2024
TÌNH YÊU TỰ HIẾN
28.3 Thứ Năm Tuần Thánh
Is 61:1-3,6,8-9; Tv 89:21-22,25,27; Kh 1:5-8; Lc 4:16-21; Xh 12:1-8,11-14; Tv 116:12-13,15-16,17-18; 1 Cr 11:23-26; Ga 13:1-15
TÌNH YÊU TỰ HIẾN
Trong bữa tiệc cuối cùng với các môn đệ, Chúa Giêsu đã chọn tấm bánh như một biểu trưng, một dấu chỉ cho cả cuộc đời mình. Tấm bánh được làm nên là vì sự sống, vì niềm vui của người khác mà không bao giờ là cho chính bản thân mình. Có thể đó là tấm bánh đơn sơ, dân dã đem lại niềm vui cho trẻ thơ mỗi khi mẹ đi chợ về. Có thể đó là tấm bánh nhỏ bé nhưng vô cùng cần thiết, đem lại sức sống cho người đang đói lả.
Bánh có thể được đặt trang trọng trên những bàn tiệc thịnh soạn. Bánh có thể được nâng niu trên đôi tay gầy gò, run rẩy của người hành khất bên vỉa hè. Như thế, Bánh không kén chọn người ăn, và dù là cao cấp hay bình dân, bánh được làm ra là để cho đi chính mình, trao tặng chính mình, để trở nên niềm vui và sức sống cho người khác. Chúa Giêsu đã trở nên tấm bánh thật vừa với tầm tay của tất cả hạng người.
Thật đơn sơ nhưng cũng vô cùng sâu xa, vì tấm bánh nói lên tình yêu tự hiến. Khi xưng mình là bánh, Chúa Giêsu muốn bày tỏ một tình yêu tha thiết, sẵn sàng chịu nghiền nát, chịu tan biến, chịu chết cho nhân loại. Chúa chịu nhỏ đi để con người được lớn lên. Chúa chịu hủy hoại cho ta được lành lặn các thương tích. Chúa chịu chết cho ta được sống.
Hơn ba mươi năm đi khắp nẻo đường đời và trên đỉnh cao thập tự giá, Ngài đã sống như một tấm bánh. Tấm Bánh được bẻ ra và trao tặng như một cử chỉ yêu thương. Ngài trở nên Tấm Bánh như một lời mời gọi: “Anh em cầm lấy mà ăn”. Ngài trở nên tấm bánh để từ đây, Thiên Chúa có thể ở lại mãi với con người.
Hôm nay chúng ta kỷ niệm ngày Chúa lập bí tích Thánh Thể. Bí tích của tình yêu tự hiến. Qua tấm bánh đơn sơ nhưng nói lên tình yêu hiến dâng của Thầy Chí Thánh Giê-su chấp nhận tan biến cho người mình yêu.
Cũng trong truyền thống đạo đức này, Chúa Giêsu cùng với các môn đệ bước vào bữa tiệc vượt qua. Nếu nghe câu truyện, chúng ta có cảm giác như bóng tối của sự dữ, sự ác đang bao trùm cả không gian qua con người của Giuda, một kẻ đang bị ma quỷ sử dụng. Trong bầu khí rất cảm động và linh thiêng của bữa tiệc ly, Chúa Giêsu biết trước những gì sắp xảy ra cho mình, nên Ngài đã dành tất cả thời gian còn lại trên trần gian để bộc lộ tình thương của Ngài dành cho các môn đệ và cho nhân loại. Từng cử chỉ, từng hành động của Chúa Giêsu là từng cử chỉ, hành động của tình yêu và lòng thương xót đến cùng, là hành động yêu thương của một người thầy dành cho học trò, của một người cha dành cho các con trước lúc ra đi.
Trong bữa ăn đó, Chúa Giêsu đã thực hiện một việc rất lạ lùng. Ngài cầm bánh và chén trao cho các tông đồ và nói với các ông : Đây là mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con, các con hãy cầm lấy mà ăn. Đây là máu Thầy, máu Giao Ước Mới, đổ ra để tha tội, các con hãy cầm lấy mà uống và hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy. Hành động này vượt quá sức tưởng tượng của các tông đồ, có lẽ ngay lúc ấy, các ông cũng chưa thể hiểu hết những việc Chúa làm. Qua việc biến bánh và rượu trở nên thịt máu Ngài, Chúa Giêsu muốn được ở lại và ở mãi bên những người mà Ngài yêu thương. Ngài muốn chúng ta đón nhận Ngài như là của ăn, để Ngài có thể đi vào trong tâm hồn từng người, làm nên chất dinh dưỡng nuôi sống con người.
Do tình yêu và lòng thương của một người thầy, người cha thúc đẩy, Chúa Giêsu không còn nghĩ gì đến bản thân mình, Ngài muốn thể hiện đến tận cùng lẽ yêu thương. Không chỉ trở nên của ăn để ở lại mãi với nhân loại, Chúa Giêsu còn trao cho các tông đồ quyền : Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy. Với lệnh truyền này, Chúa Giêsu đã thiết lập nên chức Linh Mục, trao cho các tông đồ quyền nhân danh Ngài để tiếp tục nối dài tình yêu thương và sự hiện diện của Ngài với nhân loại. Trao cho các tông đồ quyền thể hiện lòng thương xót và sự hy sinh của mình, Chúa Giêsu đã chấp nhận trở nên hoàn toàn lệ thuộc vào các ông. Từ đây, khi các ông làm như Chúa đã làm, thì Chúa hiện diện trong việc làm của các ông. Mặc dù Chúa biết rất rõ, các tông đồ là những kẻ yếu đuối và đầy giới hạn, nhưng Chúa vẫn chọn các ông là những linh mục đầu tiên, để qua sự giới hạn bất toàn của các tông đồ và của các linh mục ngày nay, lòng thương xót của Chúa lại tiếp tục được trao ban cho thế giới.
Các tông đồ chưa hết bất ngờ bởi việc bẻ bánh Chúa Giêsu vừa thực hiện thì lại đến bất ngờ khác. Thánh Gioan thuật lại : Ngài yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian và Người yêu thương họ đến cùng. Yêu đến tột cùng là không còn giới hạn, không còn tiếc gì và cũng không còn giữ lại điều gì cho riêng mình. Tình thương này không chỉ dành cho những người ưu tuyển, nhưng dành cho tất cả mọi người, kể cả Giuđa, kẻ đang bị ma quỷ điều khiển. Chúa Giêsu đã chỗi dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu và cúi xuống rửa chân cho các tông đồ. Với hành động này, Chúa Giêsu để cho lòng thương xót vượt trên tất cả, phủ lấp tất cả. Ngài không còn nghĩ gì đến địa vị của một người Thầy. Ngài đã cúi xuống để rửa chân cho các tông đồ, trong đó có Giuđa, kẻ đang nuôi trong lòng sự phản bội mà Chúa Giêsu đã biết.
Simon Phêrô và các tông đồ hết sức ngỡ ngàng đến độ không chấp nhận : Thưa Thầy, không thể như thế, Thầy không thể rửa chân cho con. Đối với người Do Thái, việc rửa chân là việc của nô lệ làm cho chủ, người tự do và con cái không phải làm việc này. Vậy mà, Chúa Giêsu đã xóa hẳn vị thế của mình là một người Thầy, để cúi xuống rửa chân cho các học trò. Điều này vượt quá lý lẽ thông thường của con người, nhưng với lý lẽ của tình yêu và lòng thương xót, thì việc làm này lại là việc làm có lý lẽ riêng của nó.
Khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giêsu mặc áo vào, trở về chỗ và nói : Anh em gọi Thầy là thầy, là Chúa, điều đó là phải. Vậy nếu Thầy là thầy, là Chúa mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Bài học từ việc cúi xuống rửa chân đến đây đã rõ. Chúa Giêsu muốn dạy các ông bài học về sự phục vụ. Vì trở thành môn đệ của Chúa, thành những người nối dài tình yêu và lòng thương xót của Chúa, không phải để các tông đồ tìm kiếm một địa vị quyền lợi theo kiểu thế gian, nhưng là phải chấp nhận cởi bỏ con người của mình. Cởi bỏ con người tức là cởi bỏ địa vị, quyền lực, tham vọng, cởi bỏ cả cái tôi kiêu căng và thói tự ái, để có thể cúi xuống phục vụ anh em.
Sự phục vụ mà Chúa Giêsu mong muốn chúng ta làm không phải chỉ là sự phân phát bố thí, nhưng phải làm tất cả những việc đó bằng trái tim yêu thương và bằng sự trân trọng, tôn trọng anh em. Phục vụ tất cả mọi người không trừ ai, kể cả những người đang thù ghét và tìm cách hại mình, như Giuđa đang nuôi trong mình sự phản bội. Anh em cũng phải rửa chân cho nhau, Anh em hãy làm như Thầy đã làm không chỉ là một lời mời, mà là một đòi buộc đối với người môn đệ của Chúa. Chúa muốn những ai theo Chúa cũng phải dám cúi xuống để rửa chân phục vụ anh em mình. Chỉ khi dám cúi xuống mới có thể phục vụ đúng theo gương của Thầy Giêsu, chỉ khi cúi xuống chúng ta mới có thể nhìn thấy những nhu cầu của anh chị em để có thể cảm thông và chia sẻ.
Hôm nay, chúng ta chiêm ngắm và cảm nhận một tình yêu trao ban đến tận cùng của Chúa Giêsu. Ngài đã ban tặng máu thịt làm của ăn của uống nuôi nhân loại. Ngài còn trao ban cả tự do và trọn con người của mình cho các tông đồ, khi lập Bí tích Truyền Chức. Ngài trao cho các ông quyền làm cho Ngài được hiện diện cách bí tích nơi trần gian cho đến ngày tận thế. Trước tình yêu trao ban lớn lao như thế, chúng ta được mời gọi đáp lại bằng việc đón rước Ngài một cách quảng đại, để cho Ngài đi vào tâm hồn và cuộc đời, để cho Ngài chiếm hữu và làm chủ đời ta.
Xin cho chúng ta nhận ra tình yêu vô biên của Chúa để sống ngàn đời tri ân. Xin cho cuộc đời chúng ta cũng biết tự hủy chính mình như tấm bánh đem lại niềm vui và hạnh phúc cho người mình yêu.
2024
Khốn thay cho kẻ làm cho Ngài bị phản nộp
27.3 Thứ Tư Tuần Thánh
Is 50:4-9; Tv 69:8-10,21-22,31,33-34; Mt 26:14-25
Khốn thay cho kẻ làm cho Ngài bị phản nộp
Người Do Thái mừng lễ Vượt Qua để kỷ niệm cuộc vượt qua biển đỏ thoát khỏi cảnh nô lệ Ai Cập, nhờ hồng ân Chúa. Chúa Giê-su và các môn đệ cũng mừng lễ Vượt Qua. Và vì biết Giu-đa đã ra kèo với các thượng tế rằng: sẽ nộp Chúa Giê- su cho họ, với giá 30 đồng bạc, nên Người nói: “Thầy nói thật với các con: có một người trong các con sẽ nộp Thầy”.
Các môn đệ bỡ ngỡ, ai cũng hỏi: “Thưa Thầy, có phải con không”. Cả Giu-đa cũng hỏi vậy. Chúa Giê-su trả lời: “Ðúng như con nói”. Chúa Giê-su giải thích: chuyện phải bị bắt, bị giết đã có trong kế hoạch của Thiên Chúa như trong sách Thánh đã ghi. Chuyện đáng tiếc, không phải chuyện các thượng tế bắt Chúa, mà là chuyện môn đệ phản thầy! Chúa nói với kẻ phản bội, kẻ cạn tình bất nghĩa rằng: “Thà nó đừng sinh ra thì hơn”. Đến nổi nào quá cần tiền mà phải bán đứng thầy mình?
Nhưng cũng không thể biện minh cho Giu-đa rằng ông có ý bán Thầy vì biết Thầy mình quyền năng không ai làm hại được! Chỉ biết: Giu-đa đã theo Sa-tan, nên đã phụ tình Thầy. Tội phụ tình đã là đủ nặng. Tình tiết 30 đồng bạc là tình tiết phụ, nhưng làm cho tội nặng hơn.
Bởi, đã có ý phản, thì 15 đồng cũng bán. Cách sống phụ bạc ân tình của Giu-đa như vẫn còn đâu đây: Đến nổi nào quá cần nửa mét đất, mà phải bán đứng anh em? Đến nổi nào phải cần một mũi heroin, mà cháu phải giết bà? Đến nổi nào phải giữ thể diện mình mà làm sỉ nhục, làm giảm giá trị, hoặc loại trừ anh em? Đến nổi nào chỉ vì một chút lạc thú, mà giết người bằng lời chua cay, bằng lưỡi dao oan nghiệt. Lời Chúa nói với kẻ phụ tình: “Thà nó đừng sinh ra thì hơn!”
Tin Mừng hôm nay dẫn ta đến đỉnh cao công trình cứu chuộc của Đức Kitô. Người sẽ phải “ra đi” vì tội lỗi nhân loại và để chịu chết chuộc tội cho họ.
Mở đầu ta thấy một con người tội lỗi đã nổi tiếng xưa nay, Giuđa Itcariôt. Ông theo Chúa cùng anh em đã mấy năm nay. Vậy mà hôm nay đã rắp tâm chỉ điểm cho người Pharisêu bắt Chúa, mà lấy 30 đồng bạc.
Thật tiền bạc nó có sức cám dỗ lạ lùng, mà giờ đây chúng ta ai cũng phải cảnh giác với chúng. Cũng thương thay những con người yếu đuối, đớn hèn đã phải làm tôi cái đồng tiền nhỏ bé ấy: “Giuđa Itcariôt đi gặp các thượng tế mà nói: Tôi nộp ông ấy cho quý vị thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu. Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc. Từ lúc đó hắn cố tìm dịp thuận tiện để nộp đức Giêsu”. Tiếp tục Tin Mừng dẫn ta vào một biến cố đặc biệt, Chúa Giêsu và các môn đệ chuẩn bị ăn lễ Vượt Qua: “Các môn đệ đến thưa với Đức Giêsu: Thầy muốn chúng con dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?”.
Chúa Giêsu, là người chủ, người điều hành từ xa việc chuẩn bị mừng lễ ấy. Là Thiên Chúa, Người thấy trước mọi sự, nên công việc đã xảy đến đúng như lời Người báo trước. Lễ Vượt Qua, lễ tạ ơn trọng thể của người Do Thái. Họ cảm tạ và nhớ lại tình yêu thương đặc biệt Thiên Chúa đã dành riêng cho dân tộc họ, trước đó khoảng 1300 năm. Chúa đã cho họ đi qua Biển Đỏ để trốn thoát khỏi cảnh nô lệ Ai Cập một cách lạ lùng. Ngày ấy trước khi vượt qua Biển Đỏ, Chúa dạy họ giết chiên ăn thịt và “lấy máu bôi lên khung cửa” nhà mình. Nhà nào có máu chiên bôi lên, nhà ấy sẽ khỏi phải “tai ương tiêu diệt”. (Xh 12).
Tin Mừng giờ đây sắp làm ứng nghiệm sự kiện “Vượt Qua” ấy. Chỉ ngày mai thôi, Chúa Giêsu là “Con Chiên” thật của Thiên Chúa sẽ nên của ăn duy nhất trong bữa tiệc mừng lễ “Vượt Qua”. Rồi Con Chiên ấy sẽ chịu chết, sẽ đổ máu ra không phải để “bôi lên khung cửa”, mà đổ trên thập giá tẩy rửa tội lỗi cho người Do Thái và cho toàn thể nhân loại để họ khỏi bị“ tiêu diệt” muôn đời. Trước giờ phút đón nhận sự phản bội, đau khổ biệt ly oan nghiệt ấy, Chúa Giêsu vẫn hiền hòa yêu thương: “Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy”. Cũng chẳng thấy nơi Người sự oán trách, hay loại trừ ai dù là với người phản bội. Chúa chỉ thương cho họ, vì họ đã tự chọn con đường xa rời Chúa, bán Chúa thì họ sẽ phải khổ đau: “Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người, thà họ đừng sinh ra thì hơn”.
Tin Mừng cho biết Giu Đa vẫn đồng bàn với Chúa Giêsu và các môn đệ trong bữa tiệc Vượt Qua, vẫn ngồi bên Chúa, và còn “giơ tay cùng chấm với Thầy” mình. Khung cảnh bữa tiệc rất đầm ấm, gần gũi, rất thân thiết tình Thầy trò. Thế nhưng, có ai biết, ông chỉ còn là cái xác không hồn, bởi tâm hồn ông đã thỏa hiệp thầm kín với tội ác.
Chúa Giêsu chấp nhận tất cả vì “Con Người sẽ phải ra đi như đã chép về Người” như thánh ý Cha đã định, nhưng Ngài thương Giu Đa, vì ông không nhận ra Lời Ngài đã mời gọi ông thay đổi ý định từ hôm ở nhà Matta, khi ông tiếc bình dầu thơm 300 đồng bạc. Ông cũng không nhận ra lời mời của ngày hôm nay nữa “kẻ giơ tay cùng chấm vào đĩa với Thầy, đó chính là kẻ sẽ nộp Thầy”. Chúa Giêsu tôn trọng sự tự do của ông, nhưng Ngài tiếc cho ông vì ông đã lạm dụng tự do mà đi vào chỗ chết.
“Khốn thay cho kẻ làm cho Ngài bị phản nộp”. Chúa Giê-su chấp nhận phải ra đi theo thánh ý Chúa Cha, như có lời đã chép. Nhưng Người lấy làm tiếc cho kẻ nộp người phải rơi vào cảnh khốn đốn, vì tách lìa Chúa Giê-su, là tự đẩy mình vào chỗ chết ngàn đời.
2024
Khổ đau của Đức Giêsu
26.3 Thứ Ba Tuần Thánh
Is 49:1-6; Tv 71:1-2,3-4,5-6,15,17; Ga 13:21-33,36-38
Khổ đau của Đức Giêsu
Đức Giêsu chịu nhiều đau khổ, nhưng người ta tự hỏi, đau khổ lớn nhất có phải là đòn đánh, mạo gai, cơn hấp hối hay bị đóng đinh trên thập giá ? vì còn nhiều thứ đau khổ khác nữa.
Thứ đau khổ con tim và linh hồn mới thực sự cực khổ hơn bất cứ đau khổ thể xác nào. Người ta đau khổ thể xác mà trái tim vẫn có thể hạnh phúc, như các thánh tử đạo, bị cực hình thân xác, nhưng tâm hồn vẫn hân hoan. Khi bị đau khổ tâm hồn và tâm tư thì không còn cách nào được sung sướng.
Đức Giê-su đã bị một ông tông đồ bán : đó là Giu-đa. Người cũng bị tông đồ cả là Phê-rô chối bỏ. Người còn bị tất cả các môn đệ bỏ trốn. Đó không phải là những lúc đau khổ lớn nhất sao ?
Đau khổ cực dữ nhất không phải là thứ đau khổ làm cho kêu la lớn nhất. Đau khổ thấm thía sâu sắc không phải là thứ đau khổ kêu gào trên mái nhà. Đau khổ lớn nhất cũng như niềm vui to nhất thường là câm lặng.
Đức Giê-su biết một bạn thân nộp Người. Người đã không vạch mặt chỉ tên. Trái lại, Người đã rất kín đáo bảo Giu-đa đi làm công việc như thường để không một môn đệ nào biết. Những đau khổ đó càng dằn vặt dữ tợn khi người ta muốn đối diện với chúng một mình.
Bị Giu-đa bán nộp, tiếp theo đó Đức Giê-su còn phải đối diện với sự phản bội của Phê-rô. Người biết rõ thế. Phê-rô lại chẳng biết gì, ông không thể tưởng tượng mình sa ngã xuống hố sâu đến thế. Đức Giê-su không phiền trách ông chút nào. Người sẵn sàng chịu đau khổ do những bạn nghĩa thiết của Người và tất cả moi người, dù họ đầy những yếu đuối. Còn chúng ta có noi gương Người không ?
Khi người ta chịu đau khổ vì những người thân yêu, thì chính là dấu người ta yêu chân thật.
Chúng ta chiêm ngắm Chúa Giêsu và đi sâu vào tâm tư Chúa trong giây phút quan trọng này, có hai đặc điểm quan trọng được nêu bật ở đây: Ngài là một vị Thiên Chúa nhập thể làm người như chúng ta; là con người, Chúa Giêsu xúc động mạnh mẽ, tâm hồn xao xuyến sâu xa trước cuộc Thương Khó sắp trải qua, trước sự không hiểu và sắp phản bội của các đồ đệ, của Giuđa phản bội và của Phêrô tự phụ chối Chúa. Là một vị Thiên Chúa, Chúa Giêsu ý thức rõ ràng điều sắp xảy ra cho mình và gọi đó là việc tôn vinh Thiên Chúa. Giờ tử nạn là giờ tôn vinh, Thiên Chúa được tôn vinh, chính Chúa được tôn vinh và con người được tôn vinh, được hòa giải với Thiên Chúa, được lãnh nhận sự sống đời đời.
Nơi chương17 sau đó, Chúa Giêsu nói rõ ra nội dung chính của việc tôn vinh này như sau: “Lạy Cha, giờ đã đến, xin Cha tôn vinh con Cha để con Cha tôn vinh Cha theo quyền năng Cha đã ban cho Người trên mọi phàm nhân, để Người ban sự sống đời đời cho tất cả những ai Cha đã ban cho Người. Mà sự sống đời đời, đó là nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật và nhận biết Ðấng Cha sai đến là Giêsu Kitô. Phần con, con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con làm”. Chúa Giêsu ý thức rõ ràng về chương trình Thiên Chúa Cha muốn thực hiện, Chúa muốn thực hiện điều đó cách hoàn hảo, nhưng đồng thời ý thức rõ ràng điều tệ hại mà các môn đệ của Ngài đang liều sa vào. Giuđa sắp phản bội, Phêrô sắp chối bỏ Ngài, nên Chúa xao xuyến sâu xa.
Nhưng tội lỗi của con người không thể làm hư chương trình của Thiên Chúa. Cho đến tận cùng, Chúa làm những gì có thể làm được để thức tỉnh người tội lỗi. Chúa hành xử với mỗi người một cách khác nhau, ngấm ngầm, âm thầm với Giuđa và công khai với Phêrô. Nhưng quyết định cuối cùng vẫn là quyết định tự do của con người. Giuđa mở tâm hồn, đón nhận Satan, từ bỏ ánh sáng, tự ý bước vào trong tối tăm và càng ngày càng lún sâu vào đó cho đến mức tuyệt vọng, vì trong tâm hồn ông không còn chút tình yêu nào đối với Chúa nữa. Phêrô cũng sẽ sa ngã, nhưng tình yêu Chúa nơi ông giúp ông ăn năn trở lại, bắt gặp cái nhìn của Chúa.
Dưới ngòi bút của Gioan, ánh sáng và bóng tối mang một ý nghĩa thật đặc biệt. Nhưng ở đây bóng tối được sử dụng để diễn tả đúng hoàn cảnh và tâm trạng của Giuđa trong âm mưu đen tối của y nơi đoạn Tin mừng hôm nay. Bóng đêm luôn ngự trị khi con người chủ ý quay lưng lại với Chúa Giêsu, bóng đêm luôn xâm chiếm tâm hồn khi con người nghe theo sự xúi giục của sự dữ hơn là lời mời gọi của Thiên Chúa. Bóng đêm luôn giữ phần thắng khi hận thù, gian tham bóp chết sức mạnh của tình yêu. Bóng đêm xâm chiếm cõi lòng khi con người khước từ tình yêu Thiên Chúa như trường hợp của Giuđa. Trước khi Giuđa đứng dậy bỏ bàn tiệc thân hữu để đi vào bóng đêm, Chúa Giêsu đã dùng mọi phương thế để cảnh tỉnh Giuđa : trước tiên là lời tiên báo công khai : “Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: một trong các ngươi sẽ nộp Ta”, nhưng Giuđa giả điếc làm ngơ không, nghe lời cảnh tỉnh ấy. Tiếp đến, Chúa Giêsu chấm bánh trao cho Giuđa, đó là cử chỉ thân tình, nhưng Giuđa đã ăn miếng bánh ấy không chút rung động, đến độ thánh Gioan diễn tả hậu quả trái ngược :”Aên miếng bánh rồi, Satan đã nhập vào y”. Sau cùng, Chúa Giêsu dóng lên tiếng chuông cảnh tỉnh cuối cùng qua câu nói : “Người tính làm gì, thì làm mau đi”, câu này ngụ ý rằng âm mưu của người, Ta đã biết, làm sao môn đệ lại có thể âm mưu phản Thày”. Tuy nhiên, những lời nói và cử chỉ thân tình ấy đã không cầm chân được Giuđa khỏi tiến vào bóng đêm tội lỗi.
Ngày thứ ba tuần thánh, khi đưa ra một Giuđa cứng lòng bướng bỉnh, tiến vào bóng đêm của phản bội, của tội lỗi, Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy tỉnh thức để chấp nhận lời cảnh tỉnh và nhất là đón nhận những cử chỉ thân tình yêu thương của Chúa Giêsu, để bừng sống dậy nhập đoàn những người đã và đang thực hiện một cuộc cách mạng tình thương mà Ngài đã khởi xướng khi tuyên bố : “không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu hiến mạng sống vì bạn hữu”, “Ta ban cho các con một điều răn mới là hãy yêu mến nhau như Ta đã yêu mến các con”.
Ước gì sự hiến thân chết vì tình yêu trên Thập giá của Chúa dẫn chúng ta từng bước thoát khỏi bóng đêm của tội lỗi để tiến vào ánh sáng của Chúa Nhật Phục sinh.
2024
BÀY TỎ LÒNG TIN MẾN CHÚA
25.3 Thứ Hai Tuần Thánh
Is 42:1-7; Tv 27:1,2,3,13-14; Ga 12:1-11
BÀY TỎ LÒNG TIN MẾN CHÚA
Trong 3 ngày đầu Tuần Thánh, các bài đọc thứ nhất đều trích từ sách tiên tri Isaia, viết về người tôi tớ Thiên Chúa, chịu đau khổ một cách nhẫn nhục để chuộc tội cho loài người. Còn các bài Phúc Âm thì thuật lại những việc xảy ra trong những ngày cuối cùng trước khi Chúa Giêsu bước vào cuộc thương khó.
Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu được xức dầu tại Bêtania, “6 ngày trước Lễ Vượt Qua”, tức là 6 ngày trước khi Ngài chết. Có 3 vai đáng chú ý:
Maria: Việc cô lấy một cân dầu thơm hảo hạng xức chân Chúa Giêsu và lấy tóc mình mà lau biểu lộ lòng yêu mến (không tiếc tiền của) và sự kính trọng (lấy tóc lau chân) đối với Ngài. Phần Chúa Giêsu thì còn coi việc làm này có ý nghĩa cử hành trước nghi thức mai táng Ngài.
Giuđa: Lời hắn chỉ trích Maria phí của biểu lộ lòng tham tiền của hắn. Đối với Giuđa lúc này, tiền của còn quý hơn tình nghĩa đối với Chúa Giêsu. Chính vì thế thánh Gioan là người vốn tế nhị mà hôm nay còn nói “Y nói thế không phải vì lo cho người nghèo mà vì y là một tên ăn cắp: y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những thứ gì người ta bỏ vào quỹ chung”.
Các thượng tế: Họ “quyết định giết luôn cả Ladarô nữa, vì tại anh mà nhiều người Do Thái đã bỏ họ và tin vào Chúa Giêsu”. Rõ ràng họ đang bị tính ghen ghét xui khiến. Nếu họ có nói lý do giết Chúa Giêsu là gì đi nữa thì việc họ muốn giết Ladarô rõ ràng là vì uy tín của Chúa Giêsu vượt hơn uy tín của họ.
Trước khi về giáo đô mừng lễ Vượt Qua, Đức Giêsu rời Giêricô, về trú tại Bêtania.
Chúng ta trở lại gia đình ở làng Bêtania này. Đây là gia đình rất thân thiết với Chúa Giêsu và Người thương ghé thăm. Điều đặc biệt là trong bữa ăn ấy, cô Maria đã lấy dầu thơm cam tùng nguyên chất và quý giá mà xức chân Chúa Giêsu.
Cô Maria đã không nghĩ đến sự tốn kém khi xức chân Chúa dầu thơm này. Nếu nó có đắt đỏ và quý giá thì chỉ có nghĩa là lòng yêu mến của cô đối với Chúa vô cùng lớn lao. Không phải là ai có mặt ở đó hôm ấy cũng hiểu được hành động của cô Maria, như Giuđa chẳng hạn. Giuđa có nhắc đến người nghèo, nhưng thực ra y đâu có quý mến gì người nghèo. Giuđa chỉ đưa người nghèo ra làm cớ để tìm cách bớt xén mà thôi. Người ta phải học biết yêu mến Chúa Giêsu trước đã rồi mới biết yêu mến tha nhân, nhất là người nghèo. Chỉ khi ấy yêu mến và chia sẻ cho người nghèo mới thật sự đáng tin.
Ở đây, người ta dọn bữa ăn tối thết đãi Đức Giêsu. Trong bữa ăn, cô Maria là em cô Matta và chị của Lazarô xức dầu thơm chân Chúa.
Trong bữa tiệc này chúng ta sẽ để ý đến ba nhân vật quan trọng để biết cách cư xử và tâm trạng của mỗi nhân vật trước sự kiện này.
Trong những bữa tiệc trước đây, cô Maria thường ngồi dưới chân mà nghe Chúa giảng dạy, lần này cô lấy bình thuốc thơm hảo hạng xức chân Đức Giêsu. Việc xức thuốc thơm cho khách là phong tục phổ thông của người Do thái. Thông thường người ta xức trên đầu, nhưng nếu là thân tình, họ xức cả đầu lẫn chân. Hôm nay, không những cô xức đầu Chúa mà còn xức cả chân nữa. Hành động này diễn tả lòng khiêm nhường và yêu mến Chúa (Ga 12, 8; Mt 26, 7).
Bình dầu này chứa khoảng 327 gr nước hảo hạng rút từ tinh chất cây tùng hương. Lẽ ra chỉ xức một vài giọt trên đầu là đủ, nhưng Maria đã đập bể cổ bình và dội cả lọ nước hoa lên chân Chúa rồi lấy chính mái tóc thề của mình mà lau chân Chúa. Maria chấp nhận sự phí phạm này, vì tình yêu của cô đối với Chúa, hay đúng hơn, vì tình yêu quá lớn của Chúa đối với gia đình cô. Tắt một lời Maria đã làm thế vì lòng mến Chúa.
Trước việc làm của cô Maria, Giuđa cho là một việc làm uổng phí, vì 300 đồng bạc, giá của bình dầu, theo thánh Gioan, là giá của 300 ngày công của một người lao động. Việc Giuđa chỉ trích việc làm phí phạm của Maria càng biểu lộ lòng tham tiền của hắn. Đối với Giuđa lúc này, tiền còn quý hơn tình nghĩa đối với Chúa. Chính vì thế, thánh Gioan là một người vốn tế nhị mà hôm nay còn nói: “Y nói thế không phải vì lo cho người nghèo mà vì y là một tên ăn cắp: y giữ túi tiền và thường lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung”.
Giuđa là con người đạo đức giả, quá ham mê tiền của vật chất, đã phản bội Chúa. Y tượng trưng cho những người yếu đuối, chiều theo sức lôi cuốn của thế gian, xác thịt và ma quỷ, đang tâm phản bội tình thương của Chúa.
Còn những kẻ chống đối Chúa: đó là các thượng tế, luật sĩ, biệt phái. Họ tượng trưng cho nếp sống ích kỷ, vụ lợi. Khi không có lợi cho mình thì từ chối, khi thấy mình mất mát và phải hy sinh thì trốn tránh và chống đối.
Họ “quyết định giết luôn cả Lazarô nữa, vì tại anh mà nhiều người Do thái đã bỏ họ và tin vào Đức Giêsu”. Họ có thái độ “giận cá chém thớt”, một thái độ mà nhiều khi, nếu không để ý, chúng ta cũng dễ mắc phải. Rõ ràng họ đang bị tính ghen ghét xui khiến. Nếu họ có nói lý do giết Chúa là gì đi nữa thì việc họ muốn giết Lazarô rõ ràng là vì uy tín của Đức Giêsu vượt trên uy tín của họ.
Còn dân chúng thì làm sao? Thánh Luca cũng cho biết: “Một đám đông người Do thái biết Đức Giêsu đang ở đó. Họ tuốn đến. . .”. Chúng ta thấy họ đến với Chúa không chỉ bằng niềm tin, nhưng còn vụ lợi, hoặc tò mò xem Đức Giêsu và Lazarô được phục sinh. Họ tượng trưng cho những người theo đạo vì gạo, thích thú về ơn Chúa hơn là chính Chúa, một nếp sống đạo hời hợt, nông cạn. Và khi gặp thử thách, họ dễ thất bại, sa ngã, phạm tội. . .
Cử chỉ của cô Maria hôm nay là kiểu mẫu cho cử chỉ và việc làm cụ thể để tỏ lòng yêu mến Chúa đặc biệt nơi tha nhân, nhất là những người nghèo khổ.
Mỗi người chúng ta cũng phải tìm cho ra cách độc đáo của mình trong việc tin mến Chúa, như gương sáng trên và như cô Maria lấy dầu thơm xức chân Chúa. Thực vậy, nếu chúng ta có lòng mến Chúa thật chúng ta sẽ tìm ra cách tỏ lòng mến Chúa riêng của mình, chẳng hạn như quyết tâm sửa đổi một thói hư tật xấu nào đó, quyết tâm làm một việc tốt, vì không ai giàu sáng kiến cho bằng người đang yêu.
