Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Suy niệm hàng ngày

Home / Phụng vụ / Suy niệm hàng ngày
07Tháng Bảy
2024

TẤM LÒNG NHÂN ÁI

07/07/2024
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

5.8 Thứ Hai trong tuần thứ Mười Tám Mùa Quanh Năm

Gr 28:1-17; Tv 119:29,43,79,80,95,102; Mt 14:13-21

TẤM LÒNG NHÂN ÁI

Chúa Giêsu không bao giờ làm cho những người tha thiết tìm kiếm Ngài phải thất vọng. Chúng ta thấy một hình ảnh tuyệt vời về điều này khi Chúa Giêsu và các môn đệ của mình lên thuyền tìm một nơi hoang vắng để nghỉ ngơi dọc theo hồ Galilê, thì Thầy Giêsu và các môn đệ có đôi chút ngạc nhiên về sự xuất hiện của hàng ngàn người đã đến nơi trước và chờ gặp các Ngài! Có thể các môn đệ sẽ tỏ vẻ khó chịu trước sự phá vỡ của đám đám đông dân chúng đối với kế hoạch nghỉ ngơi của các ngài. Nhưng Chúa Giêsu thì không như thế – Người chào đón họ với vòng tay rộng mở và ánh mắt yêu thương. Lòng trắc ẩn của Ngài biểu lộ tình yêu cao vời và sự chăm sóc của Thiên Chúa đối với dân Ngài. Chúa Giêsu đã nói lời của Thiên Chúa để củng cố đám đông trong đức tin và Ngài đã chữa lành nhiều người bị bệnh.

Trình thuật hóa bánh ra nhiều cho chúng ta thấy tình cảnh rất khó khăn mà dân chúng đang gặp phải. Đó là cơn đói mệt lã khi họ đi theo Chúa Giêsu. Đứng trước vấn đề này, các môn đệ đã chọn giải pháp giải tán đám đông, còn Chúa Giêsu thì chạnh lòng thương và Người đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều. Ngày hôm nay, có rất nhiều anh chị em cần sự giúp đỡ của chúng ta. Đứng trước nhu cầu của họ, chúng ta hãy noi gương Chúa Giêsu, tỏ lòng nhân ái và làm một cái gì đó cho họ. Giờ đây, chúng ta cùng nhau suy nghĩ về hai điểm sau đây:

Khi đọc và suy gẫm bài Tin Mừng này, chúng ta dễ dàng cảm nhận sâu xa lòng nhân ái của Chúa Giêsu. Người trông thấy đám đông mệt lã vì phải đi bộ; những người đau yếu bệnh tật; những người tội lỗi; những người đói khát, cô đơn và buồn sầu. Chúa Giêsu không chỉ là trông thấy, mà còn là cảm nếm nỗi đau khổ của dân chúng. Người đau với nỗi đau của họ, khổ với cái khổ của họ, hay nói cách khác, Chúa Giêsu đã hoàn toàn đồng cảm và mang lấy nỗi khổ của họ.

Lòng nhân ái đã thúc đẩy Chúa Giêsu đi đến hành động là “chữa lành các bệnh tật của họ”. Thật thế, trên suốt hành trình rao giảng Tin Mừng, đi đến đâu là Chúa Giêsu thi ân giáng phúc đến đó. Tình Yêu của Người không có sự lựa chọn, nhưng dành cho hết mọi người “Tôi còn những đoàn chiên khác không thuộc ràn này” (Ga 10,16). Lòng nhân ái của Chúa Giêsu dành cho hết mọi người, trong đó có mỗi người chúng ta, là những người mỏng giòn và yếu đuối. Hành động sau cùng và tột đỉnh nhất của lòng nhân ái Chúa Giêsu chính là cái chết trên thập giá.

Chúa Giêsu biết rõ các môn đệ bất lực trong việc cho dân chúng ăn no, nhưng Người vẫn ra lệnh cho các ông lo cho họ ăn. Mệnh lệnh của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ cũng là mệnh lệnh dành cho mỗi Kitô hữu ngày hôm nay.

Là Kitô hữu, chúng ta không thể vô cảm, vô tâm, vô can đối với biết bao nỗi đau buồn, thất vọng của anh chị em xung quanh mình. Để nên giống Đức Kitô, chúng ta cần phải làm triển nở tấm lòng nhân ái và trắc ẩn như Người, nhất là đối với anh chị em đau khổ trong thân xác cũng như trong tâm hồn.

Dẫu biết rằng chúng ta cũng giống như các môn đệ, đều cảm thấy bất lực và thiếu khả năng. Nhưng chính sự hiện diện của chúng ta trong nỗi khổ của tha nhân, đôi khi sẽ mang lại cho họ niềm hy vọng và niềm an ủi. Chúng ta không thể bù đắp hết cho họ những thiếu thốn và mất mát, nhưng sự chia sẻ của chúng ta sẽ làm vơi đi những gánh nặng trong đời họ. Sự đồng hành và gần gũi của chúng ta sẽ làm cho họ  vơi đi những mặc cảm do nghèo đói gây ra.

Tại sao Chúa Giêsu mong đợi các môn đệ của mình làm những điều dường như không thể – để nuôi một đám đông đang đói và lớn như vậy khi không có sự cung cấp lương thực đầy đủ? Chúa Giêsu rất có thể muốn thử lòng tín thác của họ và cho họ một dấu hiệu rằng Ngài sẽ can thiệp và mở kho tàng ân huệ thiêng liêng của Thiên Chúa dành cho dân Ngài. Chúa Giêsu muốn các môn đệ cộng tác với Ngài dẫu cho họ là những người không có dư của ăn. Mười hai thúng đầy cá và mẩu bánh còn sót lại cho thấy sự hào phóng tràn đầy nơi những món quà mà Thiên Chúa dành cho chúng ta – những món quà mang lại niềm vui, phúc lành, sự chữa lành và sức sống mới.

Mười hai thúng đầy dư lại cho thấy sự hào phóng và lòng thương xót của Thiên Chúa đối với chúng ta. Khi Thiên Chúa ban cho, Người ban cho dồi dào. Ngài cho đi nhiều hơn những gì chúng ta cần để chúng ta ai cũng có điều gì đó để chia sẻ với người khác, đặc biệt là những người khó khăn. Chúa lấy những gì chúng ta có và nhân nó lên vì lợi ích của người khác. Bạn có tin tưởng vào sự cung ứng của Chúa dành cho bạn mà sẵn sàng chia sẻ một cách tự do với người khác, đặc biệt là những người đang cần đến không?

Mỗi người chúng ta hãy là nhịp đập của trái tim Chúa, là cánh tay nối dài của Chúa, để từ đó phát sinh lòng nhân ái của Người cho tha nhân. Thể hiện lòng nhân ái là phải chấp nhận từ bỏ và đau thương mới có thể trao ban. Trao ban không hẳn là mất đi, nhưng đó là phương thức tốt nhất để sở hữu những gì mình đã cho đi. Sở hữu lớn lao nhất đó là sự sống trong Nước Trời, bởi lẽ chính Chúa Giêsu đã khẳng định: “Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được” (Mt 10,39).

Chúng hãy cầu xin Mẹ rất thánh của chúng ta, Mẹ là người đầu tiên đón nhận lòng nhân ái của Chúa Giêsu vào trong cung lòng của mình. Mẹ sẽ dạy cho chúng ta biết cách đón nhận và trao ban tình yêu của Đức Kitô, Con Mẹ cho những người chung quanh.

Read More
07Tháng Bảy
2024

ĐỪNG ĐỘC ÁC

07/07/2024
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

3.8  Thứ Bảy trong tuần thứ Mười Bảy Mùa Quanh Năm

Gr 26:11-16,24; Tv 69:15-16,30-31,33-34; Mt 14:1-12

ĐỪNG ĐỘC ÁC

Nghe danh tiếng của Đức Giê-su, nhất là về các phép lạ Người thực hiện, Vua Hê-rô-đê cho rằng Đức Giê-su là ông Gio-an Tẩy Giả đã từ cõi chết trỗi dậy. Đó là một sai lầm ; nhưng đối với chúng ta, sai lầm này lại mang nhiều ý nghĩa trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa và đã loan báo cho chúng ta mầu nhiệm Vượt Qua rồi. Thật vậy :

Vua Hê-rô-đê loại trừ một Gioan Tẩy Giả, thì lại có một Gioan Tẩy Giả khác xuất hiện. Như thế, Sự Thiện, Ánh Sáng và Chân Lý không thể bị loại trừ bởi bạo lực, nghĩa là bởi Sự dữ, Bóng Tối và Dối Trá.

Vua Hê-rô-đê làm điều dữ và ông bị dày vò bởi điều dữ, cái nhìn của ông bị chi phối tất yếu bởi điều dữ ông đã làm. Như thế, không phải Sự Thiện dùng phương tiện của Sự Dữ chống lại Sự Dữ, nhưng Sự Dữ sẽ tự hủy diệt Sự Dữ, như lời Thánh Vịnh loan báo : « Cho bọn ác nhân mắc bẫy chính chúng gài, còn con đây, thì được thoát khỏi » (Tv 141, 10).

Đức Giê-su không phải là Gioan Tẩy Giả sống lại, nhưng Ngài là Đấng ông loan báo, Ngài là niềm hi vọng của ông, là sự sống lại của ông. Thật vậy, nơi mầu nhiệm Vượt Qua, Đức Giê-su sẽ bị giết chết cách bất công như Gioan, nhưng Ngài mạnh hơn sự chết, Ngài sẽ phục sinh và làm cho mọi người phục sinh, trong đó có Gioan.

Trong bài Tin Mừng, chúng ta thấy xuất hiện 4 nhân vật, mỗi nhân vật mang một nét đặc trưng riêng cả về nhân thân và lối sống. Các nhân vật đó là: Gioan Tẩy Giả; vua Hêrôđê; bà Hêrôđia; và, con gái bà Hêrôđia. 4 nhân vật đó như thế nào? Chúng ta cùng nhau tìm hiểu.

Thứ nhất là Gioan Tẩy giả:

Gioan Tẩy giả là ngôn sứ vĩ đại, đến để loan báo về Đấng Cứu Thế và chuẩn bị lòng dân đón nhận Ngài. Vì thế, ông đã biểu lộ vai trò ngôn sứ bằng một thái độ sống hết sức khiêm tốn, hy sinh, can đảm, mạnh mẽ và bất khuất trước bạo lực, cho dù phải chịu tù đày và chết tróc.

Thứ hai là vua Hêrôđê:

Ông được biết đến như một kẻ ác nhân. Ông đã lộng hành khi dùng quyền. Coi thường đạo lý và buông theo sắc dục mà bất chấp đúng – sai. Ông đã làm trái với lương tâm khi truyền lấy đầu ông Gioan để thỏa mãn điều thề hứa bất chính của mình.

Thứ ba là Bà Hêrôdia:

Vì ưa thích điều bất chính, nên đã không chấp nhận sự thật mà Gioan loan báo. Vì thế, lòng thù ghét nổi lên như nước thủy triều. Thay vì dạy dỗ con mình làm điều tốt, bà lại xúi con mình làm điều bất chính khi xin vua lấy đầu Gioan Tẩy Giả. Sự ác tâm này là con đẻ của hận thù và ghen ghét vì mối lợi trước mắt.

Thứ tư là con gái bà Hêrôdia:

Cô gái trẻ này được biết đến như một nhân vật có tài mà không có đức. Vì thế, thay vì sử dụng tài của mình để làm việc thiện, cô ta đã dùng nó như là một thứ mua vui thuần túy và phá hoại. Tệ hơn nữa là cô không hề áy náy khi biết rõ rằng việc mình làm chỉ là để thỏa nãm sắc dục của vua quan và phục vụ sự hận thù của mẹ cô với Gioan Tẩy giả.

Trong cuộc sống hôm nay, không thiếu gì những hình ảnh của Hêrôđê đang hiện ra qua những hành động của những người chỉ thích ham mê sắc dục, bất chấp sự thật để làm những điều lỗi lầm ghê tởm.

Cũng vẫn còn đó nơi ta hình ảnh của bà Hêrôdia. Nhiều lúc, thay vì dạy con làm điều tốt, thì lại chỉ vẽ cho trẻ những điều sai trái, miễn sao đạt được điều bất chính nơi ta mà thôi. Và cũng không thiếu những sự ngộ nhận nơi ta như con gái bà Hêrôdia…

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy mang trong mình hình ảnh và đặc tính của Gioan Tẩy Giả. Luôn tìm mọi cách để Lời Chúa được loan báo mọi nơi, mọi lúc. Sẵn sàng chấp nhận hy sinh và ngay cả cái chết để làm chứng cho Thiên Chúa và sự thật về Ngài.

“Các con sẽ làm chứng về Thầy”, đó là mệnh lệnh của Chúa Giêsu cho các Tông đồ, cho mỗi môn đệ của Chúa. Chúng ta cần trở nên một Chúa Kitô cho anh em mình, vận mệnh của Chúa sẽ là vận mệnh của chúng ta.

Một chi tiết nữa, đó là các môn đệ Gioan Tẩy giả, sau khi chôn cất ông xong, thì đến báo tin cho Chúa Giêsu. Chi tiết này nói lên mối liên hệ thân tình giữa Gioan Tẩy giả và Chúa Giêsu, đồng thời nhấn mạnh vai trò của Gioan Tẩy giả là hướng về Chúa Giêsu. Gioan Tẩy giả không phải là Chúa Giêsu, nhưng là người giúp anh em mình đến với Chúa. Chính Gioan Tẩy giả đã tuyên bố: “Tôi không phải là ánh sáng, nhưng tôi đến để làm chứng cho ánh sáng”.

Người Kitô hữu được mời gọi sống hướng về Chúa, kết hợp với Chúa, trở thành một Chúa Kitô thứ hai cho anh em. Nhưng đó là để giúp anh em đến với Chúa, chứ không dừng lại nơi mình. Người Kitô hữu không được chiếm chỗ của Chúa trong tâm hồn anh em: Chúa Kitô phải lớn lên trong tâm hồn anh em, còn tôi chỉ là phương thế, tôi không được cản trở anh em đến với Chúa.

Xin Chúa ban cho chúng ta lòng can đảm và trung thành với sự thật, dù phải hy sinh chính mạng sống mình, để giúp người khác đến với Chúa và tin nhận Chúa.

 

 

 

 

Read More
07Tháng Bảy
2024

Tâm Thức Thời Ðại

07/07/2024
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

2/8  Thứ Sáu trong tuần thứ Mười Bảy Mùa Quanh Năm

Gr 26:1-9; Tv 69:5,8-10,14; Mt 13:54-58

Tâm Thức Thời Ðại

Chúa Giêsu trở về giảng dạy tại quê hương của Ngài là Nazareth, nhưng dân chúng tại đây không tin nhận Chúa, bởi vì họ suy tưởng và hành động theo thói quen, theo thành kiến. Họ đã quen với Chúa Giêsu như là con bác thợ mộc Giuse sống giữa họ từ bao năm nay, do đó giờ đây phải nhìn Chúa và đón nhận giáo huấn của Ngài với một tâm thức mới thì họ bị vấp phạm. Quả thật, như lời cụ già Simêon đã nói trong biến cố dâng Chúa vào Ðền thánh: Chúa Giêsu luôn luôn là dấu gợi lên chống đối; trực diện với Ngài, con người phải chọn lựa hoặc tin nhận, hoặc chối từ.

Tin Mừng chúng ta nghe hôm nay đã cho thấy, dân làng Nazareth, những người đồng hương với Đức Giêsu, mặc dầu đã nghe biết những giáo huấn khôn ngoan của Ngài và được chứng kiến những phép lạ phi thường, nhưng họ vẫn không tin Ngài là Đấng Cứu Thế; bởi lẽ, họ chỉ nhìn thấy ở nơi Đức Giêsu nguồn gốc hoàn toàn nhân loại. Họ nói: “Bởi đâu ông ta được khôn ngoan và làm được những phép lạ như thế? Ông không phải là con bác thợ mộc sao? Mẹ của ông không phải là bà Maria; anh em của ông không phải là các ông Giacôbê, Giuse, Simon và Giuđa sao? Và tất cả chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?

Đức Giêsu về thăm quê nhà Nazareth, nơi Ngài đã lớn lên, là điều thật tự nhiên; nhưng lại là một hành động can đảm. Nơi khó khăn nhất cho mọi người rao giảng chính là cộng đoàn mà người đó từng sinh trưởng và gắn bó trong một thời gian lâu dài. Dù biết là vậy, nhưng Đức Giêsu vẫn muốn trở về thăm quê hương. Trong hội đường không có một diễn giả cố định, bất cứ một vị khách nào nổi tiếng đều có thể được người trưởng hội đường mời đến nói chuyện. Không phải là Đức Giêsu không được cho cơ hội để nói, nhưng khi Ngài nói thì đã vấp phải thái độ hằn học và vô tín của những người hàng xóm láng giềng. Họ không muốn nghe bởi vì họ nghĩ rằng mình biết rõ gốc gác cũng như thân quyến của Đức Giêsu. Họ không tin nổi một người từng sống với họ, một người họ quen biết lại nói năng như Đức Giêsu, người đang thuyết giảng trước mặt họ. Đức Giêsu thừa hiểu, các ngôn sứ thường không được tôn trọng nơi quê hương của mình. Thái độ của họ đối với Chúa đã dựng lên một rào cản khiến Đức Giêsu không thể gây được chút ảnh hưởng nào trên họ. Ngài rời bỏ họ mà đi vì người ta đã không tin vào quyền năng của Thiên Chúa.

Thực ra, dân chúng ở Nazareth khinh dể Đức Giêsu cũng chẳng có gì khó hiểu. Thói tự tôn dân tộc ăn sâu vào trong máu của họ và rồi ảnh hưởng lên tính cách của mỗi người. Họ không dễ chấp nhận điều mà chúng ta quen gọi là vinh quang của Thiên Chúa. Điều đó cũng có nghĩa là khi con Thiên Chúa xuống thế gian, Ngài không hề đòi hỏi một miễn trừ nào. Ngài bằng lòng nhận lấy cuộc đời tầm thường với tất cả những công việc tầm thường. Những may rủi về thế gia thế, giàu nghèo và phổ hệ chẳng có gì quan trọng đối với nhân cách cả. Chúng ta cần cảnh giác đối với sự cám dỗ này khi đánh giá một người mà chỉ căn cứ vào bề ngoài, vào những cái tạm thời nay còn mai mất, chứ không căn cứ vào giá trị nội tại nơi chính người ấy.

Phải luôn nhớ rằng, chúng ta không nên xét đoán người khác theo lý lịch và những liên hệ gia đình của họ, mà chỉ nên phán đoán theo con người thực của họ. Nhiều sứ điệp đã bị bóp chết không phải vì nó hàm chứa điều gì đó sai lầm, nhưng vì đầu óc của người ta quá thành kiến với sứ giả đến nỗi thông điệp phát đi không bao giờ có được cơ hội đến với những người đang bưng tai bịt mắt. Khi chúng ta tụ họp lại để làm việc thờ phượng và nghe Lời Chúa, chúng ta phải đến với tinh thần thiết tha trông đợi, không phải từ những người giảng thuyết, nhưng là từ Chúa Thánh Thần, Đấng phán dạy chúng ta qua con người ấy.

Với cái nhìn đầy thiển cận, dân làng Nazareth đã không chỉ chối bỏ một con người, mà còn chối bỏ chính Đấng cứu độ mà Thiên Chúa đã hứa ban cho họ, tức là chối bỏ chính Thiên Chúa. Mỉa mai thay, như lời thánh Gioan đã nói: “Người đã đến nhà mình,nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11), điều đó lại vận đúng vào trường hợp của Đức Giêsu trong chuyến “hồi hương” không như mong đợi. Trong khi đó, chỉ có những ai biết nhìn mọi sự bằng đôi mắt đức tin, mới nhận ra Đức Giêsu trong thân phận làm người, là Đấng cứu độ và là Thiên Chúa thật. Hết thảy chúng ta được mời gọi hãy nhìn mọi sự trong ánh sáng của mầu nhiệm Nhập Thể, bởi vì chỉ ở nơi đó, chúng ta mới khám phá ra rằng, Thiên Chúa vẫn đang đến với chúng ta ngang qua những thứ bình thường và bất ngờ nhất của cuộc sống. Đồng thời qua đó, chúng ta cũng học để biết chấp nhận những hy sinh phục vụ tha nhân cách này cách khác mà không hề được đáp đền, thậm chí đôi khi còn nhận lại sự vô ơn.

Sứ điệp Tin Mừng hôm nay dạy cho chúng ta hiểu rằng, để được Thiên Chúa yêu thương và cứu độ, con người phải tin vào Đức Giêsu. Thật vậy, thánh Mátthêu đã ghi nhận: “Đức Giêsu đã không làm nhiều phép lạ tại đó vì họ không có lòng tin”. Điều đó cũng có nghĩa là, phép lạ chỉ diễn ra khi con người có đức tin đủ mạnh; hay nói khác đi, nếu người ta không tin thì không thể nhận ra được phép lạ mà Thiên Chúa vẫn đang thực hiện trong từng phút giây của cuộc sống. Một cách đặc biệt, chỉ khi nào có Đức tin, con người mới nhận ra được tình thương vĩ đại nhất mà Thiên Chúa đã dành cho con người, đó là việc Ngài đã chấp nhận hóa thân trở nên người nghèo khó, bị khinh miệt, chịu sỉ nhục và bị giết chết như một phạm nhân. Chẳng ai trong chúng ta có thể lý giải được hết huyền nhiệm cao siêu ấy.

 

Như vậy, mầu nhiệm nhập thể của Đức Giêsu là mầu nhiệm của tình thương cứu độ; bởi vì chính qua mầu nhiệm đó mà con người đã gặp được Thiên Chúa, đã tìm được sự sống đời đời và đã được trở nên con cái Thiên Chúa. Mặc dù vậy, cũng chính vì Con Thiên Chúa mang lấy thân phận con người, sống như một con người thấp hèn không có địa vị trong tôn giáo cũng như trong xã hội, nên người ta đã khước từ, không muốn đón nhận. Cũng vì lẽ đó, Đức Giêsu của ngày hôm nay vẫn tiếp tục bị con người phớt lờ và chối bỏ. Như vậy, cho dù Đức Giêsu vẫn luôn tìm đến với con người nhưng lại tiếp tục bị con người xua đuổi, bởi vì họ đã không nhận ra Ngài. Trách nhiệm của mỗi người tín hữu hôm nay là phải tìm cách để giới thiệu Chúa cho anh chị em của mình. Chúng ta không được phép giữ lấy những ân ban đã được Thiên Chúa trao tặng nhưng không; tuy nhiên, cách mà chúng ta truyền rao Lời Chúa phải dựa trên chứng tá của chính mình. Bằng không, chúng ta chỉ là một phản chứng cho Đức Giêsu mà thôi.

Thành kiến đôi lúc khoác lên mình bộ cánh có phần quái dị, nó khiến cho nhãn giới của chúng ta trở nên méo mó trong việc đánh giá về người khác. Bao lâu chúng ta chưa có thói quen nói lời tử tế với những người chúng ta không cảm phục thì bấy lâu đừng mong có được thành công hay hạnh phúc. Bởi vì khi ấy, tâm hồn chúng ta trở nên chật hẹp, còn những tị hiềm hay đố kị sẽ khiến cho tâm trí của mình ra nặng nề và lắm khi sinh lòng thù hận. Dân Do Thái năm xưa ở rất gần với ơn cứu độ, nhưng rồi chính họ đánh mất đi cơ hội khi tự tay che mặt thay vì dùng nó để lột đi những thành kiến phủ vây. Chúng ta cũng hãy nhìn vào đó để chỉnh đốn đời sống của mình. Chỉ khi nào chúng ta vượt qua được những thành kiến cố hữu thì khi ấy chúng ta mới có cơ may thiết lập được những mối tương quan thân ái. Chỉ khi nào chúng ta đủ chân thành để nhìn nhận tài năng và phẩm hạnh của người khác, thì khi đó chúng ta mới có thể khoan khoái tận hưởng những giây phút an vui.

Chúng ta hãy xét lại xem đức tin của chúng ta hiện nay đối với Chúa Giêsu có còn sống động hay đã trở thành một thói quen khô khan, nguội lạnh, chỉ vì quá quen thuộc như dân làng Nazareth ngày xưa? Phải chăng cuộc sống của chúng ta đã trở thành mù quáng hoặc nô lệ cho những thành kiến đến độ không còn tin nhận Chúa và không còn bén nhạy trước tác động của ơn Chúa?

Read More
07Tháng Bảy
2024

NÊN MUỐI MEN CHO ĐỜI NHƯ CHA THÁNH ANPHONGSÔ

07/07/2024
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

Thánh Anphongsô Maria Liguori, Gmtsht

Gr 18:1-6; Tv 146:1-2,2-4,5-6; Mt 13:47-53

Rm 8, 1-4;  Mt 5, 13-19

NÊN MUỐI MEN CHO ĐỜI NHƯ CHA THÁNH ANPHONGSÔ

Hôm nay mồng 1 tháng 8 Dòng Chúa Cứu Thế trên Toàn Cầu Mừng Lễ Thánh  Tổ Anphongsô Maria Liguori: Thánh Anphongsô sinh tại Marianella ngày 27-12-1696. Vào đại học hoàng gia năm 12 tuổi, nhận thanh kiếm hiệp sĩ lúc lên 14 tuổi, đậu hai bằng tiến sĩ luật đạo và đời năm 16 tuổi, làm luật sư và chánh án khi 20 tuổi, “Hãy bỏ thế gian và hiến toàn thân cho Ta”. Ngày 19 tháng 8 năm 1723 người rút thanh gươm nhà quý tộc thường đeo, đặt trước bàn thờ Đức Mẹ; rời bỏ pháp đình để đi theo tiếng Chúa “Hỡi thế gian, ta đã biết ngươi rồi!” Ngày 21-12-1726, Anphongsô được thụ phong linh mục. Ngài thường nói: “Chính Đức Mẹ đã cứu tôi khỏi thế gian và đưa tôi vào hàng giáo sĩ”.

Tháng 11 năm 1732, Anphongsô ngồi trên lưng một con lừa, từ biệt thủ đô Naples để lên đường đi lập Dòng và ngày 9 thánh 11 năm 1732, trong chính ngày lễ Chúa Cứu Thế, tại Scala, Dòng Chúa Cứu Thế được chính thức  thành lập với năm Tu Sĩ đầu tiên….

Ngày 1 tháng 8 năm 1787, trong khi chuông nhà thờ Pagfani báo hiệu Kinh Truyền Tin thì Anphongsô qua đời, trong tay cầm mẫu ảnh Đức Mẹ, nguồn hy vọng. Theo truyền thống của Dòng, ngày một anh em qua đời là ngày nghỉ, ngày vui, ngày sinh nhật của Anphongsô trên trời. Thánh Anphongsô hưởng thọ 91 tuổi, và ngài được tôn phong hiển thánh năm 1839 và Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1871.

Sống trong một thế giới, trong một xã hội mà con người đua đòi, chạy theo con đường ăn chơi, xa xỉ, phung phí tiền của. Sống trong một giai đoạn mà ngay cả giới nhà tu cũng tranh nhau qui tụ về chốn đô thị để hưởng thụ, thỏa hiệp và sống dễ dãi. Đời sống đạo đức ở nhiều nơi bị sa sút trầm trọng, bè rối hoành hành giữa lòng Hội Thánh. Con người tưởng chừng không đâu tìm ra lối thoát giữa một xã hội xem ra bị chìm lỉm, ngụp lặn trong tội lỗi. Anphongsô đệ Liguoriô xuất hiện.

Chàng Anphongsô có mặt như vị anh hùng của thế kỷ. Với bầu nhiệt huyết sẵn có, với lòng đạo đức, thánh thiện, với thiện chí và lòng tin sắt đá, Anphongsô đã như hừng hực lửa Thánh Thần, bằng những tác phẩm giá trị và qua những lời giảng đầy lửa, đanh thép, Anphongsô đang vực dậy cả một Giáo Hội đang lâm nguy. Con người của Anphongsô sở dĩ có được tinh thần ấy và cảm nghiệm ấy bởi Anphongsô đã say mến Thiên Chúa. Ngài đã say mê Thiên Chúa với tất cả con người, với tất cả con tim rực cháy của mình. Mà chúng ta không xem Ngài như một con người kỳ diệu sao được khi Ngài có đủ điều kiện, đủ tài đức để sống vinh thân phì gia trong đất nước Ý Đại Lợi lúc đó: nhà giầu, cha mẹ quí phái, có chức có quyền trong triều đình, Anphongsô lại học giỏi mau chóng thành đạt với tuổi rất trẻ, mới 16 tuổi đời, Anphongsô đã đậu cả hai bằng tiến  sĩ đời và đạo. Với một tương lai rực sáng như thế, Anphongsô quả có đầy đủ tất cả để hưởng thụ một đời sống xa hoa, phú quí với nhà lầu, danh vọng, vợ đẹp, con khôn…

Thánh Anphongsô quả là ngọn lửa say mến Chúa Giêsu và từ ngọn lửa say mến ấy, Ngài đã đốt lên, đốt mãi không ngừng trong  tâm hồn các sĩ tử của Ngài và cũng ngọn lửa ấy luôn được thắp lên trong mọi tâm hồn những người thành tâm tìm kiếm Chúa.

Thánh Anphongsô dù đã là Giám Mục, Ngài vẫn luôn sống khó nghèo và nơi Ngài luôn tỏa sáng ngọn lửa say mến Thiên Chúa. Thánh Anphongsô có lòng yêu mến Đức Mẹ, Ngài đã thực hành và truyền lệnh cho các sĩ tử của Ngài luôn phải sùng kính Đức Mẹ và rao truyền về Đức Mẹ. Ngài đã làm gương cho các sĩ tử và mọi người về việc lần chuỗi Mân Côi, Ngài nói:”Chuỗi Mân Côi là giây bền đỗ…”.

Quan đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ phải trở nên muối ướp và đèn soi. Bằng hai hình ảnh cụ thể này, Ngài phác hoạ một luật sống mà các môn đệ phải tuân theo khi Ngài gởi họ đi vào đời.

Muối là vật dụng thường thức dùng trong việc nấu nướng. Không có muối, đồ ăn thiếu hương vị và lạt lẽo. Nhưng người Do Thái còn dùng muối làm phân bón. Vì vậy mà Ngài bảo: Các con là muối đất. Trong Kinh Thánh, muối là hình ảnh được nhắc lại nhiều lần. Từ vụ vợ ông Lót nhìn lại đàng sau mà biến thành tượng muối, đến chút muối mà thánh Phaolô căn dặn nên đặt vào trong lời ăn tiếng nói cho có hương vị khi giao tiếp với anh em.

Các con là muối, nghĩa là chúng ta hãy sống đạo dức, thực thi những điều Ngài dạy, để thánh hoá bản thân, nêu gương sáng cho người khác, hâm nóng những cõi lòng đã nguội lạnh. Nếu chúng ta không sống Lời Chúa trọn vẹn, thì chúng ta như muối đã nhạt, không ích lợi gì, chỉ đáng đem đổ ra ngoài đường cho người ta dày đạp. Người Do Thái ngày xưa đổ rác cả ra đường phố cho khách qua lại dẫm lên.

“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian”(Mt 5,13). Đây là lời mời gọi tuyệt vời dành cho người Kitô, bởi lẽ chỉ Thiên Chúa mới là Ánh Sáng (1Ga 1,5). Chỉ Chúa Giêsu mới dám nhận mình là Ánh Sáng (Ga 8, 12). Vậy ta muốn trở thành ánh sáng như Chúa Giêsu, ta phải ở gần Ngài: gần đèn thì ta được toả sáng.

Ánh sáng không thiên vị một ai, không thích người này và cũng không chê người kia. Ánh sáng của mặt trời lan tỏa khắp nơi, chiếu sáng mọi người và mọi nhà. Ánh sáng của người Kitô cũng vậy,”ánh sáng của anh em phải ở trên cao, vượt trên mọi danh vọng, tiền tài, lạc thú. Không phải để khoe khoang, tự kiêu, nhưng là để tôn vinh Cha, Đấng ngự trên trời” (Mt 5, 16).

Ánh sáng của cây nến tuy nhỏ bé nhưng cũng đủ toả sáng cả một căn phòng, làm cho bóng tối phải lùi bước. Một khi ánh sáng của ngọn nến bừng lên, đó cũng là lúc ngọn nến bị đốt cháy, bị tan biến đi. Người Kitô cũng vậy, phải mất đi cho chính mình, phải tan biến đi để “Ánh Sáng Chúa Kitô” được loan toả khắp nơi, khắp mọi nhà, khắp mọi tâm hồn.

Xin Chúa qua lời chuyển cầu của Thánh Anphongsô để rồi mỗi người chúng ta cũng trở nên muối cho đời và ánh sáng cho trần gian như lòng Chúa mong muốn.

 

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 26
  • Page 27
  • Page 28
  • …
  • Page 343
  • Next page
Bài viết mới nhất
"Magnifica Humanitas", thông điệp đầu tiên của Đức Thánh Cha Lêô XIV sẽ được công bố ngày 25/5/2026
20/05/2026
Kẻ đi tìm – 34 đề tài suy niệm và cầu nguyện
20/05/2026
Tám chặng đường đi tới hạnh phúc – Các mối phúc Tin Mừng
20/05/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.