2024
NIỀM TIN VÀO CHÚA
20.5 Thứ Hai trong tuần thứ Bảy Mùa Quanh Năm
Gc 3:13-18; Tv 19:8,9,10,15; Mc 9:14-29
NIỀM TIN VÀO CHÚA
Tin mừng kể lại việc Đức Giê-su chữa một đứa bé bị kinh phong. Có thể nói, không có gì là đặc biệt, nếu phép lạ được thực hiện do Đức Giê-su, bởi vì Ngài là Thiên Chúa toàn năng làm được mọi sự. Nhưng điều quan trọng là phép lạ có thể xảy ra là do đức tin của con người. Thật thế, trong bất cứ phép lạ nào, Đức Giê-su cũng đòi hỏi con người phải tin, hoặc chính đương sự, hoặc cha mẹ hay người bảo trợ. Là Đấng Cứu Thế, Đức Giê-su yêu thương và muốn chữa con người khỏi mọi bệnh tật; nhưng mỗi khi thực hiện phép lạ để cứu chữa một người nào, Ngài cũng đòi hỏi phải có đức tin.
Đức tin và đời sống cầu nguyện dường như là hai yếu tố không thể tách rời nhau. Muốn có đức tin phải cầu nguyện. Lúc cầu nguyện cũng phải có đức tin. Không có đức tin thì lời cầu nguyện trở thành trống rỗng không có đối tượng. Có đức tin nhưng không được bổ dưỡng bằng cầu nguyện thì đức tin ấy chẳng bao lâu sẽ bị chết yểu. Ngược lại, cầu nguyện mà không có đức tin thì lời cầu nguyện cũng trở thành vô nghĩa, không có mục đích.
Không gì bất hạnh bằng khi không có niềm tin trong cuộc sống. Thế nên, Mẹ Têrêsa Calcutta đã nói với một phóng viên: ”Muốn có đức tin ông phải cầu nguyện”. Người ta phải cầu nguyện mới có đức tin, bởi vì đức tin là một ân ban bởi trời.
Đức tin không là kết quả của cuộc tìm kiếm. Triết gia Blaise Pascal đã có lần nói: “Nếu bạn muốn có đức tin, bạn hãy quì gối xuống và cầu nguyện”.
Một tác giả khuyết danh đã viết một câu chuyện thú vị có tên “Đại hội Satan” để nói về phương cách cám dỗ. Mục tiêu Đại hội này nhắm tới là đưa ra kế sách cám dỗ con người thời nay. Phương án tối ưu được Đại hội nhất trí thông qua là “Phải tìm cách cướp đi thời giờ của đám đồ đệ Giê-su – Làm thế nào, chúng nó sẽ không còn thời gian để mà thể nghiệm Giê-su trong cuộc sống của nó nữa”. Điều mà Đại ca Satan muốn các tiểu quỷ phải làm: Dụ dỗ nó tiêu tiền… để rồi phải bận rộn với các kế hoạch kiếm tiền; đổ đầy tâm trí tụi nó những tin tức tiêu cực hầu gây kích động, và dùng những thứ văn hóa đồi trụy để đẩy chúng đến chỗ ăn chơi bạt mạng… Theo nhận định của Đại ca Satan: “Nếu như chúng nó và Giê-su một khi đã thiết lập quan hệ thì khả năng chống chế của chúng ta kể như đi đoong. Đến lúc đó, chúng ta sẽ sập tiệm”.
Sự ác đang lan tràn và nhiều người bất lực trong việc chống trả, kể cả các Ki-tô hữu. Ngày xưa các Tông đồ cũng đã đương đầu với khó khăn này: ”Tại sao chúng con đây không trừ nổi tên quỉ ấy” ? Giải pháp của Chúa là: ”Chỉ có cầu nguyện mới trừ được thôi”.
Các Tông đồ không trừ được quỷ, không phải vì quyền năng trước đó Đức Giê-su ban cho các ông khi đi truyền giáo không đầy đủ, nhưng do các ông ỷ lại vào sức mình.
Theo đoạn kết Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su bảo các môn đệ rằng chỉ trừ được quỷ này bằng lời cầu nguyện, nghĩa là phải dùng sức mạnh của Chúa mới trừ được mà muốn có sức mạnh từ nơi Chúa thì phải kết hợp với Người qua đời sống cầu nguyện.
Trong khi các môn đệ lúc “vắng Chúa” đã ỷ vào sức riêng mình để làm phép lạ vì cứ tưởng mình có quyền ấy mà không cần đến Chúa. Đó cũng là một sự yếu kém về đức tin. Không ít người trong chúng ta cũng thế, khi thành công thì luôn nghĩ là do tài năng của mình mà quên Chúa, khi khó khăn hay đứng trước mưu ma chước quỷ lại dại dột dùng sức riêng để chống lại và rồi thất bại ê chề. Hôm nay Đức Giê-su nhắc cho chúng ta rằng, quỷ chỉ sợ cầu nguyện, vì khi cầu nguyện là chúng ta đang dùng lấy sức mạnh của Chúa mà làm cho ma quỉ khiếp đảm.
Lời than trách của Chúa Giê-su ngày xưa dường như đang muốn nói với con người thời nay, kể cả người Ki-tô hữu chúng ta là những kẻ cứng lòng tin. Vì cứng lòng tin, nên không cầu nguyện cũng chẳng ăn chay.
Các môn đệ hỏi Chúa lý do: “Tại sao chúng con lại không thể trừ được nó?” (Mc 9,28). Chúa Giê-su trả lời: “Loại đó không thể trừ được, nếu không cầu nguyện và ăn chay” (Mc 9,29). Như vậy, cầu nguyện và ăn chay là vũ khí sắc bén của người môn đệ Chúa và của chúng ta để chống trả trước cám dỗ và trừ quỷ. Chúng ta chuẩn bị bước vào Mùa Chay Thánh, Mùa của cầu nguyện, ăn chay và làm phúc. Xin Chúa ban ơn, để chúng ta có thể ăn chay và cầu nguyện cho nên.
2024
YÊU THẦY NHƯ GIOAN YÊU
18.5 Thứ Bảy trong tuần thứ Bảy Mùa Phục Sinh
Cv 28:16-20,30-31; Tv 11:4,5,7; Ga 21:20-25
YÊU THẦY NHƯ GIOAN YÊU
Ngang qua Tin mừng hôm nay, thánh sử Gio-an đã khéo léo cho chúng ta biết chỗ đứng đặc biệt của ngài trong trái tim Thầy Giê-su; nhưng có vẻ như chỗ đứng này cũng là cớ vấp phạm cho các Tông đồ khác, khiến cho Phê-rô, hôm nay khi ngoảnh lại nhìn thấy ông, đã lập tức nêu thắc mắc về số phận của Gio-an: “Còn anh này thì sao?”.
Quả thực, nếu chúng ta đọc kỹ các sách Phúc âm, chúng ta cũng sẽ nhận thấy Chúa đã dành cho Gio-an một tình yêu đặc biệt và Gio-an cũng đã dành cho Chúa một tình yêu chân thật, tế nhị và vô vị lợi. Gio-an là người đã được Chúa cho tham dự vào các biến cố quan trọng trong cuộc đời của Chúa, là người đã nghiêng mình vào ngực Chúa trong bữa Tiệc ly, là người đã đứng dưới chân thập giá và được Chúa Giê-su chối Mẹ Ngài cho, là người đầu tiên đã nhận ra Chúa đã sống lại… Gio-an là Tông đồ và là thánh sử nổi tiếng về tình yêu Thiên Chúa.
Người ta đặt câu hỏi: Tại sao Chúa lại yêu thương Gio-an hơn các tông đồ khác? Thật ra, Chúa Giê-su cũng là con người giống như mọi người, chỉ trừ tội lỗi, nên Ngài cũng có những tâm tình của loài người, điều đó chẳng có gì ngược với tinh thần Tin mừng cứu độ. Một tình yêu thương cụ thể phải bắt đầu với những gì gần gũi với mình, từ trong gia đình ra đến bạn hữu và những người khác. Yêu thương mọi người là sẵn sàng yêu thương những người mình gặp gỡ, chấp nhận cái hay cái dở của họ, cả những phiền toái của họ nữa. Chính những hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống giúp chúng ta học biết yêu thương và làm cho tình yêu triển nở.
Thánh Gioan tông đồ có nhiều nét đáng nêu gương cho chúng ta:
“Khi ấy Phêrô quay lại nhìn thấy người môn đệ mà Chúa Giêsu yếu mến đi theo sau.” Trong ngôn ngữ Tin Mừng “đi theo” có nghĩa là làm môn đệ. Ngay từ đầu Gioan đã đi theo Chúa Giêsu. Gioan còn tiếp tục đi theo Chúa Giêsu trên tất cả mọi nẻo đường Ngài đi, kể cả đường Thập Giá. Rồi khi Chúa Giêsu đã đặt Phêrô thay thế mình. Gioan lại tiếp tục đi theo Phêrô. Thánh Gioan chính là hình mẫu của Môn đệ trung thành.
“Ông là người đã nghiêng mình vào ngực Chúa Giêsu trong bữa ăn tối và hỏi.” Gioan chẳng những là người trung thành đi theo, mà còn là người hiểu biết Chúa Giêsu nhiều nhất và sâu nhất, vì Gioan “nghiêng mình vào ngực Chúa,” vì Gioan “hỏi” nghĩa là thường suy gẫm về Chúa.
“Nếu Thầy muốn, anh ấy còn ở lại cho tới khi Thầy đến…” Ý Chúa Giêsu không nói là Gioan sẽ sống mãi không chết, nhưng Chúa muốn nói Gioan “ở lại.” Phải hiểu chữ “ở lại” này theo ý nghĩa của Tin Mừng Thứ Tư: Ở lại là tồn tại mãi trong tình yêu mến, trong sự thân thiết. Dù sau này Gioan sẽ chết đi nhưng Chúa Giêsu muốn hình mẫu của Gioan như một môn đệ trung thành đi theo Thầy, như một môn đệ suy gẫm về Thầy tiếp tục tồn tại mãi trong Giáo Hội.
“Chính người môn đệ này làm chứng về những điều đó.” Nghĩa là vì Chúa muốn hình mẫu của Gioan còn tồn tại mãi trong Giáo Hội như một cách làm chứng, cho nên Gioan đã làm chứng bằng cách viết lại những cảm nghiệm, những suy gẫm của mình về Chúa Giêsu. Và Gioan còn cho biết “Tôi thiết nghĩ cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các điều được viết ra.” Có lẽ không phải cả thế giới không đủ chỗ chứa những sách mà Gioan nếu muốn sẽ viết ra. Không đủ chỗ chứa là đối với những cảm nghiệm và những suy gẫm sâu sắc của Gioan về mầu nhiệm Chúa Giêsu và về những điều Chúa Giêsu dạy.
Trong lịch sử Giáo hội suốt hai mươi thế kỷ nay, Thiên Chúa vẫn tiếp tục kêu gọi nhiều người và ban cho họ những ân sủng đặc biệt, để sống mãn đời trên trần thế. Họ là các thánh nam nữ đã được Thiên Chúa lựa chọn và trao cho các sứ mệnh đặc biệt ở những thời kỳ và hoàn cảnh khác biệt nhau. Có vị được gọi để trở thành các giáo phụ và tiến sĩ Hội thánh. Các ngài dùng ngòi bút và trí thông minh, để rao giảng Phúc âm và đem ánh sáng lời Chúa đến cho mọi người. Những vị khác thì được ơn gọi sáng lập các dòng tu với tinh thần tông đồ và hoạt động truyền giáo trong nhiều lãnh vực khác biệt nhau. Các sứ vụ tuy có khác biệt nhưng đều mang ý nghĩa và tầm mức quan trọng như nhau. Tất cả đều quy tụ vào cùng một mục đích duy nhất là làm chứng tá cho chân lý và tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại.
Như vậy, trong mỗi thời đại, ở mỗi xã hội khác nhau luôn cần có những chứng nhân, trách nhiệm khác nhau. Thiên Chúa luôn cần đôi tay, trái tim, khả năng của chúng ta, để tiếp tục sự hiện diện và hành động của Ngài. Có người làm chứng bằng máu, có người bằng sự dấn thân đổ mồ hôi, có người làm chứng bằng nghĩa cử hy sinh phục vụ, có những chứng nhân trong âm thầm cầu nguyện.
Mỗi người chúng ta được mời gọi trở nên một trong số chứng nhân đó. Chúa đang cần sự đóng góp của chúng ta.
Chúng ta hãy nói gương thánh Gioan trung thành “đi theo” Chúa Giêsu, biết “nghiêng mình vào ngực Chúa Giêsu,” biết “hỏi” Chúa Giêsu, để có như thế chúng ta mới có thể “làm chứng” về Ngài.
2024
SA NGÃ VÀ YÊU MẾN
17.5 Thứ Sáu trong tuần thứ Bảy Mùa Phục Sinh
Cv 25:13-21; Tv 103:1-2,11-12,19-20; Ga 21:15-19
SA NGÃ VÀ YÊU MẾN
Tin mừng hôm nay cho chúng ta chứng kiến việc Chúa Giêsu trao ban cho Phêrô cơ hội thứ hai.
Chúa Giêsu, trước khi giao phó Giáo Hội của Ngài cho Phêrô chỉ đòi hỏi ở ông duy nhất một điều kiện, đó là tuyệt đối yêu mến Ngài. Chúa không đòi hỏi người môn đệ khả năng xuất chúng để lèo lái Giáo Hội, cũng như trí thông minh phi thường để đối phó với các thử thách mà Ngài chỉ đơn giản hỏi ông: “Anh có mến Thầy hơn các anh em này không?” Thánh Gioan cho chúng ta hiểu rằng Chúa Giêsu đã chọn ông Phêrô làm người đứng đầu Hội Thánh không phải vì ông yêu mến Chúa hơn các môn đệ khác, nhưng vì Chúa Giêsu đã đặt ông đứng đầu Hội Thánh nên ông phải yêu Chúa và yêu các môn đệ nhiều hơn cũng như cần phải trung thành nhiều hơn nữa.
Thật thế, trong Bữa Tiệc ly trước khi chịu khổ hình, Chúa Giêsu đã tuyên bố với các môn đệ: “Tất cả các con sẽ bị vấp ngã vì Ta trong đêm nay”. Nghe thế, Phêrô phản đối và quả quyết: “Cho dù tất cả vấp ngã vì Thày, con sẽ không vấp ngã bao giờ”, nhưng rồi chỉ vài giờ sau đó ông đã nhát đảm chối Thày đến ba lần.
Giờ đây, sau khi Phục sinh. Chúa Giêsu đã gặp riêng Phêrô và cho ông cơ hội thứ hai. Chúa hỏi: “Simon, con của Giona, con có mến Ta hơn những người này không?. Phêrô không khỏi ngạc nhiên tự hỏi: những giọt lệ thống hối chân thành sau khi chối Thày đã không đủ để minh chứng mình yêu mến Thầy sao? Nhưng Phêrô đã học được bài học của quá khứ, nhất là bài học khiêm nhường cần thiết để lãnh nhận ơn cứu rỗi mà nhóm Biệt phái không thể lãnh nhận được vì tự cao tự đại. Phêrô đã thưa: “Lạy Thày, Thầy biết rõ mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thày”. Ba lần hỏi dẫn đến ba câu trả lời cùng một nội dung, nhưng không phải là để bù đắp cho ba lần chối Thày trước đây, mà là một đòi hỏi tiên quyết là tuyên xưng lòng yêu mến. Sau đó, Chúa đã trao cho Phêrô nhiệm vụ chăn dắt Giáo Hội, Phêrô đã sống đến tận cùng cơ hội thứ hai và đã sẵn lòng chết vì niềm tin của mình.
Thiên Chúa luôn sẵn sàng cho chúng ta cơ hội thứ hai, không phải một lần mà là nhiều lần. Điều quan trọng là chúng ta phải thành tâm nhìn nhận tội lỗi, xin ơn tha thứ và bắt đầu lại.
Do đó mối hiểm nguy là do chúng ta tự định giới hạn cho lòng nhân từ vô biên của Thiên Chúa, mà không xin Ngài một cơ hội khác. Đó là sự khác biệt giữa Giuđa và Phêrô: Cả hai đã phản bội Thày trong cùng một ngày, nhưng Giuđa không xin cơ hội thứ hai nên đã thất bại, còn Phêrô đã tận dụng cơ hội được ban cho và đã toàn thắng.
Phêrô hiểu rằng cội nguồn của tình yêu không tới từ ông mà đến từ Chúa khi Ngài hỏi ông: “Anh có mến Thầy không?” Chúa Giêsu chính là cội nguồn của lòng nhân ái và Ngài muốn trao ban tình yêu đó cho Phêrô. Chúa Giêsu không chỉ hỏi ông Phêrô câu hỏi này, nhưng Ngài còn hỏi tất cả chúng ta và Ngài muốn trao ban cho chúng ta món quà quí giá đó. Chúng ta mang trong trái tim ước mơ yêu thương Thiên Chúa nhưng nhiều lúc tình yêu đó hời hợt vì bản chất chúng ta yếu đuối và bất trung, và đôi khi chúng ta lại còn nghi ngờ Ngài. Nhưng chính Chúa đã cho Phêrô và cả chúng ta cơ hội để trả lời Ngài: Lạy Chúa, Chúa biết chúng con yêu Chúa không phải vì chúng con hoàn hảo, mà vì Chúa đã yêu thương chúng con một cách nhưng không. Chúng con là những kẻ bất trung, còn Chúa thì luôn trung thành với lời hứa của Ngài.
Khi Chúa Giêsu nói với Phêrô: “Hãy theo Thầy”, Ngài loan báo cái chết tử đạo của ông vì đi theo Chúa tức là vác thập giá để theo Ngài, có nghĩa là từ bỏ hoàn toàn chính mình và hy sinh cả mạng sống mình vì Nước Trời. Chúa Giêsu là người yêu chúng ta trước nhất, Ngài yêu chúng ta một cách vô điều kiện. Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu đã cho các môn đệ hồng ân là được theo Ngài và chịu chết tử đạo để làm vinh danh Ngài như thánh Gioan đã viết trong bài Tin Mừng hôm nay: “Người nói vậy có ý ám chỉ ông Phêrô sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa”. Ngài đã cho Phêrô hiểu thế nào là một tình yêu hoàn hảo, đó là dâng hiến chính mạng sống của mình cho Thiên Chúa và tha nhân, và biết hướng về tình yêu của Thiên Chúa bằng với tất cả lòng tin cậy. Ðiều đó cũng nhắc nhở với chúng ta là các hoạt động tông đồ trước hết phải đặt nền tảng trên tình yêu gắn bó với Chúa, để sau đó loan truyền tình yêu của Ngài cho những người khác.
Hôm nay, chúng ta sẵn sàng trả lời những câu hỏi của Đức Giêsu như thánh Phê-rô đã đáp lời Người: “Si-mon, con ông Gio-na, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?”. Anh đã học biết Thầy, Thầy đã giới thiệu anh với Cha Thầy, bây giờ anh biết kế hoạch cứu độ loài người, Thầy yêu anh, Thầy đã tha thứ cho anh: vậy “Anh có mến Thầy không?”
“Thưa Thầy, Thầy biết con mến Thầy”, ba lần Phê-rô đã quyết hứa lòng mộ mến Thầy. Tuy nhiên, Đức Giêsu không dừng lại đây, Người nhấn mạnh Phê-rô phải lãnh trọng trách đối với những người khác: “Để chứng tỏ anh mến Thầy là anh phải yêu mến anh em”. Thánh Gio-an đã quả quyết: “Ai quả quyết mến Chúa mà không yêu anh em là kẻ nói dối?”.
Lãnh trọng trách còn đi xa hơn nữa: mỗi lần gắn bó với ai, luôn luôn hy sinh sức khỏe, tự ái, tự do của mình cho người ấy: “Anh sẽ phải giang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn đến”.
Tình yêu Đức Giêsu luôn luôn kêu gọi ta từ bỏ, hy sinh đến chết. Yêu người khác đến độ trở nên tôi tớ để làm theo ý muốn của họ, đáp lại mọi ước ao của họ. Tình yêu phải chịu lệ thuộc.
Chúng ta đã được Đức Giêsu giáo huấn, được Ngài dẫn vào hiệp thông với Chúa Cha. Chúng ta đã học yêu mến Chúa. Bây giờ chúng ta hãy chọn: chúng ta có biết tự giữ lấy mọi lời đó cho mình không? Tình yêu mến Chúa của chúng ta chỉ là một thứ tình cảm chóng qua hay là một sức mạnh thúc đẩy chúng ta phục vụ.
Ước gì lời Chúa hôm nay giúp chúng ta khám phá ra lòng nhân từ vô biên của Chúa, để chúng ta luôn khiêm nhường chỗi dậy sau mỗi lần sa ngã, và xin Chúa ban cho chúng ta trung thành với ơn Chúa cho đến cùng.
2024
Xin cho sự hiệp nhất của họ được hoàn hảo
16.5 Thứ Năm trong tuần thứ Bảy Mùa Phục Sinh
Cv 22:30; Tv 16:1-2,5,7-8,9-10,11; Ga 17:20-26
Xin cho sự hiệp nhất của họ được hoàn hảo
Một trong những mong ước tha thiết nhất của Chúa Giêsu trước khi xa rời các kẻ thuộc về Ngài, đó là họ hiệp nhất nên một với nhau. Ngài biết rõ sự hiệp nhất có một giá trị và một hiệu năng truyền giáo đặc biệt. Sở dĩ thế, vì Thiên Chúa và Nước Trời là những mầu nhiệm, những thực tại vô hình người ta không dễ gì tin, bởi mắt phàm không thấy. Trái lại, khi nhìn thấy đời sống yêu thương, hiệp nhất của các tín hữu, người ta sẽ dễ nhận ra sự hiện hữu của Thiên Chúa và của Nước Trời, “Dấu chỉ hiệp nhất giữa các kẻ tin là đường lối và khí cụ của việc Phúc âm hóa”.
Chúa Giêsu chẳng những cầu nguyện cho các tông đồ, mà còn cầu cho tất cả chúng ta là những kẻ đã nghe lời giảng dạy của các tông đồ và của Giáo hội mà tin theo Chúa. Chúng ta có thể nhận ra diều đó trong Tin mừng hôm nay;
Chúa Giêsu cầu xin cho tất cả được sống trong tình yêu thương của Chúa: Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta . Thiên Chúa đã ra điều luật: hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn thì bây giờ, Chúa Giêsu cầu nguyện để Thiên Chúa ban ơn cho chúng ta sống trọn vẹn điều luật ấy.
Chúa Giêsu cầu cho tất ca chúng ta được kết hợp với nhau và yêu thương nhau. Thật ra, đây chỉ là kết quả của lời cầu nguyện trước, vì nếu chúng ta kết hợp và yêu mến Thiên Chúa, thì chúng ta cũng phải kết hợp và yêu thương nhau. Mến Chúa, yêu người, không phải là một lề luật dựa trên lý luận, nhưng là một thực tại thiết yếu. Chúng ta không thế nói mình yêu mến Thiên Chúa mà lại không yêu thương lo lắng cho người khác, nhất là nhưng người nghèo khổ, bất hạnh. Nói như thánh Gioan Tông đồ: Nếu ai nói mình yêu mến Thiên Chúa, mà lại ghét anh em, thì người ấy là kẻ nói dối, vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây làđiều răn chúng ta nhận dược từ Ngài: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình .
Chúa Giêsu cầu cho Giáo hội được hiệp nhất. Chúng ta cũng được nhắc nhở cầu nguyện cho sự hiệp nhất trong Giáo hội và cho sự hiệp nhất giữa các khô hữu, nhất là chúng ta cầu xin để có thái độ đối thoại và tôn trọng những giá trị của các tôn giáo khác.
Trong thời gian qua, lòng con dân Nước Việt luôn thể hiện lòng yêu mến quê hương đất nước và mong sao cho quê hương được thanh bình, không có chiến tranh. Lòng yêu mến đó được chứng minh qua sự can đảm, bất chấp mọi khó khăn…, sẵn sàng đứng lên để đấu tranh cho sự thật, công lý và hòa bình trên Biển Đông. Qua những gì vừa xảy ra, hẳn ai cũng hiểu được rằng: chỉ có đoàn kết, chung lòng thì mới có thể chiến thắng được ngoại xâm.
“Xin cho chúng nên một”.Đây là lời nguyện khẩn thiết của Đức Giêsu dâng lên Chúa Cha cho các môn đệ của mình. Đức Giêsu cũng nêu lên mẫu gương hiệp nhất giữa Chúa Cha và Ngài. Và như thế, Đức Giêsu cũng mời gọi các môn đệ cũng hiệp nhất với nhau như Chúa Cha và Chúa Con là một. Qua đó, mọi người sẽ nhận ra chúng ta là môn đệ của Thầy, đó là chúng ta yêu thương nhau.
Hiện nay chúng ta đang chứng kiến bao nhiêu sự thay đổi trong xã hội xoay quanh vấn đề hiệp nhất. Có bao nhiêu luật lệ lan tràn khắp các thành phố, quận huyện, ủy ban giáo dục. Trong vài năm, chúng ta đã trở nên thành viên, không những của một ngôi làng nhỏ hay một trường có thế giá, mà còn là của cả một cộng dồng thành phố hay tỉnh lỵ.
Cấu trúc xã hội được sắp xếp theo các nhóm qui tụ. Sự thay đổi trong xã hội được dựa trên các ủy ban nhân dân, sự thăng tiến của Giáo hội dựa trên các cộng đoàn cơ bản, phương pháp học tập tại trường dựa trên công cuộc nghiên cứu tập thể, sức mạnh kinh tế dựa trên sự tập hợp các thương vụ. Một triết gia khẳng định rằng thế giới đã trở thành một ngôi làng, nhờ các phương tiện truyền thông đa dạng và nhanh chóng.
Vũ trụ đang tiến dần về sự hiệp nhất, thống nhất, và qua đó có vẻ đáp ứng lời mời gọi của Chúa Kitô: xin cho họ nên một, và cũng qua đó trở thành một bằng chứng về công trình của Chúa Con: xin cho họ nên một trong Chúng Ta, hầu cho thế gian tin rằng Cha đã sai Con.
Nhưng không phải bất cứ sự hiệp nhất nào cũng là một mặc khải và bằng chứng của Chúa Kitô. Chúng ta có thể thành lập một nhóm đoàn kết, thậm chí một cộng đoàn tu sĩ và vẫn qui hướng về mình chớ không phải về Chúa. Những nhóm người bàng quan với kẻ khác, không có khả năng chia sẻ lương thực và của cải mình. Chúng ta có thể ở cùng chung một nhà mà không tạo được một gia đình.
Hiện nay, chúng ta nhận thức được những sức mạnh đang thôi thúc con người đi đến hiệp nhất; mặc khải của Chúa Kitô đang có mặt tại đấy, như trong tình trạng phôi thai. Nhưng sự hiêp nhất hoàn hảo chỉ có thể được thực hiện trong Chúa: “Xin cho họ nên một trong Chúng Ta”.
Những cộng đoàn Kitô hữu ngày hôm nay có thể trở nên những dấu chỉ cho sự hiệp nhất hoàn thiện đó bằng cách sống một sự chia sẻ thực sự về đức tin, về tình cảm và hoạt động. Đấy là một trong những vai trò của Giáo hội đối với xã hội: giúp xã hội đạt được điều vô cùng qua nỗ lực của mình để qui hướng về Chúa.
Ngày nay, người Kitô hữu chúng ta sống sự hiệp nhất ấy qua lời cầu nguyện, bằng hành vi đức tin và sự liên đới. Sự hiệp nhất chỉ có thể có khi chúng ta chấp nhận “hiệp nhất trong đa dạng”. Biết lắng nghe, thông cảm và tôn trọng mọi người.
Ước gì lời Chúa hôm nay giúp chúng ta kết hợp với Chúa và với nhau trong tình thương. ước gì chúng ta có tâm hồn cởi mở để đón nhận sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống và trong mọi sinh hoạt cuộc sống.
