2021
Lạc quan
23 14 X Thứ Sáu Tuần XVI Thường Niên.
(Tr) Thánh Bi-git-ta, Nữ tu.
Xh 20,1-17; Mt 13,18-23.
Lạc quan
Người phụ nữ kính sợ Chúa sẽ được ca tụng, con cái bà khen ngợi bà diễm phúc, và chồng bà cũng ca tụng bà (Cn 31.30.28 ). Thánh nữ Brigitta là một góa phụ đã sống hết mình vì Chúa Kitô. Người đã dưỡng dục, giáo huấn tám người con luôn biết sống theo giới luật của Chúa và tuân theo ý của Ngài.
Thánh Brigitta sinh năm 1303 tại Thụy Điển trong một gia đình có thế giá và rất bậc đạo đức. Được đào tạo trong bầu khí thánh thiện, đạo đức, thánh nhân sớm cảm nghiệm tình thương của Chúa: Ngài ham thích, say mê chiêm ngắm và suy nghĩ về cuộc thương khó của Chúa Giêsu.
Lớn lên, vâng lệnh song thân, thánh nữ kết hôn với quận công miền Névécie, tên Ulf Gusmarsson. Thánh nhân đã sống đời gương mẫu bằng lời nói, bằng lời cầu nguyện, Ngài đã khôn ngoan, khéo léo lôi cuốn người chồng sống tột đỉnh các nhân đức. Thánh nhân cũng là người mẹ rất đạo đức khôn ngoan đã giúp đỡ, giáo dục đoàn con luôn biết yêu thương kẻ khó nghèo. Chồng của thánh Brigitta vào dòng Citeaux và chết ít lâu sau đó, thánh nhân đã bắt đầu sống đời sống rất khắc khổ vào năm 1344.
Thánh nhân được Thiên Chúa yêu thương, đã sống một cuộc đời rất khó nghèo, Thiên Chúa đã mạc khải vén lộ cho Ngài rất nhiều điều bí nhiệm. Thánh nhân đã lập một dòng ở Vadsténa theo luật dòng Saint-Sauveur. Thánh Brigitta đã hành hương Roma và trở về thì Ngài mắc một chứng bệnh nan y. Năm 1373 sau một năm vật lộn với bạo bệnh, thánh nhân đã trút hơi thở cuối cùn và trở về với chúa trong an bình.
Sau thời gian sống hết mình vì Chúa, Ngài đã được Thiên Chúa yêu thương làm nhiều phép lạ qua bàn tay của Ngài. Thánh Bônifaciô IX đã nâng Ngài lên bậc hiển thánh vào ngày 7 tháng 10 năm 1391. Lạy Thiên Chúa từi bi nhân hậu, Chúa đã tỏ cho thánh Brigitta những bí nhiệm cao sâu trên trời khi thánh nữ suy niệm cuộc khổ nạn của Đức Kitô con Chúa. Xin cho chúng con d9ượic vui mừng hoan hỷ trong ngày Đức Kitô ngự đến vinh quang (Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Brigitta, nữ tu).
Nếu nói theo nhãn quan của những người canh tác ruộng nương thì người đi gieo hạt giống trong dụ ngôn hôm nay là một người làm ruộng nghiệp dư. Bởi lẽ chẳng nông dân trần thế nào lại muốn tốn hạt giống, để liều lĩnh gieo hạt vào những nơi xem ra không thể mang lại kết quả khả quan được! Gieo bên vệ đường, gieo nơi sỏi đá, gieo vào bụi gai thì làm sao hạt giống có thể phát triển mà sinh bông kết trái được?
Nhưng. Khi bước qua lãnh vực tâm linh mà nhìn nhận thì chúng ta thấy Chúa quả là Người gieo giống rất hào phóng, nhân lành và lòng đầy tình thương. Thật vậy. Lời Chúa là hạt giống đã được Đức Giê su gieo vào thế gian cho mọi người, không phân biệt màu da, sắc tộc, không phân biệt ngôn ngữ, văn hóa…Nhưng hạt giống ấy có phát triển và sinh hoa kết quả được hay không lại là do thái độ cũng như tâm tình của người lãnh nhận.
Lời Chúa hôm nay là dịp để chúng ta nhìn lại bản thân mình. Để xác định xem mình là loại thuở đất nào khi hạt giống Lời Chúa được gieo vào? Vệ đường, sỏi đá hay bụi gai?
Đích thân Chúa Giê-su giải thích rằng hạt giống trong dụ ngôn chính là Lời Chúa, hạt giống Lời Chúa. Hẳn rằng mọi hạt giống này đều có phẩm chất tốt, có sức ban sự sống, được gieo cùng thời điểm và từ một người gieo là Chúa Giê-su. Nhưng kết quả thì khác nhau: hạt thì bị quỷ dữ lấy đi, hạt thì khô héo ở trên đá sỏi, hạt thì chết nghẹt trong bụi gai; chỉ có những hạt rơi vào đất tốt thì sinh hoa kết quả đáng mừng. Dụ ngôn ngầm ý rằng kết quả khác biệt như thế là do từng loại đất, nghĩa là do điều kiện tâm hồn, do cách thế đón nhận Lời Chúa của từng người khác nhau.
Lời Chúa ban sự sống, sức mạnh cho những tâm hồn biết rộng mở và đón nhận. Và Lời Chúa sẽ vô ích cho những tâm hồn chai cứng, sỏi đá, nông cạn… Nơi mỗi người nếu như có nhiều những gai góc bóp nghẹt, sỏi đá cằn khô thì làm sao Lời Chúa sinh trưởng được. Trong thế giới này có quá nhiều sỏi đá làm bóp nghẹt sự sống con người: phá thai, tham nhũng, giết người,… khiến cho nhiều người không thể kiềm chế bản thân dẫn đến những đam mê bất chính, tội lỗi, trụy lạc…
Bổn phận của những Kitô hữu chúng ta cần biết lắng nghe và thực thi Lời Chúa, và cầu nguyện không ngừng để ma quỷ không cướp mất Lời đã được gieo vào lòng mỗi người.
Chúa Giêsu dường như muốn gieo chính niềm lạc quan ấy vào tâm hồn các môn đệ khi đưa ra dụ ngôn người gieo giống: có hạt rơi bên vệ đường, có hạt rơi trên đá sỏi, có hạt rơi vào bụi gai, nhưng kết quả của mùa gặt vẫn gấp trăm, gấp ngàn. Qua muôn thế hệ, hạt giống Nước Trời vẫn được gieo vãi: có hạt rơi vào vệ đường, sỏi đá, bụi gai của những chống đối và bách hại, hạt giống ấy vẫn nẩy mầm tươi tốt sinh nhiều bông hạt. Người môn đệ Chúa Giêsu luôn tiếp tục gieo vãi hạt giống Lời Chúa, họ luôn được mời gọi đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa và kiên trì, dù thành công hay thất bại. Trong thư 1Cor. thánh Phaolô đã diễn tả đúng tinh thần lạc quan và kiên trì của người gieo giống: “Tôi trồng, Apollô tưới, nhưng Thiên Chúa cho mọc lên”.
Vệ đường, sỏi đá, bụi gai vẫn tiếp tục cản trở công việc gieo trồng, nhưng người nông dân của Nước Trời không vì thế mà bỏ cuộc. Có những gieo vãi qui mô ồ ạt, nhưng cũng có những gieo vãi âm thầm: âm thầm trong thinh lặng hằng ngày, âm thầm trong những khước từ, âm thầm trong những bách hại dưới mọi hình thức, nhưng đó vẫn là sự âm thầm cơ bản nhất trong bất cứ sự gieo vãi nào, hay nói theo Ðức Phaolô VI trong Tông huấn Loan Báo Tin Mừng: đó là một sự công bố thinh lặng Tin Mừng, nhưng rất hiệu nghiệm.
2021
LOAN BÁO TIN MỪNG PHỤC SINH
22 13 Tr Thứ Năm Tuần XVI Thường Niên.
THÁNH MA-RI-A MA-ĐA-LÊ-NA, lễ kính.
Không cử hành lễ cầu cho người qua đời (D2, D3), trừ lễ an táng.
Dc 3,1-4a (hoặc 2Cr 5,14-17); Ga 20,1-2.11-18.
a
LOAN BÁO TIN MỪNG PHỤC SINH
Maria Mađalêna hay còn gọi là Maria. Sau khi được Chúa trừ cho khỏi bảy quỷ, ngài đã theo Chúa trên hành trình đi rao giảng (x. Mc 16,9; Lc 8,1-3) Thánh nhân là nhân chứng đầu tiên của biến cố Đức Giêsu phục sinh (x. Ga 20,1-18) kể lại những gì Chúa nói với ngài (x. Ga 20,18). Ngài đặt cho tước hiệu Apostolorum Apostola – Tông đồ của các Tông đồ. Vì ngài đã báo tin Chúa sống lại cho các Tông đồ, và các Tông đồ lại loan tin ấy cho toàn thế giới.
Maria Mađalêna, hay “Maria Mácđala”, người được Ðức Kitô chữa khỏi bảy quỷ (Lc 8,1-3). Maria Mađalêna bị “nhận diện sai lầm” trong 20 thế kỷ vì người ta cho rằng cô là người phụ nữ tội lỗi đã lấy nước mắt rửa chân Ðức Giêsu (x. Lc 7,36-50). Và người ta cũng lầm lẫn Maria Mađalêna với Maria thành Bêtania, em của Martha. Ba người tên Maria (Ngoài Đức Maria – Mẹ của Chúa Giêsu) mà Tân ước đề cập là ba nhân vật khác nhau.
Hẳn mọi người còn nhớ vào năm 1969, trong triều đại giáo hoàng của Chân phước Phaolô VI, Tòa Thánh không phê bình về nhận xét của Thánh GH Grêgôriô Cả, mà chỉ bỏ điều đó bằng cách tách biệt người phụ nữ tội lỗi trong Phúc Âm theo Thánh Luca với bà Maria ở Bêthania và Maria Mađalêna qua Sách lễ Rôma.
Do đó, tai tiếng vẫn cứ “lờn vờn” bị gán cho Thánh Maria Mađalêna. Sau thời gian quá lâu, cách tin này trở thành “thâm căn cố đế” không chỉ trong Giáo hội Tây phương mà còn trong một số Giáo hội Tin lành đã từng theo truyền thống Công giáo Rôma. Cách hiểu sai về Thánh Maria Mađalêna là cô-gái-điếm-sám-hối vẫn được nhiều văn sĩ và họa sĩ hồi thập niên 1990.
Thậm chí ngay cả ngày nay, cách hiểu sai đó vẫn được truyền bá. Điều đó được phản ánh trong bộ phim của Martin Scorsese – phỏng theo tiểu thuyết “Cơn Cám Dỗ Cuối Cùng của Đức Kitô” (The Last Temptation of Christ) của Nikos Kazantzakis, trong phim “Phúc Âm theo Chúa Giêsu Kitô” (The Gospel According to Jesus Christ) của José Saramago, trong “Siêu Sao Giêsu Kitô” của Andrew Lloyd Webber, trong “Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô” của Mel Gibson, trong “Màu Thập Giá” (Color of the Cross) của Jean-Claude La Marre và trong “Sách Sự Sống” (The Book of Life) của Hal Hartley.
Vì hiểu sai về Thánh Maria Mađalêna là gái điếm nên người ta mới chọn bà làm bổn mạng của “các phụ nữ hư hỏng”, vì có một truyền thuyết lâu đời trong Giáo hội nói rằng bà là người phụ nữ tội lỗi vô danh đã xức dầu chân Chúa Giêsu được thuật lại trong Lc 7:36-50, và Viện tế bần Mađalêna đã được thành lập để “cứu vớt” các chị em từ nhà thổ. Bà còn được coi là bổn mạng của những người bị vu khống
Maria Mađalêna là một trong những người đã giúp đỡ Chúa Giêsu và nhóm Mười hai bằng các phương tiện của họ (Lc 8,2-3). Maria Mađalêna là một trong những người đứng dưới chân thập giá Chúa Giêsu với Ðức Mẹ và Gioan tông đồ. Khi táng xác Chúa, Maria Mađalêna và Maria vợ ông Clêôphas đã ngồi trước mộ thánh của Chúa Giêsu. Maria là một trong những nhân chứng “chính thức” đã được chọn để chứng kiến sự Phục sinh và loan báo Tin Mừng Chúa Kitô Phục sinh.
Thánh nữ Maria thành Magđala (Mácđala hay Mađalêna) là người được gọi đầu tiên trong số các phụ nữ được Chúa Giêsu chữa bệnh, nay theo và phục vụ Người (Lc 8,2).
Trong Tin Mừng có nói nhiều về những người mang tên Maria, cũng được Chúa chú tâm đặc biệt, ít nhất là có ba người, đó là các bà Maria thành Béthania (miền Giuđê), bà Maria thành Magđala (miền Galilê) và người đàn bà tội lỗi vô danh trong Tin Mừng Thánh Luca (Lc 7).
Phụng vụ Giáo Hội La Mã, kể từ thời Đức Giáo Hoàng Grêgôriô Cả, đều coi Maria này là người đàn bà tội lỗi, rửa chân cho Chúa Giêsu (Lc 7,36-50) và là chị của Mátta và Lagiarô (Lc 10,38,50 ; Ga 12,1-8). Thế nhưng khoa Thánh Kinh ngày nay không xác tín điểm này.
Điểm chắc chắn không ai tranh cãi là Maria Magđala đã đứng dưới chân Thánh Giá của Chúa Giêsu (Mc 15,40-41). Bà hiện diện nơi cuộc táng xác Chúa (Mc 15,47) và vào buổi sáng phục Sinh, bà cùng mấy phụ nữ đã đi ra mồ Chúa (Mc 16,1-8). Chính bà là người đầu tiên được Chúa Phục Sinh hiện ra và sai đi báo cho các Tông Đồ tin mừng Phục Sinh (Mc 16,9 ; Ga 14-18).
Việc Chúa Giêsu Phục sinh đã biến đổi hẳn ý nghĩa và tình cảm của con người; bà Maria Mađalêna chính là đại diện; trước cái chết: nếu không tin việc Phục sinh, chúng ta đau buồn than khóc trước cái chết của một người thân và tiếc nuối đi tìm thân xác họ, khi đã có niềm tin Phục sinh, chúng ta sẽ không còn than khóc và sẽ không tìm người sống nơi kẻ chết nữa.
Tình cảm của bà đối với Chúa Giêsu rất đậm đà: Khi không thấy xác Chúa Giêsu, bà khóc và cả thế giới này không còn ý nghĩa gì đối với bà nữa: bà không tìm gì khác ngoài xác của Chúa Giêsu, không nhận ra ai khác (các thiên thần, chính Chúa Giêsu mà bà tưởng là người giữ vườn). Khi Chúa gọi tên, bà nhận ra Chúa, sau đó vui mừng chạy đi báo cho mọi người. Tóm lại, đối với Maria Chúa Giêsu là tất cả, mất Chúa Giêsu cả thế giới như sụp đổ, gặp lại Chúa là gặp lại niềm vui.
Maria Mađalêna và các chị em lúc ban đầu đi ra thăm mộ với những bước đi nặng nề, sợ hãi tâm hồn lạnh lẽo đang than thở khóc lóc… bỗng trở nên vui tươi, rạng rỡ vì gặp Ðấng Phục Sinh…
Bà quá vui mừng và muốn giữ Ngài lại cho riêng mình. Nhưng Chúa Giêsu thúc giục bà hãy loan tin Ngài đã phục sinh: “Ðừng giữ Ta lại… hãy đi gặp anh em Ta và hãy báo tin.”…
Theo mệnh lệnh của Đấng Phục sinh, Mađalêna hoan ca reo vui ra đi loan báo cho các môn đệ: Thầy đã sống lại và “Tôi đã thấy Chúa!” (Ga 20,18).
Sứ điệp tin mừng Phục sinh là niềm vui khôn tả nhưng luôn khẩn cấp không thể chần chừ trì hoãn vì Chúa Giêsu đã chết, sự chết làm tiêu tan tất cả và Ngài đã Phục sinh thông ban cuộc sống mới cho chúng ta: Cuộc sống được ra khỏi bóng tối của thế gian và những sự ràng buộc của nó, ra khỏi mùa đông lạnh lẽo đầy sự chết của ngôi mồ biểu tượng quyền bính của thần chết và bước vào ánh sáng của mặt trời công chính vừa bừng dậy sau giấc ngủ của đêm dài, bước trong sự ấm áp của nắng xuân Phục sinh.
2021
TIN VÀO CHÚA
21 12 X Thứ Tư Tuần XVI Thường Niên.
(Tr) Thánh Lô-ren-xô Bơ-rin-đi-xi (Brindisi), Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh.
Xh 16,1-5.9-15; Mt 13,1-9.
TIN VÀO CHÚA
Dụ ngôn là một hình thức giảng dạy dùng tỉ dụ từ phong tục trong dân chúng hay cuộc sống thường nhật để rút ra bài học, hay làm sáng tỏ một chân lý đạo đức hoặc tôn giáo. Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu dùng dụ ngôn người gieo giống đi gieo giống lúa tại Galilêa thời Chúa Giêsu: Galilêa là một xứ nhỏ, nhiều đồi núi, ít ruộng đất, đông dân cư, nên ruộng đất phải chia nát ra thành nhiều phần nhỏ, phần đất nào cũng có đường bờ làm cương giới. Phần nhiều đất không đủ màu mỡ, có nhiều chỗ pha trộn đá sỏi, đất đã xấu lại hỗn độn đầy cỏ, nhất là cỏ gai.
Tuy nhiên cũng có nhiều chỗ đất phì nhiêu, người ta chỉ cày bừa kỹ rồi gieo vãi đợi đến mùa là gặt lúa về. Hiểu như thế giúp chúng ta dễ dàng hiểu lời Chúa hôm nay.Dụ ngôn người gieo giống cũng thuộc nhóm dụ ngôn liên hệ về Nước Trời như các dụ ngôn:
Hạt cải và nắm men ( Mt 13, 31 – 32 ).
Dụ ngôn kho báu và đá ngọc ( Mt 13, 44 – 46 )
Dụ ngôn các lưới cá ( Mt 13, 47 – 50 )
Dụ ngôn cỏ lùn ( Mt 13, 24 – 30 ).
Chúa Giêsu thường giảng bằng dụ ngôn ( Mt 13, 34 ). Với các môn đệ Ngài nói rõ sự thật, với người ngay lành, Ngài dùng dụ ngôn làm cho người nghe dễ hiểu, dễ nhớ các chân lý Ngài trình bày, và khám phá dần dần sự phong phú chứa đựng trong chân lý ấy. Với người không tiếp nhận thì chân lý không tỏ ra cho họ, và nếu lời giảng nhắm thẳng vào người nghe thì lời nói không làm cho họ quá đột ngột hay khó chịu, như khi Chúa muốn nói về nhóm Biệt Phái Luật sĩ. Hàng Tư tế Dothái sẽ giết Chúa, Ngài đã dùng dụ ngôn các tá điền làm vườn nho để đến mùa nộp huê lợi cho chủ. Hơn nữa, Chúa Giêsu dùng dụ ngôn để thực hiện những lời tiên tri báo trước về việc dùng dụ ngôn: “mở miệng ra tôi sẽ nói dụ ngôn công bố điều huyền bí thuở xa xưa” ( Tv 78, 2 ).
Chúa Giêsu dùng dụ ngôn về Nước Trời, để giác ngộ người Dothái khỏi lầm lẫm về Nước Trời mà Ngài thiết lập không theo kiểu trần thế như họ tưởng nghĩ và mong muốn. Chúa Giêsu dùng dụ ngôn về người gieo giống: người gieo giống trước tiên chính là Thiên Chúa, hạt giống là Chúa Giêsu được Chúa Cha sai xuống thế gian để cứu chuộc thế gian, đất được gieo là nhân loại, đất khác nhau vì thái độ đón nhận khác nhau của từng người. Đồng thời người gieo giống là Chúa Giêsu, và tiếp tục là Giáo Hội qua muôn thế hệ, hạt giống là lời Chúa, đất được gieo là toàn thể nhân loại nói chung, và từng người nói riêng, đất khác nhau là thái độ đón nhận của người nghe khác nhau.
Khi dùng những hình ảnh quen thuộc với thính giả Galilêa, Chúa Giêsu trình bày số phận của hạt giống tuỳ theo vùng đất tiếp nhận nó, đất sỏi, bụi gai, vệ đường, lại thêm những chướng ngại bên ngoài như chim trời, nắng gắt, nhưng có hạt rơi nhằm đất tốt thì sinh hoa kết quả nhiều, hạt được gấp trăm, hạt sáu mươi, hạt ba mươi.
Lời Chúa được giảng dạy cũng vậy, nó phát sinh hiệu quả cho người nghe tuỳ theo thái độ đón nhận của họ, và tuỳ thuộc vào cách họ sống. Chúa Giêsu đưa ra bốn loại: vệ đường, đá sỏi, bụi gai và đất tốt. Chỉ có đất tốt mới có hiệu lực sinh hoa kết quả. Xét về hình thức thì việc rao giảng thất bại vì chỉ thành công với tỉ lệ ¼ nhưng về tính chất thì loại đất thứ tư lại gấp bội ba mươi, sáu mươi, một trăm, có nghĩa là hạt giống lời Chúa luôn là tốt có một tiềm năng hiệu lực, lúc đầu xem ra thất bại nhưng cuối cùng là vào ngày cánh chung sẽ thành công vì Nước Chúa sẽ trị đến. Hạt ba mươi, hạt sáu mươi, hạt một trăm trong dụ ngôn này, Chúa Giêsu không áp đặt mà chỉ đề nghị và mời gọi mọi người hiểu được thái độ cần phải có để đón nghe lời Chúa cho sinh kết quả phần rỗi linh hồn mà tạo cho tâm hồn nên một mảnh đất tốt.
Chúng ta cần nhận thức giá trị thiêng liêng của lời Chúa mà tha thiết lắng nghe và chăm chú thi hành, chúng ta cần có tinh thần khao khát lời Chúa như một nhu cầu của sự sống, cần gạt bỏ những chướng ngại, nhất là các thành kiến, khuynh hướng xấu trong tâm hồn chúng ta, chúng ta cần từ bỏ những sự lo lắng ham mê những sự thế gian xác thịt để có một tâm hồn thanh thoát, trong sạch đón nhận lời Chúa. Chúng ta cần tu luyện cho có một tâm hồn khiêm nhường biết tin tưởng cậy trông, và yêu mến lời Chúa để cho lời Chúa biến đổi đời sống chúng ta, dẫn đưa chúng ta đến ơn cứu độ, đến sự sống đời đời. Từ đó chúng ta trở nên một tông đồ đem lời Chúa đến cho mọi người cách hăng say nhiệt thành vì phần rỗi của mọi anh em chúng ta.
Hạt giống “sinh hoa kết quả”, có thể nói, là niềm mong ước của tất cả mọi người đi gieo. Song, để đạt được điều đó, thì có hạt giống tốt mà thôi vẫn chưa đủ, nhưng còn cần đến một mảnh đất tốt. Thực tế đó cũng được áp dụng đúng trong trường hợp của chính Lời Chúa là “hạt giống tốt” được Chúa Giêsu gieo vãi vào trong những mảnh đất là tâm hồn của con người. Chỉ có những mảnh đất tâm hồn tươi tốt, phì nhiêu mới làm cho hạt giống Lời Chúa được trổ sinh hoa trái dồi dào. Song, một mảnh đất tâm hồn tươi tốt là thế nào nếu không phải là một tâm hồn luôn biết mở rộng để lắng nghe, để suy niệm và đem ra thực hành.
Cuộc sống giữa trần thế, với biết bao bận tâm chi phối, dễ làm cho chúng ta lãng quên, coi nhẹ việc lắng nghe và suy niệm Lời Chúa. Điều đó khiến mảnh đất tâm hồn của chúng ta dần dà trở nên khô cằn, sỏi đá và gai góc. Vì thế, hơn bao giờ hết, bạn và tôi được mời gọi chăm lo mảnh đất tâm hồn mình cho tươi tốt bằng việc gắn bó với Lời Chúa mỗi ngày. Có như thế, hạt giống Lời Chúa mới bám rễ sâu và sinh hoa kết trái dồi dào.
Chúng ta hãy suy niệm ý nghĩa chung của dụ ngôn. Chúa Giêsu dạy cho các đồ đệ của Ngài ngày xưa và cho chúng ta hôm nay một bài học về tinh thần lạc quan trong đời sống đức tin. Cuối cùng, ơn Chúa sẽ thắng, Lời Chúa sẽ được đón nhận và sinh hoa kết quả tốt đẹp. Những hoa trái đó có thể bù cho những thiệt mất trong thời gian chờ đợi chiến thắng cuối cùng và vĩnh viễn của Lời Chúa và ân sủng cứu rỗi của Ngài.
Ta hãy dừng lại chiêm ngắm hạt giống trổ sinh hoa trái. Chúng ta hãy tin tưởng vào sức mạnh của Lời Chúa, không ngã lòng thất vọng trước những nghịch cảnh, những môi trường không thuận lợi cho Lời Chúa. Những người Do Thái chống đối khước từ Chúa đã không làm hư chương trình cứu rỗi của Ngài. Ngày hôm nay cũng không thiếu những hoàn cảnh đối nghịch với Lời Chúa nhưng chắc chắn sẽ không diệt bỏ được sức mạnh trổ sinh hoa trái của Lời Chúa. Ðây là điểm tựa cho niềm hy vọng của người môn đệ.
2021
NGƯỜI NHÀ CỦA CHÚA
20 11 X Thứ Ba Tuần XVI Thường Niên.
(Đ) Thánh A-pô-li-na-rê, giám mục tử đạo.
Thánh Giuse Maria Diaz Sanjurjo An, Giám mục (U1857), Tử đạo.
Xh 14,21-15,1a; Mt 12,46-50.
NGƯỜI NHÀ CỦA CHÚA
Tin Mừng hôm nay xem chừng thật khó hiểu trong bối cảnh nền văn hóa Việt Nam. Với văn hóa người Việt chúng ta, chữ hiếu luôn được đặt lên hàng đầu “Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”, và do đó, thái độ thiếu tôn trong với người lớn hơn, nhất là bậc sinh thành của mình thì thật khó mà chấp nhận được.
Nếu xét ở khía cạnh văn hóa ấy, thì Chúa Giêsu trong trình thuật hôm nay thật là một điều khó chấp nhận. Có vẻ như Ngài thiếu sự tôn trọng, thiếu sự lễ độ và lòng tôn kính đối với thân mẫu của mình. Trình thuật kể rằng: Đang khi Chúa Giêsu giảng dạy cho đông đảo dân chúng, thì có mẹ Maria và các anh em bà con (Mt 13,55) của Ngài đến tìm, nhưng họ không sao lại gần Ngài được vì những kẻ đến nghe Ngài giảng dạy quá đông. Do đó, có một người ngồi gần Chúa Giêsu đã thông báo cho Ngài biết về sự hiện diện của mẹ và để người có thể ra ngoài gặp họ. Nhưng thật lạ lùng, thay vì Chúa Giêsu nói, “ồ, tôi cám ơn anh đã thông tin” hay đại loại là “cám ơn anh” và thậm chí Ngài chỉ cần gật đầu để để xác nhận tin báo cũng đủ.
Thế mà, mọi người như ngỡ ngàng,… ánh mắt Chúa Giêsu rảo quanh nhìn đám đông đang ngồi quanh mình, rồi cao giọng nói với họ và người đưa tin “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?”. Nghe lời ấy, nếu chúng ta đang hiện diện ở đó, chắc hẵn ta cũng sẽ tỏ vẻ khó chịu với Ngài, bởi có cái gì đó thiếu lễ độ và ý nhị. Vì lẽ, ta nghĩ, sao ông này vô duyên đến thế, người ta thông báo không cám ơn thì thôi, lại còn tỏ ra khó chịu và thiếu lễ độ với thân nhân mình và người khác.
Tuy nhiên, chúng ta chỉ dựa vào mấy câu Tin mừng ngắn ngủi để xét đoán Chúa Giêsu e là không công minh lắm. Chúng ta cần đặt đoạn Tin mừng này trong bối cảnh của chương 11-12-và 13, khi Chúa Giêsu đang rao giảng cho dân chúng về mầu nhiệm Nước Trời, mà ở vương quốc ấy không còn sự phân biệt bà con ruột thịt theo kiểu thế tục của trần gian, nhưng tất cả đều là anh chị em với nhau, con của một Đấng duy nhất là Thiên Chúa.
Như thế, ta thấy Chúa Giêsu đã tận dụng rất tốt, rất tinh tế cơ hội có một không hai này, để nói cho dân chúng biết về mối hiệp thông trong Thiên Chúa, tức là vương quốc Nước Trời, một gia đình thiêng liêng vĩnh cửu. Ở gia đình thiêng liêng này, mối hiệp thông ruột thịt bị lu mờ đi xem như không có, để làm nổi bật lên một mối hiệp thông siêu nhiên, nơi mà mọi liên lạc đều được xây dựng trên ý của Thiên Chúa.
Hiểu như vậy, chúng ta sẽ thấy thật tự hào, thật hạnh phúc với lời của Chúa Giêsu: “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.” Ngài đang nhìn, đang nói với chính mỗi người chúng ta rằng: anh – chị – em là anh là chị là em của tôi. Tất cả những ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì kẻ ấy chính là bà con thân thuộc với Ngài, chính là mẹ và là anh em của Ngài. Còn gì hạnh phúc bằng khi nghe một vị Thiên Chúa nói với chính mình như thế.
Trở về với cuộc sống của mình, đôi lúc chúng ta quá bận tâm với các mối quan hệ ruột rà “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, mà quên mất anh chị em xung quanh mình, nhất là những người tin vào Đức Giêsu là Chúa thì có cùng với chúng ta “huyết nhục thần linh”. Do vậy, chúng ta luôn tìm mọi cách để bảo vệ cho quyền lợi những người thân của mình, những người ta yêu mến và dễ dàng làm tổn hại đến lợi ích kẻ khác mà quên mất sự liên đới thần linh và tính công bằng bác ái.
Để trở thành người một nhà của Thiên Chúa, chúng ta phải là những người thực thi ý muốn của Người. Làm sao ta có thể biết được ý muốn của Thiên Chúa? Muốn biết thánh ý của Thiên Chúa để thực hành thì cần phải lắng nghe Lời người, như Samuel: “Lạy Chúa xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe”.
Lời Chúa nói cụ thể, dứt khoát qua Lời Kinh thánh, qua Ngôi Lời – Con Chí ái của Người – đó là Lời tình yêu tỏ bày cho nhân loại, chúng ta đã có thái độ nào với Lời của Chúa? Thái độ dửng dưng vì lời đó cũ xì, không thức thời, không còn hợp với lối sống hiện đại…? Lời Chúa luôn là lời cho hôm nay: “Hôm nay ước gì anh em nghe tiếng Chúa, các ngươi chớ cứng lòng” (Tv 94). Lời Chúa vẫn luôn là Lời mang lại hạnh phúc và sự sống qua mọi thời đại cho những ai trung thành thực hiện Lời Người. Chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần để được Người dạy dỗ cho chúng ta hiểu thấu Lời Kinh thánh và can đảm thực hiện Lời của Người trong cuộc sống.
Lời Chúa vẫn còn luôn được nói, được bày tỏ cho chúng ta qua những sự kiện, biến cố của lịch sử, của cuộc đời. Như Đức Maria đã thưa tiếng xin vâng trong biến cố truyền tin – biến cố quyết định cuộc đời Mẹ cũng như lịch sử nhân loại – chúng ta hãy tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa trong cuộc sống: Ngày hôm nay, trong giai đoạn này, trong sự kiện này, Chúa muốn tôi làm gì?… những chuyện xảy ra chung quanh trong cuộc sống hằng ngày, những thông tin qua truyền thanh, truyền hình và hệ thống mạng về thế giới, xã hội, con người… có là chất liệu cho chúng ta suy gẫm và tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa hầu có một thái độ sống phù hợp để thực thi ý Người?
“Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?” Cứ ngỡ câu trả lời sẽ rất rõ ràng và dễ dàng: là Đức Maria và các anh em họ Chúa Giêsu đang đứng ở vòng ngoài. Thế nhưng, đáp án Chúa Giêsu đưa ra thật bất ngờ khiến ai nấy ngỡ ngàng: người thân của Ngài là tất cả những ai thi hành ý muốn của Cha trên trời. Chắc chắn Chúa Giêsu không coi nhẹ quan hệ, tình nghĩa theo huyết thống. Ngài muốn ta vượt lên trên gia đình thân thiết theo nghĩa thông thường, để mở rộng lòng đón nhận một quan hệ, tình nghĩa thiêng liêng: quan hệ, tình nghĩa của những người con cái trong gia đình của Thiên Chúa. Trong đại gia đình ấy, chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa nhờ trở nên giống người Anh Cả Giêsu, Đấng luôn vâng phục và vuông tròn thực hiện thánh ý Chúa Cha.
“Một giọt nhỏ vâng phục đơn sơ có giá trị gấp triệu lần một bình đầy những suy tính đã chọn lọc kỹ càng” (Th. Maria Mađalêna Pazzi). Tình yêu chân thật với Thiên Chúa dựa trên nền tảng là lòng vâng phục. Chúa Giêsu đã chứng tỏ lòng yêu mến ấy bằng sự vâng phục tuyệt đối, kể cả bằng việc hy sinh mạng sống. Môi chung ta nhìn ngắm mẫu gương vâng phục của Ngài.
