ngài nói hơi xa xôi: Khi người Do Thái hỏi “Chẳng lẽ ông lại lớn hơn Cha chúng tôi là Abraham sao ?”, Ngài đáp “Khi Abraham chưa sinh thì đã có Ta rồi. Ý Ngài muốn họ hiểu Ngài là Thiên Chúa. Nhưng chẳng những họ không hiểu mà họ còn định lấy đá ném Ngài.
Hôm nay vẫn tiếp tục cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và người Do thái về thân thế của Ngài. Đức Giêsu khẳng định: “Ai giữ lời Ta thì không bao giờ phải chết”. Với những lời giáo huấn của Đức Giêsu, người Do thái không chấp nhận, và họ đã lượm đá ném Ngài.
Điều cốt lõi trong cuộc đời Kitô hữu là kiếm tìm và thực thi Lời Chúa dạy. Hôm nay, chúng ta đã nghe và đón nhận Lời Chúa với thái độ như thế nào? Chúa vẫn đang hướng dẫn chúng ta qua những người có trách nhiệm, những người mà ta được gặp gỡ trong cuộc sống. Chúng ta có khiêm tốn đón nhận hay cũng có thái độ như người Do thái xưa?
Càng đi sâu vào Mùa Chay, cuộc đối đầu giữa Đức Giêsu và những người luật sĩ cũng như người biệt phái ngày càng gây cấn hơn. Nếu như Đức Giêsu càng ngày càng tỏ rõ danh tính của mình là Con Thiên Chúa thì những người Do thái càng ngày lại càng căm thù và muốn giết Ngài. Nhưng người Do thái với cái nhìn và kiến thức cũng như kinh nghiệm hẹp hòi của cá nhân như thế, làm sao họ có thể biết được thân thế của Chúa: “Ông là ai? Ông chưa được 50 tuổi mà đã trông thấy Abraham sao? Bây giờ chúng tôi mới biết rõ ông bị quỷ ám” (Ga 8,52),
Nhiều người thời nay cũng không thể chấp nhận sự thật về Đức Giêsu. Họ không tin Ngài là Đấng Cứu Thế, càng không tin Ngài là Con Thiên Chúa. Bởi vì họ đã có quá nhiều thành kiến về đạo, trong đó có cả những thành kiến do những người có đạo tạo nên.
Trong bài Tin mừng hôm nay Đức Giêsu lại tuyên bố một câu làm cho người ta hiểu sai: “Ai tuân giữ lời Ta, thì sẽ không bao giờ phải chết”. Người Do thái không hiểu nổi mạc khải này, bởi vì theo họ, Abraham và các tiên tri cũng đã chết, mặc dù vẫn tuân giữ Lời Chúa. Do đó, họ lên tiếng phản đối, cho Ngài là bị quỷ ám, và họ lượm đá ném Ngài.
Một người dám sống chứng nhân cho Tin Mừng là người dám đứng về phía sự thật. Có những sự thật chúng ta vì tiếng lương tâm phải nói ra, dẫu cho sự thật ấy có nguy cơ làm cho chúng ta bị trù dập. Như Chúa Giêsu, đã đến giờ Người nói rõ mọi sự về Người, dẫu sự thật này sẽ là nguyên nhân đưa Người đến thập giá chăng nữa.
Từ lâu, Chúa Giêsu bị coi là cái gai trong mắt của những nhà lãnh đạo Do Thái, như là Pharisêu, Tiến sĩ luật, phái Sađốc. Họ muốn loại bỏ Chúa Giêsu, vì lý do Người từng lên án thói đạo đức giả của họ; thêm nữa, họ nhận thấy những lời Chúa Giêsu chứa đầy nghịch lý: chưa được năm mươi tuổi mà xưng mình “có trước Ábraham”; còn bảo ai tuân giữ Lời Chúa thì được sống, thế mà “Ápraham và các tiên tri đã chết”; lại cả gan xưng mình là “Đấng Hằng Hữu”, danh xưng chỉ dành cho Thiên Chúa mà thôi. Vì thế, họ bàn cách loại trừ bằng việc ném đá, xô xuống vực hay đóng đinh như một tử tội.
Con người cần nhờ Chúa Giêsu Kitô để đến được với Chúa Cha mà hưởng sự sống vĩnh cửu. Cho nên, những nguy hiểm không làm Chúa Giêsu chùn bước vì sứ mạng Chúa đến để cứu chuộc con người, để mặc khải sự thật. Chính vào lúc Chúa Giêsu bị đối xử như một tử tội, bị cho là ở trong hoàn cảnh bi đát, yếu đuối, bất lực và đầy sự chế nhạo nhất, là lúc Người được Chúa Cha tôn vinh. Người được tôn vinh không phải trên ngai vàng mà là trên thánh giá. Thánh giá mới là nguồn phát sinh ơn sự sống.
Thật ra khi tuyên bố điều đó, Chúa có ý nói về sự sống siêu nhiên, chứ không có ý nói về sự sống thể xác. Vì thế, khi nghe Chúa nói: “Ai tuân giữ lời Ta, thì sẽ không bao giờ phải chết” thì phải hiểu rằng Chúa có ý nói: Ai đặt niềm tin vào Ngài, đón nhận và thực thi giáo huấn của Ngài, thì được thông hiệp vào sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã trải qua cái chết của thân xác, các môn đệ cũng thế. Nhưng sự thật, các môn đệ của Đức Giêsu và cả chúng ta nữa được dự phần vào sự sống của Thiên Chúa nếu chúng ta tin vào Ngài.
Đã có nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta cố tình từ chối chân lý, sống ngụp lặn trong tội, bỏ ngoài tai tiếng nói lương tâm, lề luật Chúa cùng giáo huấn của Hội Thánh. Mùa Chay thánh sắp qua đi, nên đây là lúc chúng ta cần mau mắn chạy đến với Chúa và xin Ngài mở con mắt đức tin, nhờ đó chúng ta nhận ra thân phận yếu đuối của mình; đồng thời, cũng can đảm từ bỏ nếp sống tội lỗi, canh tân đời sống cho phù hợp với ánh sáng Tin Mừng của Chúa.
