2024
THA THỨ CHO NGƯỜI KHÁC ĐỂ ĐƯỢC CHÚA THỨ THA
5.3Thứ Ba trong tuần thứ Ba Mùa Chay
Đn 3:25,34-43; Tv 25:4-5,6-7,8-9; Mt 18:21-35
THA THỨ CHO NGƯỜI KHÁC ĐỂ ĐƯỢC CHÚA THỨ THA
Hôm nay Đức Giêsu dạy ta về sự tha thứ. Dụ ngôn về sự tha thứ nhắm tới đời sống cộng đoàn. Quả vậy, trong đời sống chúng ta, vì tính tình xung khắc, nên đã gây ra nhiều điều phiền toái, chia rẽ, đố kỵ, thù oán… Nhưng nhờ sự tha thứ, đời sống chung lấy lại được hoà khí, bình an và hiệp nhất. Nhưng Đức Giêsu lưu ý chúng ta vài khía cạnh quan trọng:
Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ cho chúng ta cho dù tội chúng ta xúc phạm đến Ngài rất nhiều. Ta không thể đền tội cho đủ nhưng Chúa vẫn tha vì Ngài “động lòng thương”.
Nhưng chúng ta cũng phải rộng lòng tha thứ cho anh chị em chúng ta. Nếu không thì Chúa sẽ rút lại sự tha thứ của Ngài đối với chúng ta.
Ngoài ra hãy khôn ngoan tha lỗi nhỏ cho anh em để Chúa sẽ tha thứ những lỗi lầm lớn của chúng ta đối với Chúa.
Tha thứ xem ra không phải là điều tự nhiên đối với con người. Phải trải qua một thời gian lâu dài, nhân loại mới nhận ra được ý nghĩa và sự cần thiết của tha thứ. Xã hội nguyên thuỷ không dung tha cho tội phạm của cá nhân.
Sách Khởi nguyên nói đến sự trừng phạt mạnh hơn 70 lần 7 lỗi phạm của con người. Sang đến sách Xuất hành, người ta thấy có một tiến bộ quan trọng khi luật Maisen đã ra luật “mắt đền mắt, răng đền răng”, ít ra ở đây hình phạt cũng tương xứng với lỗi phạm. Sách Lêvi đi xa hơn, tuy không bắt buộc phải tha thứ, nhưng sách này nói đến tình liên đới giữa anh em với nhau và cấm không được nại đến việc tố tụng, để giải quyết những tranh chấp giữa anh em với nhau. Như vậy, ít ra sự tha thứ cũng đã manh nha trong quan hệ ruột thịt
Tin Mừng một lần nữa xác định căn cốt đó khi trình thuật cuộc nói chuyện giữa Đức Giêsu và Phêrô. Khởi đi từ câu hỏi của Phêrô: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” Đức Giêsu đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy”.
Tha như thế là tha mãi, tha không giới hạn, không điểm dừng, không so đo tính toán thiệt hơn. Tha như thế là đi vào mối tương quan với Thiên Chúa là tình yêu, và làm toát lên đạo mới, “đạo yêu thương”.
Dụ ngôn về người đầy tớ không biết tha thứ trong bài Tin mừng hôm nay nêu bật tầm quan trọng của sự tha thứ và thương xót trong đời sống Ki-tô hữu của chúng ta. Nó nhắc nhở rằng tất cả chúng ta đều là tội nhân và cần sự tha thứ của Thiên Chúa. Do đó, chúng ta nên rộng lòng tha thứ và thương xót người khác.
Tha thứ là một điều rất khó, nhưng nó là tuyệt đỉnh và cao quí nhất mà Đức Giêsu đã cống hiến cho con người.
Tha thứ còn là của lễ đẹp lòng Thiên Chúa nhất, bởi vì nhờ tha thứ, con người trở nên giống Thiên Chúa vì Thiên Chúa mà Đức Giêsu mạc khải cho loài người là Thiên Chúa của tha thứ không ngừng. Vì thế, chỉ có một mình Thiên Chúa tha thứ không ngừng ấy, mới có thể đòi hỏi con người: “Ta không bảo con phải tha đền bẩy lần, nhưng là đến bẩy mươi lần bẩy”, tức là tha không ngừng.
Nếu có khó khăn trong việc tha thứ, ấy là chúng ta vẫn nhìn vào sức nặng của sự xúc phạm mà đối phương đã gây ra cho ta, trong khi đó, lẽ ra chúng ta phải nhìn vào tình thương của Thiên Chúa đối với mình khi Ngài tha thứ tội lỗi cho ta.
Dụ ngôn cũng cảnh báo về hậu quả có thể xảy ra cho hành động không biết tha thứ của chúng ta. Nếu từ chối tha thứ cho anh em, chúng ta có nguy cơ bị như thế trước mặt Thiên Chúa. Điều này không có nghĩa là Thiên Chúa ích kỷ hay khắc nghiệt. Trái lại, chính việc chúng ta từ chối tha thứ cho người khác đã tạo ra một rào cản giữa chúng ta và Thiên Chúa khiến chúng ta không nhận được sự tha thứ của ngài. Đó là lý do tại sao chúng ta luôn cầu nguyện: “Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha cho kẻ có nợ chúng con.”
Cuối cùng, ngụ ngôn về người đầy tớ không biết tha thứ nhắc nhở chúng ta về món quà tha thứ vô cùng lớn lao mà chúng ta đã nhận được từ Thiên Chúa qua Chúa Giê-su Ki-tô. Quả vậy, Thiên Chúa là đấng vô cùng tốt lành và thánh thiện nên bất cứ tội lỗi nào chúng ta phạm cũng đều là sự xúc phạm nghiêm trọng đến Ngài. Bản thân chúng ta, vốn là những tội nhân, sẽ không có khả năng đền bù lại Thiên Chúa vì những xúc phạm ấy. Chỉ mình Chúa Giê-su mới có thể và ngài đã thực hiện điều ấy qua chính cái chết của ngài.
Trong hành trình của Mùa Chay thánh này, chúng ta cùng cầu xin Chúa giúp chúng ta sống cuộc đời tha thứ và thương xót như Chúa đã tha thứ và thương xót chúng. Để rồi mỗi khi hoán cải và trở về, chúng ta cũng nhận được sự tha thứ và lòng xót thương của Ngài.
2024
TIN VÀ BƯỚC THEO CHÚA GIÊ-SU
TIN VÀ BƯỚC THEO CHÚA GIÊ-SU
Khi thi hành sứ vụ Thiên sai Chúa Giêsu đã chữa lành những người bị quỉ ám, làm cho người mù được sáng mắt, người què đi được, người điếc nghe được, người câm nói được… nhìn chung là vui mừng và sung sướng; mọi người đều thán phục; các thần ô uế phải vâng lệnh Người.
Đức Giêsu trở về quê hương, vào hội đường Nazareth ngày thứ bảy. Người ta trao cho Ngài sách tiên tri, để Ngài đọc và giải thích. Lúc đầu họ cảm phục tài hùng biện và dáng vẻ thuyết phục của Ngài. Nhưng sau, họ bực tức, vì thấy Ngài ưa thích Capharnaum, nơi dân ngoại nhiều hơn quê mình. Trước thái độ đó, Đức Giêsu tỏ bày cho dân làng biết sứ vụ thiên sai của Ngài.
Đồng thời Chúa cũng cho họ biết rằng Ngài không thiên vị ai, Ngài ban ơn cho tất cả mọi người, cho dù người ngoại nhưng nếu tin vào Chúa thì Ngài cũng ban ơn. Còn kẻ có đạo nhưng không tin thật thì không đáng nhận ơn Ngài.
Dân làng Na-gia-rét không nhận biết Đức Giê-su: vì họ phán đoán hoàn toàn theo sở thích loài người. Đức Giê-su là ngôn sứ, Người hành động theo sứ mạng Thiên Chúa.
Không phải những đòi hỏi của người trần ấn định cho hành động của các ngôn sứ, của Đức Ki-tô, các ngài không hành động vì lợi riêng cho mình. Các ngài chỉ hành động theo ý Thiên Chúa. Ngôn sứ không được hành động theo quyết định bản thân mình, nhưng luôn luôn theo quyết định của Thiên Chúa, Đấng đã sai mình.
Thiên Chúa quyết định cho hai ngôn sứ : Ê-li-a và Ê-li-sê đến làm phép lạ cứu giúp những người lương dân chứ không cứu người đồng hương. Đức Giê-su không hoàn toàn đến thực hiện ơn cứu độ cao cả cho quê hương mình, Người phải đi cứu độ những người dân xa lạ. Thiên Chúa dành cho mình có quyền tự do phân phát ơn cứu độ.
Không ai có thể đòi quyền được ơn cứu độ. Quả thật như vậy, không ai được phép đòi có quyền đó, phải tin ơn cứu độ mình được là nhưng không. Nước Thiên Chúa mà Đức Giê-su rao giảng và thực hiện ơn cứu độ cho những người Thiên Chúa yêu thương, ơn cứu độ là một ân huệ chứ không do công lao mình làm. Nhưng đó là ân huệ chúng ta được quyền hưởng vì Đức Giê-su đã chết cho chúng ta, và chúng ta phải sống hoàn toàn theo ý Cha của Người, đó là điều kiện căn bản, còn chúng ta vẫn có tự do đón nhận hay từ chối ơn cứu độ.
Hôm nay hoàn toàn ngược lại, với hơi thở dài đi liền câu nói để đời: “Quả thật, Ta bảo các ngươi, không một tiên tri nào được đón tiếp tại quê hương mình“(Lc 4,24). Tuyên bố của Chúa Giêsu vang lên trong hội đường như một sự khiêu khích. Người kể lại hai phép lạ mà các ngôn sứ Elia và Eliseo đã làm cho những người không phải dân Do thái, để chứng minh rằng đôi khi ngoài dân Israel có nhiều kẻ tin mạnh hơn. Tới đây thì tất cả những người có mặt đều phản ứng: “Mọi người trong hội đường đều đầy căm phẫn, họ chỗi dậy và trục xuất Người ra khỏi thành. Họ dẫn Người lên triền núi, nơi xây cất thành trì của họ, để xô Người xuống vực thẳm. Nhưng Người rẽ qua giữa họ mà đi” (Lc 4,28-30).
Về điểm này, thánh Augustinô (354-430), Giám mục thành Hippôn (Bắc Phi), tiến sĩ Hội Thánh đã chủ giải như sau: “Người rẽ qua giữa họ mà đi“, nghĩa là Chúa Giêsu là một thầy thuốc cao tay đã đến giữa chúng ta. Người vẫn rẽ ngang qua cuộc đời của mỗi chúng ta để làm cho chúng ta được khỏe mạnh.
Đức Giêsu đã không cứu chúng ta bằng cách làm phép lạ, nhưng bằng việc loan báo Tin Mừng, từ bỏ và hy sinh mạng sống cho chúng ta. Người chính là Đấng Mêsia đích thực của Thiên Chúa, một Đấng Mêsia không vận dụng quyền lực để thực hiện một cảnh ngoại mục cứu độ trần thế, nhưng đặt tại trung tâm sứ điệp về Thiên Chúa.
Chúa Giêsu đã chỉ trích thái độ tự mãn, ích kỷ của người Do Thái. Người Do Thái trong hội đường Nagiarét đã tìm cách hãm hại Chúa Giêsu khi Ngài lên tiếng chê trách niềm tin của họ. Có lẽ ai trong chúng ta cũng bất bình về việc làm của nhóm người này, nhưng kỳ thực nhiều khi trong cuộc sống chúng ta đã sao chép nguyên bản việc làm ấy. Tự hào là Kitô hữu, là người nắm giữ niềm tin, nhưng rồi với một mớ lễ nghi hình thức, niềm tin trong chúng ta chỉ còn là ngọn đèn leo lét, chỉ là thân cây mất hết nhựa sống chờ ngày gãy đổ. Ðó là thứ niềm tin mà tác giả cuốn sách Ðường Hy Vọng đã nhắc nhở: “Nhiều người nói tôi có đức tin, tôi còn đức tin, có lẽ đức tin của đời sống. Ít người sống theo đức tin. Ðừng bao giờ mê tín mãn nguyện với một đức tin lý thuyết, hình thức, nhưng phải sống một đức tin chân thật, thiết ái, trung thành.”
Tự mãn với chính mình mà không chịu mở lòng đón nhận khiến người Do Thái mất đi Chúa Giêsu – nền tảng của niềm tin. Cũng vậy, nếu Kitô hữu chỉ đóng khung trong một nghi thức, luật lệ, thì sớm muộn gì họ cũng xa cội nguồn sự sống, vì sống là gì nếu không phải là một luân lưu trao đổi. Con người sẽ chết khi hệ tuần hoàn không luân chuyển, hệ thần kinh không vận động. Ðời sống đức tin cũng đòi hỏi một sự luân lưu trao đổi với Thiên Chúa và với anh em.
Ðối với người Kitô, tin trước hết là chấp nhận được cứu rỗi, được tha thứ, được yêu thương. Chúa không phải là Ðấng bắt con người phải kính mến. Nói đúng hơn Thiên Chúa là Ðấng mà con người phải để cho Ngài yêu thương vô hạn. Tin là chấp nhận Chúa Kitô và quyết tâm sống chết cho Ngài.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết khiêm tốn nhìn nhận sự yếu hèn của mình để cần đến ơn cứu độ. Cần tránh thói hư là: “Gần Chùa gọi Bụt bằng anh”; hay “bụt nhà không thiêng”. Hãy biết tôn trọng anh chị em mình trong sự thật, đừng vì ghen ghét, hiềm khích hay sợ người anh em trổi trang hơn mình mà ra tay làm hại hay nói năng những lời nguy hại đến thanh danh tiếng tốt của họ! Làm như thế, ấy là chúng ta đang đi vào vết xe đổ của những người đồng hương với Đức Giêsu, và như một lẽ tất yếu, chúng ta sẽ mất ơn cứu độ vì không thuộc về Thiên Chúa.
2024
TRỞ VỀ VỚI CHÚA BẰNG VIỆC NHÌN NHẬN ANH EM
2.3Thứ Bảy trong tuần thứ Hai Mùa Chay
St 7:14-15,18-20; Tv 103:1-2,3-4,9-10,11-12; Lc 15:1-3,11-32
TRỞ VỀ VỚI CHÚA BẰNG VIỆC NHÌN NHẬN ANH EM
Để nói về tình yêu tha thứ của Thiên Chúa đối với người tội lỗi, thánh Luca đưa ra cho chúng ta 3 dụ ngôn: con chiên bị thất lạc, đồng tiền của bà góa bị mất và nhất là đứa con hoang đàng. Hôm nay thánh Luca đưa ra dụ ngôn đứa con hoang đàng, để nói về tình yêu tha thứ của Thiên Chúa đối với người tội lỗi biết ăn năn sám hối. Thực ra, dụ ngôn hôm nay không nhằm đứa con hoang đàng, nhưng Lời Chúa nhấn mạnh đến lòng nhân từ thương xót vô biên của Thiên Chúa đối với người tội lỗi.
Người con hoang đàng này là người con thứ và cũng là con út trong gia đình khá giả, nên cậu được nhiều ưu đãi, cưng chiều. Vì được ưu đãi nuông chiều nên dễ hư hỏng, đúng với câu phương ngôn của Pháp: “Con cưng là con hư”. Vì muốn sống tự do, thoải mái, cậu đòi người cha chia gia tài, và người cha đã chia gia tài cho cậu. Số gia tài được đổi thành tiền để dễ dàng ra đi. Vừa trẻ, lại có tiền, lại được tự do không bị ai ràng buộc… nên chỉ có một con đường nhào tới là hư hỏng.
Thực vậy, cậu đi phung phí tiền bạc, chơi bời trác táng. Thế là tiền mất tật mang. Địa vị của cậu suy sụp quá mau lẹ, rơi vào tình trạng khốn đốn phải đi chăn heo cho người ta để sống qua ngày. Nhưng rất may, câu chuyện không chấm dứt ở đây. Giữa cảnh túng đói cùng cực, chàng trai trẻ đã biết nghĩ lại và quyết tâm trở về với gia đình. Cậu can đảm trở về cũng như cậu đã can đảm ra đi, cậu quay gót 180 độ để về cùng cha.
Một trong những cách đánh động lương tâm nhân loại mà Đức Giêsu mang đến, đó là lòng thương xót của Thiên Chúa, được diễn tả qua nhiều câu nói, qua nhiều dụ ngôn, như dụ ngôn được đề tựa “Người con hoang đàng” được Giáo hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay. Đúng hơn, dụ ngôn đó: phải được đề tựa là: “Người cha nhân hậu”, bởi vì nhân vật chính trong câu chuyện là người cha với lòng thương xót vô bờ bến của ông. Người cha ở đây chính là Thiên Chúa. Thánh Luca đã nêu bật khuôn mặt của một người cha nhân từ, thương xót và xem niềm vui tha thứ là niềm vui to lớn nhất đối với ông.
Thiên Chúa nhân từ thương xót chúng ta như thế đó nhưng phần đông chúng ta lại ăn ở bội bạc với Thiên Chúa. Vậy cả hai người con đều phải quay trở về với cha, cả hai đều phải bước vào nhà cha, cả hai đều phải rũ bỏ nếp sống cũ, nếp nghĩ xưa để về ẩn mình trong trái tim cha: nhân hậu, bao dung, tha thứ và tròn đầy yêu thương.
Trong dụ ngôn đứa con hoang đàng ra đi, người cha không dùng sức mạnh của uy quyền để giữ lại. Ông đã tôn trọng sự tự do, đó là mầu nhiệm lớn lao. Đối với Thiên Chúa, Ngài có thể ngăn cản tội lỗi và sự dữ, nhưng làm như thế, Ngài sẽ tước mất sự tự do của con người. Không có tự do, con người không thể yêu mến Thiên Chúa như Ngài mong muốn. Mặt khác, con người sẽ không tìm thấy trong cuộc sống, một tình yêu trọn vẹn dẫu là có trách nhiệm.
Tin mừng diễn ra trong bối cảnh, những người thu thuế và tội lỗi nghe biết về lời giảng và lối sống của Chúa Giêsu, nên họ đã đến để nghe Ngài giảng. Điều này khiến cho các luật sĩ và biệt phái khó chịu. Họ lẩm bẩm trách Chúa đã đón tiếp và ăn uống với những hạng người tội lỗi. Đáp lại thái độ khó chịu của các luật sĩ và biệt phái, Chúa Giêsu mới kể dụ ngôn hôm nay.
Qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn nêu bật lòng thương xót của Thiên Chúa được chính Ngài cụ thể hoá qua sự gần gũi của Ngài với các tội nhân. Hãy tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, đừng bao giờ thất vọng về sự tha thứ của Ngài. Tình yêu của các người cha trần thế thật tuyệt vời nhưng không thể sánh được với tình yêu Thiên Chúa dành cho những ai Ngài đã tạo dựng.
Người con cả trong bài Tin Mừng hôm nay đã không chấp nhận tha thứ cho người em của anh. Anh ta trách móc cha mình rồi tỵ nạnh với em mình khi kể lể công trạng của anh ta với cha của anh.
Trong cuộc sống hôm nay, chúng ta vẫn thấy hình ảnh phóng đãng ăn chơi của người con thứ, hay thái độ ích kỷ, kiêu ngạo như người con cả ngay trong con người của chúng ta, mỗi lần chúng ta đi xa hay không chịu hiểu về tình thương của Thiên Chúa và lời mời gọi của Ngài.
Nêu bật lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người, Chúa Giêsu cũng nhắm đến thái độ chai đá của các biệt phái và luật sĩ, được Ngài tô vẽ qua hình ảnh người con cả. Trong một vài nét ngắn ngủi, nhưng Chúa Giêsu đã phô bày được bộ mặt chai đá, ích kỷ, mù quáng của biệt phái và luật sĩ. Người con cả là hạng người không bao giờ nhận ra được tình thương của Thiên Chúa. Bao lâu nay sống bên cạnh cha, người con cả vẫn xem mình như một thứ người làm công trong nhà, mà không nghĩ rằng “tất cả những gì của cha đều là của con”. Vì không thể hiểu được tình thương của Cha nên người anh cả cũng không thể đón nhận được người em trong tình ruột thịt gia đình. Cách nào đó, khi từ chối người em của mình: “Còn thằng con của cha kia”, thì người anh cũng từ chối chính mối tương quan cha con với Cha.
Đó có thể là tâm tình của rất nhiều người trong chúng ta. Chúng ta tuân giữ và thực hành đúng đắn giới răn, nhưng có lẽ chúng ta chỉ ngước lên Chúa như một quan toà công thẳng hay như một viên cảnh sát lúc nào cũng rình rập theo dõi để trừng phạt chúng ta hay chỉ như một kẻ làm công, cố gắng chu toàn để được ân thưởng. Từ một hình ảnh như thế về Thiên Chúa, tâm tình mà chúng ta có đối với Ngài có lẽ chỉ là sợ hãi, nô lệ. Và bởi không nhận ra Thiên Chúa như một người cha, cho nên con người cũng không thể nhìn nhận tha nhân là anh em của mình và như vậy cũng là xúc phạm đến chính Thiên Chúa.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy can đảm, đứng dạy và trở về để được ơn tha thứ của Thiên Chúa. Đừng sợ tình thương của Thiên Chúa, vì tội lỗi của chúng ta có đỏ như son thì Chúa cũng làm cho trắng như tuyết, có thẫm tựa vải điều, Chúa cũng làm cho trắng như bông. Thiên Chúa luôn chờ đợi chúng ta từng ngày, từng giờ như người cha trong bài Tin Mừng hôm nay để tha thứ, tẩy rửa tội lỗi cho chúng ta.
Mùa chay là mùa hoán cải. Hoán cải trước tiên là trả lại cho Thiên Chúa gương mặt mà Chúa Giêsu đã mặc khải, đó là gương mặt của người cha yêu thương con người đến thí ban Con Một Mình. Nhưng không thể trở với Thiên Chúa là Cha mà lại không yêu thương tha thứ cho người anh em của mình. Những người con mà Thiên Chúa yêu thương, hiến thân cứu độ.
2024
ĐỨC GIÊ-SU – ĐẤNG KIỆN TOÀN YÊU THƯƠNG
1.3Thứ Sáu trong tuần thứ Hai Mùa Chay
St 37:3-4,12-13,17-28; Tv 105:16-17,18-19,20-21; Mt 21:33-43,45-46
ĐỨC GIÊ-SU – ĐẤNG KIỆN TOÀN YÊU THƯƠNG
Lời Chúa ngày hôm nay diễn tả cho chúng ta thấy kế hoạch cứu độ đầy yêu thương của Thiên Chúa được kiện toàn nơi Đức Giêsu Ki-tô. Sau khi Adam, vì đam mê quyền lực và danh vọng, phạm tội bất phục tùng Thiên Chúa. Con người đánh mất đi tình bạn hữu với Thiên Chúa, và quay mặt lại với Thiên Chúa trong tội ác của mình. Tội ác trở thành một thế lực luôn theo đuổi và tìm cách thống trị con người yếu đuối.
Điều nay được diễn tả nơi câu chuyện của ông Giuse. Vì lòng ghen ghét, vì đam mê quyền lực và danh vọng, những người anh của Giuse tìm cách thủ tiêu ông. Nhưng bàn tay của Thiên Chúa đã can thiệp kịp thời nên đã không dẫn đến việc huynh đệ đổ máu tương tàn. Thiên Chúa đã biến sự ác thành sự lành. Thiên Chúa dùng chính Giuse, người mà bị anh em mình tìm cách loại bỏ, trở thành người cứu Israen khỏi nạn đói, khỏi cảnh diệt vong.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su dùng hình ảnh dụ ngôn về ông chủ vườn nho và các tá điền để cho chúng ta thấy một Thiên Chúa nhân từ trong kế hoạch đầy yêu thương của Ngài đối với nhân loại tội lỗi. Ông chủ vườn nho là hình ảnh Chúa Cha nhân từ. Ngài chăm sóc con người rất là chu đáo. Con người chẳng còn thiếu thứ gì cả. Thế nhưng nhân loại không bằng lòng với những gì Chúa ban, lại chạy theo những đam mê quyền lực và danh vọng nên đã quay lại chống đối Thiên Chúa.
Thiên Chúa, vì yêu thương nhân loại, đã không đành nhìn cảnh con người phải quần quại trong bùn lầy của tội ác. Ngài đã sai các đầy tớ là các ngôn sứ đến với nhân loại tội lỗi để kêu gọi con người bỏ đường gian ác mà quay trở về với Thiên Chúa. Thế nhưng con người chẳng những không bỏ đường tội lỗi mà trái lại còn ném đá, đánh đập và thủ tiêu các ngôn sứ của Chúa.
Cuối cùng, Thiên Chúa đã sai chính Con Một duy nhất của Ngài là Đức Giê-su Ki-tô đên để giải phóng con người khỏi ác nô lệ của tội lỗi. Thế mà con người không đón nhận tình thương của Thiên Chúa. Vì tính ghen ghét, vì đam mê quyền lực và danh vọng con người đóng đinh Chúa vào Thập giá và xử Người án tử hình.
Thiên Chúa không để cho con người thoả mãn tính kiêu ngạo của mình. Ngài đã biến chính cái chết của Con Ngài thành nguồn ơn cứu độ cho muôn dân. Trong khi con người đóng đanh Con Thiên Chúa vào thập giá, Thiên Chúa đóng đanh tội lỗi cả nhân loại vào cây thánh giá để cho con người được sạch tội. Trong khi nhân loại dùng cây gỗ để giết Chúa Giêsu, thì Thiên Chúa lại dùng thánh giá đem sự sống đời đời đến cho nhân loại. Trong khi con người dùng cây thập tự để loại trừ Đức Giê-su, thì Thiên Chúa dùng cây thập tự ấy mà đưa con người về với Thiên Chúa trên nước Thiên Đàng. Như vậy thật đã ứng nhiệm lời Kinh Thánh: Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường.” Đức Giê-su chính là hòn đá tảng mà người Do Thái tìm cách loại bỏ, nhưng đã trở nên đá tảng cho dân ngoại là chúng ta.
Đức Giêsu biết rõ những nhà lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ có một cái tôi rất lớn được xây dựng bằng thành trì của sự kiêu ngạo, tự phụ, tự tôn, luôn coi mình là đạo đức hơn người. Thế nên, bản thân họ rất khó nhận ra con người thực chất của chính mình để sám hối. Vì thế, Đức Giêsu đã kể cho họ nghe dụ ngôn: “Những tá điền sát nhân”.
Ngài kể về những người làm công ác nhân, thất đức khi đối xử bất nhân với những người nhà của chủ được sai đến, không những thế, sự bất nhân của họ còn được sử dụng ngay với chính con của ông chủ, nên họ đã giết luôn cả đứa con thừa tự và cướp luôn vườn nho.
Sau đó, Đức Giêsu hỏi những người đang nghe: “Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia?” Nghe đến đây, các Thượng Tế và Kỳ Mục lên tiếng khí thế, họ nói: “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông”.
Cũng như Đavít, họ vui vẻ và khẳng khái kết án cái ác, đúng lúc ấy, trong câu 43, Đức Giêsu tuyên án với họ: “Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi, không cho các ông nữa, mà ban cho dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi”.
Đến đây, Đức Giêsu đã làm cho các Thượng Tế và Kỳ Mục nhận ra con người gian dối của họ khi dùng ngón đòn: “Gậy ông đập lưng ông”, khi chính họ tuyên án cho thảm án nặng nề nơi mình.
Trong cuộc sống hôm nay, nhiều khi chúng ta không nhận ra tội của mình mà cứ đi lôi tội của người khác một cách không thương tiếc. Vì thế, có lúc chúng ta không khác gì những nhà lãnh đạo tôn giáo thời Đức Giêsu, hay như Vua Đavít trong câu chuyện trên!
