2024
XIN TIN
11.3 Thứ Hai trong tuần thứ Tư Mùa Chay
Is 65:17-21; Tv 30:2,4,5-6,11-13; Ga 4:43-54
XIN TIN
Thánh sử Gioan thuật lại trong Tin Mừng hôm nay việc Chúa Giêsu rời bỏ Nazarét là quê hương của mình, vì dân làng đã không tin vào quyền năng của Chúa khi họ được thấy rất nhiều các phép lạ Chúa Giêsu đã làm. Họ đã đóng khung Ngài lại bằng định kiến có sẵn của mình. Họ biết bản lý lịch rất bình thường của Ngài: Sinh ở Nagiaret, nghề nghiệp của cha là thợ mộc, anh em họ hàng là dân chài lưới, làng xóm láng giềng không phải là những người hùng vĩ đại, nguyên quán của Ngài không phải là vùng đất của danh nhân hào kiệt…
Chính vì những lẽ đó, Ngài đã bỏ họ để đi đến vùng Galilê. Sự cứng lòng tin, mờ tối trước các biến cố Chúa gởi đến, đã tạo khoảng cách giữa những người đồng hương với Chúa Giêsu. Khoảng cách ấy đã làm họ rời xa Chúa.
Điểm đẹp nhất mà ta thấy trong Tin Mừng hôm nay là lấp đầy khoảng cách giữa con người và Thiên Chúa đó chính là lấp đầy khoảng cách của niềm tin. Viên sĩ quan trong Tin Mừng đã tuyên xưng mạnh mẽ vào quyền năng chữa lành của Chúa. Ông đã đi một đoạn đường từ Caphácnaum đến Galilê để nài xin Chúa đến nhà ông, chữa lành cho con trai ông đang lâm bệnh nặng sắp chết : “Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất! ” Đáp lại lời nài xin này. Chúa đã thử thách đức tin của ông khi Ngài nói : “Ông cứ về đi, con ông sống.” Thánh sử Gioan tiếp lời : “Ông tin vào lời Chúa Giêsu nói với mình, và ra về”. Ông và con ông đã được chữa lành.
Ông đã vượt qua được sự thách đố của niềm tin như đã vượt qua quãng đường từ nhà ông đến với Thiên Chúa. Từ đây khoảng cách của không gian địa lý không còn nữa mà thay vào đó chính là sự hiện diện của Chúa ngay trong nhà của ông. Ngài đã ban cho ông điều ông cầu xin là con trai ông được lành, và hơn nữa “ông và cả nhà đều tin”, ông và mọi thành viên trong gia đình, đều nhận ra quyền năng của Ngài. Người dân trong vùng đã vượt qua thách đố của niềm tin, khi mở lòng ra với Chúa. Họ nhìn ra được gương mặt của Chúa hiện diện khi họ cảm nghiệm và chứng kiến các phép lạ Chúa làm.
Thái độ khẩn khoản của ông trước Chúa Giêsu chứng tỏ tình thương đối với đứa con mà ông đang từng giây từng phút giành lấy từ tay tử thần. Ông đã không để ý đến lời khiển trách của Chúa Giêsu nhưng một mực tin vào quyền năng và tình thương của Chúa: “Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất” (câu 49). Ông vui mừng khi Chúa Giêsu nhận lời: “Ông cứ về đi, con ông sống”(câu 50) và vội vã trở về nhà. Ông ta mong ước Chúa Giêsu có mặt lúc này để cứu sống con ông, nhưng Chúa Giêsu đã làm điều mà chính ông ta cũng không ngờ, Ngài dùng Lời quyền năng để phán và phép lạ đã xảy ra. Chúa Giêsu sẵn có sự sống Thiên Chúa nơi mình nên Ngài chỉ phán có một lời, đứa trẻ đã được lành mạnh. Kết quả là viên sĩ quan và cả gia đình của ông đã nhận được sự sống thần thiêng và ơn cứu độ.
Dựa vào định kiến có sẵn của mình, những người dân Nagiaret không mở ra với Chúa Giêsu qua tình yêu và cuộc sống của Ngài dành cho họ. Sống trong ân sủng của Chúa, chúng ta chỉ việc tin vào tình yêu quan phòng của Chúa, gạt bỏ định kiến có sẵn để mở ra với Chúa và với anh chị em. Việc cứng lòng tin đã làm chúng ta xa rời Thiên Chúa, tạo một khoảng trống vắng trong lòng chúng ta. Và chính bởi lòng tin nơi Thiên Chúa, kêu xin Ngài, Ngài sẽ giúp chúng ta phá đổ khoảng cách giữa ta với Chúa, gắn kết đời sống chúng ta với sự hiện diện của Người. Đức tin làm nên phép lạ. Đức tin gắn kết Thiên Chúa và con người. Đức tin có sức màu biến đổi.
Trong cuộc đời rao giảng, Chúa Giêsu đã thực hiện những việc tương tự và được rất nhiều người tin theo. Phép lạ ấy vẫn có thể xảy ra trong thời đại chúng ta. Chúng ta không dùng lời để phán nhưng dùng đôi chân để đi đến với những người bất hạnh, dùng đôi tay để nâng đỡ những người túng thiếu chung quanh chúng ta. Chúng ta có dư khả năng để làm phép lạ khi chúng ta bớt những khoản chi tiêu trong gia đình để chia sẻ cho các trại nuôi trẻ mồ côi, người tàn tật, các cụ già yếu neo đơn. Những người này không chìa tay xin chúng ta đâu, nhưng trong tinh thần bác ái Kitô giáo, Giáo Hội mời gọi chúng ta tự nguyện sống khắc khổ để chia cơm sẻ bánh cho họ, không phân biệt lương giáo.
Và rồi ta có thể cứu sống một đứa trẻ lâm bệnh không có tiền chữa trị, chúng ta có thể giúp nuôi dưỡng một trẻ em nghèo có điều kiện đến trường, một người tàn tật có công ăn việc làm nhờ vào những khoản tiết kiệm của chúng ta…và còn biết bao việc mà chúng ta có thể làm để thăng tiến đời sống của những người cùng khổ. Đó là những phép lạ mà chúng ta có thể làm trong thời đại hôm nay.
Định kiến đã đóng cánh cửa tâm hồn, tạo ra khoảng cách của niềm tin, làm cho con người không còn đón nhận Thiên Chúa trong cuộc đời mình nữa. Thiết nghĩ đó là khoảng ngăn cách đáng ghê sợ hơn cả vì nó tách chúng ta xa rời Thiên Chúa. Một khi xa rời Thiên Chúa con người chỉ toàn thấy trống vắng, tuyệt vọng. Bệnh tật và chết chóc hậu quả của tội lỗi, là một dấu hiệu cho thấy con người xa rời Thiên Chúa.
Mở lòng ra, nhìn ngắm và cảm nghiệm về Thiên Chúa là tiến trình khai mở đức tin. Đóng lòng lại, suy nghĩ bằng định kiến, cố chấp trong suy nghĩ và lối sống cũ là bước ngăn cả đức tin.
Người Kitô hữu hôm nay được mời gọi tiếp nối sứ mạng cứu độ của Chúa Giêsu là đem Tin Mừng đến với con người thời đại. Chúng ta không đi con đường nào ngoài con đường Chúa Giêsu đã đi. Muốn được như thế, trước tiên, bản thân chúng ta phải là những người tin. Tin thì không cần có điều kiện, tin là nhắm mắt bước đi theo sự chỉ đường của Thiên Chúa. Con đường ấy không bao giờ phù hợp tâm thức của con người. Đó là con đường hy sinh, cầu nguyện; con đường canh tân, hoà giải; con đường bác ái, sẻ chia mà Giáo Hội nhắc nhở chúng ta hãy thực hành trong Mùa Chay thánh.
2024
KHIÊM TỐN THẬT THÌ MỚI ĐƯỢC THA THỨ
9.3Thứ Bảy trong tuần thứ Ba Mùa Chay
Hs 6:1-6; Tv 51:3-4,18-19,20-21; Lc 18:9-14
KHIÊM TỐN THẬT THÌ MỚI ĐƯỢC THA THỨ
Tin Mừng hôm nay, thánh sử Luca tường thuật lại cho chúng ta Dụ ngôn về một người Pha-ri-sêu và một người thu thuế, cả hai cùng lên Đền Thờ cầu nguyện, nhưng một người thì được trở nên công chính, người còn lại thì không.
Nếu ta đặt ra câu hỏi tại sao cả hai cùng lên Đền Thờ cầu nguyện, nhưng một người được Thiên Chúa nhận lời và ban cho nhiều ơn lành hồn xác còn người Pha-ri-sêu không được gì cả, trái lại còn bị lên án nữa, mặc dù xem ra ông này sống rất đàng hoàng, tử tế, không trộm cướp, không ngoại tình, bất chính.
Mấu chốt của vấn đề nằm ở tấm lòng, ở thái độ. Người thu thuế biết ăn năn sám hối, biết thân, biết phận mình là kẻ tội lỗi nên với lòng khiêm tốn đó, ông chỉ trông cậy vào lòng Thiên Chúa xót thương, xin Thiên Chúa thứ tha mọi tội lỗi cho mình mà thôi. Ngược lại, người Pha-ri-sêu thì tự coi mình có nhiều công trạng, tự cao tự đại cậy mình là người tốt lành, không những thế ông ta còn tỏ thái độ coi thường và phán xét người khác: “Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: trộm cướp, bất chính, ngoại tình hoặc như tên thu thuế kia” (Lc 18, 11).
Trước Thánh Nhan Chúa chúng ta chỉ là một tạo vật yếu đuối, tội lỗi thấp hèn, rất cần đến lòng thương xót, bao dung của Thiên Chúa, chúng ta có cái gì mà dám tự phụ khoe khoang công trạng của mình? Nếu chúng ta có làm được gì thì cũng chỉ là do Thiên Chúa trợ lực ban ơn mà thôi. Lại nữa, khi chúng ta có được may mắn, có cuộc sống tốt đẹp, tử tế, không sa ngã vào những tệ nạn này kia thì chúng ta phải biết yêu thương, tôn trọng và nâng đỡ những người anh em khác không được may mắn như chúng ta, chứ đừng bao giờ vướng thói xấu xa; đó là nói xấu người khác để làm cho mình được tôn lên.
Những ai sống hiền hậu và khiêm nhường thì chắc hẳn sẽ làm đẹp lòng Thiên Chúa, bởi vì khi xưa khi đi rao giảng Tin Mừng Đức Giê-su đã từng làm gương và kêu gọi những ai muốn bước đi theo Ngài thì : “Hãy học cùng tôi vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11, 29). Thánh Gia-cô-bê đã khẳng định trong thư gửi cho mười hai chi tộc Do Thái rằng: “ Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường”. (Gc 4, 6)
Khi sống hiền hậu và khiên nhương chúng ta không những được Thiên Chúa yêu thương, ban ơn mà ngay cả khi ở đời này còn được những người sống chung quanh yêu thương, kính trọng nữa.
Ngẫm lại trong cuộc đờim nhiều lần nhiều úc tôi cũng đầy tâm thức giống y như người pha-ri-sêu: Tôi tự phụ, tôi sống ảo tưởng mình được phước hơn những Ki-tô hữu khác vì mình được tháp nhập vào Dòng, được học hỏi, được cơ hội hiểu biết hơn những người chỉ là “giáo dân”, còn tôi được diễm phúc là “giáo dân Đa Minh”. Thật khốn nạn cho tôi !
Mùa Chay là mùa thuận tiện để tôi canh tân đời sống. Có thể nói được rằng: điều kiện cần để canh tân đời sống chính là cầu nguyện.
Mùa Chay còn là mùa cầu nguyện. Cầu nguyện để thanh luyện thái độ tôi mỗi ngày, lời cầu nguyện đích thực đẹp lòng Chúa chính là thật lòng ăn năn, sám hối, khóc tội của mình. Cầu nguyện để tôi thêm lòng trông cậy, tín thác vào tình yêu tha thứ của Thiên Chúa. Lòng tín thác ấy sẽ xoá tan mọi mặc cảm tội lỗi và mang lại cho tôi tự do đích thực của con cái Chúa. Cầu nguyện giúp tâm trí tôi nhận ra Thiên Chúa là Tình Yêu. Cầu nguyện để giúp tôi vững lòng trông cậy vào lòng thương xót Chúa. Cầu nguyện là phương thế chay tịnh hãm dẹp những dục vọng thân xác để nuôi dưỡng tâm hồn.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta: đừng bao giờ coi khinh người khác khi cầu nguyện. Không được phán xét anh chị em của ta, trong khi mình cũng là kẻ có tội. Cầu nguyện là hướng tâm hồn lên với Chúa chứ không phải quy về mình.
Hãy khiêm tốn thật lòng như người thu thuế, Chúa cần những tâm hồn trung thực và thật tâm như vậy, bởi vì tình thương của Thiên Chúa lớn lao hơn tội lỗi của con người, chỉ cần con người thống hối ăn năn thì dù tội có đỏ như son thì Chúa cũng làm cho trắng như tuyết, có thẫm tựa vải điều, Chúa cũng làm cho trắng như bông.
2024
“TRỞ VỀ”
8.3Thứ Sáu trong tuần thứ Ba Mùa Chay
Hs 14:2-10; Tv 81:6-8,8-9,10-11,14,17; Mc 12:28-34
“TRỞ VỀ”
Tin Mừng hôm nay trình thuật câu chuyện đối thoại giữa Đức Giêsu và một Kinh Sư. Khởi đi bằng một câu hỏi của ông này về việc: điều nào là quan trọng trong toàn bộ luật. Thấy vậy, Đức Giêsu đã tóm cho ông toàn bộ nội dung và mục đích của luật trong câu: “Hãy yêu mến Thiên Chúa ngươi hết lòng hết sức hết trí khôn”; và: “Phải yêu người thân cận như chính mình”.
Yêu mến Thiên Chúa hết lòng là làm sao? Thưa! Là thờ lạy, quy phục, là giữ và thực thi Lời Chúa, sẵn sàng từ bỏ mọi sự để tin và theo Chúa, dù có phải khổ đau, hoạn nạn, thử thách và cuối cùng sẵn sàng chết cho Thiên Chúa là Đấng chúng ta tôn thờ, yêu mến.
Còn yêu người như chính mình thì như thế nào? Thưa! Là yêu hết mọi người, không phân biệt bạn hay thù, thánh thiện hay tội lỗi, giàu hay nghèo, quý tộc hay thường dân, người già hay trẻ nhỏ, phụ nữ hay đàn ông, màu da hay chủng tộc…
Yêu như thế là chúng ta đi vào tình yêu của chính Thiên Chúa, bởi vì bản chất của Thiên Chúa là tình yêu mà tình yêu của Ngài là hướng tha, là thực tế, không trừu tượng.
Muốn yêu được như thế, chúng ta phải chấp nhận cho đi, thiệt thòi, chịu liên lụy và đôi khi đành mất chính mình.
Chúa không bao giờ chấp nhận chúng ta cho đi theo kiểu: “Hòn đất ném đi, hòn trì ném lại”; hay “bỏ con tép, bắt con tôm”; hoặc “ông bỏ nắm xôi, bà thò nậm rượu…”.
Hãy trở về với Đức Chúa (Hs 14,2-3). Đây là lời mời gọi tha thiết dành cho nhà Is-ra-el. Is-ra-el được mời gọi “trở về”. Vậy, “trở về” nghĩa là gì?
“Trở về” ở đây không dừng lại ở ý nghĩa thể lý, nghĩa là một ai đó đi xa nhà và nay người ấy trở về; một ai đó đi lạc đường và nay trở về. “Trở về” còn mang một ý nghĩa thiêng liêng sâu sắc. Đó là sự trở về của nội tâm, của trái tim. Dưới lăng kính của ngôn sứ Hô-sê, “trở về” là dứt bỏ tội lỗi và đặc biệt là dứt bỏ việc sùng bái ngẫu tượng. “Trờ về” nghĩa là tìm sự lành chứ không phải sự dữ, phải chê ghét sự dữ và yêu mến sự lành. Nói cách khác, “trở về” là chỉnh đốn hạnh kiểm và thực thi nghiêm chỉnh sự công chính. Đối với Hô-sê, những việc hoán cải giả tạo bên ngoài không thể mang lại kết quả nào. Thế nên, “trở về” đích thực là “trở về” của con tim được cảm hứng bởi tình yêu và sự nhận biết Thiên Chúa. Chỉ có sự “trở về” như thế mới có thể được Thiên Chúa dủ lòng thương xót. Có như thế, Thiên Chúa mới ban lại ân huệ của Ngài và sẽ nguôi giận.
Hôm nay, lời mời gọi “trở về” lại vang lên nơi tâm hồn chúng ta. Đây là lời mời gọi khẩn thiết dành cho chúng ta, đặc biệt trong mùa Chay này. Tại sao chúng ta cần “trở về”? Chúng ta trở về vì chúng ta sống xa Chúa; chúng ta đã nhiều lần bước vào con đường tội lỗi và nay chúng ta từ bỏ con đường ấy để trở về. Và trên hết, Chúng ta trở về vì Thiên Chúa là tình yêu. Chính nơi Người, chúng ta tìm được lòng thương cảm.
Trở về với Chúa là trở về với gia đình Giáo hội. Nơi đây chúng ta luôn tìm thấy con đường sự sống theo ơn gọi của Thiên Chúa. Sự sống triển nở trong tình yêu. Bởi lẽ, Đạo của chúng ta là đạo yêu thương: “mến Chúa trên hết mọi sự và yêu người thân cận như chính mình” (x. Mc 30-31). Giáo hội là ngôi nhà yêu thương. Do vậy, “trở về” không phải là trở về một không gian khép kín với bốn bức tường. Đúng hơn, hành trình “trở về” là hành trình tái khám phá tình yêu thương và cũng là hành trình loan báo tình Chúa yêu ta. “Trở về” là loan báo tin vui, Tin mừng yêu thương. Ước gì nhờ cuộc “trở về” tận căn của chúng ta, Tin mừng yêu thương có thể chạm đến những trái tim trai đá nguội lạnh. “Hãy trở về với Đức Chúa, mang theo lời cầu nguyện. Hãy thưa với Người: ‘Xin thư tha mọi gian ác, xin vui nhận lời ngợi khen chúng con dâng lên Ngài làm lễ vật thay thế bò tơ’” (Hs 14,3).
Mến một chúa duy nhất, có nghĩa là không được tôn thờ và gắn bó với bất cứ thụ tạo nào ngoài Thiên Chúa, vì chỉ có mình Thiên Chúa là đáng tôn thờ mà thôi. Vậy những ai tôn thờ và gắn bó với một thụ tạo nào khác, kể cả bản thân mình ngoài Thiên Chúa, thì đó là con đường sai lầm, không dẫn vào Nước Trời.
Con đường của tình yêu theo Tin Mừng không phải là con đường tam giác, nhưng là con đường hiệp nhất.Nó đem tha nhân và chính mình vào trong một mối tình duy nhất, bất diệt, vô biện và phổ quát của Thiên Chúa.
Hãy yêu thương tha nhân: Tha nhân theo giáo huấn hôm nay, không chỉ là người láng giềng hay người bạn thân, không chỉ là công dân cùng một tổ quốc, người đồng chí cùng một đoàn thể hay một con người dễ mến. Nhưng chính là tất cả mọi người.
Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu vạch ra cho ta con đường vào Nước Trời: đó là mến Chúa và yêu người. Và đó cũng là điều gồm tóm Mười điều răn của Chúa.
2024
ĐỨNG VỀ “PHE” CỦA CHÚA GIÊ-SU
7.3Thứ Năm trong tuần thứ Ba Mùa Chay
Gr 7:23-28; Tv 95:1-2,6-7,8-9; Lc 11:14-23
ĐỨNG VỀ “PHE” CỦA CHÚA GIÊ-SU
Khởi đầu sứ vụ rao giảng, Chúa Giê-su đã được Chúa Thánh Thần dẫn vào trong sa mạc để chịu quỷ cám dỗ và sau khi đã tìm mọi cách cám dỗ Người, quỷ đã bỏ đi và chờ đợi thời cơ khác (x. Lc 4,1-13). Cuộc chiến giữa Chúa Giê-su và Sa-tan nơi sa mạc vẫn tiếp tục xảy ra trong cuộc đời rao giảng của Chúa và cụ thể trong bài Phúc Âm hôm nay, Người đã trừ một tên quỷ câm.
Chúa Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay đã dùng chính ngón tay Thiên Chúa để trừ một tên quỷ câm, đồng thời Ngài cũng tỏ cho con người biết “Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa họ” (x.c.20).
Thế nhưng, những người lãnh đạo Do thái đã không tin vào quyền năng Thiên Chúa đang ẩn hiện nơi con người Đức Giêsu. Họ đã đồng hoá Ngài với quỷ vương Bêendêbun. Bởi lẽ lòng chai dạ đá của họ đã ngăn cản không cho họ nhận biết Thiên Chúa và sức mạnh vô song của Ngài.
Có lẽ trong mỗi chúng ta cũng đã hơn một lần lãnh đạm trước tình yêu Thiên Chúa; khô khan cứng lòng trước quyền năng Ngài đang hoạt động trong chúng ta và trên thế giới. Tâm hồn chúng ta khi đó đầy dẫy những vướng bận của trần thế, của lo toan và những bon chen muôn mặt . . . Rồi những tên quỷ câm vô hình đã thừa cơ hội để tấn công và chiếm đoạt chúng ta.
Đức Giêsu ngày càng uy tín trước mặt dân chúng vì những việc tốt đẹp và lời dạy khôn ngoan của Ngài, khiến dân chúng tôn vinh Ngài là một tiên tri vĩ đại. Vì thế, những Luật Sĩ và Phairisêu bối rối, hoang mang và sinh lòng ghen tuông, tức tối đối với Ngài.
Họ đã dùng đến trò thâm hiểm nhất để bêu rếu và mục đích nhằm hạ gục Đức Giêsu khi nói là Ngài “nhờ tướng quỷ để mà trừ quỷ”.
Khi gán cho Đức Giêsu như thế, họ muốn nói với dân rằng: Đức Giêsu là người thuộc về thế giới của ma quỷ. Khi Ngài đã thuộc về ma quỷ, thì lẽ đương nhiên không nên tin vào con người này cũng như những lời dạy dỗ của Đức Giêsu.
Đây là một phương pháp triệt hạ đối phương bằng cách đánh vào uy tín.
Tuy nhiên, Đức Giêsu đã đặt ngược lại vấn nạn với hai câu hỏi để lật tẩy trò đê hèn của chúng, Ngài hỏi:
“Nếu Xatan cũng tự chia rẽ chống lại chính mình, thì nước nó tồn tại sao được?”; và: “Nếu tôi dựa thế Bêendêbun mà trừ quỷ, thì con cái các ông dựa thế ai mà trừ?”!
Khi hỏi như thế, Đức Giêsu một mặt cho thấy lý chứng của những Luật Sĩ và Pharisêu tự mâu thuẫn, khập khiễng, không ăn khớp với nhau, bởi vì cứ theo lập luận của họ, thì phải chăng một nước mạnh lại dùng chính kẻ mạnh để tiêu diệt kẻ yếu cùng đồng minh với mình hay sao? Hay nếu Quỷ Vương cho mượn quyền lực của hắn để tiêu diệt tay chân của hắn thì nước đó đã đến thời mạt vận?
Trong đời sống của chúng ta hôm nay nhiều khi rơi vào tình trạng của những Luật Sĩ và Pharisêu khi sử dụng những chiêu thức bỉ ổi là nói hành, nói xấu để bôi nhọ thanh danh tiếng tốt của anh chị em mình.
Giúp con người thoát khỏi sự ràng buộc của thế lực sự dữ và ban cho họ đời sống mới là sứ mạng của Chúa Giê-su nơi trần gian. Sa-tan đã chiến thắng tất cả mọi người khi đã cám cám dỗ thành công con người đầu tiên là A-đam. Và từ thời điểm này, Sa-tan trở thành “một người mạnh được vũ trang đầy đủ” để canh giữ của cải – là những linh hồn đã bị nó chiếm hữu. Nhưng Đức Giê-su, Con Thiên Chúa, giờ đây là “người mạnh thế hơn” đã đến trần gian để chiến thắng Sa-tan và tước bỏ mọi vũ khí của nó. Với cái chết và sự phục sinh của Người, sự dữ đã bị đánh bại hoàn toàn và con người được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi, phục hồi phẩm giá đã bị mất xưa kia và được ban ân huệ để bước vào Vương Quốc dành cho những người con của Thiên Chúa.
Cho đến ngày Đức Giê-su Ki-tô trở lại trong vinh quang, cuộc chiến đấu với Sa-tan còn tiếp diễn khi mà con người vẫn đang gặp phải những cám dỗ và lôi cuốn để làm sự dữ. Nhưng bây giờ Sa-tan chỉ có thể bủa vây xung quanh mà không có khả năng làm hại tới những người đã thuộc về Đức Ki-tô cách trọn vẹn. Vì thế mỗi người chúng ta được mời gọi đứng hoàn toàn về phía của Chúa. Giữa Sa-tan và Chúa, chúng ta chỉ được chọn một như lời Người đã khẳng định: “Ai không đi với tôi là chống lại tôi, và ai không cùng tôi thu góp là phân tán” (c. 23). Ước gì, trong mùa Chay thánh này, mỗi chúng ta hãy nhìn nhận những lầm lỗi, thiếu sót của mình và thân thưa với Chúa rằng: “Xin cứu con thoát khỏi địch thù, lạy Chúa, bên Ngài con trú ẩn” (Tv 143,9).
Lời Chúa hôm nay đang mời gọi và thức tỉnh chúng ta, hãy mạnh dạn và can đảm dứt khoát với những quyền lực của sự dữ, để cải hoán con người và biến đổi cuộc sống. Thiên Chúa tình yêu đang mở rộng vòng tay yêu thương từ ái để đón nhận chúng ta trở về với Ngài. Chúng ta đáp lại tiếng yêu của Ngài thế nào đây?
Vâng, mùa chay cũng chính là thời gian của triều đại Thiên Chúa, là thời gian của cầu nguyện, chay tịnh và sám hối, giúp chúng ta chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn cứu độ qua cuộc tử nạn và Phục sinh của Đức Kitô.
Chúng ta cần cầu nguyện để có đủ ơn Chúa Thánh Thần mà nhận ra tình thương cứu độ của Thiên Chúa. Cầu nguyện để khám phá ra thánh ý Thiên Chúa trong cuộc đời. Cầu nguyện để lắng nghe và đáp lại lời mời gọi của Chúa, Ngài muốn chúng ta cộng tác với Ngài trong chương trình cứu độ. Nhờ thế, nhiều con chiên đang tản mác muôn phương được quy tụ về mái nhà Cha để được chung chia niềm hạnh phúc vĩnh cửu.
