2021
Lòng tin
07 29 X Thứ Bảy Tuần XVIII Thường Niên.
(Đ) Thánh Xit-tô II (Sixtus), Giáo hoàng và các bạn Tử đạo.
(Tr) Thánh Ca-giê-ta-nô (Cajetan), Linh mục.
Thứ Bảy đầu tháng. Ngày đền tạ trái tim vô nhiễm Đức Mẹ.
Đnl 6,4-13; Mt 17,14-20.
Lòng tin
“Trong một sắc chỉ gửi thượng viện, hoàng đế Valêrinô đã ra lệnh gấp rút truy lùng các Giám Mục, linh mục và phó tế. Bạn cũng nên biết rằng Ðức Sixtô đã bị hành quyết cùng với bốn thầy sáu khác”.
Vào đầu tháng 8/258, trước khi bị tử hình, thánh Cyprianô đã viết cho một người bạn như sau: “Trong một sắc chỉ gửi thượng viện, hoàng đế Valêrinô đã ra lệnh gấp rút truy lùng các Giám Mục, linh mục và phó tế. Bạn cũng nên biết rằng Ðức Sixtô đã bị hành quyết cùng với bốn thầy sáu khác”. Thực vậy, ngày 06/8/258, Ðức Giáo Hoàng Sixtô đã bị bắt đang lúc cử hành phụng vụ tại nghĩa trang Callistô. Sau đó, ngài bị trảm quyết cùng với các thầy Janvier, Magne, Vicentê và Etienne. Ngoài ra, thầy Félicissime và Agapit cũng đã bị bắt và bị xử chém tại nghĩa trang Prétextat, trong khi đó, thầy Laurent bị hành hình và chết vào bốn ngày sau. Ðó là một trang sử oai hùng của Giáo Hội Rôma trong thời bách hại.
Thánh Cyprianô đã muốn dựa trên những nhân chứng hùng hồn này để mời gọi các tín hữu Phi Châu hãy can đảm chiến đấu, hãy nghĩ đến cuộc sống vĩnh cửu hơn là cái chết hiện nay. Hãy ra sức tận hiến cho Thiên Chúa. Hãy vui mừng hơn là sợ hãi trong lúc tuyên xưng đức tin và hãy nhớ rằng những chiến sĩ của Thiên Chúa không bao giờ chết nhưng sẽ được đội triều thiên khải hoàn.
Đức Sixtô II là người Hy Lạp, sinh tại Athêna, là người có học thuyết uyên bác, nhưng vốn tính rất khiêm nhu. Nổi danh là vị Giáo hoàng “ôn hòa”, ngài đã dàn xếp ổn thỏa, nối lại quan hệ bị gián đoạn với các Giáo hội Đông phương và Phi Châu về Phép rửa mới cho các Kitô hữu đã chối bỏ đức tin còn tồn tại từ thời các vị tiền nhiệm.
Lúc ấy, hoàng đế Valêrianô phát động một cuộc bách hại rất khốc liệt đối với Giáo hội Công giáo. Nhiều Kitô hữu bị bắt bớ, buộc phải chối bỏ đức tin, nếu không, sẽ bị tịch thu tài sản và kết án tử hình. Đức Giáo hoàng Sixtô II cũng bị bắt và cuộc tử đạo của đức Sixtô II có liên quan đến chuyện Thánh Laurenxô phó tế, phụ tá của ngài chuyên lo việc quản lý công việc bác ái, cứu giúp người nghèo. Khi ngài bị bắt và bị dẫn giải, thầy phó tế Laurenxô xin ngài cho phép được đi cùng, nhưng ngài nói rằng: “Thầy cũng sẽ được hưởng triều thiên tử đạo, nhưng phải ở lại lo giải quyết xong xuôi những công việc bác ái còn lại.”
Quả thật, bốn ngày sau, Laurenxô cũng bị bắt và được yêu cầu đem nộp tất cả tài sản của Giáo hội cho nhà vua. Laurenxô xin trở vế lo việc giao nộp. Thầy gọi mọi người nghèo khổ trong thành đến, phân phát tất cả tài sản cho họ rồi dẫn họ đến trước mặt quan án và dõng dạc tuyên bố: “Đây là tất cả tài sản của Giáo hội”. Thầy bị kết án, bị đưa lên giàn hỏa thiêu trước sự chứng kiến của ngài. Riêng ngài bị chém đầu trên chính ngai tòa của mình ngày 6-8-258, và được mai táng trong phần mộ dành cho các Giáo hoàng tại hầm mộ thánh Calixtô.
Ngày hôm nay, con người đang phải đối diện với biết bao vấn đề phức tạp của cuộc sống, từ chiều kích nội tâm đến thực tế đời thường. Nhiều vấn đề rất khó giải quyết và đi đến chỗ bế tắc không lối thoát. Chính vì thế, mà nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ đành để cuộc sống nổi trôi không định hướng. Lý do căn bản đã đẩy đưa con người đến tình trạng này là do thiếu niềm tin trong cuộc sống.
Thật vậy, sống giữa một xã hội tuy rất phát triển về nhiều mặt, nhưng vì chiều kích tâm linh đã bị xem nhẹ, và đôi khi còn không được bàn tới, nên con người hôm nay nhiều lúc phải choáng váng trước bao vấn đề nảy sinh từ cuộc sống đầy nhiễu nhương phức tạp này. Một xã hội đề cao vật chất và tôn thờ chủ nghĩa hưởng thụ đâu có thể thỏa mãn mọi khát vọng chính đáng của con người.
Có lẽ tiếng kêu than của con người đã thấu tới trời cao, để rồi chính Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay đã phải thốt lên: “Ôi thế hệ cứng lòng không chịu tin và gian tà! Tôi còn phải ở với các người cho đến bao giờ, còn phải chịu đựng các người cho đến bao giờ nữa?” (c.17)
Ngày xưa Chúa Giêsu đã phải xót xa vì thái độ thiếu lòng tin của người Do Thái, khi họ cứng lòng trước những lời giảng dạy và phép lạ Người làm. Ngày nay cũng thế, Chúa Giêsu vẫn hiện diện trong Giáo Hội và thế giới qua những giáo huấn và dấu chỉ thời đại, nhưng con người vẫn mải miết chạy theo những sự vật mau qua của trần thế, và bưng tai bịt mắt trước tình yêu thương quan phòng và diệu kỳ của Người.
Mỗi chúng ta cần xét lại bản thân, để xem lòng tin của mình có mềm mại trước những dấu chỉ yêu thương của Chúa không? Hay lại chai đá như dân Israel xưa. Chúa vẫn kiên nhẫn không mỏi mệt với chúng ta. Người mong chúng ta quay trở lại để đón nhận tình yêu thương của Người luôn trải dài trong từng phút giây của cuộc sống mỗi người.
Nếu những yếu tố vật chất của thời đại hôm nay không thỏa mãn khát vọng thâm sâu nhất của chúng ta, thì lòng tin lại có sức mạnh vô song như lời Chúa nói trong Tin Mừng hôm nay: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: “rời khỏi đây, qua bên kia!” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được” (c.20).
Lời Chúa thật xác quyết và mạnh mẽ, nhưng liệu chúng ta có vững tin vào Lời Ngài không? Đấy là yếu tố quyết định cho vận mạng của chúng ta hôm nay và mai sau.
Lòng tin có thể làm mọi sự và thay đổi mọi tình huống trong cuộc sống. Nhiều đoạn văn Tin Mừng đã cho chúng ta thấy những phép lạ xảy ra đều do lòng tin kiên vững của người xin ơn. Chúa cũng chỉ làm phép lạ khi người ta có lòng tin mạnh mẽ vào Người.
Ngày hôm nay và ngay giờ phút này, lòng tin của mỗi người chúng ta đang ở ngưỡng nào trong chương trình yêu thương quan phòng của Thiên Chúa Tình Yêu. Ngài vẫn luôn chờ đợi chúng ta trong yêu thương, để nâng đỡ lòng tin hèn yếu của chúng ta. Vì cuộc sống thật nhiều gian nan và thách đố, nên nhiều khi chúng ta muốn buông xuôi, muốn ngã lòng, muốn bỏ cuộc. Chúa vẫn có đó để đồng hành và nâng đỡ chúng ta trong cuộc sống từng ngày. Đặc biệt trong Mầu Nhiệm Thánh Thể, Chúa luôn mãi âm thầm đón đợi chúng ta đến với Ngài, để được Ngài tiếp sức và bổ dưỡng thêm lòng tin.
2021
HIỂN DUNG NHƯ CHÚA
06 28 Tr Thứ Sáu Tuần XVIII Thường Niên.
CHÚA HIỂN DUNG, lễ kính.
Thứ Sáu đầu tháng. Ngày đền tạ Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu.
Không cử hành lễ cầu cho người qua đời (D2, D3), trừ lễ an táng.
Đn 7,9-10.13-14; 2Pr 1,16-19; Mc 9,2-10.
HIỂN DUNG NHƯ CHÚA
Hôm nay, Lễ Chúa Hiển Dung, bài Phúc âm thánh Matthêu nói về cuộc biến hình của Chúa Giêsu trên núi. Phêrô, Giacôbê và Gioan đã nhìn thấy khuôn mặt vinh quang của Con Thiên Chúa lần đầu tiên. Họ đã ở với Chúa Giêsu hằng ngày trong khoảng thời gian ba năm. Họ đã nhìn thấy Ngài, lắng nghe Ngài giảng dạy, chứng kiến những phép lạ Ngài làm, nhưng họ vẫn chưa thực sự nhận ra Ngài là ai.
Trong cuốn “Jésus: A Fait De Moi, Un Témoin”, “Chúa Giêsu Đang Sống Qua Nhân Chứng”, cha Emiliano Tardif chia sẻ như sau: “Một sứ giả Tin Mừng trước tiên phải là một chứng nhân có một kinh nghiệm cá nhân về sự chết và Phục sinh của Chúa Giêsu Kitô và là người truyền đạt cho kẻ khác, không chỉ là một đạo lý, mà một Đấng-Vẫn- Sống đang ban sự sống dồi dào”. “Không ai có thể trở thành sứ giả đích thực của Tin Mừng, nếu người đó không có kinh nghiệm đời sống mới mà Chúa Giêsu ban cho”.
Đoạn Tin mừng hôm nay kể lại rằng: Chúa Giêsu đem Phêrô, Giacôbê và Gioan lên một ngọn núi cao và tại đó, Ngài đã biến hình trước mặt các ông. Mặt Ngài chiếu sáng như mặt trời. Áo Ngài trở nên trắng tinh như tuyết. Rồi lại có Môisê và Elia hiện ra và trò chuyện với Ngài.
Chính lúc Chúa Giêsu biến đổi hình dạng, là lúc có sự hiện diện của ông Mô-sê và ông Elia, tượng trưng cho lịch sử cứu độ. Chúng ta hãy lắng nghe các ngài đàm đạo. Theo thánh sử Lu-ca, các vị đàm đạo về cuộc Xuất Hành Người sẽ hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem (Lc 9, 31). Như thế, lịch sử cứu độ (Lề Luật và ngôn sứ) loan báo mầu nhiệm Vượt Qua và mầu nhiệm
Vượt Qua hoàn tất lịch sử cứu độ. Mà lịch sử cứu độ là gì? Là lịch sử kể lại sự hiện diện, sự quan phòng và cách dẫn đưa của Thiên Chúa giầu lòng thương xót hành trình làm người của những cuộc đời, của một dân tộc, đầy thăng trầm và tội lỗi, bị chi phối nặng nề bởi Sự Dữ, không chỉ từ khởi đầu của dân tộc Israel, nhưng ngay từ khởi của loài người (x. St 3). Chúng ta hãy chiêm ngắm Đức Giêsu trở nên chói lọi như mặt trời, như bản văn Tin Mừng tường thuật: “Dung nhan người chói lọi như mặt trời, và y phục người trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17, 2). Như thế, chính khi lịch sử cứu độ được hoàn tất nơi ngôi vị của Đức Giêsu, dung nhan của Ngài trở nên Mặt Trời, Mặt Trời ban ánh sáng, sức nóng và sự sống: “Chẳng có chi tránh được ánh dương nồng” (Tv 19, 7).
Dưới ánh sáng của lịch sử cứu độ được hiểu như trên, chúng ta được mời gọi đọc lại và nhận ra cuộc đời chúng ta cũng là một “lịch sử cứu độ”, như kinh nghiệm thiêng liêng của hai môn đệ trên đường Emmau (Lc 24, 13-35), tuy đầy thăng trầm, tội lỗi và bị chi phối nặng nề bởi Sự Dữ, nhưng hướng tới Mầu Nhiệm Vượt Qua và được Mầu Nhiệm Vượt Qua hoàn tất, như thánh sử Gioan mong ước: “Những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.” (Ga 20, 31). Chính khi nhận ra hành trình làm người và hành trình ơn gọi của chúng ta, quá khứ, hiện tại và tương lai của cuộc đời chúng ta hướng tới và được hoàn tất nơi ngôi vị của Đức Kitô, đó sẽ là lúc chúng ta sẽ có được kinh nghiệm chiêm ngắm Dung Nhan chói ngời của Đức Kitô.
Vậy, trên hành trình đi theo Đức Kitô trong ơn gọi gia đình và nhất là trong đời sống dâng hiến, chúng ta hãy ước ao và xin Chúa ban cho chúng ta kinh nghiệm thiêng liêng nền tảng này: Đức Kitô trở nên chói ngời trong cuộc đời và ơn gọi của chúng ta; và ước gì cuộc sống hằng ngày của chúng ta với những đòi hỏi của ơn gọi, là lời diễn tả tâm tình vui sướng: “Lạy Chúa, chúng con ở đây, thật là hay!” Bởi vì, ánh sáng chói lòa của Chúa Giêsu trên đỉnh núi muốn nói cho chúng ta về kinh nghiệm niềm vui và hạnh phúc của lựa chọn cho đi sự sống của mình, đánh liều cuộc đời mình trong một ơn gọi, vì Đức Kitô và vì Tin Mừng, như chính Ngài đã nói sáu ngày trước (Mt 16, 24-26).
Thiên Chúa đã đưa ba tông đồ lên núi, làm họ ngã sấp mặt xuống đất, thì cũng chính Ngài, qua Đức Giêsu Kitô lại nâng họ lên: “Các con hãy đứng dậy, đừng sợ”. Rồi cùng với họ đi xuống núi. Trên đường đi xuống núi lòng họ hoang mang, đầy những câu hỏi, nghi vấn, nhưng Chúa Giêsu đã nói với họ rằng: “Các con không được nói với ai về việc đã thấy, cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại”. Bí mật của cuộc biến hình này tạo nên sự tin tưởng cho các tông đồ khi phải đối diện với đau khổ và sự chết của Chúa Giêsu trên thập giá và của chính các ông sau này.
Sự biến hình của Chúa Giêsu trong vinh quang chính là niềm hy vọng và tăng cường sức mạnh cho chúng ta đang khi cố gắng trung thành với Ngài giữa những cám dỗ, đau khổ và thử thách. Giống như em bé trai thống khổ trong bức tranh vẽ của Raphael, chúng ta không bao giờ thất vọng khi nhìn ngắm vào thập giá của Chúa Giêsu, mà phải luôn tìm kiếm Ngài trong vinh quang. Chỉ qua Ngài, với Ngài, và ở trong Ngài chúng ta mới chiến thắng được thế gian và ma quỉ.
Cuộc biến đổi tích cực nào cũng đòi buộc con người phải hy sinh, phải công tác vào phần của mình một cách chủ động vào trong đó. Như hạt lúa muốn trở thành cây lúa thì phải chấp nhận một sự biến đổi âm thầm trong đau đớn vì sự mục nát và thối đi của mình. Vinh quang phục sinh và phần thưởng trọng đại trên thiên quốc cũng dành cho những ai biết hy sinh quên mình, biến chấp nhận được biến đổi và thanh lọc bởi Lời của Chúa và giáo huấn của Hội thánh.
Biết trước sự yếu đuối và nhát đảm của các môn đệ, Chúa Giêsu đã cho các ông thấy và chiêm ngấm trước vinh quang của Ngài, vinh quang mà Ngài sẽ lấy lại sau khi đi vào cuộc tử nạn nhằm cứu chuộc con người khỏi vòng nô lệ của tội lỗi. Vinh quang đó cũng sẽ dành cho các môn đệ và cho tất cả chúng ta nếu chúng ta tích cực và chủ động góp phần vào chương trình cứu chuộc mà Thiên Chúa đã và đang thực hiện vì con người và cho con người
Muốn có một kinh nghiệm nào đó về Thiên Chúa, muốn gặp gỡ Ngài, nhất thiết chúng ta phải ra khỏi đời sống thường ngày xô bồ náo nhiệt và được chính Ngài dẫn dắt. Người ta vẫn nói rằng có thể và phải gặp Thiên Chúa giữa lòng cuộc sống này. Điều này không sai, và còn cần thiết cho chúng ta là những người thường xuyên sống và dấn thân giữa lòng xã hội với những vấn đề và biết bao cuộc gặp gỡ với người khác. Nhưng để có thể gặp Chúa trong cuộc đời và cộng tác với Ngài, chúng ta đã phải thường xuyên gặp Ngài trong nơi cô tịch, trong thinh lặng, riêng tư: chúng ta đã thường xuyên được Ngài bao phủ “trong đám mây sáng chói”.
Mừng Kính Lễ Kính Chúa Giêsu Hiển Dung hàng năm, Hội Thánh mời gọi chúng ta suy niệm và sống ý nghĩa của sự cần thiết ‘Hiển dung’ và ‘biến đổi’ cuộc sống hàng ngày của chúng ta nơi dương thế. Nghĩa là, Chúa thách đố chúng ta ‘biến hình’ để rồi được ‘hiển dung’ với Chúa trên Núi Thánh. Ước chi mỗi người chúng ta luôn biết cố gắng thanh luyện và biến đổi đời sống của chúng ta nên tươi tốt và đẹp đẽ hơn trong mọi hoàn cảnh. Đồng thời trút bỏ mọi cồng kềnh và lỉnh kỉnh vô ích hầu chúng ta có thể nhẹ nhõm bước đi và lên đến đỉnh Núi Thánh trên Nước Chúa Vĩnh Hằng.
2021
Sống Niềm Tin
04 26 Tr Thứ Tư Tuần XVIII Thường Niên.
Thánh Gio-an Ma-ri-a Vi-a-nê, Linh mục, lễ nhớ.
Thứ Tư đầu tháng. Kính Thánh Cả Giuse.
Ds 13,1-2.25-14,1.26-29; Mt 15,21-28.
Sống Niềm Tin
Thật ít người có được sự quyết tâm mạnh mẽ để vượt qua các trở ngại và đạt được các kỳ công. Thánh Gioan Maria Vianney (còn được gọi là Cha Sở họ Ars) là một người có quyết tâm: Ngài muốn trở nên một linh mục. Nhưng trở ngại lớn nhất là ngài không có căn bản học vấn cần thiết.
Sau thời gian nhập ngũ và trở lại chủng viện, ngài không hiểu nổi các bài học bằng tiếng Latinh nên bị đuổi ra khỏi trường. Nhờ sự giúp đỡ kiên nhẫn của Cha Balley để dạy riêng ở nhà, sau cùng Gioan được nhận trở lại và được thụ phong linh mục với nhiều cay đắng.
Hầu như chẳng giám mục nào muốn có một linh mục như Gioan, do đó, họ đưa ngài về một giáo xứ hẻo lánh, chỉ có 40 gia đình nhưng có đến 4 quán rượu. Khi ngài đến tỉnh Ars nước Pháp, lúc ấy đã 31 tuổi, hầu như chẳng ai thèm lưu ý. Tỉnh này nổi tiếng là nơi đầy ải các linh mục. Giáo dân thì thờ ơ với việc đạo đức và thoải mái với nếp sống cố hữu của họ.
Không bao lâu họ thấy có những thay đổi. Khi nhìn trộm qua cửa sổ họ thấy cha sở gầy gò ốm yếu cầu nguyện suốt đêm. Có người thấy ngài vất bỏ các bàn ghế đắt tiền và thay chiếc giường nệm êm ấm bằng các khúc gỗ sần sùi. Cũng có người thấy ngài chia sẻ quần áo cho người ăn xin, và chính ngài chỉ ăn có hai củ khoai mỗi ngày. Một vài người tò mò đến nhà thờ nghe giảng, và họ thấy tiếng nói của ngài như xé vào tai nhưng có sức đánh động tâm hồn. Từ tò mò dẫn đến nghi vấn. Có thể nào đây là một linh mục đích thực? Và nhà thờ bắt đầu đông người trở lại.
Cha Gioan đã trở nên một phần tử của cộng đồng nhỏ bé ấy. Mỗi ngày ngài đi thăm các giáo dân và lắng nghe những ưu tư của họ. Ngài không hiểu tiếng Latinh nhưng ngài rất hiểu các nỗi khó khăn của đời sống người dân. Do đó, sau mười hai năm, hầu như mọi người trong tỉnh đều tham dự Thánh Lễ hàng ngày và các nông dân vừa lần chuỗi vừa cầy cấy nơi đồng áng.
Sự thay đổi không phải dễ dàng. Những dèm pha, đàm tiếu, chụp mũ Cha Gioan cũng không thiếu. Ðối phó với những người ấy, ngài chỉ im lặng và nhẫn nhục chịu đựng.
Công việc giải tội là thành quả đáng kể nhất của Cha Gioan. Khi mới chịu chức linh mục, ngài không được phép giải tội vì học lực quá kém. Nhưng ở họ đạo Ars, điều giáo dân lưu tâm là ngài có khả năng thấu suốt linh hồn họ, khuyên bảo họ một cách chân thành với tấm lòng quý mến.
Dân chúng từ khắp Âu Châu đổ về tỉnh nhỏ xíu ấy chỉ để xưng tội. Trong những tháng mùa đông, ngài phải mất từ 11 đến 12 tiếng đồng hồ để đưa người ta về với Thiên Chúa. Trong mùa hè, thời gian giải tội lên đến 16 tiếng. Ðó là chưa kể cảnh giáo dân, vì quá ái mộ ngài nên họ luôn rình rập để cắt áo, cắt tóc và lấy trộm mũ của ngài làm kỷ niệm. Nhưng các điều ấy không tệ hại cho bằng cứ phải nghe những câu chuyện đau lòng trong toà giải tội. Nếu một người không quyết tâm sống ơn gọi linh mục thì không thể nào chịu đựng nổi sự hy sinh bền bỉ như vậy.
Với thân hình mảnh khảnh nhưng gánh nặng quá lớn vì yêu quý các linh hồn, sức khoẻ của ngài ngày càng sa sút. Theo lời khuyên của các bác sĩ, ngài tìm cách trốn khỏi giáo xứ để có chút thời giờ tĩnh dưỡng, nhưng cả xứ biết tin đã tìm cách chặn đường ngài. Bất chấp điều ấy, ngài lên đường trở về quê nhà nhưng cả đoàn người hành hương lại theo ngài đến đó. Biết rằng không thể nào được yên thân, ngài trở về họ đạo.
Ngài từ trần ngày 4 tháng Tám 1859 sau cơn bệnh nặng, hưởng thọ 73 tuổi. Ngài được Ðức Giáo Hoàng Piô XI phong thánh năm 1925 và năm 1929, ngài được đặt làm quan thầy chính thức của các cha xứ.
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đề cao lòng tin của người đàn bà xứ Canaan, tức là một người ngoại giáo. Một trong những điều hẳn sẽ làm chúng ta ngỡ ngàng, đó là trên Thiên đàng, chúng ta sẽ gặp gỡ những người chúng ta chưa từng quen biết, ngay cả những người chưa một lần mang danh hiệu Kitô hay đặt chân đến nhà thờ.
Thời Chúa Giêsu, có biết bao người ngoại giáo có lòng tin sâu sắc hơn cả những người Do thái. Trước hết, tiên tri Isaia đã từng khiển trách lòng giả dối của người Do thái: “Dân này thờ Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng họ thì xa Ta”. Thời Chúa Giêsu, có biết bao người bị loại ra khỏi xã hội, bị đặt bên lề Ðền thờ, và có lẽ cũng không hề thuộc toàn bộ lề luật của Môsê, nhưng lại có lòng sám hối và tin tưởng sâu xa hơn. Nói với những người chỉ giữ đạo một cách hình thức, Chúa Giêsu đã cảnh cáo: “Không phải những ai nói: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời; nhưng là những kẻ thực thi ý Chúa”.
Người đàn bà Canaan có lẽ không hề biết đến lề luật Môsê, nhưng đã sống niềm tin của mình một cách mãnh liệt. Lòng tin đó được thể hiện qua việc phó thác hoàn toàn vào quyền năng của Chúa Giêsu. Trong tình thế hầu như tuyệt vọng, bà đã chạy đến với Chúa Giêsu; sự van nài của bà cho thấy sự kiên nhẫn và lòng tin sắt đá của bà. Sự khác biệt cơ bản giữa một người có niềm tin và một người không có niềm tin, không hệ tại ở danh hiệu Kitô hay những thực hành đạo đức, mà chính là lòng tin. Tin vào sự hiện diện quyền năng của Thiên Chúa trong cuộc sống, tin vào tình yêu vô biên của Ngài, tin vào ý nghĩa của cuộc sống, tin vào tình người, đó là sắc thái chủ yếu của người có niềm tin: chính trong niềm tin đó, con người gặp gỡ Chúa Giêsu.
Trong một hoàn cảnh mà cái nhìn của con người có thể cho là tuyệt vọng, người Kitô hữu hơn bao giờ hết được mời gọi để nêu cao niềm tin của mình. Ðây là thời điểm để họ chứng tỏ bản sắc đích thực của mình. Trong cuộc sống chỉ có nghi kỵ và hận thù, họ được mời gọi để đốt lên ngọn đuốc của yêu thương. Trong một xã hội bị gậm nhấm bởi chán nản tuyệt vọng, họ được mời gọi để mang lại niềm hy vọng. Chỉ khi nào giữ đúng vai trò đó, người Kitô hữu mới thực sự xứng đáng với danh hiệu của mình.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn vào đức tin của những người bị coi là dân ngoại, để biết tôn trọng đức tin chân thành của họ và còn để rà xét lại đời sống đạo và đức tin của mình. Thiên Chúa cho chúng ta rất nhiều cơ hội và ân phúc, nhưng nhiều khi chúng ta lại coi đó là những điều tự nhiên, may mắn, hơn là nhận ra tình yêu thương ban tặng của Chúa. Giống như người Do Thái, chúng ta thờ ơ với ơn cứu độ của mình, từ chối lời mời gọi của Thiên Chúa. Nếu chúng ta không hoán cải đời sống, thì cũng sẽ có ngày người từ đông chí tây được mời vào dự tiệc nước Thiên Chúa, còn chúng ta bị loại ra ngoài.
Kế đến, hãy học nơi tấm gương tin tưởng kiên trì và khiêm tốn của người phụ nữ Canaan hôm nay: đừng bao giờ thất vọng trước sự im lặng của Thiên Chúa. Vì để tôi luyện, thử thách đức tin của chúng ta, đôi khi Chúa dường như im lặng hoặc từ chối lời kêu cầu của chúng ta; nhưng nếu chúng ta cứ kiên trì, cứ nài xin, chắc chắn Chúa sẽ ra tay và cho chúng ta được như sự thỉnh cầu.
Người phụ nữ hôm nay quả là tấm gương cho các bậc làm cha mẹ. Nhiều người, nhiều gia đình đang rơi vào cảnh cùng quẫn, đau khổ vì vợ chồng đau yếu, con cái ngỗ nghịch hư hỏng ; nhiều người đã ngã lòng vì thấy lời cầu xin của mình chưa được Chúa nhận lời. Họ trách Thiên Chúa: Tôi đi lễ mỗi ngày, đã đi xin khấn ở nhiều nơi mà vẫn chẳng được…
Nhiều người thì xin những người đạo đức, thánh thiện thêm lời kêu khấn cho mình. Đó là điều tốt, thế nhưng đừng quên chính bản thân cần phải hoán cải, cần lắng nghe để nhận ra tiếng nói và sự chỉ dẫn của Chúa qua từng biến cố xảy ra trong cuộc sống. Hãy tin tưởng, kiên trì để thưa với Chúa: Lạy Chúa, xin dủ lòng thương con và gia đình con. Chúa sẽ nghe lời chúng ta.
Nhiều người trẻ vì bị mê hoặc bởi khoa học công nghệ, bị mãnh lực của đồng tiền chiếm trọn cả thời giờ và ưu tư, khiến họ không còn chỗ cho Thiên Chúa. Họ đã để cho đức tin của mình bị mờ nhạt, èo uột khi rời xa gia đình hoặc khi lăn xả vào vòng quay của xã hội. Họ đánh mất thói quen cầu nguyện mỗi ngày, bỏ qua việc xưng tội rước lễ, xa rời với những sinh hoạt của cộng đoàn giáo xứ. Những dấu hiệu ấy cho thấy một đức tin đang bị khô héo, mất sức sống. Chúng ta cùng cầu xin Chúa củng cố đức tin của chúng ta, đặc biệt cho những người đang lung lạc đức tin vì thử thách, và xin Chúa giúp chúng ta luôn tin tưởng, cậy trông nơi Chúa dù lúc vui hay lúc buồn, khi thành công hay thất bại. Chúng ta tin rằng, Thiên Chúa luôn ở bên và sẵn sàng cứu giúp chúng ta.
2021
ĐÓN NHẬN CHÚA VÀ CHIA SẺ CHO ANH EM
03 25 X Thứ Ba Tuần XVIII Thường Niên.
Ds 12,1-13; Mt 14,22-36.
ĐÓN NHẬN CHÚA VÀ CHIA SẺ CHO ANH EM
Trong Tin Mừng hôm nay, khi các môn đệ xin Chúa giải tán dân chúng về các làng mạc để họ tự mua thức ăn, Ngài đã truyền lệnh cho họ: “Các con hãy liệu cho họ ăn”. Rồi với năm chiếc bánh và hai con cá do các môn đệ mang đến, Ngài đã nuôi trên 5,000 người được ăn no nê mà còn dư 12 thúng bánh vụn.
Buổi chiều hôm đó, thấy một đám đông đang có nguy cơ đói lả, các tông đồ cảm thấy bất lực trước một nhu cầu quá lớn là lo cho cả ngàn người ăn. Vì thế, các ông đã muốn chọn một giải pháp dễ dãi, thoái thác trách nhiệm nên các ông nói với Chúa : Thưa Thầy, đã muộn rồi, ở đây lại thanh vắng, chúng ta nên giải tán đám đông, để họ tự đi mua thức ăn. Chúa Giêsu đã không đồng ý với giải pháp đó. Ngài ra lệnh cho các tông đồ : Chính anh em hãy cho họ ăn. Các tông đồ, với sự giới hạn của mình, dường như bó tay trước nhu cầu quá lớn như thế. Các ông đã thưa với Chúa về giới hạn nhỏ bé của mình : Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm chiếc bánh và hai con cá, tức là chỉ đủ cho một phần ăn.
Đối với Chúa Giêsu, ít hay nhiều không quan trọng, nhưng quan trọng là các tông đồ có dám nhường phần ăn của mình cho người khác hay không, phần còn lại Chúa sẽ làm. Thế là chỉ với năm chiếc bánh và hai con cá do sự quảng đại chia sẻ của con người, Chúa Giêsu đã cầm lấy…, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ, các môn đệ trao cho đám đông. Chi tiết này cho thấy, một lần nữa, Chúa Giêsu lại muốn có sự cộng tác quảng đại của các tông đồ. Chúa trao cho các ông để các ông tiếp tục trao cho người khác. Như thế lương thục, của ăn cứ liên tục được trao tặng qua các môn đệ, phục vụ đến mọi người, và sẽ mãi là như thế.
Từ năm chiếc bánh và hai con cá nhỏ là đóng góp của con người, cùng với sự cộng tác của các môn đệ, Chúa Giêsu đã nuôi năm ngàn người ăn no mà vẫn còn dư thừa đến mười hai giỏ đầy bánh vụn. Phép lạ này được thực hiện để báo trước một phép lạ lớn lao hơn, đó là phép lạ Thánh Thể mà Chúa Giêsu sẽ thực hiện. Ngài đã biến máu thịt mình nên của ăn nuôi dưỡng nhân loại. Với phép lạ Thánh Thể tại nhà tiệc ly và vẫn còn kéo dài đến ngày nay, Đức Giêsu cũng vẫn đang cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà nói : Tất cả các con hãy cầm lấy mà ăn, mà uống, vì này là mình và máu Thầy sẽ đổ ra vì anh em, hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.
Với việc biến mình trở nên lương thực làm của ăn, của uống cho con người, Chúa Giêsu đã làm thỏa mãn mọi đói khát thể xác và tâm hồn cho con người mọi thời và mọi nơi. Chỉ nhưng ai đến lãnh nhận lương thực này, ăn mình và uống máu Ngài, thì sẽ không bao giờ còn bị các cơn đói khát, thèm muốn của thế gian đe dọa nữa. Nói như thánh Phaolô trong bài đọc hai : Khi gắn bó với Đức kitô qua việc nghe Lời Ngài và ăn lương thực của Ngài ban tặng, thì không một đau khổ, nghèo đói nào có thể làm lung lạc tinh thần của chúng ta : Không ai có thể tách chúng ta ra khỏi lòng yêu mến của Đức Kitô, dù là gian truân khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo. Tức là tất cả những nghèo đói, thèm khát, đau khổ của thế gian sẽ không làm gì được chúng ta, một khi chúng ta ở trong tình yêu với Chúa Giêsu.
Trong chúng ta, có những người đang nghèo túng của ăn, cơm áo. Bên cạnh đó, có rất nhiều người giàu của cải nhưng lại đang nghèo đói tinh thần. Có nhiều gia đình thèm muốn có một bữa ăn xum họp cả nhà mà không được ; có nhiều gia đình mong một ngày yên ổn không cãi vã, không to tiếng mà cũng không tìm ra ; có những người quá mệt mỏi với công việc, mong được một ngày nghỉ ngơi, thoát khỏi những lo toan cũng không thể… và nhiều người khác, tuy ngoài miệng vẫn cười, mà lòng đầy nước mắt và sự bất an. Nhiều bạn trẻ đang khao khát tìm kiếm tình yêu, hạnh phúc và tìm cho mình một hướng đi, một mục đích sống…
Ngày nay, các đám đông đói ăn ấy được nhân lên đến cả triệu lần, họ không chỉ đói, mà còn chết đói là khác. Ðã và đang có biết bao người làm những việc hy sinh để nuôi sống đám đông ấy, nhưng vấn đề quá lớn lao đối với những giới hạn của con người.
Dĩ nhiên, con người phải làm hết sức có thể để giúp đỡ đồng loại, nhưng với sức riêng, con người không thể giải quyết được vấn đề quá lớn lao ấy, họ cần có sự trợ lực từ bên trên. Thật thế, chúng ta cần phải có những việc làm cụ thể, vì “đức tin không có việc làm là đức tin chết”. Tuy nhiên, chúng ta chỉ có thể mang lại cơm bánh cho người đói khát, khi chúng ta cũng trao ban cho họ lời cầu nguyện của chúng ta. Tự sức mình, với năm chiếc bánh và hai con cá, các môn đệ không thể nuôi sống trên 5,000 người; thế nhưng, xem chừng Chúa Giêsu không thể làm phép lạ, nếu không có năm chiếc bánh và hai con cá ấy.
Người Kitô hữu chúng ta không chỉ làm công tác xã hội. Năm chiếc bánh và hai con cá do đóng góp và san sẻ của chúng ta cần phải đi đôi với niềm tin và lời cầu nguyện. Với niềm tin và lời cầu nguyện, chúng ta hãy xác tín rằng cách nào đó, Chúa hằng nhậm lời chúng ta và chắc chắn phép lạ luôn diễn ra. Chúa Giêsu đã dạy chúng ta cầu nguyện: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”.
Lòng cảm thương của các môn đệ trước đám dân chúng, chỉ dừng lại ở mức tình cảm hoặc chỉ tính toán đủ-thiếu khi chỉ còn có năm chiếc bánh và hai con cá. Chúa Giêsu thì khác, Ngài động lòng thương đám đông và muốn họ ra về sau khi đã được ăn no. Đàng khác, tất cả những gì qua tay Chúa Giêsu, thì dù ít ỏi (năm chiếc bánh và hai con cá) cũng sẽ trở nên sung mãn, dư thừa. Người kitô hữu cần mặc lấy tâm tình của Chúa Giêsu, biết quan tâm chăm sóc thân nhân và những kẻ bé mọn: người nghèo, người bệnh tật, người đau khổ về vật chất cũng như tâm hồn, đồng thời biết cậy dựa vào sức của Chúa trong việc giúp đỡ, bác ái, từ thiện.
Ước gì những cố gắng chia sẻ và trao ban của chúng ta luôn được thực thi bằng tất cả niềm tin và lời cầu nguyện. Ước gì niềm tin và lời cầu nguyện của chúng ta cũng được thể hiện bằng những nghĩa cử cụ thể của chúng ta.
