2024
Khi Thánh Thần Chân Lý đến
8.6Thứ Tư trong tuần thứ Sáu Mùa Phục Sinh
Cv 17:15,2218; Tv 148:1-2,11-12,12-14,14; Ga 16:12-15
Khi Thánh Thần Chân Lý đến
“Ta còn nhiều điều phải nói với các con” (c.12)
Chúng ta hiểu câu nói đó như thế nào ? Chắc chắn rằng Chúa Giêsu đã nói tất cả những gì là giáo lý của ơn cứu rỗi. Không ai thêm hay bớt một dấu phẩy nào vào đó nữa. Vì thế Chúa Giêsu được gọi là Đấng mạc khải hoàn hảo của Thiên Chúa Cha, cho nên không có chuyện gọi là “mạc khải của Thánh Thần”. Tất cả mọi mạc khải đều bởi Chúa Giêsu vì Ngài là “Ngôi Lời của Thiên Chúa” (Gio 1,1.14), là Đấng duy nhất thấy được Thiên Chúa Cha và có quyền “cắt nghĩa” về Thiên Chúa Cha (1,18). Nhưng chân lý mạc khải đó sẽ được hiểu dần trong tinh thần và trong chân lý. Khi hứa ban Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu đã nói: ”Chính Người sẽ dạy các ngươi mọi sự, sẽ nhắc nhở các ngươi mọi điều mà TA đã nói với các ngươi” (14,26).
Đứng trước một chân, thiện, mỹ không dễ gì mà chúng ta lĩnh hội thẩm thấu ngay được. Một bản văn hay mấy mà đưa cho một em bé tiểu học đọc, thì làm sao nó hiểu được cái hay của văn chương. Cho nên phải được học hỏi từ từ. Chính thánh Phaolô Cũng từng ví chúng ta trên lãnh vực siêu nhiên như em bé buổi đầu ăn sữa mẹ, rồi ăn cơm mớm… thịt (1C 3,1).
Để hiểu được một chân lý mạc khải cũng phải dần dần hoặc trong lịch sử đời mỗi người hoặc trong lịch sử nhân loại. Chẳng hạn tín điều về Đức Mẹ hồn xác lên trời mãi tới năm 1950 mới được định tín. Thật ra đây không phải là một giáo lý của Chúa Thánh Thần. Chân lý này đã bao hàm trong kinh thánh, Thánh truyền và trải qua những thế hệ. Chúa Thánh Thần thúc đẩy soi sáng để đi tới quyết định dứt khoát một điều phải tin. Đó là việc của Chúa Thánh Thần.
Chúng ta nên biết rằng tất cả mọi chân lý của Chúa Giêsu cũng đều bởi Thiên Chúa Cha, và Chúa Thánh Thần cũng múc nguồn từ đó. Cho nên tất cả chỉ là một người mà ra. Chính Chúa Giêsu đã từng quả quyết Ngài không nói gì, là gì nếu không nhận được bởi Thiên Chúa Cha (Ga 717. 8,26-40. 12,49. 14.10). Cũng thế Chúa Thánh Thần chỉ giảng dạy những gì nghe nhận được từ Ngôi Cha và Ngôi Con (Gio 15,26). Vai trò của Chúa Thánh Thần là làm sáng tỏ chân lý, khai thông trí hiểu và mở rộng con tim vươn tới sự thật của tình yêu chân lý. Từ đó Chúa Thánh Thần được gọi là “Thần chân lý”, “Thần của sự thật”.
Chúa Thánh Thần không phải là một thầy giáo. Nhưng đúng ra là một người nhắc nhớ, một người giải thích chân lý của một bậc thầy là Chúa Giêsu. Ngài không nói với uy quyền riêng mình như kiểu Chúa Giêsu (Ga 3,32,7,16,17. 8,26-28,12-14.15,15), nhưng chỉ là một Đấng mạc khải của Thiên Chúa Cha và làm vinh danh Ngài (Ga 12,28.14,13. 15,8. 17,4-6).
Chúa Thánh Thần còn là một vai trò nữa, ngoài việc nhắc nhở các tông đồ, Ngài còn một nhiệm vụ là soi sáng áp dụng chân lý vào hoàn cảnh sống của từng thời đại để hiểu và sống chân lý mà đạt tới cùng đích nước trời. Cho nên chúng ta thấy những biến cố đời Chúa như núi Sọ, Phục sinh, lên trời không phải chỉ là một sự kiện lịch sử như bao sự kiện khác. nhưng trái lại một sự kiện đã xảy ra cả hai ngàn năm, nhưng hôm nay âm hưởng của những sự kiện đó vẫn như mới xảy ra nơi mỗi tâm hồn. Đó là việc làm của Chúa Thánh Thần.
Cho nên khi nói Chúa Thánh Thần sẽ làm cho tín hữu Chúa thành những tiên tri không phải để tiên đoán thời tiết, nói tiên tri đâu… Nhưng là để họ khám phá ra ý định của Thiên Chúa trong mỗi hoàn cảnh sống. Giúp họ biết đọc những dấu hiện của thời mình sống để mà sống đúng thánh ý Thiên Chúa. Chị Samaria bên bờ giếng nước thường đã đọc được ý nghĩ sâu của nước Trường sinh (Ga 4,25).
Có hai cái khó khăn làm mờ vai trò Chúa Thánh Thần trong đời sống con người chúng ta là lý trí cằn cỗi và con tim khô cạn. Trí khôn của chúng ta không còn muốn suy tư tìm tòi vết tích của Chúa nữa. Con tim thì khô cạn tình yêu, đem tình yêu đáng lẽ phải dành cho Chúa đi biếu không đâu đâu. Chúng ta cần cầu xin Chúa Thánh Thần sửa đổi lại mọi sự trong ngoài để hiểu được Ngài và chân lý hằng sống của Ngài.
Chúa Giêsu hứa rằng chúng ta sẽ được dẫn đưa vào chân lý trọn vẹn. Phải chăng như thế có nghĩa là chúng ta sẽ biết được mọi bí ẩn của vũ trụ, là chúng ta sẽ có được một kiến thức bách khoa và không có gì nằm ngoài sự hiểu biết của chúng ta trong những thứ đang hiện hữu và cách vận hành của chúng? Tôi không nghĩ như vậy. Phúc âm hôm nay đưa chúng ta vào một chiều kích khác: chân lý trọn vẹn, ấy là một ai đó, một Đấng.
Chân lý trong Kitô giáo là một Đấng đã làm chứng rằng Thiên Chúa yêu thương và cứu độ. Chúa Giêsu làm chứng rằng cuộc sống chúng ta được tiền định để trở nên vĩnh cửu, vượt qua cái chết. Qua bản thân mình, Ngài làm chứng rằng phương cách để biến một cuộc sống có thể bị hủy hoại thành một cuộc sống vĩnh cửu là dâng hiến mạng sống mình cho người khác.
Trong Kitô giáo, ta tin vào một Đấng, và Đấng ấy nói thật. Chứng từ Ngài thì chân thật. Ta không tin vào những nguyên tắc, những mầu nhiệm: những chân lý: ta tin vào một Đấng. Mặc khải của Thiên Chúa cho biết về một Đấng đang hành động một cách nhân từ đối với con người.
Chúng ta đã quá coi trọng những công thức đến độ tin rằng mình có đức tin khi chấp nhận những công thức, những tín điều. Nhưng chúng ta không bao giờ chạm đến được Đấng mà các nhà thần học đã chôn vùi dưới trăm ngàn từ ngữ.
Trong Thánh lễ, chúng ta hãy chúc tụng Chúa vì đã cho chúng ta đạt đến đức tin. và hãy cảm tạ Người vì đã ban cho chúng ta Thánh Thần, Đấng tiếp tục mặc khải cho chúng ta điều kỳ diệu là Chúa Giêsu Kitô, Đấng chân thật mà chúng ta có thể hoàn toàn tin cậy và tín thác vào Ngài.
2024
Chúa Thánh Thần là Đấng tố cáo thế gian
7.5Thứ Ba trong tuần thứ Sáu Mùa Phục Sinh
Cv 16:22-34; Tv 138:1-2,2-3,7-8; Ga 16:5-11
Chúa Thánh Thần là Đấng tố cáo thế gian
Chúa Giêsu loan báo Ngài sẽ ra đi, nhưng Ngài sẽ gửi Chúa Thánh Thần đến để làm chứng cho Ngài, và Chúa Thánh Thần sẽ đến để thực thi sứ vụ là tố cáo thế gian vì đã không tin nhận Chúa Giêsu. Người cũng tố cáo những điều sai lỗi mà thế gian đã làm.
Nói cách khác, Người đến làm cho Lời của Chúa Giêsu được bừng sáng lên, đồng thời cũng làm cho sự xấu xa, tội lỗi bị lên án.
Chúa Kitô đã sống lại, đã phục sinh. Cuộc sống mới của Ngài không còn lệ thuộc, không còn cần đến đời sống của Ngài. Nhưng dù cũ hay mới, một khi Ngài đã lăn xả vào lịch sử với loài người rồi, Ngài không hề bỏ rơi họ được. Ngài có ra đi là “để sửa soạn một chỗ cho họ” (Gio 14,28). “Thầy đi nhưng Thày sẽ ở lại với các con” (Gio 14,28), “Một ít nữa các con sẽ chẳng thấy Thầy, rồi một ít nữa các con lại thấy Thầy” (Gio 16,16), “Thày ở lại với các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Những câu nói trên đây bộc lộ rõ ý định của đức Kitô là Ngài vừa đi vừa ở lại. Ngài tìm cách dung hòa hai việc có vẻ mâu thuẫn đó.
Chúa Kitô đã mấy lần nói trước việc Ngài ra đi từ biệt các môn đệ: “Thầy ra đi thì ích lợi hơn cho các con, vì Đấng phù trợ sẽ đến cùng các con” (c.7). Tuy nhiên nói tới chữ ra đi, chia ly, từ biệt… bao giờ cũng sậm buồn. Sự chia ly bao giờ cũng chết đi trong lòng một ít. Xưa rầy các tông đồ quây quần quanh Thầy mình, mọi sự có Ngài lo cho từ của ăn vật chất đến tinh thần. Giờ đây tới lúc họ ra đi như ăn riêng thì lại mất Thày. Cho nên trên phương diện nhân loại, họ buồn da diết. Nhưng trên phạm vi siêu nhiên thì thật là ích hơn cho họ.
Đang lúc buồn sầu, rồi nghĩ đến giây phút Thầy trò chia ly, lại nghe nói đến những sự bách hại mai ngày, các Tông đồ thêm chán nản. Chúa Giêsu thương hại, nhìn các ông và hứa sẽ sai Thánh Thần đến ủng hộ các ông. Vì Chúa Giêsu về trời là điều kiện phải có để Thánh Thần đến. Vì thế, bài Tin mừng hôm nay ghi lại lời Chúa Giêsu loan báo về việc Chúa Thánh Thần đến ở với các Tông đồ để an ủi, soi sáng và ban thần lực cho các ông.
Về phương diện tự nhiên ‘ra đi là chết trong lòng một ít’(tục ngữ Pháp). Cuộc ra đi nào ít nhiều cũng thế cả, buồn cho người ở cũng như người đi. Nhưng nếu sự ra đi ấy có ích và nhất là cần thiết thì Chúa Giêsu khuyên chúng ta chấp nhận sự ra đi đó. Đàng khác, có sống thì phải có chết, có đoàn tụ có ngày cũng chia ly, đó là quy luật của cuộc sống, chính Đức Giêsu cũng nếm cảm và kinh qua quy luật đó. Nhưng Chúa chết là để sống lại, ra đi là để đoàn tụ: “Thầy về cùng Cha, để Thầy ở đâu các con sẽ ở đó với Thầy”.
Hơn nữa, Ngài còn nói với các môn đệ: “Thầy ra đi thì có lợi cho các con, vì nếu Thầy không ra đi thì Đấng bảo trợ không đến với các con”, Đấng bảo trợ Chúa nói đây là Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần đến soi sáng, trợ giúp và thúc đẩy các Tông đồ minh chứng về Đức Giêsu và tiếp tục sứ mạng của Ngài.
Động từ “ra đi” trong bản văn Tin mừng được nhắc đến nhiều lần, nhưng mang hai ý nghĩa khác nhau. Trước hết, “ra đi” là đi về cùng Chúa Cha; thứ đến, “ra đi” là không còn ở với các môn đệ một cách thể lý nữa. Có “ra đi” thì có trở về. Thầy Giêsu, sau cuộc Khổ nạn và Phục sinh, sẽ đến với các môn đệ, nhưng đó là sự hiện diện mới mẻ, thiêng liêng hơn, cũng thân mật hơn, thâm sâu hơn. Thầy sẽ gửi Thánh Thần đến dạy dỗ các môn đệ, cho các ông biết rằng từ nay Ba Ngôi Thiên Chúa sẽ đến, ngự trị nơi tâm hồn con người. Thánh Thần cũng sẽ đến làm chứng về Thầy Giêsu, soi sáng cho các môn đệ hiểu được những lời Thầy mình dạy ngày nào. Rốt cùng, đặt thế gian trước sự lựa chọn hoặc tin vào Chúa Giêsu để được cứu rỗi, hoặc cứng lòng ở lì trong tội lỗi.
Chúa Thánh Thần đến, Người sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm:
Chúa Thánh Thần đến sẽ làm chứng về Đức Giêsu là Đấng công chính, và như vậy Người cũng chứng thực về tội lỗi của những người từ chối và giết Đức Giêsu.
Chúa Thánh Thần cũng dùng những dấu lạ, để làm chứng về sự công chính của Đức Giêsu: là Đấng đã tử nạn, phục sinh và lên trời.
Chúa Thánh Thần cũng làm chứng cho sự thật là ma quỷ và tay sai sẽ bị xét xử và luận phạt, vì thập giá của Chúa Giêsu là nguồn ơn cứu độ.
Trong bài hát về Chúa Thánh Thần, có câu: “Thánh Thần khấn xin Ngài đến, hồn con đang mong chờ Ngài… Ngài ơi, xin Ngài mau đến chiếu sáng tối tăm u mê sai lầm, Ngài ơi, xin Ngài mau đến hiển linh Ngài ơi”. Lời khuyên thứ hai của bài Tin mừng hôm nay là chúng ta phải nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng thì mới thấy rõ và đúng những sai lầm của mình.
Ngày nay, qua tiếng nói lương tâm và nơi các dấu chỉ, Chúa Thánh Thần vẫn đang hoạt động và thúc giục mỗi người biết làm lành lánh dữ. Tuy nhiên, vì còn mang nặng tính tự kiêu, ích kỷ và bảo thủ, nên nhiều khi chúng ta đã bỏ qua tiếng nói của lương tâm, không đón nhận Chúa Thánh Thần, vì lý do sợ chân lý, sợ sự thật. Như thế, đôi khi vẫn cứ đi sai đường trệch lối mà không biết, nhưng cũng không thiếu những lúc ta cố tình không chịu biến đổi, dẫu biết điều đó là không đúng, là sai.
Vì thế, việc hồi tâm là điều cần thiết. Bởi lẽ, trong thinh lặng nội tâm, Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta biết được đâu là điều tốt nên làm và đâu là điều xấu nên tránh.
Chúa Giêsu hứa ban Chúa Thánh Thần cho các môn đệ. Chúa Thánh Thần được gọi là Đấng Bảo Trợ sẽ giúp các môn đệ tin vào Chúa Giêsu là Đấng Chúa Cha sai đến để cứu độ.
2024
Thánh Thần Đấng Bảo Trợ
6.5Thứ Hai trong tuần thứ Sáu Mùa Phục Sinh
Cv 16:11-15; Tv 149:1-2,3-4,5-6,9; Ga 15,26-16,4
Thánh Thần Đấng Bảo Trợ
Người Do Thái coi Chúa Giêsu là một kẻ lộng ngôn phạm thượng và các Kitô hữu là những người phản bội Do Thái. Do đó họ giết Chúa Giêsu và bắt bớ các Kitô hữu. Chúa Giêsu đã báo trước điều đó cho các môn đệ biết: “Người ta sẽ loại bỏ các con ra khỏi hội đường. Đã đến giờ kẻ giết các con tưởng làm thế là phụng sự Thiên Chúa.”
Nhưng đồng thời Chúa Giêsu chấn an họ: Chúa Cha sẽ sai Chúa Thánh Thần đến.
Chúa Thánh Thần là Đấng Phù Trợ: Ngài sẽ che chở và bênh vực các môn đệ trong cơn bắt bớ.
Ngài là Thần Chân Lý: Ngài sẽ soi sáng giúp các môn đệ làm chứng cho những người Do Thái biết Chúa Giêsu là Đấng làm theo đúng ý Chúa Cha.
“Đấng phù trợ” dịch từ chữ hy lạp Parakletos, chỉ một nhân vật thế giá đến đứng bên cạnh người bị cáo trong một phiên tòa. Khi nhân vật thế giá đến đứng bên cạnh người bị cáo thì tình hình đổi khác rất nhiều: đối với người bị cáo thì người này bớt sợ và an tâm hơn vì đã có người hỗ trợ tinh thần mình, đồng minh với mình, giúp mình biết trả lời sao cho khéo léo, và khi cần thì đích thân lên tiếng bênh vực mình. Đối với quan tòa thì sự hiện diện của Parakletos bên cạnh bị cáo cũng khiến họ phải nể nang hơn, xét xử khoan hồng hơn.
Thánh Kinh cũng dùng chữ này theo nghĩa rộng, vượt qua khỏi khung cảnh toà án, áp dụng cho nhiều hoàn cảnh khác trong cuộc đời. Thí dụ ngôn sứ Đanien Parakletos bà Susanna khi bà bị hai ông già dê âm mưu kết án oan; Chúa Giêsu là Parakletos của người phụ nữ ngoại tình khi chị bị lôi ra xử án ném đá vì phạm tội ngoại tình.
Còn trong Tin Mừng này, Chúa Giêsu dùng chữ Parakletos để chỉ Chúa Thánh Thần. Các môn đệ của Ngài sẽ bơ vơ giữa thế gian, như những con chiên giữa bầy sói dữ. Thế gian cũng sẽ thù ghét họ, gài bẫy hại họ, làm khó dễ họ, thậm chí còn bắt bớ họ. Nhưng thực ra các môn đệ không bơ vơ vì đã có Chúa Thánh Thần đứng bên cạnh để:
Hỗ trợ tinh thần khi họ cảm thấy cô đơn.
An ủi họ trong những lúc đau buồn.
Che chở họ trong những khi nguy hiểm.
Vạch cho họ thấy những cạm bẫy xảo quyệt mà thế gian giăng ra hại họ.
Dạy họ cách làm cách nói để khỏi bị thế gian bắt bẻ.
Đích thân bênh vực họ.
Và chúng ta đã thấy, Chúa Thánh Thần đã đóng vai Parakletos một cách hữu hiệu thế nào đối với các tông đồ khi các Ngài sống và hoạt động giữa thế gian.
Tin Mừng nhắc chúng ta nhớ đến một Đấng Parakletos mà chúng ta vẫn hằng có sát bên cạnh mình thế mà chúng ta thường quên, đó là Chúa Thánh Thần. Chúng ta quên Ngài đến nỗi nhiều khi chúng ta đọc hay hát kinh Chúa Thánh Thần mà vẫn không nghĩ tới Ngài. Và bởi vì quên Ngài, không nghĩ tới Ngài nên chúng ta thường bị rơi vào tình trạnh cô đơn, buồn chán, lo âu, sợ sệt, ngã lòng…
Chúng ta thấy, sau khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần vào ngày lễ Hiện xuống, cuộc đời của các Tông đồ đã thay đổi toàn diện, từ những người chậm hiểu, hèn nhát, hám danh, ham sống sợ chết, Chúa Thánh Thần đã biến đổi các ông thành những chứng nhân nhiệt thành, tận tâm, can trường, coi thường gian nguy, không thể làm thinh không nói những điều đã nghe, đã biết. Mọi gian khổ, đe doạ, tù ngục, không làm cho các ông thoái lui; trái lại, hết mọi Tông đồ đều lấy máu đào làm chứng cho lời các ông truyền giảng và sẵn sàng chết, để tuyên xưng đức tin vào Đức Kitô. Như vậy, muốn làm chứng về Đức Giêsu, phải có kinh nghiệm bản thân về Ngài, và dựa vào quyền năng của Thánh Thần.
Nói đến truyền giáo, chúng ta thường nghĩ đến các linh mục thừa sai đến rao giảng Tin mừng cho chúng ta. Nhưng sứ mạng truyền giáo bắt nguồn từ Chúa Cha khi sai Con Một Ngài là Chúa Giêsu loan báo cho nhân loại biết tình yêu Thiên Chúa dành cho họ, để “ai tin thì được cứu độ” (x. Ga 3, 36).
Để làm chứng cho Chúa Giêsu, chúng ta không nên chờ đợi sự dễ dàng, nhưng phải sẵn sàng mang lấy cuộc thương khó của Chúa Giêsu nơi thân mình, sẵn sàng đón nhận sự chống đối thù hận của những kẻ không biết Thiên Chúa Cha và cũng không biết Chúa Giêsu. Trong sự yếu đuối mỏng dòn của chính bản thân, chúng ta luôn cảm nghiệm sức mạnh của Thiên Chúa được thể hiện qua chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần hiện diện trong chúng ta. Chính Ngài làm chứng cho Chúa Giêsu và chúng ta cần để mình chìm sâu trong sức mạnh của Ngài, để cùng với Ngài làm chứng cho Chúa.
Kitô hữu là người được kêu gọi làm chứng cho Đức Kitô trước mặt mọi người trong mọi nơi mọi lúc. Chính Chúa Thánh Thần sẽ nâng đỡ và an ủi chúng ta trong sứ mạng làm chứng này.
2024
Thân phận người theo Chúa
4.5Thứ Bảy trong tuần thứ Năm Mùa Phục Sinh
Cv 16:1-10; Tv 100:1-2,3,5; Ga 15:18-21
Thân phận người theo Chúa
Chúa Giêsu đã cho họ biết trước rằng làm môn đệ Ngài thì phải chấp nhận bị thế gian thù ghét. Nhưng thực tế, chúng ta một mặt tránh làm những gì khiến thế gian thù ghét mình, mặt khác còn tìm cách để thế gian yêu thương chiều chuộng mình. Hẳn là chúng ta không nên cố tình chọc tức thế gian, nhưng không nên quên Lời Chúa nói: Chúng con ở giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian.
“Vì các con không thuộc về thế gian… nên thế gian ghét các con.” Người thế gian coi tiền bạc trọng hơn đạo đức, lọc lừa nhiều hơn là chân thật, ai cũng ích kỷ lo cho bản thân, thậm chí chà đạp lên người khác… Kitô hữu không thể sống như họ, cho nên bị họ thù ghét. Vậy, nếu vì phải sống theo lý tưởng tốt đẹp của mình mà bị thế gian thù ghét, chúng ta hãy chấp nhận.
“Nếu thế gian ghét các con, các con hãy biết rằng họ đã ghét Thầy trước.” Chúng ta còn chấp nhận bị thế gian thù ghét vì lý do chúng ta làm môn đệ Chúa, chúng ta phải vác thập giá hằng ngày mà theo Chúa.
Tin mừng hôm nay cho thấy: Chúa Giêsu bị ngược đãi và bị bắt bớ, vì Ngài không thuộc về thế gian. Người môn đệ của Chúa cũng không thuộc về thế gian nữa. Vì thế, họ cũng sẽ bị thế gian ghét bỏ và ngược đãi như Chúa. Chúng ta tin và đi theo Chúa, chúng ta cũng sẽ gặp nhiều gian nan, thử thách và đau khổ. Nhưng Chúa Giêsu đã chiến thắng tội lỗi và Ngài cũng cho chúng ta sức mạnh để chiến thắng. Quan trọng là chúng ta có tin vào Ngài và can đảm chấp nhận bị ngược đãi, bị thua thiệt, bị mất mát vì Ngài hay không?
Chúa Giêsu đã báo trước cho các môn đệ: “Thế gian sẽ thù ghét các con”. Lời Chúa nói lúc nào cũng đúng cho thời bấy giờ và sau này. Lý do thế gian ghét chúng ta: vì chúng ta không thuộc thế gian cũng như Chúa không thuộc về thế gian. Họ ghét Chúa thì các môn đệ cũng bị ghét lây. Ca dao Việt Nam có câu: “Yêu ai yêu cả đường đi, ghét ai ghét cả tông chi họ hàng”.
Nhân tình thế thái thời Chúa Giêsu cũng không ra khỏi cái lẽ thường ấy. Chính vì thế, Chúa Giêsu đã cảnh tỉnh các môn đệ: “Nếu thế gian ghét các con, các con hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước”.
Từ ngữ “thế gian” mang hai ý nghĩa: thứ nhất, chỉ nhân loại cách chung, ví dụ: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của mình cho thế gian”. Thứ hai thế gian là “là những người không chấp nhận Đức Giêsu và thù ghét Ngài. Đây là ý nghĩa trong đoạn Tin mừng này.
Chúa Giêsu phân tích cho các môn đệ hiểu tình cảnh của các ông giữa một thế giới thù nghịch với Chúa: thế gian ghét Chúa thì cũng ghét ai theo Chúa. Sự hiện diện của Chúa phân tách thế giới thành sáng và tối, và Ngài trở thành cớ cho những kẻ ở trong bóng tối ghét bỏ Ngài và những người sống theo ánh sáng, bởi vì ánh sáng phơi bày công việc gian tà của họ.
Nếu các tín hữu Kitô có bị bách hại là bởi vì niềm tin Kitô là thách đố và tra vấn cho những lương tâm con người. Nhìn lại các cuộc bách hại đã và đang diễn ra trong các chế độ toàn trị, người ta cũng thấy rằng: chính vì chủ trương duy vật vô thần mà các chế độ độc tài bách hại Giáo hội. Chính vì đến để làm chứng và nói lên sự thật mà Chúa Giêsu đã bị chống đối, khước từ và loại trừ. Ngày nay, bất cứ ai sống cho sứ mạng ấy, dù đang sống trong xã hội nào cũng đều bị bách hại cách này hay cách khác.
Năm 1968, khi Đức Phaolô VI ra thông điệp “Sự Sống Con Người”, trong đó Ngài lên án não trạng chống lại sự sống của con người thời đại, người ta đã có lý để gọi Ngài là một người chống lại cả thế giới.
Có một điều hiển nhiên đó là: làm người chẳng ai muốn mình bị thù ghét. Thế nhưng, một điều khác hiển nhiên không kém, đó là một khi đã đi theo Đức Kitô để thuộc về Ngài thì: “Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ các con” (Ga 15, 20). Đó là một thực tế phũ phàng không có lựa chọn nào khác… Dĩ nhiên, Đức Kitô không chọn cách sống để bị thù ghét, mà là chọn sự thật, một sự thật đến từ Chúa Cha, và cũng trong chính sự thật ấy người ta đã ghét Ngài: “Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa” (Ga 3, 19).
Mang thân phận là Kitô hữu, chúng ta phải đối diện với sự thù ghét của thế gian, nếu không chúng ta chỉ là Kitô hữu “hữu danh vô thực”. Vấn đề không phải sống làm sao để đừng bị ghét, mà phải ứng phó với thực tế ấy như thế nào? Đức Kitô vẫn yêu thương con người đến cùng. Ngài sẵn sàng đón nhận sự thù ghét, chấp nhận chết để thực hiện ơn tha thứ, kể cả với kẻ ghét mình. Đó cũng là con đường Ngài mời gọi chúng ta bước theo, nếu muốn thành môn đệ của Ngài, là Kitô hữu thực thụ.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta ý thức sâu sắc về danh hiệu Kitô hữu của mình. Khi mang danh hiệu này, chúng ta thuộc về Đức Kitô, được thông phần đau khổ với Ngài, và được vinh hạnh cùng Ngài cứu chuộc thế giới ngang qua những đau khổ mà chúng ta phải chịu vì danh Đức Giêsu. Vì thế, những trái khoáy dồn dập tư bề, những đau khổ về tinh thần cũng như thể xác như: bị bắt bớ, đánh đập và ngay cả cái chết… chúng ta hãy vui mừng hân hoan, bởi lẽ vì được thuộc về Ngài chứ không thuộc về thế gian.
