2024
THIÊN CHÚA LUÔN Ở KỀ BÊN
13.4 Thứ Bảy trong tuần thứ Hai Mùa Phục Sinh
Cv 6:1-7; Tv 33:1-2,4-5,18-19; Ga 6:16-21
THIÊN CHÚA LUÔN Ở KỀ BÊN
Tin Mừng hôm nay nói đến sự sợ hãi bối rối nơi các Tông đồ. Có lẽ chẳng phải do tình cờ mà các thánh sử đã đặt phép lạ Chúa Giêsu đi trên mặt nước liền sau phép lạ hoá bánh ra nhiều. Cả hai phép lạ có chung một chủ đề là quyền năng của Chúa Giêsu trên thiên nhiên và các vật vô tri vô giác. Trước mỗi phép lạ các môn đệ đều bị đẩy vào tình trạng lo sợ.
Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta cảm thấy bị Thiên Chúa bỏ rơi, bỏ mặc cho bão táp xô đẩy. Thật ra Ngài vẫn có đó. Ngài ban cho chúng ta lý trí, tự do, ý chí và ân sủng để có thể lướt qua sóng gió cuộc đời. Có thể đến khi thuyền cập bến chúng ta mới được đối diện với Thiên Chúa, nhưng không vì thế mà cho rằng Ngài vắng mặt, bởi vì Ngài thấy trước những gì sẽ xảy ra và những gì Ngài sẽ làm.
Cuộc đi biển của các ông lần này không có Đức Giêsu hiện diện, bởi lẽ Ngài đã đi trước một mình vì dân chúng đang muốn tôn Ngài lên làm vua theo ý của họ.
Đang đi theo lộ trình và khi trời đã tối, họ bị trận cuồng phong bất ngờ ập tới. Tuy các ông là những người có nhiều kinh nghiệm về biển cả, họ là những tay nghề lão luyện trong giới thủy trình. Ấy vậy, khi sóng gió nổi lên, họ cũng trở thành bé nhỏ và yếu ớt trước sức mạnh của cuồng phong. Sự sợ hãi đó được cộng thêm với hình bóng của Đức Giêsu đi trước mặt thuyền mà họ không biết… Vì thế, trong đầu các ông đang hốt hoảng, hoang mang, và ai nấy đều run sợ, thì Đức Giêsu lên tiếng trấn an các ông: “Thầy đây đừng sợ”.
Đọc lại bài Tin Mừng này trong thánh lễ hôm nay, Giáo Hội mời gọi chúng ta ý thức rằng: cuộc đời lữ thứ trần gian của mỗi người như một hành trình của các thuyền nhân đi biển. Sống lênh đênh trên biển, mới thấy mình nhỏ nhoi. Đối diện với bão táp phong ba mới thấy mình bất lực, và được Chúa yêu thương, hiện diện thì ngay lập tức được bình an.
Tin Mừng hôm nay muốn cho chúng ta thấy một Chúa Giê-su có quyền năng, không tùy thuộc vào những giới hạn thiên nhiên áp đặt. Chúa Giê-su đi trên mặt nước không bị chìm, không bị nguy hiểm bởi sóng to gió lớn trên mặt biển. Quyền năng của Chúa được diễn tả bằng lời xác nhận của Ngài: “Thầy đây, đừng sợ”. Trong Phúc âm Gio-an cách nói: “Ta đây (Thầy đây) Ego sum”, đó là cách nói diễn tả về Thiên Chúa, nhắc đến Gia-vê Đấng mạc khải cho Mô-sê “Ta là Đấng tự hữu”.
Chúa Giê-su đi trên mặt biển đến với các Tông đồ để mạc khải cho các ông nhận ra Ngài là Thiên Chúa, là Đấng tự hữu. Đáp lại, thái độ của dân chúng chỉ nhìn Ngài như một tiên tri, một con người phi thường và muốn tôn Ngài lên làm vua. Họ hiểu sai về Chúa. Biến cố Chúa đi trên mặt nước chứng tỏ cho các môn đệ nhìn thấy một thực thể đúng thật là Ngài. Ngài là Thiên Chúa, là “Đấng Tự Hữu”.
Cuộc đời của mỗi người chúng ta cũng có thể ví như là một cuộc vượt Biển. Đi trên Biển là một cuộc hành trình đầy rủi ro và hiểm nguy, bởi lẽ, biển thường xảy ra dông tố bão bùng! Và khi một con tàu bé nhỏ phải đối đầu với sóng to, gió lớn giữa đại dương mênh mông nước thì nó sẽ chao đảo, và có nguy cỡ sẽ bị sóng gió nhấn chìm! Muốn vượt qua Biển Cả một cách an toàn chúng ta chỉ còn biết cậy trông và tin thác vào một mình Thiên Chúa mà thôi, vì Ngài làm chủ trời đất, Ngài ra lệnh là Biển phải im tiếng là nó phải vâng lời.
Trong cuộc sống của mỗi chúng ta, Chúa luôn dõi theo, luôn đồng hành để Ngài nâng đỡ, cứu giúp kịp thời mỗi khi chúng ta gặp gian nan thử thách. Có điều chúng ta có nhận thấy Chúa luôn bên cạnh mình hay không? Nói một cách hình tượng là Bàn Tay của Chúa luôn giơ ra, điều quan trọng là chúng ta có nhận ra bàn tay của Ngài để rồi đặt bàn tay của mình vào cho Ngài nắm lấy mà kéo chúng ta ra khỏi chốn hiểm nguy, gian nan hay không?
Chúng ta đã nhận nơi Thiên Chúa rất nhiều ân huệ. Ân huệ cao trọng nhất, vĩ đại nhất là Chúa đã đổ Máu Mình ra mà cứu chuộc chúng ta, rồi còn biết bao ơn lành hồn xác mà hằng ngày ta được Chúa ban cho cách nhưng không nữa. Bởi vậy, để đáp đền ân cao nghĩa dầy này, chúng ta phải có bổn phận làm sáng Danh Ngài bằng việc nghe và thực thi những điều Ngài dậy: Đó là phải biết sống cho đi, luôn yêu thương, sống bác ái và phục vụ. Được như thế thì chúng ta mới báo đáp lại được một trong muôn ngàn ân tình của Ngài đã thực hiện cho chúng ta.
Giữa phong ba thử thách của cuộc đời, xin cho chúng ta luôn tin tưởng vào sự hiện diện quyền năng và yêu thương của Chúa, nhờ đó chúng ta an tâm đi chọn cuộc hành trình và đạt tới bến bờ an bình. Xin cho chúng ta luôn nghe được tiếng Chúa nói: “Thầy đây, đừng sợ” để luôn vững tin trong mọi hoàn cảnh
Thế giới hôm nay đang đứng trước những vấn nạn to lớn về vấn đề niềm tin và hệ quả của nó là sự khủng hoảng về luân lý; khiến một thế giới dễ bị tổn thương nay lại càng dễ bị chao đảo và ngả nghiêng hơn. Giáo Hội hôm nay chác chắn cũng có kinh nghiệm như nhóm môn đệ ngày xưa, vất vả một mình chống chọi với sóng gió, khi không có Thầy Giê-su ở bên.
Cuộc đời mỗi Ki-tô hữu cũng thế, ta sẽ học được bài học gì ngày hôm nay khi cuộc đời mỗi người luôn gặp sóng gió, luôn gặp những bất lợi không mong muốn, luôn gặp những tai ương hay bệnh tật ? Đó có phải là cơ hội để củng cố đức tin của mình hay không, hay đó chính là những thách đố để chúng ta buông xuôi, thất vọng và chán nản. Ta có khám phá ra Chúa Giê-su luôn yêu thương mình, luôn hiện diện trong nỗi khốn cùng của mình hay không?
Phải vững tin rằng: Chúa không hề bỏ chúng ta, dù có lúc Ngài để chúng ta một mình. Phải tập nhận ra Ngài vẫn có mặt trong thế giới hôm nay qua những dấu chỉ thời nay.
2024
LÒNG QUẢNG ĐẠI
12.4 Thứ Sáu trong tuần thứ Hai Mùa Phục Sinh
Cv 5:34-42; Tv 27:1,4,13-14; Ga 6:1-15
LÒNG QUẢNG ĐẠI
Phép lạ bánh và cá được hóa ra nhiều là phép lạ duy nhất được tường thuật trong cả bốn Phúc Âm. Ðiều này chứng minh cho chúng ta biết tầm quan trọng của dấu lạ này trong toàn bộ giáo huấn của Chúa Giêsu, cũng như trong sinh hoạt của cộng đoàn Kitô tiên khởi thời các tông đồ.
Những người Kitô đầu tiên thường dùng dấu hiệu bánh và cá để nói lên niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Ðấng cứu rỗi thế gian, và là của ăn ban sự sống đời đời. Chúa Giêsu sẽ giải thích điểm này rộng rãi hơn trong bài giảng tiếp sau biến cố phép lạ bánh và cá được hóa ra nhiều. Chúng ta sẽ lần lượt suy niệm về những lời giảng dạy này trong những ngày tới.
Trong những phút suy niệm hôm nay, chúng ta hãy chú ý đến thái độ của dân chúng đối với dấu lạ Chúa thực hiện. Có thể nói rằng dân chúng đã hiểu lầm ý định của Chúa Giêsu. Nói cách khác, chúng ta có thể nói rằng dân chúng đã trần tục hóa biến cố, họ hiểu biến cố trong lăng kính vụ lợi vật chất cho bản thân. Phúc Âm theo thánh Gioan ghi lại chi tiết này: “Sau biến cố, dân chúng muốn bắt Chúa đi mà tôn lên làm vua”, có lẽ để tiếp tục phục vụ cho những lợi lộc vật chất, cho những tham vọng của họ.
Thay vì biến đổi con người mình trở nên sẵn sàng hơn để lắng nghe sứ điệp của Chúa muốn nói với họ. Hãy cố gắng để được ăn của ăn không hư nát, để được sống đời đời, thì dân chúng lại giới hạn dấu lạ trong chiều kích trần tục của cơm bánh để nuôi sống thể xác mà thôi. Ðây có thể nói là một trong những cám dỗ thường hằng của con người qua mọi thời đại, cám dỗ bắt buộc Thiên Chúa phải và chỉ phục vụ cho những nhu cầu vật chất trần tục mà thôi.
Phép lạ bánh hoá nhiều, đó là một lời tiên báo về Bí Tích ThánhThể mà Chúa Giêsu sẽ thực hiện sau này. Bí Tích Thánh Thể, cũng như những ơn mà chúng ta đươƯc qua Bí Tích đó, đó là những đoá hoa mà chúng ta có thể chiêm ngắm nhờ “ống kính vạn hoa Đức Tin”. Bởi chỉ có Đức Tin, chúng ta mới thấy được vẻ đẹp cũng như ân sủng lớn lao mà Chúa Giêsu dành cho chúng ta trong Bí Tích này. Chỉ có Đức Tin chúng ta mới nhận ra được rằng Bí Tích Thánh Thể là hoa trái của tình tình thương lớn lao mà Chúa dành cho loài người.
Tin Mừng thuật lại việc Đức Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều. Khởi đi từ lòng thương xót của Ngài: “Ngước mắt lên, Đức Giêsu nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Philípphê: ‘Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?’”(Ga 6, 5).
Tiếp theo là tấm lòng quảng đại của một em bé: “Có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá”, và, Đức Giêsu đã tiếp nhận tấm lòng nhỏ bé nhưng tinh thần lớn lao của em để kết hợp với lòng thương xót của Ngài, Ngài làm nên chuyện phi thường là làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều để nuôi dân chúng (x. Ga 6, 11).
Ai nấy đều được no nê nhờ vào tấm lòng của vị Mục Tử Giêsu và sự quảng đại của em nhỏ.
Bài học mà Giáo Hội đón nhận từ phép lạ ấy thật rõ ràng: lòng quảng đại, sự san sẻ của con người là chìa khóa giúp giải quyết vấn đề nghèo đói. Chúa Giêsu vẫn tiếp tục hiện diện trong Giáo Hội của Ngài, và Giáo Hội tin rằng Ngài vần tiếp tục nhân bánh và cá ra nhiều cho những người nghèo đói. Qua bao nhiêu thế kỷ với những đóng góp và chia sẻ của các tín hữu, đã có biết bao người được ăn uống no nê. Những hoạt động từ thiện những chương trình trợ giúp phát triển của Giáo Hội vì những phép lạ mà Chúa Giêsu không ngừng thực hiện cho những người nghèo đói. Những mẹ Têrêxa Calcutta, những cha Pierre, những nữ tu Emmanuel và bao nhiêu gương mặt âm thầm khác trong Giáo Hội, đó là những em bé với 5 chiếc bánh và 2 con cá đa đõng góp vào việc thực hiện phép lạ.
Có một em bé có năm chiếc bánh và hai con cá…Đó có lẽ là phần ăn của một em bé ngày hôm đó. Bài Tin Mừng hiểu ngầm rằng em đã sẵn sàng dang cho Chúa Giêsu để Ngài làm phép lạ hôm nay. Sự sống của đám đông người nay cần phải có sự đóng góp nhỏ bé của một em nhỏ. Điều đó rất có ý nghĩa đối với chúng ta hôm nay. Ta có thể coi đây là phép lạ của lòng quảng đại của em bé nầy. Chúa làm cho sống, Chúa nuôi con người nhưng Chúa cũng cần sự đóng góp nhỏ bé của chúng ta.
Vì thế, trong cuộc sống, những chia sẻ của chúng ta đối với người nghèo nhiều khi chỉ là như hạt muối bỏ vào biển. Nhưng chúng ta cứ quảng đại đóng góp, phần còn lại để Chúa lo. Từ sự quảng đại tuy nhỏ bé của chúng ta, Chúa có thể làm những việc to lớn.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết chia cơm sẻ bánh cho nhau, tức là sống với nhau trong tinh thần liên đới, trách nhiệm. Đạo Công Giáo không bao giờ chấp nhận chuyện mạnh ai nấy sống. Sống như thế là ích kỷ, là chỉ biết đến cái bụng mà không hề làm cho trái tim lớn lên trong tình yêu.
Bên cạnh đó, chúng ta còn học được bài học tin tưởng, phó thác nơi Chúa, vì có Chúa là có tất cả, không chỉ vậy, mà còn dồi dào. Hình ảnh các môn đệ “thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng” có ý muốn nói và củng cố cho chúng ta về lòng tín thác nơi Thiên Chúa.
2024
Đấng từ trời mà đến
11.4 Thứ Năm trong tuần thứ Hai Mùa Phục Sinh
Cv 5:27-33; Tv 34:2,9,17-18,19-20; Ga 3:31-36
Đấng từ trời mà đến
Tin Mừng hôm nay theo thánh Gioan: “Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người”. Chúa Phục sinh làm tăng thêm lòng tin của con người, khi thân xác trở về với tro bụi thì linh hồn ta vẫn chờ ngày Chúa trở lại phán xét. Thánh Anphongsô từng nói: “Con hãy nhớ, những việc con làm đều có quan hệ đến phần rỗi đời đời. Vì thế, con phải làm hết sức cẩn thận, vì con sẽ phải trả lẽ trước mặt Chúa về các việc con đã làm”. Hay theo Mt16,26 “Lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn mình thì được ích gì?
Chúa Giêsu khẳng định về mình: “Đấng từ trên cao mà đến thì ở trên mọi người”. Người đã nói, đã làm chứng về những gì Người đã thấy nơi Thiên Chúa Cha trên trời. Chúa Giêsu chính là Đấng ấy được sai đến trần gian.
Chúa Giêsu cũng dán tiếp chê trách những người Pharisêu và gọi họ là những kẻ “từ đất mà ra thì thuộc về đất và nói những chuyện dưới đất”. Do vậy khi nói những chuyện trên trời họ chẳng hiểu được.
Chúa Giêsu là người duy nhất đầu tiên được nghe, được thấy những chuyện trên trời mà đem nói lại cho nhân loại. Nhưng tiếc rằng người nghe là những Pharisêu thời đó”. “chẳng ai nhận ra lời chứng của Người”.
Chúa Giêsu càng về cuối Chúa càng khẳng định rõ ràng hơn về con người của mình “: Đấng được Thiên Chúa sai đi thì nói những lời của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ban Thần khí cho Người vô ngần vô hạn. Chúa Cha yêu thương Người Con và đã giao mọi sự trong tay Người”. Đó là quyền năng ban phát quyền sinh, quyền tử mà chẳng có vị thủ lãnh nào ở trần gian này có được: “Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời, còn kẻ nào không chịu tin vào người Con thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy”.
thánh Gioan trình bày cho chúng ta biết Đức Giê-su chính là Con Thiên Chúa. Đấng rất cao trọng đã từ trời cao mà đến trong thế gian này để mặc khải cũng như làm chứng cho nhân loại biết về những sự ở trên trời mà loài người với trí khôn giới hạn không thể nào hiểu thấu được. Quan trọng nhất: Chúa Giê-su đã khai mở cho nhân loại biết về màu nhiệm một Thiên Chúa, nhưng Ngài có Ba Ngôi. Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần. Một Thiên Chúa yêu thương nhân loại, muốn cho loài người được sống trong sự che chở cúa Ngài. Chúa Cha yêu thương loài người nên trao ban Chúa Con và mọi sự trong tay Ngài. Vì thế ai tin vào vào Chúa Con thì được sự sống đời đời, còn kẻ nào cố chấp cứng lòng không tin vào Người Con thì không được sự sống và rồi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sẽ giáng phạt trên kẻ ấy.
Trong các nhân vật lịch sử thế giới, từ cổ chí kim, từ đông sang tây chưa có ai ngoài Chúa Giê-su Đấng từ trời cao mà đến đã phán rằng: “Ta là đường, là sự thật, là sự sáng và là sự sống, ai tin ta thì không đi trong tối tăm, mà đi trong ánh sáng mang lại sự sống đời đời.”
Đôi khi chúng ta trách móc người Do Thái khi xưa rằng đã thấy những sự lạ mà Chúa Giê-su đã thực hiện tỏ tường trước mắt họ nhưng họ vẫn cứng lòng không chịu đặt niềm tin nơi Chúa Giê-su. Nhưng nếu ngày nay, cho dẫu chúng ta có tin Chúa, nhưng chỉ tin thôi mà không thực hành những điều Người dạy thì chúng ta còn đáng trách hơn những người Do Thái năm xưa vậy!.
Thiên Chúa đã yêu thương con người như thế, nhưng con người đã đáp lại lời mời gọi của Ngài như thế nào? Nhân loại đã đón nhận lời Ngài cách tích cực chưa? Chúng ta thấy một thực trạng rằng, rất nhiều người vẫn còn phớt lờ lời Hằng Sống ấy.
Đứng trước bao việc Chúa làm, với một tâm trí ngay thẳng, chúng ta phải khiêm nhường nhìn nhận giới hạn của chúng ta rằng: rất nhiều điều trong cuộc sống này, chúng ta vẫn còn chưa biết đến, vì vũ trụ quá bao la, trong khi khả năng hiểu biết của con người thì quá bé nhỏ hẹp. Nếu con người chưa biết hết được những gì xảy ra dưới đất, làm sao có thể thông suốt những sự trên trời?
Ngôn sứ Isaia cũng đã từng tuyên sấm cho dân Ít-ra-en rằng: “Trời cao hơn đất bao nhiêu thì tư tưởng và đường lối của Ta cũng cao hơn các ngươi bấy nhiêu” (Is 55,9). Vì có sự khác biệt lớn lao như thế, nên con người không thể hiểu những gì từ Thiên Chúa, nếu những điều đó không được mặc khải và soi sáng cho con người. Chúa Giêsu đến để mặc khải cho con người những mầu nhiệm của Thiên Chúa và Chúa Thánh Thần soi sáng cho con người để họ có thể hiểu những chân lý này. Vì vậy Chúa Giêsu mới nói: “Người làm chứng về những gì Người đã thấy đã nghe, nhưng chẳng ai nhận lời chứng của Người. Ai nhận lời chứng của Người, thì xác nhận Thiên Chúa là Đấng chân thật.”
Sở dĩ với dân chúng xưa, cụ thể là người Do thái từ thời Cựu ước đến nay, họ không tin vào Đức Kitô là vì từ trước tới giờ họ chỉ tin có Một Thiên Chúa. Tuy họ biết, theo lời các ngôn sứ, Thiên Chúa sẽ gởi Đấng Thiên Sai đến để cứu chuộc dân; nhưng họ tin Ngài là Đấng sẽ dùng uy quyền mà cứu chuộc và thống trị dân, chứ không phải bằng khiêm nhường chịu đau khổ như Đức Kitô. Chúa Giêsu đến cắt nghĩa cho họ biết về sự liên hệ giữa Thiên Chúa và Ngài, Người được Thiên Chúa sai đến, nhưng họ từ chối không tin vào lời chứng của Người. Chúa muốn nhắc nhở cho họ biết nếu họ chưa thông suốt việc dưới đất, làm sao có thể thông suốt việc trên trời.
Trong Bài đọc I hôm nay, các Tông đồ cũng dạy chúng ta rằng: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm.” Trong Cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Đức Kitô, tất cả các Tông-đồ và Thượng Hội Đồng đều chối từ và chống lại Thiên Chúa. Tuy nhiên, Thiên Chúa không kết tội con người, nhưng Ngài muốn con người phải chịu trách nhiệm về những việc mình làm: Nếu họ đã làm sai, hãy có can đảm chấp nhận và tìm cách sửa sai; chứ không thể cứ nhắm mắt và đổ lỗi cho người khác.
Mặc dù các ông đã chối từ và bỏ chạy trong Cuộc Thương Khó, nhưng khi được Chúa Giêsu hiện ra, các ông đã nhận ra tội của mình; và sau khi được củng cố bởi quyền lực của Thánh Thần, các ông mạnh dạn ra đi và làm chứng cho Đức Kitô trước mặt mọi người: Trước tiên, các Tông-đồ tố cáo Thượng Hội Đồng tội giết Đấng Thiên Sai: “Đức Giêsu đã bị các ông treo lên cây gỗ mà giết đi.” Sau đó, các ông vạch ra cho mọi người nhìn thấy uy quyền Thiên Chúa: “Nhưng Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã làm cho Người trỗi dậy, và Thiên Chúa đã ra tay uy quyền nâng Người lên, đặt làm thủ lãnh và Đấng Cứu Độ, hầu đem lại cho Israel ơn sám hối và ơn tha tội.”
Tin vào Đức Kitô là sự cần thiết để có được sự sống đời đời. Tuy nhiên, điều quan trọng là biết sống cho niềm tin đó, bằng cách biến đổi cuộc sống theo gương của Chúa Giêsu và thực hành những lời Ngài đã khuyên dạy. Thánh Phaolô đã nói: “Anh em hãy mặc lấy tâm tình của Chúa Kitô”, nghĩa là khi xác định niềm tin yêu và hy vọng vào Chúa, chúng ta sẽ đứng vững trong mọi nghịch cảnh và thử thách của cuộc sống, để rồi chúng ta sẽ cảm nhận được tình yêu thương bao la của Thiên Chúa dành cho chúng ta.
2024
Tái sinh
9.4 Thứ Ba trong tuần thứ Hai Mùa Phục Sinh
Cv 4:32-37; Tv 93:1,1-2,5; Ga 3:7-15
Tái sinh
Hẳn chúng ta đã biết, Nicôđêmô là một người vị vọng trong dân Do thái. Ông kính phục và dành cho Chúa Giêsu nhiều cảm tình tốt đẹp. Ông muốn tìm hiểu thêm về giáo lý của Ngài nhưng vì sợ người Do thái dị nghị, ông không dám tìm gặp Chúa vào ban ngày, nên đã tìm gặp Chúa vào ban đêm. Và trong cuộc trao đổi thân mật ấy, Chúa Giêsu đã đề cập tới sự cần thiết phải lãnh nhận bí tích Rửa tội để được ơn cứu độ. Ngài nói với ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.
Người Kitô hữu được tái sinh bởi nước và Thần Khí qua bí tích Rửa Tội. Nước ân sủng, nước từ trái tim Con Chúa đổ ra tẩy rửa tội nguyên tổ và tội riêng trong quá khứ. Được nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong mầu nhiệm vượt qua. Đồng thời tham dự quyền lợi và bổn phận thi hành ba chức năng của Đức Kitô (Ngôn sứ, Tư tế, Vương đế). Còn Thần Khí tiếp tục thánh hóa, thúc đẩy linh hồn sống Chân lý cho thăng hoa đến mức hoàn thiện trong nước trời.
Con người cần phải được “tái sinh bởi ơn trên”. Đó là phải lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội. Nhưng ở đây còn có những ý nghĩa khác nữa. “Sinh ra lần nữa bởi ơn trên” nghĩa là chúng ta vui mừng đón nhận ơn lành từ phép Rửa Tội như là một nguồn sống mới cho cả nhân loại.
Trình thuật Tin Mừng hôm nay cho biết ông Ni-cô-đê-mô – một thủ lãnh của người Do-thái – chọn thời điểm yên tĩnh nhất trong ngày (vào ban đêm ) đến gặp Đức Giê-su để giải quyết nỗi bất an thắc mắc trong lòng ông làm sao để nhìn thấy Nước Thiên Chúa và làm sao có thể vào Nước Thiên Chúa ?
Đức Giê-su đã trả lời ông: “Không ai có thể thấy được Nước Thiên Chúa, nếu không được tái sinh (sinh ra một lần nữa) bởi Ơn trên” và “không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra bởi nước và Thần Khí”.
Đối với thánh Gio-an Tông đồ theo bản văn Tin Mừng thì được tái sinh do bởi Ơn trên chính là Tin.
Tin là nhìn nhận Đức Giê-su chính là Con và là sứ giả của Chúa Cha (x. Ga. 17,21-25)
Tin là đến với Đức Giê-su và gặp gỡ Người (x. Ga. 6,35-37)
Tin là nhận biết Đức Giê-su và cùng với Người biết Chúa Cha (x. Ga. 10,38; 14,7.20)
Do đó,
Tái sinh bởi Ơn trên là được các dấu lạ khơi động tâm thức bản thân và nhờ lời chứng của Thiên Chúa nâng đỡ cho ai được tái sinh.
Tái sinh bởi Ơn trên là cởi bỏ con người cũ trở thành như trẻ thơ.
Tái sinh bởi Ơn trên là hoàn toàn chấp nhận lệ thuộc vào Thiên Chúa hành động, là khước từ tự cứu lấy mình bằng những cố gắng, những lý lẽ và phương tiện riêng của mình.
Đức tin đòi buộc người tín hữu xem việc thực hiện thiên chức ngôn sứ như một sứ mạng cao cả. Đã được Thiên Chúa Ba Ngôi trao ban qua lời dạy của Chúa Giê-su: “anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (Mt 28. 18-20). Ý thức vai trò của mình trong sứ mạng được trao ban này, thánh Phao-lô đã khẳng khái tuyên bố “khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9. 16). Cùng chung hưởng dòng máu thanh tẩy, cùng nếm trải tình yêu vô bờ của mối tình thập giá Chúa Ki-tô
Chúa Giêsu khẳng định với ông Nicôđêmô: Không ai có thể nhìn thấy và vào được Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa nhờ bởi ơn thiêng (x. Ga 3,5-7). Sinh ra một lần nữa, cũng có nghĩa là tái sinh vậy.
Chúa Thánh Thần được sai đến để thánh hóa Giáo hội luôn mãi, để các tín hữu Chúa có thể đến với Chúa Cha qua Ðức Kitô trong Chúa Thánh Thần (x. Ep 2:18). Giáo hội luôn dạy rằng mỗi người chúng ta được thông chia sự sống của Thiên Chúa, khi được nhận lãnh Chúa thánh thần qua bí tích Thánh Tẩy. Chính bí tích Thánh Tẩy cứu thoát mỗi người chúng ta, cho chúng ta sự sống mới nhờ sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô (x. 1Pr 3,21).
Chúa Thánh Thần thông ban đức tin, đức cậy, và đức ái; làm cho chúng ta có thể phát triển trong mối quan hệ với Thiên Chúa và với tha nhân. Qua bí tích thánh tẩy, Chúa Thánh Thần đã tái sinh chúng ta. Ngài cho chúng ta một đời sống mới, đời sống thật sự làm con cái Chúa. Từ đó, sự sống của Thiên Chúa bắt đầu đến với cuộc đời của mỗi người, và làm cho chúng ta trở nên “Con của Thiên Chúa” và trở thành “người thừa kế của Ðức Kitô”.
Thế nhưng, để được tái sinh, thì mỗi người cần phải sám hối, và nhận lãnh phép rửa, để được ơn tha tội, và được nhận lãnh ân huệ là Thánh Thần và hoa trái của Ngài đó là: yêu thương, vui vẻ, bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ. (x. Cv 2,37-38; Gl 5,22-23).
