2021
LÊN ĐƯỜNG LOAN BÁO TIN MỪNG
18 13 Đ Thứ Hai Tuần XXIX Thường Niên.
THÁNH LU-CA, TÁC GIẢ SÁCH TIN MỪNG, lễ kính.
Có thể cử hành lễ an táng.
2Tm 4,10-17; Lc 10,1-9.
LÊN ĐƯỜNG LOAN BÁO TIN MỪNG
Thánh Luca là một trong 4 tác giả Tin mừng, lễ kính ngày 18-10. Thánh Luca sinh tại Bithynia, là dân Hy Lạp cổ đại, thuộc thành phố Antiôkia ở Syria cổ. Các giáo phụ thời Giáo Hội sơ khai nói rằng ngài là tác giả của Tin Mừng theo Thánh Luca và sách Công vụ Tông đồ, mới đầu chỉ là tác phẩm văn chương bình thường. Về sau, quyền tác giả của Thánh Luca mới được tái xác nhận bởi các vị uy tín của Kitô giáo như Thánh Giêrônimô và Eusêbiô, mặc dù các học giả đời cũng như vẫn chưa nhất trí về các chứng cứ xác thực về tác giả.
Trong Tân ước, Thánh Luca chỉ được nhắc tới vài lần, và được Thánh Phaolô gọi là “thầy thuốc” trong thư gởi giáo đoàn Côlôsê. Như vậy, ngài được coi là thầy thuốc và môn đệ của Thánh Phaolô.
Giáo Hội Công Giáo tôn kính Thánh Luca là Thánh sử, và một số giáo phái lớn tôn kính ngài là bổn mạng các họa sĩ, y bác sĩ, học sinh sinh viên, người bán thịt.
Trong thư gởi Philêmôn, Thánh Phaolô có nhắc tới các cộng sự viên là Máccô, Arístakhô, Đêma và Luca (câu 24). Thánh Luca cũng được nói tới trong Cl 4,14 và 2 Tm 4,11.
Thánh Luca không phải là người Do Thái, nghĩa là không được cắt bì. Là người Hy Lạp nên ngài viết Tin Mừng bằng Hy ngữ. Khác với ý kiến của Thánh Êpiphaniô, Thánh Luca ở trong nhóm 72 môn đệ (Lc 10,19), vì ngài nói rõ rằng ngài chưa hề gặp mặt Đức Kitô (x. Lc 1,14). Như vậy, việc Giáo Hội cho chúng ta nghe đoạn Tin Mừng trong lễ Thánh Luca hôm nay nói về việc Chúa Giêsu sai 72 môn đệ, đi theo từng cặp là việc khá lạ. Hơn nữa, Thánh Luca không được Chúa Giêsu hoán cải, mà được Thánh Phaolô hoán cải sau khi Chúa Giêsu về trời.
Rất có thể Thánh Luca học nghề thuốc ở Tarsus, trường y cạnh tranh với Alexandria và Athens, và là trường y lớn nhất Hy Lạp cổ đại. Có thể Thánh Luca đã gặp Thánh Phaolô vào thời điểm này.
Không ai biết Thánh Luca là người mới theo Do Thái hoặc trực tiếp gia nhập Kitô giáo, nhưng chúng ta biết rằng ngài có kiến thức uyên bác về Cựu ước. Hơn nữa, rõ ràng Thánh Luca không chỉ biết Thánh Phaolô, mà còn biết nhiều Tông đồ và các môn đệ. Chính ngài đã chứng minh điều đó, khi ngài soạn thảo Tin Mừng, ngài đã “cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự” (Lc 1, 3) với các nhân chứng biết rõ cuộc đời Chúa Giêsu. Trong các nhân chứng đó không chỉ có một mình Thánh Phaolô mà còn nhiều người khác.
Còn nữa, Thánh Phaolô thường kết hợp Thánh Luca với Thánh Máccô. Chúng ta biết rằng Thánh Máccô là người gần gũi với Thánh Phêrô, do đó chúng ta có thể nói rằng Thánh Luca cũng quen thân với Thánh Phêrô và các Tông đồ khác.
Thánh Luca giúp Thánh Phaolô nhiều trong khi thực hiện sứ vụ. Khi bị tù ở Rôma, Thánh Phaolô rất tin tưởng và quý mến Thánh Luca nên đã căn dặn Thánh Timôthê: “Chỉ còn một mình anh Luca ở với tôi. Anh hãy đem anh Máccô đi với anh, vì anh ấy rất hữu ích cho công việc phục vụ của tôi” (2 Tm 4, 11). Người ta tin rằng, sau khi Thánh Phaolô qua đời, Thánh Luca rao giảng Tin Mừng tại Ý, Gaul (Galát), Dalmatia, Macêdonia, và có thể cả ở Ai Cập.
Một số Giáo phụ cho rằng Thánh Luca chịu tử đạo, có thể bị đóng đinh vào cây ôliu ở Elaea, thuộc Peloponnesus gần Achaia. Cách hiểu này có từ Thánh Hippolytus. Các Thánh Gregory Nazianzen, Paulinus, và Gaudentius thành Grescia cũng nói rằng Thánh Luca chịu tử đạo. Mặt khác, nhiều người khác (kể cả Thánh Bede và nhiều vị tử đạo) chỉ nói rằng “Thánh Luca chịu đau khổ nhiều vì đức tin và chết già ở Bithynia”.
Thánh Luca sống độc thân để phục vụ Thiên Chúa, không vợ không con, đầy Thần Khí Chúa, và qua đời lúc 84 tuổi. Thi hài ngài được đưa tới Constantinople và an táng tại Nhà thờ Các Tông Đồ, nhà thờ này do Hoàng đế Constantinô xây dựng. Đầu ngài được đưa tới Rôma, đặt tại Tu viện Thánh Anrê. Các phần khác được đặt tại Tu viện Grecian trên Núi Athos.
Hôm nay lễ kính thánh Luca, chúng ta hãy cám ơn ngài vì đã để lại cho chúng ta một di sản cao quý là các sứ điệp Tin Mừng. Ngài không phải là môn đệ của Chúa Giêsu, mà là thế hệ sau các Tông đồ: không phải là chứng nhân mắt thấy tai nghe. Ngài là kitô hữu lương dân trở lại, là thành phần giai cấp cao trong xã hội. Phúc âm của ngài nhấn mạnh đến lòng thương xót của Thiên Chúa, và tình yêu của Chúa Cứu Thế đối với người nghèo và tội nhân, thích hợp với người Kitô giáo lương dân và những ai chưa nhận biết Chúa.
Noi gương Thánh Luca, khi phục vụ Lời Chúa, tôi xin chia sẻ vài cảm nghiệm về hình ảnh của người môn đệ qua sứ điệp Tin mừng hôm nay.
Đoạn Tin mừng cho thấy viễn cảnh cả một hành trình của người môn đệ, những người được Chúa sai đi. Bảy mươi hai người được sai đi là một con số biểu trưng, điều này cho thấy việc rao giảng Tin Mừng không phải chỉ dành riêng cho các tông đồ mà là tất cả những ai muốn dấn bước theo Chúa Giêsu. Họ được sai đi để rao giảng về “Triều Đại Nước Thiên Chúa đã gần đến”, nhờ đó những ai nghe – tin thì được thông hiệp vào ơn cứu độ.
Lời mời gọi thật cao trọng, vì họ được cộng tác vào công trình thời cánh chung của Thiên Chúa: như Chúa Giêsu qủa quyết “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. Tuy vậy, để làm tốt sự mạng cao trọng ấy, người môn đệ phải lưu tâm đến lời giáo huấn của Chúa Giêsu:
Khi ra đi “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép…vào nhà nào ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công.” Đó chính là lời mời gọi, sống khó nghèo và tín thác, cần có một hành trang gọn nhẹ nhất để thi hành sứ vụ mà không bị vật chất quyến luyến. Ngài còn nhắc thêm: “đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia” như lời cảnh báo để họ biết chấp nhận hiện tại, không vì khó khăn mà tìm nơi tiện nghi hơn.
Khi ra đi, điều trước tiên cần làm không phải là nói thật nhiều để chúng minh cho mọi người thấy tôi là người môn đệ, tu sĩ nhưng là “lời chúc bình an”. Nhưng muốn làm được điều đó, họ cần có bình an và sự bình an đích thực ấy là kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu. Khi trao ban bình an ấy xong, rồi hãy chữa lành người đau yếu, nâng đỡ người đang cần nâng đỡ.
Khi ra đi, điều thật quan trọng khác là người môn đệ họ cần phải có lòng can đảm, kiên trung vì Nước Trời, vì sự khó khăn của sứ vụ mà chính Chúa Giêsu cảnh báo: “Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói”. Họ đi vào thế gian, như những con chiên đi vào giữa bầy sói; sẽ bị bắt bớ và ngược đãi. Điều này chúng ta có thể cảm nhận qua hình ảnh các tông đồ, các anh hùng tử đạo được ghi lại trong các thánh thư và lịch sử Giáo Hội. Nhưng đừng vì thế mà sợ hãi, vì ơn Chúa thì luôn đủ cho mỗi người.
Khi suy niệm những điều ấy, chúng ta hãy nhìn lại mình với ơn gọi Kitô hữu, hay chuyên biệt hơn là ơn gọi của một giáo sĩ, một tu sĩ. Tôi đã thực sự là người “vô sản” của Chúa, lúc này và cho sứ vụ tương lai ? Tôi có sẵn sàng đối diện cách “kiên dũng” với mọi khó khăn trên bước đường truyền giáo ? Để rao truyền và làm chứng tá cho Chúa Giêsu, Đấng giàu lòng xót thương đối với kẻ đơn sơ, khó nghèo và nhất là các tội nhân. Lạy Chúa, xin thêm sức cho mỗi chúng con trên bước đường rao giảng Tin Mừng.
2021
Thật và giả
14 09 X Thứ Năm Tuần XXVIII Thường Niên.
(Đ) Thánh Ca-lit-tô I (Callistus I), Giáo hoàng, Tử đạo.
Rm 3,21-30a; Lc 11,47-54.
Thật và giả
Cuộc đời của một vị thánh luôn đan xen những may mắn với thử thách,khó khăn.Xem ra,các thánh càng gặp chông gai,càng vác Thập giá, các Ngài càng vui vẻ vì càng lúc các Ngài càng giống Chúa Giêsu cứu thế. Dù rằng, có nhũng vị thánh làm tới những chức vị cao trọng trong Hội Thánh, cuộc đời của các Ngài ít người được thong thả, thoải mái và dễ chịu như quan niệm đời thường. Thánh Ca-li-tô I, giáo hoàng không đi ra ngoài cái vòng đó: Ngài gặp đau khổ trên ngai Giáo hoàng, bị bắt,bị hành hạ và cuối cùng bị chết để làm vinh danh Chúa Kitô.
Ca-li-tô là một phó tế .Vào những thế kỷ đầu tiên,chỉ có 7 phó tế trong Giáo T Triều Roma mới có quyền bầu chọn Giáo hoàng. Thầy sáu Ca-li-tô là cộng sự viên rất thân tín của Ðức Thánh cha Zêphyrinô.Ðức Giáo Hoàng Zêphyrinô tín cẩn thầy phó tế Ca-li-tô và Thầy sáu Ca-li-tô đã giúp đỡ rất nhiều cho Ðức Giáo Hoàng.
Chính vì thế,khi Ðức Thánh Cha Zêphyrinô tạ thế,phó tế Ca-li-tô đã được bầu chọn lên kế vị Ngài vào năm 217. Ðức Giáo Hoàng Ca-li-tô I đã điều khiển Hội Thánh,đã chèo lái con thuyền Giáo Hội thời Hoàng đế Antonin Heliogabale. Thời kỳ lãnh đạo Giáo Hội Chúa Kitô, thánh Ca-li-tô I đã cho sửa sang lại những nghĩa trang đầu tiên của cộng đoàn tín hữu Roma trên đường Appia. Ngài noi gương vị Giáo hoàng tiền nhiệm muốn làm cho những nơi an nghỉ của hầu hết các vị Giáo hoàng và các thánh tử đạo trở nên những chỗ xứng đáng,sạch sẽ,khang trang để làm sáng danh Chúa Kitô vì các thánh tử đạo đã xây đắp nền tảng Hội Thánh trần gian vững chắc.
Dòng máu của các vị Giáo hoàng và các thánh tử đạo đã tô xây Giáo Hội tươi xinh,tốt đẹp.Trên ngôi vị Giáo hoàng, thánh nhân đã bênh đỡ Giáo Hội, củng cố lòng tin của mọi người,bảo vệ đức tin của Hội Thánh trước vấn đề Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Ngài đã bị linh mục Hippolyte, một nhà tư tưởng nổi tiếng lúc đó chống đối kịch liệt.Thánh nhân đã luôn cương quyết chống lại các bè rối,những bọn lạc giáo làm hại Giáo Hội. Thánh nhân đã bị bọn lạc giáo và bè rối bắt bỏ tù,đánh đập tàn nhẫn, bỏ đói, bỏ khát và cuối cùng chúng ném Ngài xuống giếng sâu để Ngài phải chết. Năm 222,thánh Ca-li-tô I, giáo hoàng đã được phúc tử đạo và được Chúa ban triều thiên ân thưởng tại Transtévère dưới thời vua Alexandre.
Ðược phúc tử vì đạo,thánh Ca-li-tô I,đã giương cao ngọn cờ đức tin.Ngài đã làm rực sáng bầu trời Thiên quốc khi đổ những giọt máu cuối cùng để minh chứng cho Chúa phục sinh vì trách nhiệm và bổn phận của Ngài là củng cố đức tin của các anh em. Thánh Ca-li-tô I, đã minh chứng rằng chỉ có Chúa mới là gia nghiệp,là cứu cánh của đời sống con người. Dưới giếng sâu,chấp nhận cái chết đau thương,thánh nhân đã trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô vì chính nơi Thập giá,chịu chết,Chúa Giêsu đã hoàn toàn hài lòng,hân hoan và hoàn tất ơn cứu chuộc theo ý Thiên Chúa Cha. Ðức Chúa Cha đã tôn vinh Ngài.Thánh Ca-li-tô cũng được Chúa tôn vinh và xứng đáng lãnh nhận triều thiên của Chúa
Trong cuộc sống, có những đồ vật hình thức bên ngoài rất đẹp nhưng chất lượng bên trong lại kém. Cũng có những đồ vật hình dáng bên ngoài xem ra xù xì cũ kỹ nhưng chất lượng bên trong lại tốt và bền. Giữa một thế giới “vàng thau lẫn lộn”, hình thức bên ngoài và nội dung bên trong không đồng nhất nên chúng ta rất khó phân biệt giữa đâu là thật và đâu là giả. Phân biệt sự vật hiện tượng đã khó, nhận biết lòng dạ con người càng khó hơn biết bao.
Tin mừng hôm nay giúp chúng ta nhận thức rõ tâm tư của con người qua lời nói và việc làm của họ. Thánh sử Luca thuật lại rằng: trong khi Chúa Giêsu rao giảng, có một số Pharisêu và các nhà thông luật cũng đến nghe để lên án gài bẫy xem Người có vi phạm lề luật không. Họ trách Chúa Giêsu thường hay la cà ăn uống với người tội lỗi và không rửa tay trước khi ăn. Nhóm Pharisêu và các luật sĩ thường tự mãn về việc họ giữ tỉ mỉ các điều luật của tiền nhân. Họ cầu nguyện mỗi ngày, ăn chay hàng tuần, nộp thuế thập phân và làm nhiều việc đạo đức khác nhưng với thái độ khoe khoang tự mãn mà thiếu lòng yêu mến.
Biết được tâm địa gian dối của người Pharisêu, Chúa Giêsu lên tiếng nguyền rủa họ sống giả dối như những mồ mả bên ngoài tô vôi nhưng bên trong đầy sự xấu xa. Họ xây lăng mộ cho các ngôn sứ mà cha ông họ đã sát hại. Hành động ấy tố cáo họ chính là kẻ đồng lõa với cha ông để làm những sự xấu xa. Chúa Giêsu tiên báo họ sẽ bị đòi nợ máu của các Ngôn sứ và Tông đồ, một món nợ từ thời cha ông họ để lại. Điều này cho thấy án phạt của Thiên Chúa rất công thẳng, Người không dung thứ cho những hành động xấu xa dù điều ấy xảy ra từ thời xa xưa.
Chúa Giêsu nhắc đến cái chết của ông Aben và Dacaria như để nhấn mạnh sự gian ác đã hoành hành trong trần gian từ thuở tạo thiên lập địa và còn kéo dài mãi gây bao oan trái cho con người. Sự gian ác xấu xa của người Pharisêu lên đến tột độ khi họ bắt giết các Ngôn sứ và Tông đồ là những người đến để rao giảng tình thương của Thiên Chúa. Họ giết những người được Thiên Chúa sai đến nghĩa là họ gián tiếp từ chối tình thương của Thiên Chúa. Không chỉ dừng lại ở đó, họ còn “cất giấu chìa khóa của sự hiểu biết”, ngăn cản người công chính không thể đến nghe về Mầu Nhiệm Nước Trời.
Lời Chúa Giêsu khiển trách Pharisêu cũng chính là lời khiển trách đối với mỗi người chúng ta. Đôi lúc chúng ta cũng sống giả dối, làm việc bác ái nhưng để che đậy tâm địa xấu xa. Chúng ta giữ luật để khoe khoang tự mãn và để đánh bóng tên tuổi. Chúng ta đặt ra nhiều khoản luật nhưng lại sống phóng túng tự do. Thiên Chúa sẽ cật vấn lương tâm mỗi người và “đòi nợ” nếu chúng ta gây tổn thương cho người khác, đặc biệt những người được Chúa sai đến.
Mỗi ngày, chúng ta hãy khiêm tốn nhìn lại mình để thấy tình thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta là kẻ tội lỗi. Nhìn lại chính mình để khiêm tốn sửa lỗi, để quyết tâm sống hoàn thiện. Thiên Chúa sẽ trả lại cho ta tất cả những gì ta đã làm cho tha nhân. Vì thế chúng ta hãy tích cực gieo tình thương để gặp ơn tha thứ, gieo sự quan tâm chia sẻ để gặp niềm vui an hòa.
Luật Chúa không phải là thứ ngôn ngữ trong sách vở nhưng là hơi thở của cuộc sống. Luật ấy đã được kiện toàn qua Chúa Giêsu. Người đã thực hiện bằng tất cả sự yêu thương và khiêm tốn. Đó là sự hài hòa giữa việc chu toàn các điều luật và việc phục vụ tha nhân. Chính Chúa Giêsu đã khẳng định “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ luật Mosê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5, 17).
Nhóm người Pharisêu Chúa Giêsu vi phạm luật trong ngày Sabát nhưng chính họ lại là người phá hủy lề luật qua hành động sát hại các các Ngôn Sứ và Tông Đồ. Khi lên án Pharisêu, Chúa muốn khẳng định cho họ biết không có giới luật nào lớn hơn luật yêu thương. Bao trùm tất cả việc giữ luật là sự yêu thương và cứu rỗi nhân loại. Chúa Giêsu đã nêu gương cho chúng ta về thái độ giữ luật, phải mặc lấy tâm tình cởi mở khi gánh lấy tất cả những chứng đau bệnh của con người, mang lấy số phận hay hư nát của con người mà treo lên cây thập giá. Người đã sống cho Sự Thật và đã chết để làm chứng cho Sự Thật.
Việc thờ phượng Thiên Chúa không tách rời khỏi việc yêu thương và tôn trọng tha nhân.
Ước gì chúng ta biết đi ra khỏi con người ích kỷ của mình để tự do thi hành việc bác ái. Việc giữ luật không chỉ đóng khung trong nhà thờ nhưng được mở rộng để đến tha nhân để cảm thông chia sẻ mọi nỗi buồn vui với họ. Giáo hội của Chúa không phải là giáo hội của những thành quách, đền đài với tháp chuông cao vút. Giáo hội của Chúa là từ bỏ địa vị cao sang, cúi xuống để phục vụ. Một giáo hội luôn song hành và ưu tư với những buồn vui của phận người. Việc sống đạo không chỉ dừng lại ở những lễ hội tiệc tùng nhưng là ở cuộc gặp gỡ và đối thoại, là việc nâng dậy những ai yếu đuối vấp ngã, đưa dẫn những ai lầm đường lạc lối trở về.
2021
Kiện Toàn Lề Luật
13 08 X Thứ Tư Tuần XXVIII Thường Niên.
Rm 2,1-11; Lc 11,42-46.
Kiện Toàn Lề Luật
Tin Mừng hôm nay có lẽ mời gọi chúng ta suy nghĩ về ý nghĩa đích thực của luật lệ. Chỉ có xã hội loài người mới có luật lệ. Thú vật xem chừng cũng tuân thủ một thứ luật nào đó, nhưng là luật rừng. Khi con người dùng sức mạnh áp đặt luật lệ để nhằm quyền lợi của một thiểu số, chứ không nhằm phục vụ công ích, thì đó cũng chỉ là luật rừng, luật của kẻ mạnh mà thôi.
Ta thấy bối cảnh là bữa ăn tại nhà người Pharisêu đã mời Chúa Giêsu – Chúa Giêsu đã nói với người Pharisêu 3 lần : «khốn cho các ngươi». Ngài vạch ra 3 tội của họ.
Họ tỏ ra chu đáo trong những việc nhỏ, đó là nộp thuế thập phân cả mấy loại rau cỏ, nhưng lại «xao lãng» chuyện quan trọng, đó là «công bình và lòng yêu mến Chúa».
Đóng góp vào nhà Chúa là điều rất đáng làm, nhưng việc đóng góp này cần được thúc đẩy do lòng mến Chúa và cần đi đôi với việc cư xử cách công bình với người xung quanh.
Biết đâu ta cũng đóng góp để được tiếng khen, để khoe khoang ? Biết đâu ta đóng góp, nhưng lại tìm cách bóc lột những người khác, những người nghèo, rất nghèo ?
Họ thích được xem là người quan trọng và muốn được ca tụng. Họ tìm kiếm hư danh.
Đây thực là cám dỗ mọi thời, mọi nơi và bất cứ ai, ở địa vị và hoàn cảnh nào cũng có thể bị rơi vào. Xin Chúa cho ta luôn biết nhận ra cám dỗ này, để rồi cố gắng sống khiêm nhường, mọi lúc mọi nơi.
Họ bị xem như mồ mả chôn dưới đất mà lại không có gì làm dấu. Khi giẫm lên mồ mả của ai, ngay cả do vô ý, thì người ta sẽ bị ô uế. Như thế, ngược hẳn với suy nghĩ của người Phariseu, họ tưởng rằng không có gì đáng trách, nhưng vì không chú tâm đến việc làm trong sạch bên trong, nên thực ra họ đã làm ô uế cả những người bên cạnh họ, những người đụng chạm vào họ.
«Xao lãng» lẽ công bình, tìm kiếm hư danh, đó là những thứ làm cho người ta và người bên cạnh bị ô uế.
Chúa Giêsu đã đến để kiện toàn lề luật. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu một lần nữa muốn xác nhận điều đó khi Ngài tuyên bố: “Phải làm các điều này mà không được bỏ qua các điều kia”. Chúa Giêsu đã kiện toàn lề luật bằng cách mặc cho nó tinh thần yêu thương: yêu thương là linh hồn của lề luật. Tất cả lề luật trong đạo đều qui về một giới răn nền tảng và duy nhất, đó là yêu thương.
Chúa Giê su nói với Biệt Phái “khốn cho các ngươi”, đó không phải là một lời chúc dữ, hay một sự tiên báo về đại hình phạt vào ngày cánh chung, nhưng chỉ là một lời ngăn đe, kêu gọi họ hoán cải vì yêu thương. Người Biệt Phái nộp thuế thập phân về bạc hà, vân hương và đủ mọi thứ rau cỏ, họ lo đến hình thức lễ nghi, khoe khoang tự đắc, háo danh, giả hình, không thành thật, vì không có tinh thần bên trong, không có lòng yêu mến Thiên Chúa và sống công bình với tha nhân, hay còn có lối sống tương phản là khác.
Vì vậy, Chúa ví họ như các mồ mả tô vôi, người ta chỉ thấy vẻ đẹp bên ngoài, mà không hay biết chút nào sự thối nát bên trong. Nơi công cộng họ chiếm chỗ nhất, họ bắt người ta bái chào kính trọng họ ngoài đường phố, họ tự tôn, tự đai, tìm giá trị, danh giá bên ngoài mà bên trong thì đáng chê trách vì cuộc sống thiếu đạo đức đích thực. Thấy thái độ phản kháng của một người luật sĩ, Chúa Giêsu lại hướng về họ để khiển trách về lối mô phạm giả hình vì họ dùng trách nhiệm bảo vệ toàn bộ luật lệ Do Thái, rồi thêm thắt vào các luật đó nhiều điều cấm kỵ tỷ mỷ, trở thành gánh nặng cho người giữ luật, mà chính họ lại không giữ, không đụng tay vào, họ đối xử dễ với mình nhưng khó với người khác.
Chúa mời gọi chúng ta sống đạo cách thành thực, chân thành với Chúa, ngay thẳng với mọi người chung quanh và cả với chính mình nữa. Không sống đạo với nghi lễ, hình thức bề ngoài, làm đủ việc đủ giờ mà thôi, nhưng phải có tâm tình bên trong, và trong đời sống thường ngày, phải tỏ hiện lòng yêu mến Thiên Chúa và bác ái với mọi người, có sự khiêm nhường, không tự cao tự đại, háo danh, ham địa vị, khoe khoang, tự đắc tự phụ trong đời sống xã hội và tôn giáo. Chúng ta cũng còn phải thành thực ngay thẳng trong công việc và trong cách xử thế nữa. Khi có trách nhiệm lãnh đạo. Chúng ta cần có tinh thần phục vụ hơn háo danh, ý thức trách nhiệm của mình hơn đòi hỏi người khác. Ai làm lớn thì phải phục vụ anh em, ai làm đầu thì phải làm đầy tớ mọi người.
Thánh Phaolô đã nói: “Yêu thương là chu toàn lề luật”. Sống yêu thương là dấu ấn Thiên Chúa đã ghi khắc trong tâm hồn con người, bởi vì chỉ có con người mới là tạo vật duy nhất được Thiên Chúa tạo dựng theo và giống hình ảnh Ngài. Mà bởi lẽ Thiên Chúa là Tình Yêu, cho nên mang lấy hình ảnh của Ngài, con người cũng chỉ có một ơn gọi duy nhất, đó là sống yêu thương. Tất cả lề luật Giáo Hội ban hành là chỉ nhằm giúp con người sống yêu thương mà thôi. Chỉ có yêu thương, con người mới trưởng thành; chỉ có yêu thương mới đem lại cho con người một sự giải phóng đích thực, đó là giải phóng khỏi tội lỗi, khỏi ích kỷ, khỏi hận thù.
Xin Chúa cho chúng ta hiểu được lòng Chúa yêu thương chúng ta từng giây phút trong cuộc đời, để chúng ta sống trong tình Ngài nâng đỡ ủi an chúng ta trên con đường tiến về hạnh phúc vĩnh cửu. Xin cho chúng ta luôn quảng đại chu toàn mọi bổn phận với lòng yêu mến, để đáp lại tình Chúa yêu thương chúng ta.
2021
Dấu Lạ Cả Thể.
11 06 X Thứ Hai Tuần XXVIII Thường Niên.
(Tr) Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII.
Thánh Phê-rô Lê Tuỳ, Linh mục (U1833) Tử đạo.
Rm 1,1-7; Lc 11,29-32
Dấu Lạ Cả Thể.
Đức Thánh Cha Gioan XXIII là người đã triệu tập Công Đồng Vatican II, mở cánh cửa Giáo Hội ra với thế giới bên ngoài, và đem một sinh khí mới vào đời sống của Giáo Hội.
Triệu tập Công đồng là một công việc vĩ đại, phát xuất từ nhiều lo lắng cho tương lai Giáo Hội với quá nhiều vấn đề khó khăn, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII lại vẫn thường cầu nguyện rất đơn sơ nhẹ nhàng trước giờ đi ngủ: “Lạy Chúa, Giáo Hội là của Chúa, con chỉ là tôi tớ. Giáo Hội mạnh yếu thành đạt là trách nhiệm của Chúa. Con đã làm bổn phận của con, giờ này đến giờ con đi ngủ, xin Chúa ban phúc lành cho con.” Nói thế rồi, Ngài đi vào giấc ngủ ngon.
Đức Gioan XXIII cũng thường được gọi là “Giáo hoàng Gioan nhân hậu”. Ngài coi mình là “con cái của Thánh Phanxicô” khi gia nhập Dòng Ba Phanxicô lúc còn là một chủng sinh. Vị Giáo hoàng khiêm tốn này thường bắt chước lời của ông Giuse ở Ai Cập (Cựu Ước) chào hỏi các thành viên của Dòng Ba Phanxicô: “Tôi là Giuse, người anh em của quý vị.”
Vị Giáo hoàng thứ 261 này có tên khai sinh là Angelo Giuseppe Roncalli, sinh tại làng Sotto il Monte, thuộc tỉnh Bergamo, vào ngày 25.11.1881, con trai đầu của ông Giovanni Battista Roncalli và bà Marianna Mazzola. Ngay buổi chiều hôm đó, trẻ sơ sinh Angelo được rửa tội. Người đỡ đầu là ông Zaverio Roncalli, một trong những người bác của ông bố Battista, rất đạo đức, ở độc thân, tự nhận lấy bổn phận dạy giáo lý cho nhiều đứa cháu. Sau này, Đức Gioan XXIII đã cảm động nhớ lại nhiều kỷ niệm và biết ơn về những lo lắng chăm sóc của ông.
Ngay từ thời thơ ấu, đã có một khuynh hướng nghiêm chỉnh về đời sống Giáo hội,
Vào năm 1925, với sự bổ nhiệm làm Visitatore Apostolico tại Bulgaria, ngài đã bắt đầu giai đoạn phục vụ cho ngành ngoại giao của Tòa Thánh cho đến năm 1952. Sau lễ phong chức giám mục diễn ra tại Roma vào ngày 19 tháng 3 năm 1925, ngài khởi hành đi Bulgaria để giúp đỡ cho cộng đoàn Công giáo nhỏ bé và đang gặp nhiều khó khăn tại đó. Trong hàng chục năm, Đức cha Roncalli đã đặt nền móng cho việc thiết lập một Tông tòa mà ngài đã được bổ nhiệm làm vị đại diện đầu tiên vào năm 1931. Ngài phục hồi được mối quan hệ thân thiện với Chính phủ và Hoàng gia Bulgaria, mặc dù có đôi chút trở ngại vì đám cưới theo nghi lễ chính thống của vua Boris với công chúa Giovanna của hoàng gia Savoia, và đó cũng là dịp để khởi động những mối quan hệ đại kết đầu tiên với Giáo hội Chính thống Bulgaria.
Vào ngày 27-11-1934, ngài được bổ nhiệm làm Khâm sứ Tòa Thánh tại Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp. Các nước này chưa có quan hệ ngoại giao với Vatican. Với tính nhạy bén và năng động của mình, ngài đã tổ chức được một số lần gặp gỡ chính thức với Đức Thượng phụ Constantinople sau nhiều thế kỷ tách biệt với Giáo hội Công giáo.
Sự đóng góp lớn nhất của Đức Gioan XXIII là việc triệu tập Công đồng Vatican II, được loan báo trong Vương cung Thánh đường Thánh Phaolô vào ngày 25 tháng 01 năm 1959. Các mục tiêu ban đầu của Công đồng được nêu rõ trong bài phát biểu vào lễ khai mạc ngày 11 tháng 10 năm 1962: không phải là để đưa ra những chân lý mới, nhưng để xác định lại các học thuyết truyền thống phù hợp hơn với sự nhạy cảm đương đại. Đức Giáo hoàng Gioan XXIII mời gọi Giáo hội, thay vì lên án và công kích, hãy hướng về lòng thương xót và ủng hộ việc đối thoại với thế giới, trong một nhận thức mới về sứ mệnh của Giáo Hội là đón nhận tất cả mọi người. Trong tinh thần cởi mở phổ quát ấy, các giáo hội Kitô khác cũng được mời tham dự vào Công đồng để khởi đầu một tiến trình xích lại gần nhau hơn.
Vào mùa xuân năm 1963, Đức Gioan XXIII được trao giải thưởng Balzan về hòa bình, xác nhận những nỗ lực của ngài đối với hòa bình qua việc ban hành Thông điệp Mater et Magistra (1961) và Pacem in Terris (1963), cũng như vai trò của ngài trong cuộc khủng hoảng tại Cuba vào mùa thu năm 1962.
Ngài qua đời vào tối ngày 3 tháng 6 năm 1963 và được phong thánh vào ngày 27-4-2014 lúc 10g tại Vatican.
Chúa Giêsu thực sự đã làm nhiều phép lạ: Ngài biến nước thành rượu, Ngài nhân bánh và cá ra nhiều để nuôi sống đám đông, Ngài chữa lành bệnh tật, Ngài làm cho kẻ chết sống lại. Tất cả những phép lạ Chúa Giêsu thực hiện đều nhắm nói lên sứ mệnh của Ngài và Ngài chính là Ðấng Thiên Chúa sai đến để cứu rỗi nhân loại. Một số người Do thái đã tin nhận và đi theo Ngài, nhưng phần đông vẫn tỏ ra dửng dưng trước những lời rao giảng của Ngài. Riêng những thành phần lãnh đạo trong dân, như nhóm Biệt Phái, thì chẳng những không tin nhận, mà còn chống đối Ngài ra mặt; họ thách thức nếu Ngài làm một dấu lạ cả thể thì họ mới tin nhận Ngài.
Trước thái độ đó, Chúa Giêsu mượn hình ảnh của tiên tri Yôna để nói về Ngài. Tiên tri Yôna đã đến Ninivê để rao giảng sự sám hối, tất cả các phép lạ của Chúa Giêsu cũng đều nhằm nói lên sứ mệnh của Ngài và kêu gọi sám hối. Tiên tri Yôna đã ở trong bụng kình ngư ba ngày ba đêm. Giáo Hội tiên khởi đã xem đây như là một dấu chỉ loan báo chính cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu. Như vậy, nếu có một dấu lạ cả thể mà Chúa Giêsu thực hiện để đáp lại thách thức của những người Biệt phái, thì dấu lạ đó không gì khác hơn là chính cái chết của Ngài; chết để nên Lời, và Lời ấy là Lời của Yêu Thương.
Đáng tiếc cho Biệt Phái và Luật sĩ vì Chúa Giêsu trọng hơn Giôna, và khôn ngoan hơn Salômon mà họ chẳng muốn nghe Ngài. Chứng tích sám hối của dân thành Ninivê và của thế hệ Nữ Hoàng Phương Nam như một lời tố cáo nặng nề tội lỗi của Biệt Phái và luật sĩ, vì họ cứng tin đòi dấu lạ và thất trung với giao ước.
Người Biệt Phái luật sĩ đòi dấu lạ, đó cũng là điều thông thường của chúng ta hôm nay, để thỏa mãn tính hiếu kỳ, sự đắc thắng của mình. Phép lạ chỉ có giá trị nâng đỡ niềm tin chứ không phát sinh hay ép buộc niềm tin. Cũng chính vì Chúa tôn trọng tự do con người Chúa không dùng phép lạ làm áp lực con người, nên Chúa đã không làm phép lạ như Biệt Phái và luật sĩ yêu cầu. Qua lời khiển trách của Chúa Giêsu đối với Biệt Phái và luật sĩ, chúng ta hãy thức tỉnh lại, chúng ta có gian ác khi đòi Chúa làm phép lạ mới tin, khi chúng ta chai đá trước lời giảng dạy của Hội Thánh. Chúng ta ngoại tình khi chúng ta sống đạo vụ hình thức, hoặc chưa thực sự sống trọn vẹn cho Chúa mà còn để lòng mình quyến luyến thụ tạo hơn Chúa, đam mê các thú vui trần thế hơn việc đạo đức. Có khi chúng ta phản bội tình thương của Chúa, để chạy theo những đam mê xác thịt.
Ngày nay, không thiếu những người thách thức Thiên Chúa. Cũng như những người Biệt phái, họ đòi Thiên Chúa phải làm một dấu lạ cụ thể nào đó, họ mới tin nhận Ngài. Nhưng mãi mãi, Thiên Chúa sẽ không bao giờ hành động như thế. Ngài mãi mãi vẫn là Thiên Chúa Tình Yêu. Ngài đã nhập thể làm người và sống cho đến tận cùng thân phận làm người. Cái chết trên Thập giá vốn là tuyệt đỉnh của thân phận làm người, do đó đã trở thành dấu lạ cả thể nhất mà Thiên Chúa đã thực hiện, đó là dấu lạ của tình yêu.
Thiên Chúa vẫn tiếp tục bày tỏ dấu lạ cả thể ấy. Trong trái tim mỗi người, Thiên Chúa đã đặt vào đó sức mạnh vĩ đại nhất là tình yêu. Sức mạnh ấy không ngừng nung nấu con người; sức mạnh ấy đang được thể hiện qua những nghĩa cử mà chúng ta có thể bắt gặp mỗi ngày. Ðó là phép lạ cả thể nhất Thiên Chúa đang tiếp tục thực hiện trong lịch sử con người. Tình yêu vốn là sức mạnh vĩ đại nhất, nhưng thường lại được bày tỏ qua những cử chỉ nhỏ bé và âm thầm nhất. Một nụ cười thân ái, một cái xiết tay, một lời an ủi, một cử chỉ tử tế, một ánh mắt cảm thông và tha thứ, đó là những cử chỉ nhỏ, nhưng lại là biểu hiện của dấu lạ cả thể nhất là tình yêu.
