Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Suy niệm hàng ngày

Home / Phụng vụ / Suy niệm hàng ngày
18Tháng Bảy
2021

DẤU LẠ

18/07/2021
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

19  10  X  Thứ Hai Tuần XVI Thường Niên.

Xh 14,5-18; Mt 12,38-42.

DẤU LẠ

Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy những người biệt phái không nhận Chúa Giêsu là Đấng Messia, họ viện cớ là vì họ không thấy dấu lạ. Thực ra Chúa Giêsu đã làm cho họ biết bao nhiêu dấu lạ mà họ không nhận ra. Chúa có thể làm được những phép lạ bất cứ lúc nào và ở đâu. Nhưng những dấu lạ như thế sẽ là áp lực, bó buộc, khiến người ta phải tin thờ Ngài, như thế con người không còn được tự do, Chúa không phải là một Thiên Chúa yêu thương mời gọi nữa.

Tin Mừng thuật lại việc các giới chức Do Thái đòi Chúa làm một dấu lạ thì mới tin vào Ngài. Chúa Giêsu không làm theo những đòi hỏi của họ, và Ngài còn đòi họ phải có lòng tin.  Cũng vậy, ngày nay chúng ta muốn đến với Chúa và đón nhận ơn cứu độ của Ngài cần phải có lòng tin mạnh mẽ, chân thành và tuyệt đối.

Các luật sĩ và biệt phái là những người đã từng nghe Chúa giảng và chứng kiến những phép lạ Chúa làm, nhưng họ vẫn không nhận ra Chúa là Đấng cứu thế, nên đã xin Chúa làm dấu lạ trước mặt họ để tin vào Ngài. “Lạy Thầy, chúng tôi muốn thấy Thầy làm một dấu lạ”.

Chúa Giêsu không thể đáp ứng yêu cầu của người luật sĩ và biệt phái. Ngài không làm phép lạ để biểu diễn, để được tiếng khen. Trái lại, Ngài chỉ thực hiện phép lạ cho những người có lòng tin mạnh mẽ.

Chúa nhìn thấy thái độ cố chấp của các luật sĩ, biệt phái. Ngài quở trách họ như một thế hệ hư hỏng, cứng tin và bất trung. Ngài tuyên bố thẳng thừng: “Thế hệ hung ác gian dâm đòi một dấu lạ! Nhưng sẽ không cho dấu lạ nào, trừ dấu lạ tiên tri Giona. Cũng như xưa tiên tri Giona ở trong bụng cá ba đêm ngày thế nào, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba đêm ngày như vậy.”

Đây là lời tiên báo trước việc Chúa chịu chết trên thập giá và sự phục sinh vinh hiển. Qua đó, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy: Ngài muốn hiến thân mạng sống của mình để ban ơn cứu độ nhân loại, và đưa con người vào cuộc sống vĩnh cửu.

Chúa Giêsu mượn hình ảnh tiên tri Yôna để loan báo về chính cái chết của Ngài. Cũng như Yôna đã vâng phục Thiên Chúa đến rao giảng sự sám hối cho dân thành Ninivê, thì Chúa Giêsu cũng vâng phục Chúa Cha để sống kiếp con người và trở thành dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa cho con người.

Qua hình ảnh Yôna để loan báo sự vâng phục cho đến chết của Ngài, Chúa Giêsu muốn nói đến con đường mạc khải của Thiên Chúa, đó là con đường tình yêu. Ngài đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài, nghĩa là có tự do và biết yêu thương, cho nên Thiên Chúa đã chọn con đường yêu thương để đến với con người. Ngài đã hóa thân làm người, sống trọn vẹn kiếp người, và cuối cùng chịu chết treo trên Thập giá, tất cả để trở thành lời mời gọi đối thoại yêu thương.

Mãi mãi Thiên Chúa chỉ đến với con người qua dấu chỉ của tình yêu. Người Kitô hữu luôn được mời gọi để nhận ra những dấu chỉ yêu thương ấy trong cuộc sống của mình, không những qua những chúc lành và may mắn, mà còn qua những mất mát, khổ đau thua thiệt nữa. Nhận ra những dấu chỉ yêu thương của Thiên Chúa trong cuộc sống, người Kitô hữu cũng được mời gọi để trở thành những dấu chỉ yêu thương của Ngài cho mọi người chung quanh. Trở thành dấu chỉ yêu thương có nghĩa là chấp nhận sống vâng phục và vâng phục cho đến chết như Chúa Giêsu. Trở thành dấu chỉ yêu thương giữa tăm tối của cuộc sống, giữa đọa đày bách hại, người Kitô hữu vẫn tiếp tục chiếu sáng trong tín thác, yêu thương, phục vụ, tha thứ.

Thời nào cũng thế,  cuộc sống ai ai cũng muốn thấy có một dấu lạ. Mọi người đều muốn nhìn thấy phép lạ tỏ tường ngay trước mặt, và thật đơn giản nếu có bất cứ nơi nào xảy ra dấu lạ, dù xa xôi cách trở nghìn dặm mọi người vẫn đổ xô nhau đến để bái lạy tin thờ. Nhưng đối với Thiên Chúa, việc Ngài ban phép lạ quả thật rất đơn giản và dễ dàng, nhưng không phải vì thế mà Thiên Chúa  thực hiện, Ngài luôn muốn mọi người biết sống tự do trong sự tự nguyện, với lòng yêu mến tin thờ Thiên Chúa Ba ngôi.Thật sự Chúa luôn muốn chúng ta chạy đến với Người bằng tình yêu và phục lạy từ chính trái tim chứ không bằng đôi mắt chỉ tin vì đã xem đã thấy.

Vì thế, dấu lạ để củng cố niềm tin không phải là sai.Thế nên Chúa đã và đang làm dấu lạ hằng ngày trên bàn thờ Thánh Thể, biến bánh rượu trở thành Thịt Máu Chúa nuôi dưỡng chúng ta hằng ngày, qua đó chúng ta tìm được sự quan phòng  bình an che chở, thêm lòng tin yêu của Thiên Chúa. Song song vào đời sống thường ngày chúng ta lại thấy biết bao dấu chỉ, nhưng dấu chỉ thì kín đáo và giản đơn,  có những tiếng mời gọi nhẹ nhàng và yêu thương của Ngài, chỉ cần ta tỉnh thức, mở tâm hồn là có thể cảm nhận ngay.

Chẳng hạn như tôi đang mạnh khỏe bỗng dưng tôi bị bệnh tật tàn phế, tôi có hồi tâm lại nhìn ra đây là “dấu chỉ đời mình” giúp tôi nhận ra sự quan phòng của Thiên Chúa, để biết nhận ra tình thương của Ngài, biết trao cho thân xác và linh hồn mình cho Thiên Chúa chở che nâng đỡ, hoặc tôi bị người đời chê bai vu cáo phê phán, sỉ nhục, làm tổn thương hay thất bại nhiều lần trong đời, tôi có nhận ra đây cũng là dấu chỉ đời mình, từ đó tôi biết đi tìm Chúa, nương tựa vào Ngài là nguồn suối ủi an, giúp chúng ta vượt qua nguy khốn hiểm nghèo, chỉ có Chúa luôn yêu thương giúp đời tôi luôn bình yên, hay qua đó tôi nhìn ra nơi Chúa muốn nói gì ở tôi? Đối với mọi người, Thiên Chúa cũng muốn chúng ta luôn là dấu lạ trao cho nhau bằng ánh mắt cảm thông, hay tiếng cười thân thương, nhưng qua đó cũng là dấu lạ để giới thiệu Chúa đến với mọi người chung quanh.

Chúa vẫn không ngừng mặc khải về Chúa cho chúng ta, vậy mà cuộc sống của chúng ta chưa biến đổi, hoặc chỉ biến đổi một phần nào đó mà thôi. Khi nhận ra sự thật về Thiên Chúa, chúng ta phải cảm nhận được hành động của Chúa đang diễn ra trong cuộc đời của mỗi người chúng ta. Khi biết và cảm nhận thực sự về Chúa, chúng ta mới có thể quyết tâm biến đổi cuộc đời cho phù hợp với tình yêu thương bao la của Chúa đã dành cho chúng ta.

Qua tin Mừng hôm nay, trong cuộc sống ai cũng muốn thấy một dấu lạ “Thưa Thầy, chúng tôi muốn thấy Thầy làm một dấu lạ”. Mọi người chúng ta đều muốn nhìn thấy phép lạ tỏ tường ngay trước mặt, thật đơn giản nếu có, bất cứ nơi nào xảy ra dấu lạ, dù xa xôi cách trở nghìn dặm mọi người vẫn đổ xô nhau đến để bái lạy tin thờ  Thiên Chúa.

Riêng với Thiên Chúa những phép lạ quả thật rất đơn giản và dễ dàng, nhưng điều này dẫn mọi người không được sống tự do trong sự tự nguyện, sẽ bị áp lực sẽ bó buộc phải tin thờ. Thật sự Chúa luôn muốn chúng ta chạy đến với Người bằng tình yêu và phục lạy từ chính trái tim chứ không bằng đôi mắt chỉ tin vì đã xem đã thấy.

Read More
16Tháng Bảy
2021

Người Tôi Trung Hiền Lành

16/07/2021
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

17  08  X  Thứ Bảy Tuần XV Thường Niên.

(Tr) Lễ Đức Mẹ ngày thứ Bảy.

Xh 12,37-42; Mt 12,14-21.

Người Tôi Trung Hiền Lành

Tin Mừng theo thánh Mát-thêu cho biết lời tiên báo về Người Tôi Trung trong sách ngôn sứ I-sa-i-a được ứng nghiệm nơi Đức Giê-su: Ngài là Đấng được Thiên Chúa tuyển chọn; Thiên Chúa hài lòng vì người Tôi Trung hiền lành nhân hậu ấy. Không cãi vã, không lớn tiếng: đó là tính cách nhân bản nhưng được nuôi dưỡng và phong phú bởi lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa: Ngài luôn quan tâm, nâng đỡ, bênh vực những người bất hạnh, những người không có địa vị; những người bị gạt ra ngoài lề, không tiếng nói trong xã hội lại được Ngài dang tay đón nhận; dẫu chỉ còn một tia hy vọng le lói, Ngài vẫn nhẫn nại đợi chờ để cứu độ con người.

Chúa Giêsu biết rõ những người Biệt Phái ghen ghép và mưu hại Ngài, Ngài đã kín đáo rời khỏi miền Galilê để tiếp tục sứ mệnh của Ngài tại nhiều nơi khác, Ngài còn cấm những kẻ theo Ngài không được tiết lộ cho thiên hạ biết Ngài là ai. Thánh Mátthêu đã nhận ra trong sự kiện này lời tiên tri Isaia đã ứng nghiệm, như được ghi lại trong Tin Mừng hôm nay.

Ðấng Thiên Sai là Con Thiên Chúa. Thần Khí Thiên Chúa luôn ngự trên Ngài, nhưng theo lời tiên tri Isaia, khi Ngài xuất hiện thì đây là dấu để nhận ra Ngài; một con người hiền lành và khiêm nhường thật trong lòng, Ngài không cãi vả, không la lối, Ngài không bẻ gẫy cây sậy đã dập, không dập tắt tim đèn còn khói. Ðó chính là lòng nhân từ kiên nhẫn, xót thương của Chúa. Nhưng Ngài hiền lành không phải để buông xuôi, mà là để thâm nhập tâm hồn con người, cho đến lúc sự công chính được toàn thắng và muôn dân nước đều hy vọng vào Ngài.

Hiền lành và khiêm nhường là thái độ không luôn dễ. Nên, nhiều khi Chúa dạy chúng ta điều đó một cách quyết liệt hơn. Đó là Chúa để cho tôi gặp phải những bất ngờ phức tạp gây đau đớn. Thí dụ tađịnh sẽ là thế này, sẽ phải thế nọ. Nhưng không ngờ, thực tế lại xảy ra khác. Ta phải khiêm nhường hiền từ để vâng phục ý Chúa. Ý Chúa nhiều khi rất khác ý của loài người chúng ta. Nhưng, biết khiêm nhường từ bỏ ý riêng, vâng phục ý Chúa, thì mới là thực sự thờ phượng Chúa. Thờ phượng Chúa với bao nhiêu việc lành, mà thiếu khiêm nhường, thì Chúa cũng không nhận.

Chúa Giêsu nói rất rõ về điều kiện khiêm tốn, trong dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện.

Người Pharisêu đứng riêng một mình, gần bàn thờ và cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa, con xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác; tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con. Còn người thu thuế thì đứng đàng xa, thậm chí không dám ngước mặt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi. Tôi bảo thật cho các ông biết: Người này khi trở xuống mà trở về nhà, thì đã được nên công chính rồi. Còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống. Còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18,10-14). Tạ ơn Chúa cũng có thể kiêu căng.

Thật ra, trong suốt cuộc sống tại thế và cho đến hôm nay, Chúa Giêsu vẫn kiên nhẫn chờ đợi với hy vọng mọi người trở về với Ngài để được cứu thoát. Chẳng hạn với người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, một thứ tội phải bị ném đá, Chúa Giêsu chỉ nói: “Tôi cũng không kết án chị, chị hãy về đi và từ nay đừng phạm tội nữa”. Ngài luôn quả quyết: “Tôi đến để kêu gọi người tội lỗi ăn năn trở lại”, và thực tế, Ngài đã chữa lành những kẻ bị coi là tội lỗi và bị xã hội ruồng bỏ.

Lời Chúa hôm nay một lần nữa cho thấy ơn cứu rỗi ở tầm tay chúng ta: được cứu rỗi hay không là do chúng ta, vì Chúa vẫn kiên nhẫn và ban ơn đầy đủ, chỉ cần chúng ta thành tâm trở về với Ngài. Người trộm lành chỉ trong giây phút hướng tâm hồn về Chúa và tin tưởng nơi Ngài, đã được Chúa hứa cho ở trên Thiên Ðàng với Chúa ngay hôm đó. Còn Giuđa đã thất vọng đến chỗ tự vẫn, thì đó là dấu chưa hiểu lòng Chúa thương yêu bao la đến mức nào.

Xưa, Chúa Giêsu đã chịu thử thách bằng đủ mọi đau khổ. “Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4,15). “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Kitô đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện, nài xin Đấng có quyền năng cứu Người… Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ, mới học được thế nào là vâng phục…” (Dt 5,7-8). Chúa Giêsu đã vâng chịu đủ mọi khổ đau vì mục đích gì? Thưa, để cứu chuộc loài người. Thánh Phêrô quả quyết: “Anh em đã được cứu chuộc nhờ máu châu báu của Con Chiên vẹn toàn, vô tì tích, là Đức Kitô” (1 Pr 1,19).

Nay, Chúa dạy mỗi người chúng ta cũng hãy góp một phần nhỏ vào việc cứu chuộc loài người, cũng bằng khổ đau. Tôi hiểu như vậy. Nên những khi chịu đau khổ, tôi luôn nghĩ là Chúa Giêsu đang chịu đau khổ trong tôi, để cứu các linh hồn. Niềm tin ấy giúp tôi nhìn rõ hơn bổn phận tôi phải sống hiền lành và khiêm nhường theo gương Chúa. Tất nhiên hiền lành và khiêm nhường trong mọi khổ đau chính là vì tình yêu.

Và như thế, khi được sai đi rao giảng, tôi phải luôn luôn nhớ mình là của lễ đền tội cho đoàn chiên. Tôi sẽ là của lễ có giá trị đền tội, khi tôi vác thập giá và chịu đóng đinh vào thập giá, với tình yêu chấp nhận khiêm tốn và hiền lành như Chúa Giêsu. Làm được gì thì cũng làm với tấm thân là của lễ. Không làm được gì, thì thân mình vẫn là của lễ hiền lành khiêm tốn. Chúa dạy tôi như vậy.

Chúa mãi mãi thương gọi mỗi chúng ta. Một trong những Lời Chúa gọi đang trở thành khẩn thiết cho tôi lúc này, đó là: “Hãy học với Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29).

Chúa gọi âm thầm, nhưng da diết. Cùng với Lời gọi đó, xin Chúa ban cho chúng ta hai ơn này: Một là lòng khao khát muốn nên hiền lành và khiêm nhường thực sự. Hai là khao khát học hiền lành và khiêm nhường nơi Chúa Giêsu là Đấng thương gọi chúng ta.

 

Read More
15Tháng Bảy
2021

THI HÀNH Ý CHÚA

15/07/2021
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

16  07  X  Thứ Sáu Tuần XV Thường Niên.

(Tr) Đức Mẹ núi Ca-mê-lô.

Xh 11,10-12,14; Mt 12,1-8.

THI HÀNH Ý CHÚA

Núi Camêlô là nơi ngôn sứ Êlia ẩn trú trong cơn bách hại, để bảo vệ niềm tin cho mình và cho những người muốn trung thành với Chúa.

Dần dần những người muốn dâng mình cho Chúa tụ họp về đây, tập sống đời nhiệm nhặt, ăn chay hãm mình, cầu nguyện. Năm 38, họ xây cất một nhà nguyện dâng kính Đức Mẹ Maria và chọn Đức Mẹ làm Đấng Bảo trợ cho cả cộng đoàn. Dòng Đức Mẹ Núi Camêlô xuất hiện từ đó, và được Đức Giáo Hoàng Hônôriút thứ 3 chuẩn nhận năm 1226.

Trong thời gian người Hồi giáo tấn công Thánh địa, tàn sát người Công giáo, các đan sĩ dòng phải rời bỏ núi Camêlô, chạy về nước Pháp, thành lập nhà dòng ở đây và cũng đến lập dòng tại nước Anh. Chính nơi đây, nhà dòng được tiếp nhận Thánh Simon Stóckô vào dòng. Và năm 1245, Thánh nhân nhận làm bề trên dòng. Ngài chỉnh đốn lại nếp sống các đan sĩ, đặc biệt củng cố lại lòng sùng kính Đức Mẹ.

Thánh nhân tha thiết kêu xin Đức Mẹ ban cho nhà dòng một ân huệ. Tương truyền ngày 16 tháng 07 năm 1251, Đức Mẹ đã hiện ra với Ngài. Đức Mẹ mặc áo Dòng Camêlô, xung quanh có thiên thần hầu cận, nét mặt tươi cười tay cầm chiếc “áo Đức Bà Camêlô” trao cho Ngài và bảo: “Hãy nhận lấy bộ áo dòng này Mẹ ban cho dòng và cho tu sĩ như dấu chỉ của lòng ưu ái và sự săn sóc Mẹ dành cho các con. Đây là dấu hiệu cứu rỗi. Giải thoát mọi hiểm nguy. Ai chết mà mang biểu hiện bình an này, sẽ khỏi bị lửa thiêu đời đời và Mẹ sẽ cứu họ khỏi lửa luyện tội vào ngày thứ bảy sau khi họ qua đời”.

Ngày lễ kính Đức Mẹ Camêlô hôm nay nhắc lại việc Đức Mẹ ban ân huệ đó. Và gốc tích Áo Đức Bà Camêlô phát xuất từ đây.

Ngoài ra, Đức Mẹ cũng cho Đức Giáo Hoàng Gioan 22 biết: những ai sống theo tinh thần Dòng Camêlô thì sẽ được Đức Mẹ cứu ra khỏi luyện ngục, ngày thứ bảy sau khi chết.

Từ đó, những ai không có điều kiện gia nhập Dòng mà tin tưởng lời hứa của Đức Mẹ, đều xin nhận áo Đức Bà Camêlô và mang trong mình hằng ngày cho đến chết. Việc sùng kính Đức Bà Camêlô ngày càng lan rộng khắp nơi trong Hội thánh. Có thể nói tất cả những ai có lòng mộ mến Đức Mẹ và mong được ơn chết lành đều mang áo nầy!

Năm 1726, Đức Giáo Hoàng Bênêđitô thứ 13 ban hành sắc lệnh mừng lễ Đức Mẹ Núi Camêlô trong toàn thể Giáo hội, để kính nhớ ngày Đức Mẹ hiện ra ban cho áo đặc biệt nầy.

Mừng kính trọng thể Lễ Đức Mẹ Núi Cát-minh là một trọng trách và vinh dự của dòng Cát –minh. Nhưng, qua dòng tu nầy, Đức Mẹ nhiều lần đã hiện ra dạy bảo, nhắc nhở, và qua Hội Thánh, nhiều đời Đức Giáo Hoàng, nhất là Đức Gioan 22, Đức Mẹ đã ban áo Đức Bà Núi Cát –minh cho những ai tôn sùng Mẹ, hầu phượng thờ Thiên Chúa các chân thành,thì Đức Mẹ sẽ cứu người đó khỏi luyện hình ngay ngày thứ bảy của tuần đầu tiên người ấy qua đời.Như vậy, đủ lý do để cho thấy Hội Thánh lập lễ kính nhớ “sự kiện“ Đức Mẹ Núi Carmelo là có ý nhắc  nhở con cái mình tôn kinh Đức Mẹ qua một “ đặc ân “ diễm phúc, vì vậy, được gọi là :”Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc núi Cát Minh”.

Vâng, từ Car-me-lo được dịch sang Việt Ngữ là: Cát –minh, có nghĩa là : Ánh sáng tốt lành. Vâng, ánh sáng vốn dĩ là tốt lành, nhưng ánh sáng nhờ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa can thiệp, thì quả nhiên, ánh sáng ấy thật tốt lành, nhờ bởi sự diệu hiền và Từ Mẫu của Mẹ, đấng hằng chăm sóc Đức Kitô, Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật.

Như vậy, mỗi dòng tu đều có một đặc sủng riêng của dòng tu đó,(vì: “con đường thiêng liêng”của mỗi người mỗi khác,nhưng đích điểm chính là Thiên Chúa), theo linh đạo của đấng sáng lập dòng, nhưng dòng tu nào cũng nhận Đức Trinh Nữ Maria là bổn mạng thứ nhất hoặc, nhì của dòng tu đó. Theo đó, dòng Cát-minh là dòng tu kín được nhận Đức Mẹ là đệ nhất bổn mạng của dòng mình. Theo đó, qua dòng Cát-minh, nhờ bởi lời cầu nguyện và hy sinh, tức vác Thánh giá hằng ngày của các tu sĩ Cát-minh, Đức Mẹ sẽ tích cực chuyển cầu lên Thiên Chúa,để tình yêu và ân sủng của Ngài sẽ tuôn đổ trên Hội Thánh và chúng ta.

Tin mừng hôm nay Mt 12, 46-50, như muốn làm rõ hơn đặc tính chiêm niệm nơi tâm hồn của Đức Mẹ. Mẹ không những là Mẹ của Chúa Giêsu thật trong thể lý, nhưng cả trong tinh thần, trong tương quan với Thiên Chúa Cha “ Ai thi hành ý muốn của Cha tôi, người ấy là mẹ tôi” ( x. c.50) và Mẹ Maria là mẫu gương sáng chói điển hình về phẩm tính này.

Chúa Giêsu đang giảng thuyết cho đám đông một bài thật dài vì người Do Thái cho rằng Chúa Giêsu dùng quyền quỷ vương mà trừ quỷ. Bài giảng này nêu bật mặt trong tâm hồn của họ : lòng đầy mới nói ra hoặc cây xấu thì sinh trái xấu. Trước sự cứng lòng của người Do Thái Chúa Giêsu khẳng định : họ chỉ còn thấy một dấu lạ của tiên tri Giona nữa mà thôi. Ấy chính là tiên báo về cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu.

Chúa cũng cảnh báo nếu tâm hồn họ trống rỗng không để Lời Chúa lấp đầy, thì sẽ là nơi cư trú thuận lợi của ma quỷ mà thôi. Đang say sưa với những tư tưởng trên, chợt có người đến báo cho Chúa Giêsu biết : mẹ và anh em Ngài đang chờ bên ngoài, muốn nói chuyện với Ngài ( c. 46-47). Lời nhắn gọi này nói lên sự khẩn thiết mong gặp mặt và cũng có thể là muốn lôi kéo Ngài thoát khỏi đám đông để tìm chỗ nghĩ ngơi, ăn uống… kẻ thưa lời nhắn gọi này cũng nghĩ rằng : Ngài sẽ bỏ dở bài giảng để đi gặp người thân trong gia đình.

Ở đây, chúng ta thấy nổi lên một sự giằng co giữa bổn phận thi hành sứ vụ và tình cảm gia đình. Đôi khi trên bước đường phục vụ. Nước Trời, chúng ta phần lớn bị ngăn cản bởi những người thân. Có người không giữ được ơn gọi tu trì cũng vì vâng lời cha mẹ. Có người không thể tiếp tục sứ vụ loan báo Tin Mừng là do công việc gia đình, tình cảm…. làm trì trệ.

Ở đây, chúng ta xem Chúa Giêsu có phản ứng thế nào trước lời mời gọi của gia đinh, sau bao ngày xa gia đình để dong duổi trên bước đường loan báo Tin Mừng. Ngài trả lời thẳng thắn với kẻ vừa thưa Ngài rằng : “ Ai là mẹ tôi ? Ai là anh em tôi ? ( c.48). Nghe câu hỏi này, chúng ta chợt sửng sờ. Phải chăng Ngài mất trí, không nhớ ra ai là mẹ, là anh em mình ? Nhưng ở đây Người không mất trí, Người vừa giảng xong một bài giảng đầy khôn ngoan và có logic mà. Lúc đó không biết Đức Mẹ và các anh em họ hàng bà con kia, nghe thấy lời này thì nghĩ gì ? Phản ứng ra sao ? Nhưng có lẽ chúng ta cũng thấy nhói tim, đau lòng… nếu một người chúng ta thương yêu phủ nhận như không quen biết chúng ta. Và kìa cánh tay Ngài giơ ra, hướng về các môn đệ và nói : Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Chắc hẳn các môn đệ hạnh phúc lắm khi nghe những lời này. Thật bõ công theo Thầy bấy lâu, nay được xếp vào những người thân thuộc của Ngài.

Chúa Giêsu nói tiếp : “ Phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, Người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” ( c.50). Thế đã rõ câu trả lời của Chúa Giêsu khi xác nhận ai là họ hàng với Ngài : đó là những người thi hành ý Chúa Cha, là những người nghe Lời Chúa và đem ra thực hiện. Chắc hẳn lúc đó Mẹ Maria vui lắm, vì Mẹ biết không những Mẹ là Mẹ của Chúa Giêsu trong máu huyết nhưng còn được Chúa ưu ái đón nhận là Mẹ của Ngài, khi Mẹ “ ghi nhớ lời Chúa và suy niệm trong lòng” ( Lc 2,19). Khi Mẹ ghi nhớ và suy niệm thì chắc hẳn Mẹ đã sống tận căn Lời Chúa, đến nỗi Mẹ đã đứng hiên ngang dưới cây thập giá, đồng công cứu chuộc với con của Mẹ.

Theo đó, Đoạn Tin Mừng hôm nay ( Mt 11, 20-24) là Đoạn Tin Mừng Chúa Giêsu quở trách những người cứng lòng tại thành Kho-ra-din và Bét-sai-đa. Còn thành Ca-phac-na-um thì cũng bị quở sẽ bị phạt nặng hơn thành Sô-đô-ma.

Theo đó, chúng ta thấy, sự kiện Đức Mẹ Núi Cát-minh và Mẹ đã ưu ái ban áo Đức Bà cho hội dòng nầy quản lý, là Đức Mẹ tuyên bố sẽ “can thiệp” và giúp đỡ cho kẻ cứng lòng biết mềm lòng, ăn năn trở lại cùng Chúa. Như vậy, Đoạn Lời Chúa hôm nay được lên đọc trong Lễ Đức Mẹ Núi Cát –minh, cho thấy một ý nghĩa tiên tri đối với nhân loại hôm nay, trong đó có chúng ta. Thật là có ý nghĩa,mong thay ! Xin cho chúng ta biết chạy đến với Đức Mẹ Núi Cát –minh qua “Áo dòng Đức Bà”, để được sự che chở của Đức Mẹ đấng Từ Mẫu của Con Thiên Chúa và của chúng ta. Amen

Nhân dịp này, chúng ta cùng nhau cảm tạ Thiên Chúa, để tôn kính Đức Mẹ Núi Cát –minh và tri ân toàn thể tu sĩ dòng Cát – minh trong sự thờ phượng và cảm tạ Thiên Chúa, vì nhờ sự cầu nguyện và hy sinh liên lỉ của hội dòng nầy suốt hơn tám thế kỷ qua, con thuyền Hội Thánh bớt nghiêng ngã.

Read More
14Tháng Bảy
2021

Hãy Ðến Với Chúa

14/07/2021
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

15  06  Tr  Thứ Năm Tuần XV Thường Niên.

Thánh Bô-na-ven-tu-ra, Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh, lễ nhớ.

Thánh Phê-rô Nguyễn Bá Tuần, Linh mục (U1838); và  Thánh An-rê Nguyễn Kim Thông (Năm Thuông), Thầy giảng (U1855), Tử đạo.

Xh 3,13-20; Mt 11,28-30.

Hãy Ðến Với Chúa

Thánh Bonaventura cùng với Duns Scotus và Thomas thành Aquino hợp thành ba nhà tiến sĩ nổi danh của thần học kinh viện.

Ngài sinh năm 1221 tại Bagnoreggio gần Viterbo, nước Ý. Tên gọi của ngài là Gioan; khi còn bé ngài bị bệnh nặng và nhờ thánh Phanxico cứu cho, nên có tên là Bonaventura.

Ngài học triết lý và thần học tại Paris cùng với giáo sư Alexandre thành Hales.Khoảng năm 1243, ngài gia nhập dòng Anh Em Hèn Mọn. Ngài làm giáo sư tại Paris từ năm 1248 đến năm 1257.Từ năm 1257 ngài được bầu làm Bề Trên Cả của dòng cho đến khi qua đời năm 1274.Trong thời gian đó, Dòng phát triển cách lạ lùng và có đến 20.000 tu sĩ.

Trong 17 năm dưới sự dìu dắt của thánh Bonaventura, Dòng đã trải qua một thời gian vừa phẳng lặng vừa sâu sắc, khiến thánh nhân đã được coi như vị sáng lập thứ hai của Dòng. Là người có trí biện biệt chín chắn và vững vàng, ngài đã dung hòa được các khuynh hướng đối lập trong Dòng.

Thánh Bonaventura theo đường lối tu đức như thánh Benado. Theo ngài: “Con người mang trong mình hình ảnh của Thiên Chúa; càng biết rõ mình người ta càng nhận thấy hình ảnh cao quý ấy. Tất cả sinh hoạt của đời sống trọn lành tùy thuộc quan niệm riêng biệt người ta có đối với linh hồn của mình.” Thánh nhân là người đầu tiên trong lịch sử khoa tu đức, đã trình bày rõ rệt ba giai đoạn trọn lành: thanh đạo, minh đạo và hiệp đạo.

Ngoài ra thánh Bonaventura còn huấn luyện các tu sĩ biết chú trọng đến đức vâng lời và khiêm nhường.Muốn đạt tới hai nhân đức ấy, ngài dạy các thầy phải suy niệm và chiêm nghưỡng đời sống Chúa Kitô, nhất là cuộc tử nạn của Người.

Một trong các công việc chính thời còn làm Bề Trên Cả là việc xuất bản tập “Hiến Chương Narbome” mà sau này tất cả mọi bản Hiến Chương mới đều dựa trên đó. Ngài cũng đã viết bộ “Legenda major” là cuốn sách tiểu sử thánh Phanxico rất phổ biến.

Thánh nhân để lại tất cả 45 tác phẩm thần học về đủ mọi phương diện.Các học thuyết của ngài chịu ảnh hưởng rất nhiều của thánh Augustino. Theo quan niệm của ngài, thần học phải  dẫn đến nhiệm hiệp tôn giáo, đến cảm nghiệm.

Vào năm 1265, ngài xin từ chối chức Tổng Giám Mục thành York nhưng ngày 18/05/1273 ngài phải nhận chức Hồng Y để đại diện cho Đức Thánh Cha Gregorio X đi dư Công Đồng chung Lyon. Tại công đồng, ngài là một thành viên tích cực tham gia vào các cuộc hội thảo đại kết với Anh Em Hy Lạp. Bản ký kết, thánh nhân qua đời ngày 15/07/1274 tại tu viện Anh Em Hèn Mọn ở Lyon, hưởng thọ 53 tuổi.

Đức Thánh Cha Sictus IV nâng ngài lên bậc hiển thánh vào năm 1482; Đức Sixtus V nâng ngài lên hàng Tiến Sĩ Hội Thánh vào năm 1588 với tước hiệu là “Doctor Seraphicus” (Tiến Sĩ Chí Ái).

Trước những khó khăn, gánh nặng của cuộc sống hàng ngày, con người rất cần được nghỉ ngơi, thư giãn, bồi dưỡng cho thân xác, trí óc và tâm hồn. Nếu không họ rất dễ bị quá tải, suy nhược thần kinh, bị stress và đã có những người đã tự tử vì không đủ sức để tiếp tục sống. Tin mừng theo Thánh Matthêu (Mt 11, 28-30), Chúa Giêsu mời gọi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Chúa, Người sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng và hãy học với Chúa vì Người có lòng khiêm nhường và hiền hậu.

Không có ai dám kêu gọi người ta đến với mình để được an ủi đỡ nâng khi người đó biết mình sắp lìa cõi thế, ngoại trừ một mình Chúa Giê-su; mà lý do để làm thế là vì Ngài “hiền lành và khiêm nhường.” Hiền lành và khiêm nhường, đó là căn tính của Vị Thiên Chúa Làm Người: Ngài chiếu tỏa dung nhan hiền hậu của Chúa Cha, Đấng đầy lòng thương xót. Tin Mừng hôm nay vừa tiên báo cái chết đau thương của Con Chiên hiền lành bị đem đi xén lông và làm thịt, vừa là lời mời gọi mỗi người tin tưởng vào tình yêu của Chúa giữa cảnh đời buồn nhiều hơn vui, vất vả nhiều hơn sung sướng và khổ đau nhiều hơn hạnh phúc này.

Những ai đang phải vất vả mang gánh nặng nề: Gánh nặng của nỗi buồn đau và vấp ngã trong quá khứ; gánh nặng của trách nhiệm và yếu đuối hiện tại; gánh nặng phải mang vì người khác, gánh nặng của kiếp nhân sinh, gánh nặng của ơn gọi đi theo Chúa trong đời sống thánh hiến hay đời sống gia đình và cả gánh nặng của tội lỗi nữa, hãy mang tất cả đến cùng Chúa. Chúa luôn chờ đón để an ủi, xoa dịu những khổ đau cho chúng ta. Đến cùng Chúa chắc chắn chúng ta sẽ được nâng đỡ rất nhiều. Chúng ta tin tưởng bởi Chúa thành tín và giàu yêu thương. Mọi bệnh nhân đến với Chúa đều được Chúa cứu giúp; mọi tội nhân đến với Chúa đều được Chúa thứ tha; và tất cả những người khổ đau nghèo đói đến với Chúa đều được Chúa an ủi, trợ giúp.

Đến cùng Chúa không những chúng ta được trút bỏ những gánh nặng mà còn được học với Chúa, gương mẫu của sự hiền hậu và khiêm nhường. Học với Chúa chúng ta cần lắng nghe Lời của Ngài, Lời Chúa chính là lương thực nuôi sống chúng ta, là ngọn đèn soi cho chúng ta bước, là ánh sáng chỉ đường cho chúng ta đi (Tv 119, 105). Hơn nữa, chúng ta cũng cần tìm đến và ở lại với Người trong lời cầu nguyện, suy ngắm và đặc biệt là nơi bí tích Thánh Thể. Bởi Chúa Giêsu đã khiêm nhường trở nên tấm bánh nuôi sống đoàn chiên và ở lại với đoàn chiên của Người.

Học với Chúa để trở nên hiền hậu và kiêm nhường cần thiết biết bao trong cuộc sống. Bởi những cơn giận bộc phát giữa vợ chồng có thể bào mòn tình yêu chân thật. Sự mất kiên nhẫn bực bội, nóng nảy, thù ghét oán hờn làm cho những mối tương quan trở nên căng thẳng, lãnh đạm, lạnh nhạt và mất tin tưởng. Sự hiền hòa và khiêm nhường theo gương mẫu Chúa Giêsu sẽ giúp cho chúng ta làm chủ được bản thân, sáng suốt trong những chọn lựa, đối xứ với mọi người với trái tim yêu thương, thông cảm và tha thứ. Niềm vui, bình an và hạnh phúc sẽ đến với mỗi người, mỗi gia đình và những người xung quanh.

“Những người đang vất vả mang gánh nặng nề”, trước tiên, là những ai đang mệt mỏi và chịu sức ép bởi giáo huấn của những con người “khôn ngoan và thông thái” đã được nói đến ở Mt 11,25. Chúa Giêsu tự giới thiệu về mình như là vị Tôn Sư, nhưng khác với thói đời tầm thường và chắc chắn khác với các kinh sư đương thời, Ngài không tìm cách thống trị hay chi phối các môn đồ. Ngài đi ngược lại xu hướng kiêu ngạo của các bậc thầy trong dân Israel bấy giờ. Những ai đón nhận giáo huấn của Ngài sẽ được Ngài cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.

Chúa Giêsu kêu gọi các đồ đệ mang lấy ách của Ngài. “Mang lấy ách” của Chúa Giêsu tức là chấp nhận những đòi hỏi phát xuất từ giáo huấn của Ngài. Ách của Ngài nhẹ nhàng và êm ái, hoàn toàn khác với ách của Lề Luật mà những kẻ “khôn ngoan và thông thái” bắt buộc người ta phải mang. Thay vì những luật lệ không mang lại niềm vui, Đức Giêsu đề nghị sự phục vụ trong niềm vui và trong tình bạn (9,15).

Trong Chúa Giêsu, những tâm hồn bé nhỏ sẽ được bình an và hạnh phúc như chính Ngài đã khẳng định: “Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,29b-30).

 

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 242
  • Page 243
  • Page 244
  • …
  • Page 343
  • Next page
Bài viết mới nhất
TRONG HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI, “DẤU CHỈ THỜI ĐẠI” KHÔNG HỀ BỊ BỎ QUA
01/06/2026
ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG - MỖI TUẦN MỘT THÀNH NGỮ
01/06/2026
TỔNG GIÁM MỤC HICKS CỦA NEW YORK: ‘MAGNIFICA HUMANITAS’ SẼ ĐỊNH HÌNH CÁC THẾ HỆ TƯƠNG LAI
01/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.