2024
KIỆN TOÀN LỀ LUẬT
6.3Thứ Tư trong tuần thứ Ba Mùa Chay
Đnl 4:1,5-9; Tv 147:12-13,15-16,19-20; Mt 5:17-19
KIỆN TOÀN LỀ LUẬT
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su khẳng định Ngài đến không phải để bãi bỏ lề luật, nhưng là để kiện toàn. Không có tài liệu nào cho thấy Chúa Giê-su ngồi để chỉnh sửa văn bản luật, vậy phải hiểu sự kiện toàn lề luật của Ngài cách nào? Trước tiên, Chúa Giê-su đến để làm cho tất cả những gì mà lề luật và lời các ngôn sứ loan báo về Ngài được trở nên ứng nghiệm, nghĩa là được kiện toàn ở nơi chính đời sống của Ngài. Tiếp đến, Chúa Giê-su không hoàn thiện lề luật theo nghĩa văn bản, nhưng hoàn thiện về tinh thần, làm cho luật thấm nhuần tình bác ái yêu thương – luật luôn khởi đi từ con tim. Như thế, Chúa Giê-su vừa kiện toàn, vừa là gương mẫu, vừa chỉ cho các môn đệ của Ngài phương thế để sống và chu toàn lề luật.
Thánh Gioan Bosco nói với các môn sinh của ngài rằng: “Hãy trung thành giữ luật, luật sẽ gìn giữ con”.
Thật vậy, lề luật nó như cái bản lề để giúp cho cánh cửa cuộc đời được đứng vững.
Chính Đức Giêsu đã trung thành giữ luật cách yêu mến và trung thành. Chỉ khi nào luật không làm cho con người ta tốt hơn, mà ngược lại, nó đè bẹp con người, thì lúc đó Ngài lên tiếng chống đối.
Hai lối hiểu và hai cách giữ luật khác nhau, nên những nhà lãnh đạo Dothái và Đức Giêsu có sự đối kháng kích liệt. Họ cho rằng Đức Giêsu đến để bãi bỏ lề luật, còn Đức Giêsu thì khẳng định: “Các người đừng tưởng Ta đến để hủy bỏ các lề luật hay các tiên tri. Ta không đến để hủy bỏ, nhưng để kiện toàn”.
Nói cách khác, Đức Giêsu vẫn rất tôn trọng luật Cựu Ước, mà cụ thể là trong Ngũ Kinh, vì ở đó chứa đựng ý muốn và lệnh truyền của chính Thiên Chúa. Tuy nhiên, nhiều lúc, vì họ đã giữ luật theo kiểu mặt chữ, nên không còn tình thương, lòng mến, và luật đã trở thành phương tiện cho người ta hà hiếp, bóc lột và kết án nhau.
Khi phản đối lối gán ghép tội của các Luật Sĩ và Pharisêu gây ra cho mình, Đức Giêsu khẳng định không những không phá bỏ, mà còn kiện toàn và làm cho luật trở nên nhân nghĩa hơn.
Luật cơ bản nhất, quan trọng nhất trong đời sống con người là luật bác ái. Mọi thể hiện của việc giữ luật không đặt đức bác ái làm nền tảng, thì hành động giữ luật có khi trở nên tàn nhẫn, có khi chỉ là một thứ phương tiện để loại trừ đồng loại quanh mình.
Những người biệt phái, nhất là các luật sĩ, vốn là những người trung thành với lề luật. Họ tuân giữ luật lệ không thiếu một chấm, một phết. Nhưng phía sau sự trung thành ấy hàm chứa thái độ tự mãn chính mình và soi mói tha nhân.
Tự mãn: Họ cho rằng, trung thành với lề luật là đương nhiên trở nên người công chính. Và như vậy, chỉ có họ là công chính, là người thuộc về Thiên Chúa, người được Thiên Chúa yêu thương.
Soi mói: Họ nhìn những ai không tuân giữ luật lệ theo kiểu của họ bằng cặp mắt khinh dễ, miệt thị. Và vì mang sẵn một não trạng tự tôn về mình, họ luôn dò xét người bên cạnh, thậm chí lên án và loại trừ anh chị em xung quanh.
Ý nghĩa của lề luật và tinh thần giữ luật mà Chúa Giêsu đòi hỏi phải là con đường dẫn người ta đến tình yêu, đến hiệp thông và đỡ nâng nhau.
Vì thế, sự bất cập trong lề luật mà những luật sĩ trong đạo Do Thái thể hiện, đòi phải được kiện toàn. Chúa Giêsu là Đấng làm cho lề luật được hoàn bị. Người muốn chúng ta hiểu rằng, chỉ nhờ ơn Chúa, con người mới có thể giữ trọn vẹn lề luật và nên công chính. Chính trong ơn Chúa, mà con người phải yêu thương nhau, phải đón nhận và hy sinh cho nhau. Dù là luật nào đi nữa, họ phải luôn nêu cao tinh thần bác ái.
Chúa Giêsu mặc cho tinh thần giữ luật chiếc áo của tình yêu, để từ nay, ai biết giữ luật, người đó phải biết yêu thương. Yêu thương là cốt lõi của mọi lề luật.
Trong câu chuyện bên trên, với thái độ điềm tỉnh nhưng cương quyết, vị tu sĩ già đã dạy ông vua hóng hách bài học của sự yêu thương và tôn trọng người đối diện với mình.
Chúng ta cần sống tinh thần luật như thái độ khôn ngoan của vị tu sĩ trong câu truyện, đừng nhìn người khác bằng cặp mắt chỉ thích đánh giá, thích soi mói, khinh thị như các luật sĩ trong Tin Mừng, hay như nhân vật nhà vua trong câu chuyện.
Là người tín hữu tin và bước đi theo Chúa Ki-tô, chúng ta cũng được mời gọi kiện toàn lề luật nơi đời sống mỗi người. Không phải là viết ra những điều luật mới, mà là nội tâm hóa và làm cho những điều luật, nhất là luật yêu thương mà Chúa Giê-su truyền dạy được trở thành lối sống và phương cách ứng xử của chúng ta. Chúa Giê-su đã chỉ ra những cách sống yêu thương hết sức cụ thể như: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, thăm người đau yếu, cầu nguyện cho người ngược đãi, hoặc yêu thương cả kẻ thù… Ngài cũng mời gọi thực hành từ những điều nhỏ nhất, với những người bé nhỏ nhất, như cho họ một ly nước lã cũng làm cho chính Chúa rồi. Lạy Chúa Giê-su, Thánh Phao-lô đã dạy chúng con: “yêu thương là chu toàn lề luật” (Rm 13,10), xin giúp chúng con biết cụ thể hoá mọi điều Chúa dạy bằng hành động yêu thương bác ái đối với hết mọi người chúng con gặp gỡ trong đời sống hằng ngày.
Lời Chúa hôm nay nhắc cho chúng ta rằng: hãy biết giữ luật trong lòng mến. Trung thành yêu mến luật vì nơi đó Thiên Chúa tỏ bày thánh ý của Ngài. Tuy nhiên, giữa việc giữ luật và đời sống phải đi đôi với nhau. Không thể sống theo kiểu “ngôn hành bất nhất” như Luật Sĩ và Pharisêu, vì họ dùng luật của Chúa để triệt hạ nhau khi luật của Chúa đã bị bóp méo.
2024
THA THỨ CHO NGƯỜI KHÁC ĐỂ ĐƯỢC CHÚA THỨ THA
5.3Thứ Ba trong tuần thứ Ba Mùa Chay
Đn 3:25,34-43; Tv 25:4-5,6-7,8-9; Mt 18:21-35
THA THỨ CHO NGƯỜI KHÁC ĐỂ ĐƯỢC CHÚA THỨ THA
Hôm nay Đức Giêsu dạy ta về sự tha thứ. Dụ ngôn về sự tha thứ nhắm tới đời sống cộng đoàn. Quả vậy, trong đời sống chúng ta, vì tính tình xung khắc, nên đã gây ra nhiều điều phiền toái, chia rẽ, đố kỵ, thù oán… Nhưng nhờ sự tha thứ, đời sống chung lấy lại được hoà khí, bình an và hiệp nhất. Nhưng Đức Giêsu lưu ý chúng ta vài khía cạnh quan trọng:
Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ cho chúng ta cho dù tội chúng ta xúc phạm đến Ngài rất nhiều. Ta không thể đền tội cho đủ nhưng Chúa vẫn tha vì Ngài “động lòng thương”.
Nhưng chúng ta cũng phải rộng lòng tha thứ cho anh chị em chúng ta. Nếu không thì Chúa sẽ rút lại sự tha thứ của Ngài đối với chúng ta.
Ngoài ra hãy khôn ngoan tha lỗi nhỏ cho anh em để Chúa sẽ tha thứ những lỗi lầm lớn của chúng ta đối với Chúa.
Tha thứ xem ra không phải là điều tự nhiên đối với con người. Phải trải qua một thời gian lâu dài, nhân loại mới nhận ra được ý nghĩa và sự cần thiết của tha thứ. Xã hội nguyên thuỷ không dung tha cho tội phạm của cá nhân.
Sách Khởi nguyên nói đến sự trừng phạt mạnh hơn 70 lần 7 lỗi phạm của con người. Sang đến sách Xuất hành, người ta thấy có một tiến bộ quan trọng khi luật Maisen đã ra luật “mắt đền mắt, răng đền răng”, ít ra ở đây hình phạt cũng tương xứng với lỗi phạm. Sách Lêvi đi xa hơn, tuy không bắt buộc phải tha thứ, nhưng sách này nói đến tình liên đới giữa anh em với nhau và cấm không được nại đến việc tố tụng, để giải quyết những tranh chấp giữa anh em với nhau. Như vậy, ít ra sự tha thứ cũng đã manh nha trong quan hệ ruột thịt
Tin Mừng một lần nữa xác định căn cốt đó khi trình thuật cuộc nói chuyện giữa Đức Giêsu và Phêrô. Khởi đi từ câu hỏi của Phêrô: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” Đức Giêsu đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy”.
Tha như thế là tha mãi, tha không giới hạn, không điểm dừng, không so đo tính toán thiệt hơn. Tha như thế là đi vào mối tương quan với Thiên Chúa là tình yêu, và làm toát lên đạo mới, “đạo yêu thương”.
Dụ ngôn về người đầy tớ không biết tha thứ trong bài Tin mừng hôm nay nêu bật tầm quan trọng của sự tha thứ và thương xót trong đời sống Ki-tô hữu của chúng ta. Nó nhắc nhở rằng tất cả chúng ta đều là tội nhân và cần sự tha thứ của Thiên Chúa. Do đó, chúng ta nên rộng lòng tha thứ và thương xót người khác.
Tha thứ là một điều rất khó, nhưng nó là tuyệt đỉnh và cao quí nhất mà Đức Giêsu đã cống hiến cho con người.
Tha thứ còn là của lễ đẹp lòng Thiên Chúa nhất, bởi vì nhờ tha thứ, con người trở nên giống Thiên Chúa vì Thiên Chúa mà Đức Giêsu mạc khải cho loài người là Thiên Chúa của tha thứ không ngừng. Vì thế, chỉ có một mình Thiên Chúa tha thứ không ngừng ấy, mới có thể đòi hỏi con người: “Ta không bảo con phải tha đền bẩy lần, nhưng là đến bẩy mươi lần bẩy”, tức là tha không ngừng.
Nếu có khó khăn trong việc tha thứ, ấy là chúng ta vẫn nhìn vào sức nặng của sự xúc phạm mà đối phương đã gây ra cho ta, trong khi đó, lẽ ra chúng ta phải nhìn vào tình thương của Thiên Chúa đối với mình khi Ngài tha thứ tội lỗi cho ta.
Dụ ngôn cũng cảnh báo về hậu quả có thể xảy ra cho hành động không biết tha thứ của chúng ta. Nếu từ chối tha thứ cho anh em, chúng ta có nguy cơ bị như thế trước mặt Thiên Chúa. Điều này không có nghĩa là Thiên Chúa ích kỷ hay khắc nghiệt. Trái lại, chính việc chúng ta từ chối tha thứ cho người khác đã tạo ra một rào cản giữa chúng ta và Thiên Chúa khiến chúng ta không nhận được sự tha thứ của ngài. Đó là lý do tại sao chúng ta luôn cầu nguyện: “Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha cho kẻ có nợ chúng con.”
Cuối cùng, ngụ ngôn về người đầy tớ không biết tha thứ nhắc nhở chúng ta về món quà tha thứ vô cùng lớn lao mà chúng ta đã nhận được từ Thiên Chúa qua Chúa Giê-su Ki-tô. Quả vậy, Thiên Chúa là đấng vô cùng tốt lành và thánh thiện nên bất cứ tội lỗi nào chúng ta phạm cũng đều là sự xúc phạm nghiêm trọng đến Ngài. Bản thân chúng ta, vốn là những tội nhân, sẽ không có khả năng đền bù lại Thiên Chúa vì những xúc phạm ấy. Chỉ mình Chúa Giê-su mới có thể và ngài đã thực hiện điều ấy qua chính cái chết của ngài.
Trong hành trình của Mùa Chay thánh này, chúng ta cùng cầu xin Chúa giúp chúng ta sống cuộc đời tha thứ và thương xót như Chúa đã tha thứ và thương xót chúng. Để rồi mỗi khi hoán cải và trở về, chúng ta cũng nhận được sự tha thứ và lòng xót thương của Ngài.
2024
TIN VÀ BƯỚC THEO CHÚA GIÊ-SU
TIN VÀ BƯỚC THEO CHÚA GIÊ-SU
Khi thi hành sứ vụ Thiên sai Chúa Giêsu đã chữa lành những người bị quỉ ám, làm cho người mù được sáng mắt, người què đi được, người điếc nghe được, người câm nói được… nhìn chung là vui mừng và sung sướng; mọi người đều thán phục; các thần ô uế phải vâng lệnh Người.
Đức Giêsu trở về quê hương, vào hội đường Nazareth ngày thứ bảy. Người ta trao cho Ngài sách tiên tri, để Ngài đọc và giải thích. Lúc đầu họ cảm phục tài hùng biện và dáng vẻ thuyết phục của Ngài. Nhưng sau, họ bực tức, vì thấy Ngài ưa thích Capharnaum, nơi dân ngoại nhiều hơn quê mình. Trước thái độ đó, Đức Giêsu tỏ bày cho dân làng biết sứ vụ thiên sai của Ngài.
Đồng thời Chúa cũng cho họ biết rằng Ngài không thiên vị ai, Ngài ban ơn cho tất cả mọi người, cho dù người ngoại nhưng nếu tin vào Chúa thì Ngài cũng ban ơn. Còn kẻ có đạo nhưng không tin thật thì không đáng nhận ơn Ngài.
Dân làng Na-gia-rét không nhận biết Đức Giê-su: vì họ phán đoán hoàn toàn theo sở thích loài người. Đức Giê-su là ngôn sứ, Người hành động theo sứ mạng Thiên Chúa.
Không phải những đòi hỏi của người trần ấn định cho hành động của các ngôn sứ, của Đức Ki-tô, các ngài không hành động vì lợi riêng cho mình. Các ngài chỉ hành động theo ý Thiên Chúa. Ngôn sứ không được hành động theo quyết định bản thân mình, nhưng luôn luôn theo quyết định của Thiên Chúa, Đấng đã sai mình.
Thiên Chúa quyết định cho hai ngôn sứ : Ê-li-a và Ê-li-sê đến làm phép lạ cứu giúp những người lương dân chứ không cứu người đồng hương. Đức Giê-su không hoàn toàn đến thực hiện ơn cứu độ cao cả cho quê hương mình, Người phải đi cứu độ những người dân xa lạ. Thiên Chúa dành cho mình có quyền tự do phân phát ơn cứu độ.
Không ai có thể đòi quyền được ơn cứu độ. Quả thật như vậy, không ai được phép đòi có quyền đó, phải tin ơn cứu độ mình được là nhưng không. Nước Thiên Chúa mà Đức Giê-su rao giảng và thực hiện ơn cứu độ cho những người Thiên Chúa yêu thương, ơn cứu độ là một ân huệ chứ không do công lao mình làm. Nhưng đó là ân huệ chúng ta được quyền hưởng vì Đức Giê-su đã chết cho chúng ta, và chúng ta phải sống hoàn toàn theo ý Cha của Người, đó là điều kiện căn bản, còn chúng ta vẫn có tự do đón nhận hay từ chối ơn cứu độ.
Hôm nay hoàn toàn ngược lại, với hơi thở dài đi liền câu nói để đời: “Quả thật, Ta bảo các ngươi, không một tiên tri nào được đón tiếp tại quê hương mình“(Lc 4,24). Tuyên bố của Chúa Giêsu vang lên trong hội đường như một sự khiêu khích. Người kể lại hai phép lạ mà các ngôn sứ Elia và Eliseo đã làm cho những người không phải dân Do thái, để chứng minh rằng đôi khi ngoài dân Israel có nhiều kẻ tin mạnh hơn. Tới đây thì tất cả những người có mặt đều phản ứng: “Mọi người trong hội đường đều đầy căm phẫn, họ chỗi dậy và trục xuất Người ra khỏi thành. Họ dẫn Người lên triền núi, nơi xây cất thành trì của họ, để xô Người xuống vực thẳm. Nhưng Người rẽ qua giữa họ mà đi” (Lc 4,28-30).
Về điểm này, thánh Augustinô (354-430), Giám mục thành Hippôn (Bắc Phi), tiến sĩ Hội Thánh đã chủ giải như sau: “Người rẽ qua giữa họ mà đi“, nghĩa là Chúa Giêsu là một thầy thuốc cao tay đã đến giữa chúng ta. Người vẫn rẽ ngang qua cuộc đời của mỗi chúng ta để làm cho chúng ta được khỏe mạnh.
Đức Giêsu đã không cứu chúng ta bằng cách làm phép lạ, nhưng bằng việc loan báo Tin Mừng, từ bỏ và hy sinh mạng sống cho chúng ta. Người chính là Đấng Mêsia đích thực của Thiên Chúa, một Đấng Mêsia không vận dụng quyền lực để thực hiện một cảnh ngoại mục cứu độ trần thế, nhưng đặt tại trung tâm sứ điệp về Thiên Chúa.
Chúa Giêsu đã chỉ trích thái độ tự mãn, ích kỷ của người Do Thái. Người Do Thái trong hội đường Nagiarét đã tìm cách hãm hại Chúa Giêsu khi Ngài lên tiếng chê trách niềm tin của họ. Có lẽ ai trong chúng ta cũng bất bình về việc làm của nhóm người này, nhưng kỳ thực nhiều khi trong cuộc sống chúng ta đã sao chép nguyên bản việc làm ấy. Tự hào là Kitô hữu, là người nắm giữ niềm tin, nhưng rồi với một mớ lễ nghi hình thức, niềm tin trong chúng ta chỉ còn là ngọn đèn leo lét, chỉ là thân cây mất hết nhựa sống chờ ngày gãy đổ. Ðó là thứ niềm tin mà tác giả cuốn sách Ðường Hy Vọng đã nhắc nhở: “Nhiều người nói tôi có đức tin, tôi còn đức tin, có lẽ đức tin của đời sống. Ít người sống theo đức tin. Ðừng bao giờ mê tín mãn nguyện với một đức tin lý thuyết, hình thức, nhưng phải sống một đức tin chân thật, thiết ái, trung thành.”
Tự mãn với chính mình mà không chịu mở lòng đón nhận khiến người Do Thái mất đi Chúa Giêsu – nền tảng của niềm tin. Cũng vậy, nếu Kitô hữu chỉ đóng khung trong một nghi thức, luật lệ, thì sớm muộn gì họ cũng xa cội nguồn sự sống, vì sống là gì nếu không phải là một luân lưu trao đổi. Con người sẽ chết khi hệ tuần hoàn không luân chuyển, hệ thần kinh không vận động. Ðời sống đức tin cũng đòi hỏi một sự luân lưu trao đổi với Thiên Chúa và với anh em.
Ðối với người Kitô, tin trước hết là chấp nhận được cứu rỗi, được tha thứ, được yêu thương. Chúa không phải là Ðấng bắt con người phải kính mến. Nói đúng hơn Thiên Chúa là Ðấng mà con người phải để cho Ngài yêu thương vô hạn. Tin là chấp nhận Chúa Kitô và quyết tâm sống chết cho Ngài.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết khiêm tốn nhìn nhận sự yếu hèn của mình để cần đến ơn cứu độ. Cần tránh thói hư là: “Gần Chùa gọi Bụt bằng anh”; hay “bụt nhà không thiêng”. Hãy biết tôn trọng anh chị em mình trong sự thật, đừng vì ghen ghét, hiềm khích hay sợ người anh em trổi trang hơn mình mà ra tay làm hại hay nói năng những lời nguy hại đến thanh danh tiếng tốt của họ! Làm như thế, ấy là chúng ta đang đi vào vết xe đổ của những người đồng hương với Đức Giêsu, và như một lẽ tất yếu, chúng ta sẽ mất ơn cứu độ vì không thuộc về Thiên Chúa.
2024
TRỞ VỀ VỚI CHÚA BẰNG VIỆC NHÌN NHẬN ANH EM
2.3Thứ Bảy trong tuần thứ Hai Mùa Chay
St 7:14-15,18-20; Tv 103:1-2,3-4,9-10,11-12; Lc 15:1-3,11-32
TRỞ VỀ VỚI CHÚA BẰNG VIỆC NHÌN NHẬN ANH EM
Để nói về tình yêu tha thứ của Thiên Chúa đối với người tội lỗi, thánh Luca đưa ra cho chúng ta 3 dụ ngôn: con chiên bị thất lạc, đồng tiền của bà góa bị mất và nhất là đứa con hoang đàng. Hôm nay thánh Luca đưa ra dụ ngôn đứa con hoang đàng, để nói về tình yêu tha thứ của Thiên Chúa đối với người tội lỗi biết ăn năn sám hối. Thực ra, dụ ngôn hôm nay không nhằm đứa con hoang đàng, nhưng Lời Chúa nhấn mạnh đến lòng nhân từ thương xót vô biên của Thiên Chúa đối với người tội lỗi.
Người con hoang đàng này là người con thứ và cũng là con út trong gia đình khá giả, nên cậu được nhiều ưu đãi, cưng chiều. Vì được ưu đãi nuông chiều nên dễ hư hỏng, đúng với câu phương ngôn của Pháp: “Con cưng là con hư”. Vì muốn sống tự do, thoải mái, cậu đòi người cha chia gia tài, và người cha đã chia gia tài cho cậu. Số gia tài được đổi thành tiền để dễ dàng ra đi. Vừa trẻ, lại có tiền, lại được tự do không bị ai ràng buộc… nên chỉ có một con đường nhào tới là hư hỏng.
Thực vậy, cậu đi phung phí tiền bạc, chơi bời trác táng. Thế là tiền mất tật mang. Địa vị của cậu suy sụp quá mau lẹ, rơi vào tình trạng khốn đốn phải đi chăn heo cho người ta để sống qua ngày. Nhưng rất may, câu chuyện không chấm dứt ở đây. Giữa cảnh túng đói cùng cực, chàng trai trẻ đã biết nghĩ lại và quyết tâm trở về với gia đình. Cậu can đảm trở về cũng như cậu đã can đảm ra đi, cậu quay gót 180 độ để về cùng cha.
Một trong những cách đánh động lương tâm nhân loại mà Đức Giêsu mang đến, đó là lòng thương xót của Thiên Chúa, được diễn tả qua nhiều câu nói, qua nhiều dụ ngôn, như dụ ngôn được đề tựa “Người con hoang đàng” được Giáo hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay. Đúng hơn, dụ ngôn đó: phải được đề tựa là: “Người cha nhân hậu”, bởi vì nhân vật chính trong câu chuyện là người cha với lòng thương xót vô bờ bến của ông. Người cha ở đây chính là Thiên Chúa. Thánh Luca đã nêu bật khuôn mặt của một người cha nhân từ, thương xót và xem niềm vui tha thứ là niềm vui to lớn nhất đối với ông.
Thiên Chúa nhân từ thương xót chúng ta như thế đó nhưng phần đông chúng ta lại ăn ở bội bạc với Thiên Chúa. Vậy cả hai người con đều phải quay trở về với cha, cả hai đều phải bước vào nhà cha, cả hai đều phải rũ bỏ nếp sống cũ, nếp nghĩ xưa để về ẩn mình trong trái tim cha: nhân hậu, bao dung, tha thứ và tròn đầy yêu thương.
Trong dụ ngôn đứa con hoang đàng ra đi, người cha không dùng sức mạnh của uy quyền để giữ lại. Ông đã tôn trọng sự tự do, đó là mầu nhiệm lớn lao. Đối với Thiên Chúa, Ngài có thể ngăn cản tội lỗi và sự dữ, nhưng làm như thế, Ngài sẽ tước mất sự tự do của con người. Không có tự do, con người không thể yêu mến Thiên Chúa như Ngài mong muốn. Mặt khác, con người sẽ không tìm thấy trong cuộc sống, một tình yêu trọn vẹn dẫu là có trách nhiệm.
Tin mừng diễn ra trong bối cảnh, những người thu thuế và tội lỗi nghe biết về lời giảng và lối sống của Chúa Giêsu, nên họ đã đến để nghe Ngài giảng. Điều này khiến cho các luật sĩ và biệt phái khó chịu. Họ lẩm bẩm trách Chúa đã đón tiếp và ăn uống với những hạng người tội lỗi. Đáp lại thái độ khó chịu của các luật sĩ và biệt phái, Chúa Giêsu mới kể dụ ngôn hôm nay.
Qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn nêu bật lòng thương xót của Thiên Chúa được chính Ngài cụ thể hoá qua sự gần gũi của Ngài với các tội nhân. Hãy tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, đừng bao giờ thất vọng về sự tha thứ của Ngài. Tình yêu của các người cha trần thế thật tuyệt vời nhưng không thể sánh được với tình yêu Thiên Chúa dành cho những ai Ngài đã tạo dựng.
Người con cả trong bài Tin Mừng hôm nay đã không chấp nhận tha thứ cho người em của anh. Anh ta trách móc cha mình rồi tỵ nạnh với em mình khi kể lể công trạng của anh ta với cha của anh.
Trong cuộc sống hôm nay, chúng ta vẫn thấy hình ảnh phóng đãng ăn chơi của người con thứ, hay thái độ ích kỷ, kiêu ngạo như người con cả ngay trong con người của chúng ta, mỗi lần chúng ta đi xa hay không chịu hiểu về tình thương của Thiên Chúa và lời mời gọi của Ngài.
Nêu bật lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người, Chúa Giêsu cũng nhắm đến thái độ chai đá của các biệt phái và luật sĩ, được Ngài tô vẽ qua hình ảnh người con cả. Trong một vài nét ngắn ngủi, nhưng Chúa Giêsu đã phô bày được bộ mặt chai đá, ích kỷ, mù quáng của biệt phái và luật sĩ. Người con cả là hạng người không bao giờ nhận ra được tình thương của Thiên Chúa. Bao lâu nay sống bên cạnh cha, người con cả vẫn xem mình như một thứ người làm công trong nhà, mà không nghĩ rằng “tất cả những gì của cha đều là của con”. Vì không thể hiểu được tình thương của Cha nên người anh cả cũng không thể đón nhận được người em trong tình ruột thịt gia đình. Cách nào đó, khi từ chối người em của mình: “Còn thằng con của cha kia”, thì người anh cũng từ chối chính mối tương quan cha con với Cha.
Đó có thể là tâm tình của rất nhiều người trong chúng ta. Chúng ta tuân giữ và thực hành đúng đắn giới răn, nhưng có lẽ chúng ta chỉ ngước lên Chúa như một quan toà công thẳng hay như một viên cảnh sát lúc nào cũng rình rập theo dõi để trừng phạt chúng ta hay chỉ như một kẻ làm công, cố gắng chu toàn để được ân thưởng. Từ một hình ảnh như thế về Thiên Chúa, tâm tình mà chúng ta có đối với Ngài có lẽ chỉ là sợ hãi, nô lệ. Và bởi không nhận ra Thiên Chúa như một người cha, cho nên con người cũng không thể nhìn nhận tha nhân là anh em của mình và như vậy cũng là xúc phạm đến chính Thiên Chúa.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy can đảm, đứng dạy và trở về để được ơn tha thứ của Thiên Chúa. Đừng sợ tình thương của Thiên Chúa, vì tội lỗi của chúng ta có đỏ như son thì Chúa cũng làm cho trắng như tuyết, có thẫm tựa vải điều, Chúa cũng làm cho trắng như bông. Thiên Chúa luôn chờ đợi chúng ta từng ngày, từng giờ như người cha trong bài Tin Mừng hôm nay để tha thứ, tẩy rửa tội lỗi cho chúng ta.
Mùa chay là mùa hoán cải. Hoán cải trước tiên là trả lại cho Thiên Chúa gương mặt mà Chúa Giêsu đã mặc khải, đó là gương mặt của người cha yêu thương con người đến thí ban Con Một Mình. Nhưng không thể trở với Thiên Chúa là Cha mà lại không yêu thương tha thứ cho người anh em của mình. Những người con mà Thiên Chúa yêu thương, hiến thân cứu độ.
