2024
LỜI XIN VÂNG TRỌN HẢO
8.4 Lễ Truyền Tin
Cv 4:23-31; Tv 2:1-3,4-6,7-9; Ga 3:1-8
LỜI XIN VÂNG TRỌN HẢO
Thiên Chúa Nhập Thể làm người là một mầu nhiệm vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Ngôi Hai làm người để cứu chuộc nhân loại, thiết lập Nước Trời. Công trình cứu độ đựơc khởi đầu cách âm thầm, giản dị tại một làng quê nghèo, với một thôn nữ bình thường chẳng mấy người biết tới.
Sứ Thần đến Nazareth và cung kính thưa với người nữ ấy rằng: “Mừng vui lên, hỡi Ðấng đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng bà!” (Lc 1,28). “Ðấng đầy ơn phước” là tên gọi đẹp nhất của Mẹ Maria, tên gọi mà Thiên Chúa đã ban cho Đức Mẹ, để chỉ cho biết rằng từ muôn thuở và cho đến muôn đời, Đức Mẹ là Ðấng được yêu thương, được Thiên Chúa tuyển chọn, được tiền định để đón nhận hồng ân quý giá nhất, là Chúa Giêsu, “tình thương nhập thể của Thiên Chúa” (Thông điệp: Thiên Chúa là tình yêu, số 12).
Sau khi đã tuyển chọn và trang điểm cho người nữ ấy với muôn vẻ đẹp và ơn phước, Thiên Chúa đã sai Sứ thần Gabriel đến báo tin và thỉnh ý ngài tại làng quê Nazareth.
Sứ thần cung kính bái chào vì thấy Đức Mẹ cao trọng và trong sạch hơn các thiên thần. Tước hiệu “Bà đầy ơn phước”xác nhận lòng Đức Mẹ không có chổ dành cho tội lỗi vì luôn được đầy tràn ơn phước của Thiên Chúa. “Thiên Chúa ở cùng Bà”: Ở đâu có Thiên Chúa, ở đó bóng tối của tội lỗi không thể có mặt. Mẹ luôn sống trong ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa. “Bà có phúc hơn mọi người phụ nữ”,vì Mẹ là người duy nhất không vướng mắc tội tổ tông.
Đức Mẹ được Thiên Chúa tuyển chọn, ngài đáp tiếng “xin vâng” cách tự do và từ đó Đức Mẹ trở nên thầy dạy tuyệt vời cho nhân loại.
Thiên Chúa không chọn lựa cách độc đoán. Ngài tôn trọng tự do của người đựơc chọn. Ngài sai Sứ Thần đến và muốn Đức Mẹ hoàn toàn ưng thuận theo suy nghĩ và sự tự do của mình. Thiên Chúa “bật mí” cái bí mật từ ngàn đời. Thiên Chúa đã yêu thương con người đến nổi muốn trở thành một con người giữa nhân loại. Và Thiên Chúa đã chọn Mẹ Maria là để Ngài sai Con Một đến giữa nhân loại, thực hiện chương trình cứu độ. Giây phút Đức Mẹ tự do đáp lời “Xin vâng” là khởi đầu bình mình ơn cứu độ cho thế nhân.
Nếu như Nguyên Tổ bị con rắn cám dỗ bằng lờinghi nan, lừa lọc dối trá, gây cuộc nổi loạn, và Adam và Evà đã sa ngã, đau khổ sự chết tràn vào thế gian; thì Sứ thần Gabriel đề nghị một sự tự do ưng thuận. Đức Maria thưa “Xin vâng”, lời ấy đã làm cho Ngôi Hai làm người. Từ đây, nhờ Đức Maria, tin tưởng và vâng phục, nhân loại được liên kết trở lại với Thiên Chúa.
Thái độ “Xin vâng” của Mẹ hoàn toàn khác với Ađam Evà trong câu chuyện vườn địa đàng. Sau khi ăn quả cấm trái lệnh Chúa, Ađam đã đổ lỗi cho Evà, Evà đổ lỗi cho con rắn. Và đó chính là thảm kịch của con người: không ai nhận lỗi, không ai chịu trách nhiệm, không ai có thiện chí nên xã hội mãi chậm tiến, nên hạnh phúc trở thành khó khăn xa vời. Mẹ Maria đã đáp “Xin vâng” không chỉ một lần mà còn nhiều lần trong đời. Mẹ luôn đảm nhận trách nhiệm và chu toàn thánh ý Thiên Chúa. Mẹ Maria mãi mãi là tấm gương cho chúng ta soi trong cuộc đối thoại lắng nghe Lời Chúa và đáp trả Lời Chúa. Thiên Chúa đã chứng tỏ nơi Mẹ điều không thể để trở nên điều có thể. Vì “cái gì cũng có thể đối với người có lòng tin” (Mc 9,23).
Đức Mẹ chính là thầy dạy đức tin và lòng yêu mến. Tin và yêu giống như đôi cánh giúp cho Mẹ bay lên rất cao lên tới Thiên Chúa.Tin và yêu giống như chiếc chìa khóa có thể mở được cánh cửa khó mở nhất. Mở được cả cánh cửa Nước Trời.
Đức Maria đã hiện diện trên núi Calvariô vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh (Ga19,25) và trong nhà Tiệc Ly vào dịp lễ Ngũ Tuần (Cv1,14), chắc hẳn Mẹ cũng là một chứng nhân ưu tuyển của Chúa Kitô Phục sinh; như vậy là hoàn tất việc tham dự vào hết các giai đoạn chính yếu của mầu nhiệm Vượt qua. Ngoài ra, khi đón tiếp Đức Kitô Phục sinh, Đức Maria là dấu hiệu và điểm chỉ tiên báo cho một nhân loại đang hy vọng vào sự hoàn thành sung mãn của mình với việc kẻ chết được sống lại.
Trong mùa Phục sinh, cộng đoàn Kitô hữu khi hướng về Thân mẫu của Thiên Chúa, đã mời Người hãy vui mừng: “Lạy Nữ Vương Thiên đàng, hãy vui mừng, alleluia!”. Họ nhắc lại niềm vui của Đức Maria vì cuộc Phục sinh của Đức Giêsu, kéo dài qua lời mời gọi của thiên sứ vào lúc Truyền tin “hãy vui lên”, ngõ hầu Mẹ trở thành “nguyên nhân vui mừng” cho toàn thể nhân loại.
Hãy lắng nghe những lời giáo huấn của Đức Mẹ và hãy noi gương giáo dục của Đức Mẹ để sống tốt lành và thánh thiện hơn.
Với chúng ta hôm nay, sự vâng lời luôn luôn cần thiết: Người dưới vâng lời người trên, con cái vâng lời cha mẹ, học sinh vâng lời thầy cô, vợ chồng lắng nghe nhau… Đó không chỉ là nét đẹp của cuộc sống hằng ngày và để gia đình, xã hội có tôn ti trật tự mà còn là điều kiện để gia đình hạnh phúc và xã hội bình yên. Chúng ta thử hình dung: Nếu trong một gia đình mà con cái không vâng lời cha mẹ, vợ chồng không biết lắng nghe nhau; ở nhà trường, học sinh không vâng lời thầy cô; xã hội không có trên dưới… thì gia đình, nhà trường, xã hội đó sẽ như thế nào? Thực tế cho chúng ta thấy, vì không biết vâng lời cho nên con cái hư hỏng, trò đánh thầy, hỗn loạn nhiều nơi trong xã hội chúng ta đang sống.
Trong lĩnh vực tôn giáo, “Đức Vâng Lời” lại còn quan trọng hơn gấp bội phần. Đức vâng lời được thể hiện qua việc lắng nghe tiếng Chúa. Tiếng Chúa qua Lời Chúa và các giới răn. Thực hành lời Chúa và tuân giữ các giới răn của Chúa một cách trọn vẹn là chúng ta đang giữ nhân đức vâng lời.
Đức vâng lời còn được thể hiện qua việc vâng nghe sự dạy bảo của các vị bề trên coi sóc linh hồn chúng ta. Đó có thể là Đức Giáo Hoàng, các Giám Mục, linh mục hay cha mẹ anh chị của chúng ta. Đối với các cộng đoàn dòng tu, vâng lời các vị bề trên không chỉ là nhân đức mà còn thực hiện một trong ba lời khấn.
Việc tuân giữ đức vâng lời không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhất là khi không hiểu ý bề trên (như trường hợp của Đức Mẹ) hay khi sự vâng lời đó đòi hỏi chúng ta phải chấp nhận hy sinh, thậm chí là phải đổ máu (như trường hợp các thánh tử đạo). Vì vậy, chúng ta cần phải cố gắng luôn và trong mọi hoàn cảnh hãy thưa với Thiên Chúa như Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu : “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39).
Nhờ tiếng xin vâng của Mẹ Maria, nhân loại đã bước sang một trang sử mới là trang sử Cứu Thế. Ngày hôm nay, để viết lên những trang sử đẹp, rất cần nhiều tiếng thưa xin vâng trong gia đình, Giáo Hội và xã hội. Xin Chúa giúp mọi người chúng ta biết noi gương Mẹ, chấp nhận hy sinh để luôn thưa xin vâng trong những điều đẹp ý Chúa
2024
Những lần hiện ra
6.4 Thứ Bảy trong tuần Bát Nhật Lễ Phục Sinh
Cv 4:13-21; Tv 118:1,14-15,16-18,19-21; Mc 16:9-15
Những lần hiện ra
Nhìn lại bài đọc Tin Mừng hôm nay và các tường thuật về những lần hiện ra của Chúa Giêsu sau khi Ngài từ cõi chết sống lại sẽ cho chúng ta một điểm đáng lưu ý này là: sau khi sống lại, Ngài không tức khắc đi tìm nhóm môn đệ đang tụ họp và cầu nguyện, nhưng Ngài chỉ hiện ra với từng cá nhân hoặc nhóm nhỏ, rồi cho họ sứ mạng truyền đạt tin vui đến với nhóm mười một tông đồ.
Khi hiện ra với toàn thể các môn đệ, Ngài lại khiển trách họ: “Tại sao lại cứng lòng tin?” Chúng ta có thể xem điều trên đây như một mô tả niềm tin của mỗi người. Hơn nữa, ánh sáng của Chúa Kitô Phục Sinh đến với chúng ta tùy theo mỗi thời điểm và mỗi khung cảnh của cuộc sống. Ánh sáng của Ngài buộc chúng ta phải biết cố gắng tìm kiếm để được nhận lãnh.
Nói như thánh Augustinô: “Chúa dựng nên con, không cần có con cộng tác. Nhưng Chúa không thể cứu chuộc con, nếu không có con cộng tác”. “Có con” không có nghĩa là con hiện diện ở đó như một tảng đá quanh năm tiếp thu ánh sáng, nhưng chẳng sử dụng ánh sáng để rồi chịu cảnh vỡ nát của thời gian. Sự hiện diện của con phải là sự hiện diện của một bông hoa luôn hướng về ánh sáng mặt trời. Vì ánh sáng mặt trời là nguồn sức sống cho cây, đồng thời cũng là dịp cho hoa vươn mình khoe sắc.
Vì thế, ánh sáng vui mừng của Ðức Kitô Phục Sinh trước hết là một đáp ứng cho một tâm hồn tha thiết tìm kiếm Ngài. Maria Madalena và các phụ nữ đến mồ từ sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, họ đã được Ngài hiện ra trước hết, dù rằng họ chẳng chiếm giữ một vai trò quan trọng nào trong việc rao giảng Tin Mừng. Tuy nhiên, bên cạnh đó, Ðức Kitô Phục Sinh cũng vẫn luôn quan tâm đến tất cả. Ngài chẳng muốn cho một kẻ nào phải hư mất.
Ðoạn Tin Mừng hôm nay là một tóm kết về những lần hiện ra của Chúa Giêsu khi Ngài sống lại. Thánh Marcô nhấn mạnh đến sự cứng lòng tin của các môn đệ để làm nổi bật chứng từ của Chúa Giêsu hiện ra và mệnh lệnh phải ra đi làm chứng cho Ðấng Phục Sinh. Chúa Giêsu Phục Sinh vẫn mãi mãi là một, nhưng khi hiện ra, Ngài luôn đến với hình dạng của một người xa lạ. Với bà Maria Madalena, Ngài hiện ra như một người làm vườn; với hai môn đệ đi về làng Emmaus, Ngài đồng hành như một lữ khách xa lạ; với các môn đệ chài lưới, Ngài xuất hiện như một người mà họ cũng không nhận ra ngay tức khắc.
Niềm tin vào Ðấng Phục Sinh luôn đòi hỏi các môn đệ phải làm một bước nhảy vọt để từ một người xa lạ, nhận ra dung mạo của Thầy mình. Từ hai ngàn năm qua, chứng từ về Ðấng Phục Sinh cũng luôn diễn ra như thế, từ cuộc sống của cộng đồng tín hữu tiên khởi, qua cái chết của các vị tông đồ đến cuộc tử đạo, của không biết bao nhiêu các tín hữu ở mọi thời đại, cuộc sống tin cậy mến ở mọi nơi là một chứng từ sống động và liên lỉ về Ðấng Phục Sinh.
Niềm tin vào Ðấng Phục Sinh và chứng từ về Ngài luôn được diễn tả bằng một cách sống mới trong cộng đồng. Sách Tông Ðồ Công Vụ ghi lại một bức tranh vô cùng sống động về cuộc sống mới trong Ðấng Phục Sinh ấy. Sự bình an được Ðấng ban tặng đã tạo ra một cộng đồng hòa giải, nghĩa là một nhóm tín hữu sống trong hài hòa hiệp nhất và chia sẻ của cải cho nhau.
Nét nổi bật của cộng đồng này không hẳn là nghèo khó, bởi vì trong đó, không ai phải thiếu thốn điều gì, mà chính là tình yêu thương của mọi người. Của cải vật chất, thay vì là đối tượng của sự chiếm hữu ích kỷ và do đó là nguyên nhân của tranh chấp chia rẽ, đã trở thành bí tích của tình bạn và huynh đệ. Tựu trung, mối Phúc Thật mà Chúa Giêsu tuyên bố khi hiện ra với thánh Tomas “Phúc cho những ai không thấy mà tin” không loại trừ đòi hỏi phải được thấy một cách cụ thể chứng từ về Ðấng Phục Sinh trong Giáo Hội, và chứng từ ấy thiết yếu là chứng từ về tình yêu huynh đệ.
Sự phục sinh của Đức Kitô là trung tâm của đức tin Kitô giáo. Thánh Phao-lô đã quả quyết với chúng ta: Nếu Đức Kitô không sống lại thì đức tin của anh em ra vô ích, rỗng tuếch, không mục đích, vô giá trị, vô dụng, vì anh em vẫn ở trong tình trạng như cũ.
Chúng ta tuyên dương sự phục sinh của Đức Giêsu vào sáng ngày lễ vượt qua. Nhưng tự đáy lòng, sự khó tin vẫn không bao giờ đẩy xa khỏi chúng ta được. Chúng ta không bao giờ thấy Đấng phục sinh, không biết bóng dáng hình hài Người thế nào. Và chúng ta thường nghĩ rằng nếu chúng ta được may mắn như các tông đồ, thì đức tin của chúng ta sẽ không bao giờ lay chuyển, dù gặp bất cứ thử thách nào.
Tuy nhiên, nếu chúng ta chú ý đến Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy rằng đức tin giả thiết đó có nồng nàn bốc cháy như đức tin của các tông đồ. Thánh Mác-cô đã ba lần nhấn mạnh: “Nhưng họ vẫn không tin”, “và các ông vẫn không tin hai người này”, “Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng”.
Tin Đức Giêsu phục sinh đòi hỏi một điều khác nữa cần thiết hơn điều tai nghe mắt thấy. Đó là cảm nghiệm được sự sống lại và được giải thoát. Điều đó đòi hỏi sống cảm nghiệm tích cực, không giới hạn và cởi mở vô cùng.
Tóm lại, đức tin vào Đức Giêsu phục sinh chỉ phát sinh từ lòng trông cậy riêng đối với tôi, riêng đối với mỗi người. Trông cậy có thể được sống lại cho chính bản thân chúng ta trong sự hợp nhất với Người và duy trì được sự hiện diện sâu xa với Người ngay ở đời này.
Niềm tin Phục sinh đã bén rễ sâu và được thực hiện nơi người tín hữu qua mọi thời đại bằng lời nói, bằng lòng can đảm, đôi khi bằng chính mạng sống mình. Cũng chính niềm tin đó mà thánh Stêphanô đã trở nên chứng nhân đầu tiên và trải qua nhiều thế kỷ mãi cho đến ngày nay các chứng nhân tử đạo vẫn nối tiếp làm chứng nhân cho niềm tin Phục sinh, bất chấp mọi thứ kể cả cái chết. Đó là niềm tin của Giáo hội: Đức Kitô Phục sinh và chúng ta cũng được phục sinh
Qua bài Tin Mừng hôm nay, ước mong rằng mỗi người trong chúng ta sẽ biết khám phá ra sự hiện diện của một Thiên Chúa mà phần đông chúng ta tưởng Ngài đã chết. Ngài vẫn luôn hiện diện với ta dù rằng nhiều lúc con người như hoàn toàn chìm trong bóng tối. Ánh sáng của Ngài vẫn dọi chiếu, nhưng theo một góc độ nào đó buộc chúng ta phải nỗ lực tìm kiếm nhiều hơn.
2024
Chúa Phục sinh đang ở giữa chúng ta
5.4 Thứ Sáu trong tuần Bát Nhật Lễ Phục Sinh
Cv 4:1-12; Tv 118:1-2,4,22-24,25-27; Ga 21:1-14
Chúa Phục sinh đang ở giữa chúng ta
Trong suốt tuần bát nhật Phục sinh, mừng ngày Con Thiên Chúa chiến thắng khải hoàn, rất nhiều bài thánh ca mừng Chúa Sống lại, ca ngợi tình yêu bao la của Thiên Chúa, lan tỏa khắp trong cộng đoàn dân Chúa. Chúng ta cùng hát tâm tình : “Nào ta hãy mừng vui, Chúa chiến thắng tử thần rồi, nguồn sống mới chiếu sáng tuyệt vời, Alleluia. Nào ta hãy mừng vui, Chúa đã sống lại rạng ngời, và Máu thánh xóa hết tội đời, Alleluia..”
Trong bài Tin Mừng hôm nay thánh Gioan viết về việc Chúa Giêsu chăm sóc các môn đệ, Chúa Phục sinh không ở xa các môn đệ, khi các ông ở ngoài biển đánh cá, Chúa trên bờ biển gần đó, Người hỏi thăm kết quả công việc, và Người đã chỉ dẫn cho các ông bắt được cá. “ hãy thả lưới bên hữu thuyền thì sẽ được.” Ga 21,6. Người chuẩn bị lửa và nước, bánh với cá.” Khi các ông lên bờ, thấy có sẵn lửa than, trên để cá và bánh” Ga 21,9. Người tự mình trao bánh và cá cho mỗi người như lúc Chúa Kitô đang sống để yêu thương và phục vụ.
Ta thấy thật ấm lòng khi biết Chúa vẫn đồng hành với các ông trong công việc chỉ có điều là chưa ai nhận ra Người, cho đến khi Chúa làm một dấu lạ quen thuộc là giúp các ông lưới được nhiều cá. Thánh Anphongsô cho biết; “ Bạn cần nhận thức rằng Chúa luôn ở trong bạn. Nhưng việc Chúa ở trong bạn khác hẳn với việc Chúa ở trong các loài thọ tạo khác. Thiên Chúa hiện diện trong tâm hồn ta như Ngài đang cư ngụ trong đền thờ Ngài và như đang ở ngay trong nhà Ngài.”
Chúa thể hiện tình yêu thương qua việc cùng đồng bàn với các môn đệ. Điều chúng ta nhận biết một tình yêu thương chân thành là sự quan tâm đến nhau. Nhìn lại cuộc sống của các thành viên trong gia đình Kitô hữu, đã là điểm tựa cho nhau chưa? Mối tương quan giữa cha mẹ con cái có sự thấu hiểu, cảm thông và hy sinh cho nhau khi có chuyện không may xảy đến trong gia đình? Ngược lại, con cái sẽ có trách nhiệm gì khi cha mẹ đến tuổi già? Và trong gia đình sự liên đới bền chặt khi mỗi thành viên biết lắng nghe nhau, và đồng cảm với những khó khăn, cảm nhận nỗi đau buồn mà người anh em đang gặp phải, để kịp thời nâng đỡ, ủi an nhau, như chính là Chúa Phục sinh đã từng làm cho các môn đệ.
Theo Tin Mừng Gioan (Ga 21,1-14), “Simon Phêrô bảo: “Tôi đi đánh cá đây”. Các ông Tôma, Nathanael, các con ông Giêbêđê và hai môn đệ nữa đang ở với nhau nói rằng: “ Chúng tôi cùng đi với ông”. Nhưng đêm ấy các ông không bắt được con cá nào.” Có thể nhận ra tinh thần của các tông đồ đã mất phương hướng khi không còn Chúa bên cạnh? Các ông đã nản lòng và muốn quay trở lại tiếp tục nghề nghiệp ngày trước để sinh sống? Điều gì đã xảy ra ? Với kinh nghiệm dày dạn trong nghề ngư phủ, thế mà cả đêm các ông vẫn không bắt được mẻ cá nào. Chúng ta có cảm nhận rằng nếu chỉ dựa vào sức lực con người mà thiếu ân ban của Chúa, chúng ta sẽ chẳng làm được điều gì.
Các môn đệ đã có thời gian sống với Chúa, được nghe Ngài giảng dạy rất nhiều nhưng bản chất của loài người vốn mỏng dòn dễ sa ngã, ngại khó khăn hay chùn bước trước gian nan vẫn tồn tại trong mỗi người. Chúa Giêsu rất hiểu sự yếu đuối đó, nên vẫn luôn ở bên các ông để kịp thời nâng đỡ, bảo ban. “Hãy thả lưới bên hữu thuyền thì sẽ được” người môn đệ Chúa Giêsu yêu, liền nói với Phêrô: “ Chính Chúa đó”. Chúng ta có cảm nghiệm Chúa đang dõi theo và phù giúp khi chúng ta đặt niềm tin cậy phó thác vào Ngài.
Niềm vui tiếp nối niềm vui: làm theo lời Chúa dạy, các ông có cá để nuôi phần xác, lại được thấy Chúa phục sinh, các ông đã bảo nhau: “Chúa đó”. Khi ấy các ông đã mừng vui biết chừng nào? Trái với đêm qua vắng Chúa: lo lắng, tối tăm, vất vả… biết bao? Chúa Giêsu tiếp tục thân thương dạy dỗ, khích lệ các ông: “đem ít cá mới bắt được tới đây”, Chúa như khẳng định cái mẻ cá vừa xong là chính quyền phép và tình thương của Thầy ban cho các con đấy, chứ tự nhiên thì không có vậy đâu. Đồng thời Chúa như nói lại với các môn đệ: “Thầy vẫn ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.
Chúa Giêsu như đã chuẩn bị kỹ càng để gặp gỡ, để củng cố niềm tin cho các môn đệ: “có sẵn than hồng, với cá đặt ở trên và có cả bánh nữa”. Không rõ ai đã lo trước các thứ đó? Chúa như nhắc lại cho các ông cái phép lạ hôm nọ mà các ông đã chứng kiến ấy, chỉ có hai con cá và năm chiếc bánh thôi mà Thầy đã cho hơn năm nghìn người ăn no mà còn dư mười hai thúng đầy (Ga 6,5-11).
Cuối cùng với cử chỉ yêu thương quen thuộc: “Chúa Giêsu cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá Người cũng làm như vậy”, Chúa muốn các ông nhớ đến bữa tiệc tối yêu thương muôn đời trước khi Người đi chịu chết, mà Chúa đã cam kết tỏ bày với các ông. Còn đối với các ông không những có bổn phận chài lưới mà nuôi thân xác mình, nhưng còn phải “chài lưới người như lưới cá” (Mt 4,12-20). Các ông còn phải thực thi Lời Chúa truyền dạy trong đêm tiệc ly ấy: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Ta” (Lc 9,11b-17 ), mà đem ơn cứu độ của Chúa cho khắp muôn dân.
Nghe Lời Chúa, theo gương các tông đồ, bao đời nay người Công Giáo chăm lo làm ăn không để đói rách phần xác, mà cũng chẳng xao nhãng phần hồn. Một người thân quen chia sẻ với tôi : “Buổi sớm tôi tới nhà thờ để cảm tạ Chúa – Trời đã cho tôi được làm người, sống thêm ngày mới, cùng là đi dạo thể dục, rồi về làm ăn thì tâm hồn thấy quả là an vui”.
2024
Tin tưởng và hy vọng vào Chúa Phục Sinh
4.4 Thứ Năm trong tuần Bát Nhật Lễ Phục Sinh
Cv 3:11-26; Tv 8:2,5,6-7,8-9; Lc 24:35-48
Tin tưởng và hy vọng vào Chúa Phục Sinh
Chúa Kitô Phục Sinh là mầu nhiệm cao cả và là trung tâm điểm của người Kitô hữu. Chúa Phục Sinh để chứng tỏ vinh quang và quyền năng của Ngài, Ngài đã chiến thắng tội lỗi, chiến thắng sự chết, đem lại ơn cứu độ cho tất cả mọi người. Các bài đọc Kinh Thánh hôm nay cũng nói cho chúng ta về việc Chúa Phục Sinh.
Sách Công Vụ cho chúng ta thấy : “Ðấng ban sự sống thì anh em lại giết đi, nhưng Thiên Chúa đã cho Người từ cõi chết sống lại”.
Còn bài Tin Mừng Chúa Giêsu nói với chúng ta: “Ðấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại”.
Vậy trước sự Phục Sinh của Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi để làm gì?
Trước tiên, chúng ta được mời gọi tin tưởng và hy vọng vào Chúa Phục Sinh. Sau khi sống lại, Chúa Giêsu đã hiện ra với các tông đồ.
Tuy nhiên, các ông cứ tưởng Ngài là ma. Thấy thế, Ngài đã cho các ông cảm nhận được sự hiện diện bằng xương bằng thịt của Ngài, khi mời gọi các ông sờ vào thân thể Ngài. Cho đến khi ngồi ăn trước mặt các ông, Ngài phá tan mọi nghi ngờ trong các ông. Ngài đã củng cố niềm tin cho các tông đồ, rằng Ngài đã thực sự sống lại. Chính những điều ấy, càng đem lại niềm tin và niềm hy vọng cho chúng ta.
Trong tông huấn Niềm hy vọng Kitô giáo, Đức Phanxicô có nói: “Đức kitô Phục Sinh là niềm hy vọng của chúng ta và sự sống lại của Chúa Kitô gia tăng niềm tin cho chúng ta”. Nếu Chúa Giêsu không sống lại có lẽ mọi sự đã kết thúc, nhưng không Ngài đã sống lại để chứng tỏ Ngài chiến thắng tội lỗi, chiến thắng sự chết, đó cũng là niềm hy vọng cho sự phục sinh trong tương lai của chúng ta sau này. Thánh Phaolô đã nói những lời mạnh mẽ này trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô: “Nếu Chúa Kitô đã không sống lại thì việc chúng tôi rao giảng sẽ chẳng có nghĩa lý gì; cả đức tin của anh em cũng là những gì vô bổ. Anh em vẫn còn vướng mắc tội lỗi”.
Tiếp theo, chúng ta được mời gọi chấp nhận đau khổ thập giá, để cũng được sống lại với Chúa Phục Sinh. Ai trong chúng ta cũng muốn có một cuộc sống nhẹ nhàng, êm đềm, nhưng đó không phải là điều Chúa muốn. Chúa muốn chúng ta cùng vác thánh giá, cùng chịu đau khổ với Người. Chúng ta được mời gọi nhìn vào nỗi khốn khổ hiện tại của chúng ta: có thể đó là những đau khổ của bệnh tật, những khó khăn trong công việc, trong học tập, trong tình cảm, trong tương quan với anh em.
Tuy nhiên những đau khổ này của chúng ta có là gì so với những đau khổ mà Chúa Giêsu đã phải chịu. Ngài có đủ quyền năng để chọn cứu độ cách dễ dàng, nghĩa là khỏi phải đau khổ và không phải chết. Nhưng không, Ngài đã chọn đau khổ, thập giá. Đây cũng là bài học cho mỗi người chúng ta. Khi gặp đau khổ, chúng ta thường nhìn theo hướng tiêu cực để rồi đổ lỗi, than thở.
Qua thập giá của Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi nhìn đau khổ theo hướng tích cực để nhận ra đau khổ chính là phương thế cứu độ. Vì đau khổ không chỉ giúp tôi luyện đức tin chúng ta mà nhờ đau khổ chúng ta tham dự vào cuộc Khổ nạn của Đức Kitô và kết hiệp với Ngài. “Ðấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại”, nghĩa là Chúa Giêsu đã phải trải qua đau khổ mới tiến vào vinh quang. Như vậy, để đến được vinh quang, chúng ta không có sự lựa chọn nào khác, không có con đường nào khác bằng việc chấp nhận những đau khổ, vác thập giá mỗi ngày.
Cuối cùng, chúng ta được mời gọi hãy để cho Chúa Kitô Phục Sinh biến đổi con người chúng ta. Chúng ta thấy được sự biến đổi rõ rệt từ các tông đồ: Trước khi Chúa hiện ra, các ông là những người nhút nhát, sợ sệt, không dám bước ra khỏi nhà, nhưng sau khi xác tín Chúa đã sống lại thật, các ông đã mạnh dạn ra đi loan báo về Đấng đã sống lại cho mọi người. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà chủ nghĩa vật chất dường như chi phối tất cả tư tưởng, đạo đức cũng như lối sống của con người thế nên hình ảnh Thiên Chúa bị lu mờ.
Con người có quá nhiều tham vọng, không muốn biến đổi và hoán cải. Đứng trước biến cố Chúa Kitô Phục Sinh, mỗi người chúng ta được mời gọi nhìn lại để xem những tiêu cực có tồn tại trong đời mình hay không? Tội lỗi đã làm cho chúng ta chết, nay chúng ta cũng được sống lại, bằng cách để cho Chúa Kitô Phục Sinh biến đổi con người chúng ta: từ con người tội lỗi, thành con người trong sáng; từ con người chỉ sống cho mình, thành con người sẵn sàng chia sẻ phục vụ mọi người; từ con người kiêu căng tự đắc, thành con người khiêm nhu tin tưởng và phó thác vào Chúa.
Chúng ta thấy rằng biến cố Phục sinh chỉ được hiểu và đón nhận một cách đầy đủ nhất khi nó được nhìn nhận như là sự hoàn tất của lời hứa cứu độ mà Thiên Chúa đã loan báo trong suốt thời Cựu Ước. Những chứng từ của Mô-sê, của các Ngôn sứ hay trong truyền thống cầu nguyện của dân Israel (Thánh vịnh) là những nền tảng cần thiết cho những người tin vào Đấng Phục sinh. Chính Đức Giê-su, trong đoạn Phúc Âm hôm nay, đã mở trí cho các môn đệ nhằm giúp các ông hiểu Kinh Thánh và lời của Kinh Thánh chép về Người: “Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại”.
Trước sự sống lại của Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi: tin tưởng và hy vọng vào Chúa Phục Sinh; chấp nhận đau khổ thập giá, để cũng được sống lại với Chúa Phục Sinh; và để cho Chúa Kitô Phục Sinh biến đổi con người chúng ta. Chúa chính là ánh sáng, là tình yêu, là bình an, là niềm vui và là niềm hy vọng của chúng ta. Ước gì tình yêu Chúa Giêsu Phục Sinh thúc đẩy chúng ta phục sinh chính con người chúng ta.
