2021
Năng cầu nguyện
02 24 X Thứ Hai Tuần XVIII Thường Niên.
(Tr) Thánh Êu-xê-bi-ô Véc-se-li, Giám mục. (Tr) Thánh Phê-rô Giu-li-a-nô Ê-ma, Linh mục.
Ds 11,4b-15; Mt 14,13-21 (hoặc Mt 14,22-26).
Năng cầu nguyện
Cuộc đời chúng ta có lúc yên bình, nhưng lắm khi cũng gặp giông bão, khiến chúng ta sợ hãi bất an. Xin Chúa luôn ở bên che chở, chấn an và giúp ta biết chọn lựa hướng sống sao cho đúng ý Người, nhờ đó thuyền đời của ta dễ dàng vượt qua sóng gió hiễm nguy giữa biển đời trần mà đạt đến bến bờ bình an, nhờ sức mạnh ơn ban của Chúa
Trích đoạn tin mừng theo thánh Mátthêu hôm nay bắt đầu với hình ảnh Chúa Giêsu đi tìm nơi thanh vắng để cầu nguyện: “Người lên núi một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình”, sau khi Ngài đã giảng dạy và chữa lành bệnh tật cho nhiều người. Và rồi đến cuối phân đoạn Mt 14: 22-36, Thầy Giêsu lại tiếp tục sứ vụ công khai của mình. Ta nhận ra sự đan xen giữa cầu nguyện và việc rao giảng. Thực ra sự hoà quyện giữa đời sống cầu nguyện và sứ vụ công khai này được thể hiện trong rất nhiều trích đoạn tin mừng khác nhau. Điều này chứng tỏ rằng cầu nguyện, hay cũng gọi là việc liên kết liên lỉ với Chúa Cha, gắn liền với việc rao giảng Nước Trời. Cầu nguyện và công việc bác ái tông đồ là hai yếu tố không thể tách biệt trong cuộc sống của Chúa Giêsu; và cũng là cho mỗi người môn đệ Chúa.
Cầu nguyện là gì? Câu hỏi này được nhắc đến trong nhiều tôn giáo khác nhau. Ngay cả trong Công giáo cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về cầu nguyện.
Trong thời gian ở Tiền Tập, chúng tôi cũng đã thảo luận về câu hỏi này. Đối với một người anh em, Cầu nguyện là mối tương quan với Đấng Tạo Hóa của chúng ta; “ở đó” ta có thể giãi bày hết những suy tư, lo âu, cho một Người, tuy không hiện diện trong thể xác, nhưng ở bên cạnh ta cách thiêng liêng. Một thỉnh sinh khác nói: Cầu nguyện là một phương thức giao tiếp giữa con người và Thiên Chúa; con người mở lòng mình ra và nâng chính mình lên với Thiên Chúa. Người thứ ba nói: Cầu nguyện là một cuộc trò chuyện yêu thương giữa con người và Thiên Chúa. Như bất kỳ cuộc đối thoại nào, cầu nguyện đòi hỏi sự hiện diện. Chính Thiên Chúa kêu gọi và khởi xướng cuộc gặp gỡ trong cầu nguyện. Con người, về phần mình, đáp trả lại lời mời gọi này. Trong sự đáp trả ấy, chúng ta được mời gọi để mở rộng tâm trí và trái tim của mình nhằm nhận ra những gì Chúa đang nói với ta.
Nơi con người, luôn có sự hiện diện của Thiên Chúa; có nghĩa là mối tương quan với Thiên Chúa không phải là “một phần thêm vào”, nhưng nằm trong căn tính của mỗi người. Nếu chúng ta coi mối tương quan đó là “cầu nguyện”, chúng ta có thể nói cầu nguyện là phổ quát, nghĩa là mỗi người đều được kêu gọi sống mối tương quan với Thiên Chúa.
Tuy nhiên mỗi chúng ta được mời gọi cụ thể hóa rõ nét hơn mối tương quan sống động của chiêm niệm. Do đó trong lòng Mẹ Giáo Hội, chúng ta được thánh hiến để sống và làm chứng cho “cầu nguyện”, cho mối thân tình với Thiên Chúa. Cầu nguyện không tách biệt khỏi việc bác ái tông đồ. Mỗi người Kitô hữu được kêu gọi để đem hoa trái của đời sống cầu nguyện đến với tha nhân. Hoa trái ấy là đức mến, là lòng vị tha, là sự bao dung, vv. Như vậy, với cái nhìn của người có Chúa, mỗi việc bác ái tông đồ, dầu lớn dầu nhỏ, đều xuất phát từ mối thân tình với Thiên Chúa. Ta nhận ra sự đan xen lẫn nhau của đời sống cầu nguyện và sống tình huynh đệ với tha nhân.
Về việc cầu nguyện, nhiều người thường bỏ cầu nguyện với lý do: “Tôi bận quá không có thời giờ rảnh để cầu nguyện với Chúa”… Nhưng thật ra Chúa luôn ở bên ta, ngay trong lòng ta. Chỉ cần ta ý thức sự hiện diện của Chúa Giê-su và thưa chuyện với Người bằng một lời nguyện tắt. Tại sao mỗi ngày chúng ta có nhiều giờ đi uống cà phê tán gẫu với chúng bạn hay ngồi hàng giờ xem truyền hình… mà lại không thể bớt ra ít phút để vào sa mạc của lòng mình cầu nguyện với Chúa. Mỗi ngày chúng ta có khá nhiều cơ hội để gặp gỡ Chúa, mà vì không ý thức về sự cần thiết của việc cầu nguyện, nên ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội gặp gỡ Người. Chẳng hạn: Những lúc cửa hàng vắng khách, khi chờ đèn xanh đèn đỏ, khi bị kẹt xe hay bất ngờ nhà bị cúp điện… Thay vì bực bội khó chịu, chúng ta hãy ý thức sự hiện diện của Chúa và thưa chuyện với Người về những điều làm ta lo lắng hay đang phải đối phó.
Đôi khi Chúa để chúng ta gặp phải các tai ương, bệnh tật và đau khổ là Người muốn thử thách đức tin của chúng ta như người ta thường nói: “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Cũng như dù đang cầu nguyện trên núi, nhưng Đức Giê-su vẫn dõi mắt theo con thuyền của các môn đệ đang lênh đênh trên biển cả và Người đã đi trên mặt nước để đến cứu giúp các ông, thì ngày nay Người cũng luôn quan tâm đến con thuyền Hội Thánh trong cơn phong ba bão táp hầu kịp thời ứng cứu khi cần. Nếu thực sự tin vào quyền năng của Đức Giê-su, thì chúng ta cũng sẽ không hoảng sợ khi phải đương đầu với các nghịch cảnh, vì tin rằng Chúa vẫn luôn dõi theo chúng ta và sẽ kíp thời cứu giúp chúng ta khi cần. Hãy luôn ý thức: “Có Chúa cùng đi với chúng ta, chúng ta sẽ không còn sợ chi và chắc chắn sẽ đạt đến bến bình an”.
Xin Chúa ban thêm lòng tin nơi chúng ta, để dù trong bất cứ hoàn cảnh thử thách nào, ngay cả những lúc bước đi trong đêm tối của đức tin, chúng ta cũng vẫn an tâm tiến bước trên sóng gió của biển đời. Xin Chúa thương hiện diện và đồng hành mãi với chúng ta mà hướng dẫn để chúng con biết lối tiến bước về bến bờ bình an.
2021
NGÔN SỨ ! NGƯỜI LÀ AI ?
31 22 Tr Thứ Bảy Tuần XVII Thường Niên.
Thánh I-nha-xi-ô Lôi-ô-la (Loyola), Linh mục, lễ nhớ.
Thánh Phê-rô Đoàn Công Quý, Linh mục (U1859); và Thánh Em-ma-nu-en Lê Văn Phụng, Trùm họ (U1859), Tử đạo.
Lv 25,1.8-17; Mt 14,1-12.
NGÔN SỨ ! NGƯỜI LÀ AI ?
Thánh Inhaxiô là vị linh mục sáng lập Dòng Tên, sinh tại Loyola (Azpeitia, Tây Ban Nha) khoảng năm 1491 qua đời tại Rô-ma ngày 31.7.1556
Cha Thánh Inhaxiô sinh năm 1491 trong một gia đình thế giá ở lâu đài Loyola xứ Basque, miền bắc Tây Ban Nha.
Cho đến năm 30 tuổi, ngài là một hiệp sĩ ít học, ngang tàng và phóng túng, nhưng luôn luôn trung thành và quảng đại với vương triều. Năm 1521, bị thương tại Pamplona, ngài phải nằm dưỡng bệnh hơn nửa năm trời ở gia đình, và trong thời gian này, nhờ đọc sách và suy nghĩ, ngài quyết tâm noi gương các thánh đi phục vụ Đức Kitô là vị Vua muôn đời.
Khi đã bình phục năm 1522, ngài đến làng Manresa ở đông bắc Tây Ban Nha, sống cô tịch để cầu nguyện gần một năm trong một hang đá. Trải qua nhiều kinh nghiệm thiêng liêng sâu đậm, ngài truyền lại cho hậu thế trong tập Linh Thao, Sau đó, ngài đi hành hướng Giêrusalem để luyện tập đức tin, đức cậy và đức mến. Trở về Tây Ban Nha, ngài tập tễnh dòng Linh Thao giúp các linh hồn, nhưng nhiều lần bị bắt và bị cấm. Ngài quyết định đi Paris học để có thể hoạt động tông đổ hữu hiệu hơn.
Tại đại học Paris, ngài gặp Phêrô Favre, Phanxicô Xavier và 4 người bạn khác, Sau nhiều lần trao đổi và cầu nguyện, ngày 15 tháng 8 năm 1534, tại nhà thờ Montmartre, ngài cùng với các bạn tuyên hứa sống độc thân, nghèo khó và làm việc tông đồ. Sau đó ngài về quê chữa bệnh, rồi đển Venezia miền bắc Ý để gặp lại các bạn.
Năm 1537, ngài chịu chức linh mục. Ngài cùng với các bạn họp nhau tại Vicenza đồng ý đặt tên nhóm là đoàn Giêsu. Trên đường vào Rôma, tại La Storta, ngài cảm nghiệm “được đặt với Chúa Con”. Năm 1539, ngài đệ trình dự án biến Đoàn Giêsu thành một tu hội Tông Đồ, và năm 1540, dự án được Đức Thánh Cha Phaolô III phê chuẩn.
Năm 1541, ngài được các bạn nhất trí bầu làm Tổng Quản tiên khởi của Dòng Tên. Trong cương vị này, ngài huân luyện các anh em mới, và hướng dẫn các anh em hoạt động tông đồ trên kháp mặt đất. Đây giai đoạn ngài chìm sâu vào mầu nhiệm Ba Ngôi và được kể vào số những nhà thần bí nổi tiếng nhất Hội Thánh.
Ngài qua đời ngày 31.7.1556 như một hiệp sĩ trung thành và quảng đại, và được Đức Thánh Cha Grêgôriô XV phong thánh năm 1622.
Tin Mừng hôm nay thuật lại cái chết bi thảm của vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu Ước đó là Gioan Tẩy Giả, người dọn đường cho Chúa Cứu Thế đến. Cái chết của ông chứng minh cho lòng can đảm dám sống cho sự thật và chết cho sự thật vì yêu luật Chúa.
Sau bao năm ở sa mạc một mình với Thiên Chúa để chuẩn bị sứ vụ, Gioan Tẩy Giả xuất hiện giữa dân chúng, kêu gọi mọi người sám hối và dọn lòng đón nhận Đấng Cứu Thế. Trong bối cảnh đó, ông cũng mạnh dạn lên tiếng can ngăn vua Hêrôđê không được phép lấy vợ của anh mình. Tiếng nói chân thật của ông đã đưa ông đến chỗ bị vua Hêrôđê ra lệnh bắt trói và xiềng ông trong tù. Vua muốn giết Gioan nhưng lại sợ đám đông vì họ coi ông như một vị ngôn sứ. Người ta thường nói: “Sự thật, mất lòng” nhưng với Gioan Tẩy Giả thì “sự thật, mất đầu”. Ông chấp nhận “ thật thà, thẳng thắn thường thua thiệt” để hy vọng cứu được một quân vương khỏi sa lầy tội lỗi. Nhưng vì giữ danh dự trước bá quan và khách mời, ông đã bị Hêrôđê ra lệnh chém đầu để thỏa mãn sự căm thù của một người đàn bà thiếu đạo đức tên là Hêrôđia, vợ của Philipphê, anh vua Hêrôđê mà vua đã lấy làm vợ mình. Gioan Tẩy Giả mất đầu nơi thân xác, nhưng tâm hồn và tiếng nói chân thật của ông vẫn còn vang vọng và là gương sáng trong mọi thời đại. Qua cái chết vì lòng trung thành với lề luật Thiên Chúa, chúng ta nhận ra Gioan Tẩy Giả cũng đã cùng chung thân phận với bao ngôn sứ khác.
Trở lại với Hêrôđê, chúng ta có thể thấy ông là một con người có tính khí bất thường. Ông vừa kính Gioan, vừa muốn nghe Gioan nói, nhưng lại không muốn dứt bỏ người tình Hêrôđia. Ông bắt cá hai tay nên ông loay hoay, luẩn quẩn trong cái vòng tội lỗi để rồi khi thấy Chúa Giêsu bắt đầu nổi danh, ông ngỡ là Gioan Tẩy Giả đã sống lại, người mà ông đã ra lệnh chém đầu trước đây! Ông sợ đối diện với sự thật về đạo lý luân thường, lòng ông luôn thiếu bình an. Ông không còn đủ sáng suốt nhận ra chân lý nên chỉ vì giữ một lời hứa trong lúc có men, ông đã giết oan một ngôn sứ mà Đức Giêsu đã giới thiệu trước: “ Trong số phàm nhân lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả” (Mt 11, 11a).
Nhìn Hêrôđê, chúng ta cũng tự vấn lương tâm mình trong cách sống đạo trong thế giới hôm nay. Phải chăng tiếng nói luân lý ngày xưa còn được con người quan tâm hoán cải, dù vẫn có những người như Hêrôđê. Nhưng tiếng nói luân lý ngày nay đang bị con người coi thường đến mức báo động. Họ coi có quyền, có tiền là có tất cả. Nguy hiểm hơn là vì không sợ tội nên họ có thể làm tất cả những gì mình muốn, bất chấp luật lệ và công lý. Rất may là chúng ta còn gặp những người như Gioan Tẩy Giả trong gia đình là cha là mẹ sẵn sàng quan tâm dạy dỗ con cái sống đạo hoặc trong các hội đoàn hay những người đầy ơn Chúa, họ sẵn lòng kiên trì đi gặp gỡ, khuyên nhủ và tìm nhiều phương cách giúp những anh chị em Kitô hữu khô đạo hay lạc xa đức tin trở về với Chúa. Giáo Hội rất vui mừng và biết ơn những con người như thế để cộng tác vào ơn cứu độ của Chúa là cứu anh chị em mình thoát khỏi sự dữ đời đời.
Kết thúc cuộc đời của vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu Ước là đầu lìa cổ và đặt trên mâm. Lý do tại sao thì chúng ta đã rõ theo trình thuật của thánh sử Matthêu. Gioan Tẩy Giả đã can đảm tố cáo tiểu vương Hêrôđê về hành vi cướp vợ của anh mình. Dường như đó là cái giá mà các ngôn sứ phải trả khi thi hành sứ mạng của mình và Gioan Tẩy Giả không là một ngoại lệ. Nếu như việc Gioan được sinh ra báo trước việc Đấng Cứu Thế giáng sinh, thì cái chết của ngài cũng là một lời loan báo về sự chết của vị Ngôn Sứ cao cả thành Nadaret là Chúa Giêsu. Nếu như cái chết nói chung đưa đến cho mọi người sự sợ hãi, thì cái chết của Gioan Tẩy Giả hay các ngôn sứ và đặc biệt là cái chết của Chúa Giêsu lại là dấu chỉ lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người, vì nó mở ra con đường sự sống vĩnh cửu cho tất cả chúng ta.
Một cách nào đó, đời sống của người tín hữu là một cuộc tử đạo triền miên. Liệu việc cái đầu của Gioan Tẩy Giả lìa khỏi thân và được đặt trên mâm có trở nên nguồn động lực thúc đẩy chúng ta can đảm hơn, mạnh mẽ hơn nữa để sống và loan báo Tin Mừng ?
2021
THÂN PHẬN NGƯỜI NGÔN SỨ
30 21 X Thứ Sáu Tuần XVII Thường Niên.
(Tr) Thánh Phê-rô Kim Ngôn, Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh.
Lv 23,1.4-11.15-16.27.34b-37; Mt 13,54-58.
THÂN PHẬN NGƯỜI NGÔN SỨ
Thánh Phêrô kim ngôn sinh trưởng tại một thị trấn nhỏ miền Imôla, nước Ý. Ngài sống vào thế kỷ thứ 5. Giám mục Cornêliô thuộc giáo phận Imôla đã dạy dỗ và phong cho Phêrô thừa tác vụ phó tế. Ngay từ nhỏ, Phêrô đã hiểu được rằng người ta chỉ thực sự vĩ đại khi biết mặc lấy tinh thần của Chúa Kitô và làm chủ các đam mê của mình.
Khi đức tổng giám mục Ravenna, nước Ý, qua đời, đức thánh cha Sixtô III đã chỉ định Phêrô lên thay thế ngài. Lúc ấy khoảng năm 433. Với cương vị là linh mục và giám mục, thánh Phêrô đã làm việc rất có hiệu quả. Ngài đã loại bỏ hết các thói tục của dân ngoại vốn tồn tại trong giáo phận suốt nhiều năm qua. Ngài nâng đỡ niềm tin của các Kitô hữu trong giáo phận của ngài.
Thánh Phêrô nổi danh nhờ tài giảng thuyết. Từ ngữ “Chrysologos” có nghĩa là “lời vàng.” Qủa vậy, các bài giảng lễ và các huấn từ của thánh Phêrô thật vắn gọn và súc tích; và sứ điệp của thánh nhân quả thật có giá trị hơn vàng. Thánh Phêrô thuyết giảng với lòng nhiệt thành bốc lửa đến nỗi người ta phải nín thở mỗi khi nghe ngài. Trong các bài giảng của mình, thánh Phêrô khuyến khích mọi người hãy năng đón rước Chúa Giêsu Thánh Thể hơn. Ngài muốn mọi người nhận thức rằng Mình Thánh Chúa Kitô chính là lương thực hằng ngày nuôi sống linh hồn ta.
Đức tổng giám mục tốt phúc này cũng ra sức hoạt động cho sự hiệp nhất Giáo hội. Ngài đã giúp người ta phân biệt những điều thuộc và không thuộc đức tin Công giáo. Ngài cũng cố gắng gìn giữ hòa bình. Thánh Phêrô kim ngôn qua đời năm 450 tại Imôla, quê hương ngài sinh trưởng. Vì những bài giảng thuyết tuyệt vời kèm theo những giáo huấn rất mực sâu sắc, thánh Phêrô kim ngôn đã được đức thánh cha Bênêđictô XIII tôn nhận là Tiến sĩ Hội Thánh vào năm 1729. Ngày nay người ta còn giữ lại được khoảng 180 bài giảng thuyết của ngài.
Thánh Phêrô kim ngôn đã rao giảng một sứ điệp đơn sơ dễ hiểu. Chúng ta hãy nên giống ngài qua việc đem Tin mừng của Đức Chúa Giêsu ra thực hành với lòng yêu mến và quảng đại. Đó là sứ điệp mà mọi người sẽ hiểu biết và trân quý.
Chúa Giêsu trở về giảng dạy tại quê hương của Ngài là Nazareth, nhưng dân chúng tại đây không tin nhận Chúa, bởi vì họ suy tưởng và hành động theo thói quen, theo thành kiến. Họ đã quen với Chúa Giêsu như là con bác thợ mộc Giuse sống giữa họ từ bao năm nay, do đó giờ đây phải nhìn Chúa và đón nhận giáo huấn của Ngài với một tâm thức mới thì họ bị vấp phạm. Quả thật, như lời cụ già Simêon đã nói trong biến cố dâng Chúa vào Ðền thánh: Chúa Giêsu luôn luôn là dấu gợi lên chống đối; trực diện với Ngài, con người phải chọn lựa hoặc tin nhận, hoặc chối từ.
Tin Mừng theoThánh Matthêu thuật lại cho chúng ta biết, sau một thời gian bôn ba khắp nơi giảng dạy và chữa bệnh cho thiên hạ, hôm nay Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về quê nhà Nagiarét với hy vọng giúp ích được gì cho những người thân vì Người không muốn cảnh “làm phúc nơi nao để cầu ao rách nát”. Thế nhưng Người đã thất vọng ê chề vì thái độ khinh miệt và cứng lòng tin của người dân địa phương. Lửa nhiệt tình nơi Chúa đã bị dập bởi một gáo nước lạnh và Người không ra khỏi vòng cương tỏa của con người với quan niệm “Bụt nhà không thiêng”.
Họ tra hỏi về nguồn gốc thân thế gia đình, anh em họ hàng của Chúa Giêsu. Họ tự đặt câu hỏi và tự trả lời: “Bởi đâu ông ngày được như thế. Bởi đâu ông này được sự khôn ngoan và quyền làm phép lạ như vậy? Nào ông chẳng phải là con bác thợ mộc sao?”Sởdĩ Chúa Giêsu không được đón nhận vì gia đình cha mẹ của Người chỉ là dân lao động bình thường chẳng có gì đặc biệt. Điều đó cho thấy họ ngầm phủ nhận thiên tính của Chúa Giêsu.
Khi giảng dạy ở vùng dân ngoại, Chúa Giêsu được nhiều người ngưỡng mộ vì những lời lẽ khôn ngoan và các phép lạ kèm theo. Thế nhưng tại quê nhà, Chúa Giêsu gần như “bó tay” không thể nào làm phép lạ tại đó. Người đã bị thất bại ngay trên “sân nhà”. Số phận của Chúa Giêsu cũng không khác gì những ngôn sứ khi xưa. Người sẽ phải gánh chịu những phản ứng của người đời, bị từ chối, ganh ghét và bị sát hại. Số phận của Chúa Giêsu là số phận của một người Tôi Tớ đau khổ, sẵn sàng gánh chịu mọi sự khinh miệt của con người, nhất là người gần gũi hàng xóm láng giềng và cả những môn đệ thân tín nhất.
Giáo hội, hiện thân của Chúa ở trần gian cũng phải chịu số phận như Chúa. Giáo hội đã nỗ lực rất nhiều với công tác truyền giáo để trở thành dấu của tình thương Thiên Chúa cho nhiều người. Thế nhưng thực tế cho thấy ở những nơi được xem là xứ đạo “gốc”, hạt giống Tin Mừng lại thiếu điều kiện để nảy mầm và đơm bông kết trái.
“Gần chùa gọi bụt bằng anh”, đôi lúc chúng ta cũng có thái độ giống người đồng hương của Chúa Giêsu khi tỏ ra coi thường quyền năng, những ơn lành và tình thương của Thiên Chúa. Không có gì đau đớn bằng sự phản bội của những người thân. Chúng ta có thể trách móc những người đồng hương của Chúa, nhưng chính chúng ta cũng phải đấm ngực ăn năn vì thái độ thờ ơ của chính mình. Hàng ngày Chúa vẫn thi ân giáng phúc, Chúa vẫn bao bọc chở che, vỗ về an ủi nhưng chúng ta không nhận ra những ơn ấy mà chỉ lo chạy theo tiếng gọi của thế gian, của đam mê xác thịt. Chúng ta sống bên cạnh nhau như những người “quen biết xa lạ” để rồi đánh mất ý nghĩa cao quý của mối tương giao huynh đệ với tha nhân, đánh mất niềm tin tưởng vào Thiên Chúa.
Là môn đệ của Chúa, chúng ta cũng không thể tránh khỏi những phản ứng tiêu cực của người đời,sẽ gặp thất bại, bị bách hại, bắt bớ… Óc địa phương, óc kỳ thị, dửng dưng ích kỷ đã ăn sâu vào tâm thức khiến chúng ta không bỏ được những thói xấu ấy. Thêm nữa nhìn xã hội hôm nay, người ta chuộng “hàng ngoại”, chạy theo những gì là “đẳng cấp”, “kỹ thuật số” làm sao để được hưởng thụ vật chất cho thật nhiều mà quên rằng giá trị đích thực của cuộc sống là tin vào Thiên Chúa. Người ta dễ dàng chạy theo những phong trào, những lối sống “không ngày mai” mà quên rằng nơi Chúa Giêsu mới đem lại niềm hạnh phúc đích thực.
Có thể ở bên ngoài chúng ta không từ chối Chúa nhưng tận sâu trong đáy lòng và ước muốn, chúng ta không còn tin nhận quyền năng và tình thương của Chúa nữa. Nhân loại đang phải đối đầu với một cơn cám dỗ khốc liệt về niềm tin. Ngay trong gia đình cha mẹ và con cái không còn tin tưởng lẫn nhau. Ngoài xã hội đâu đâu cũng nhan nhản những chuyện bất công và những thói xấu cũng đang len lỏi vào cả trong Giáo hội. Với lời Chúa hôm nay, chúng ta không khỏi giật mình. “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, hãy tự trách mình trước để có thái độ sống xứng hợp Tin Mừng.
Mỗi người chúng ta hãy xét lại xem đức tin của chúng ta hiện nay đối với Chúa Giêsu có còn sống động hay đã trở thành một thói quen khô khan, nguội lạnh, chỉ vì quá quen thuộc như dân làng Nazareth ngày xưa? Phải chăng cuộc sống của chúng ta đã trở thành mù quáng hoặc nô lệ cho những thành kiến đến độ không còn tin nhận Chúa và không còn bén nhạy trước tác động của ơn Chúa?
2021
PHỤC VỤ VÀ TIN NHƯ MÁTTA
29 20 Tr Thứ Năm Tuần XVII Thường Niên.
Thánh nữ Mác-ta, lễ nhớ.
Lễ nhớ có bài đọc riêng:
1Ga 4,7-16; Ga 11,19-27 (hoặc Lc 10,38-42).
PHỤC VỤ VÀ TIN NHƯ MÁTTA
Matta đã phục vụ Chúa Giêsu qua các bữa ăn ngon, khi Người đến thăm gia đình Matta. Chúng ta có thể nhận thấy Matta đã phải bận rộn sửa soạn bữa ăn cho Chúa Giêsu và các môn đệ của Người như thế nào. Đến nỗi Matta phải xin Chúa Giêsu nhắc cho cô em Maria phụ giúp mình một tay, vì Maria đang ngồi bên chân Chúa Giêsu mà nghe lời Người: “Thưa Thầy, xin Thầy bảo em con giúp con với!” Chúa Giêsu rất hài lòng với công việc phục vụ dễ thương của Matta. Tuy vậy, Người muốn cho Matta hiểu rằng việc nghe lời Chúa và cầu nguyện thì có tầm quan trọng hơn.
Chính vì thế, ta thấy Chúa Giêsu đã dịu dàng nói: “Matta, Matta, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện! Chỉ có một chuyện cần mà thôi! Maria em con đã chọn phần tốt nhất!” (Lc 10, 42).
Chúa Giêsu yêu quý Mácta, Maria và Lagiarô.” Câu nói độc nhất này trong Tin Mừng của thánh Gioan cho chúng ta biết về sự tương giao đặc biệt giữa Chúa Giêsu và Mácta, người em Maria, và Lazarô của Thánh nữ.
Có vẻ như Chúa Giêsu là người khách thường xuyên đến nhà Mácta ở Bêtania, một ngôi làng nhỏ bé cách Giêrusalem chừng hai dặm. Chúng ta thấy ba lần đến thăm của Ðức Giêsu được nhắc đến trong Phúc Âm Luca 10,38-42, Gioan 11,1-53, và Gioan 12,1-9.
Nhiều người dễ nhận ra Mácta qua câu chuyện của thánh Luca. Khi ấy, Mácta chào đón Chúa Giêsu và các môn đệ vào nhà của mình, và ngay sau đó Mácta chuẩn bị cơm nước. Sự hiếu khách là điều rất quan trọng trong vùng Trung Ðông và Mácta là điển hình.
Thử tưởng tượng xem Mácta bực mình biết chừng nào khi cô em Maria không chịu lo giúp chị tiếp khách mà cứ ngồi nghe Chúa Giêsu. Thay vì nói với cô em, Mácta xin Chúa Giêsu can thiệp. Câu trả lời ôn tồn của Chúa Giêsu giúp chúng ta biết Người rất quý mến Mácta. Chúa Giêsu thấy Mácta lo lắng nhiều quá khiến cô không còn thực sự biết đến Người. Chúa Giêsu nhắc cho Mácta biết, chỉ có một điều thực sự quan trọng là lắng nghe Người. Và đó là điều Maria đã làm. Nơi Mácta, chúng ta nhận ra chính chúng ta thường lo lắng và bị sao nhãng bởi những gì của thế gian và quên dành thời giờ cho Chúa Giêsu. Tuy nhiên, thật an ủi khi thấy rằng Chúa Giêsu cũng yêu quý Mácta như Maria.
Lần thăm viếng thứ hai cho thấy Mácta đã thấm nhuần bài học trước. Khi ngài đang than khóc về cái chết của anh mình và nhà đang đầy khách đến chia buồn thì ngài nghe biết Ðức Giêsu đang có mặt ở đấy. Ngay lập tức, ngài bỏ những người khách ấy cũng như gạt đi mọi thương tiếc để chạy đến với Ðức Giêsu.
Cuộc đối thoại của ngài với Chúa Giêsu chứng tỏ đức tin và sự can đảm của ngài. Trong cuộc đối thoại, Mácta khẳng định rõ ràng là ngài tin vào quyền năng của Chúa Giêsu, tin vào sự Phục sinh, và nhất là tin Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa. Đức Giêsu nói với cô rằng Ngài là sự sống lại và là sự sống và sau đó đã cho Lazarô sống lại từ cõi chết.
Hình ảnh sau cùng của Mácta trong Tin Mừng đã nói lên toàn thể con người của ngài. Lúc ấy, Chúa Giêsu ít lâu sau đã trở lại Bêthania để ăn uống với các bạn thân của Người. Trong căn nhà ấy có ba người đặc biệt. Chúng ta đã từng nghe người em trai Lazarô đã tạo nên cả một sự khuấy động khi anh được làm cho sống lại. Còn Maria là người gây nên cuộc tranh luận trong bữa tiệc khi cô dùng dầu thơm đắt tiền mà xức lên chân Chúa Giêsu. Nhưng về phần Mácta, chúng ta chỉ được nghe một câu rất đơn giản: “Mácta lo hầu hạ.” Cô không nổi bật, cô không thi hành những việc có tính cách phô trương, cô không được hưởng phép lạ kỳ diệu. Cô chỉ đơn thuần hầu hạ Chúa Giêsu.
Chúng ta không biết nhiều hơn về Mácta và những gì xảy ra cho cô sau đó. Theo một truyền thuyết không đáng tin lắm, thì Mácta cùng với Maria đến giảng Tin Mừng tại nước Pháp sau khi Chúa Thánh Thần hiện xuống.
Nhưng thật là tuyệt vời nếu điều quan trọng nhất có thể nói được về chúng ta là “Những người ấy đã phục vụ”? Thánh Mácta được đặt làm quan thầy của các người phục vụ và đầu bếp.
Khi người em là Lazarô chết, Matta và Maria buồn sầu báo tin cho Chúa Giêsu. Giữa những đau khổ thử thách đó, Matta vẫn giữ được bình tĩnh. Matta đã thưa với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, con biết Thầy xin gì cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho Thầy”. Dù rằng em cô là Lazarô đã chết, Matta vẫn tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu cách tuyệt đối: “Thưa Thầy: vâng, con đã tin Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian”. (Ga 11, 27).
Với niềm tin của Matta, Chúa Giêsu đã làm phép lạ cho Lagiarô sống lại sau khi chôn cất trong mồ đã bốn ngày.
Mừng lễ thánh nữ Matta hôm nay, chúng ta nguyện xin Chúa qua lời cầu bầu của thánh Matta, ban cho chúng ta sống theo mẫu gương của thánh nữ, luôn ân cần đón tiếp Chúa và sẵn sàng hy sinh phục vụ Chúa, phục vụ Giáo Hội và tha nhân. Đón tiếp Chúa bằng việc lắng nghe lời Chúa, suy gẫm và cầu nguyện. Đón tiếp Chúa Giêsu Thánh Thể để có sự sống của Ngài hun đúc tinh thần tông đồ, nuôi dưỡng đời sống đạo. Đón tiếp Chúa với lòng yêu mến chân thành, sẽ giúp chúng ta được gần bên Chúa, gần gũi tha nhân. Đồng thời, theo gương thánh nữ Matta, chúng ta sống đức tin mạnh mẽ giữa những cơn thử thách của cuộc sống. Nhờ đó, chúng ta cố gắng vượt qua những thử thách hiện tại và hướng đến sự phục sinh vinh quang với Chúa Kitô.
