2021
HỌC MÃI ĐỂ NHẬN RA DẤU CHỈ
22 17 X Thứ Sáu Tuần XXIX Thường Niên.
(Tr) Thánh Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II.
Rm 7,18-25a; Lc 12,54-59.
HỌC MÃI ĐỂ NHẬN RA DẤU CHỈ
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II hay Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, tên khai sinh của Ngài là Karol Józef Wojtyła. Ngài sinh ngày 18 tháng 5 năm 1920 tại Wadowice, miền nam Ba Lan, cách Kraków 50 cây số. Ngài là vị Giáo Hoàng thứ 264 của Giáo Hội Công Giáo Rôma và là người lãnh đạo tối cao của Vatican kể từ ngày 16 tháng 10 năm 1978. Cho đến khi qua đời, triều đại của Ngài đã kéo dài hơn 26 năm và trở thành triều đại Giáo Hoàng dài thứ ba trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo, sau triều đại Giáo Hoàng của Thánh Phêrô trải dài 34 năm và triều đại Đức Giáo Hoàng Piô IX trải dài 32 năm.
Cho đến hiện tại, Ngài là vị Giáo Hoàng duy nhất người Ba Lan và là Giáo Hoàng đầu tiên không phải người Ý trong gần 500 năm, kể từ Đức Giáo Hoàng Ađrianô VI vào năm 1520. Ngài được tạp chí TIME bình chọn là một trong bốn người có ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ 20. và cả những năm đầu thế kỷ 21.
Trong triều đại của mình, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II không ngừng mở rộng ảnh hưởng của Giáo Hội Công Giáo trong Thế giới thứ ba. Ngài đã thực hiện rất nhiều chuyến tông du hơn 129 quốc gia, Ngài có thể nói được hơn 10 ngôn ngữ, ngoài tiếng Ba Lan còn có tiếng Ý, tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga và một chút tiếng Việt.
Trong suốt triều đại của mình, Ngài đã lên tiếng phản đối chiến tranh và kêu gọi hòa bình, phản đối chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa cộng sản, chế độ độc tài, chủ nghĩa duy vật, các phương pháp phá thai, thuyết tương đối, chủ nghĩa tư bản và cách thức chết êm dịu. Đức Giáo Hoàng cũng được coi là một trong những nguồn lực dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Ba Lan và Đông Âu.
Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên công khai xin lỗi về những lỗi lầm của Giáo Hội trong quá khứ. Ngài cũng là vị Giáo Hoàng đầu tiên đứng ra hòa giải với Chính Thống Giáo Đông Phương, Do Thái Giáo và Anh giáo. Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên đứng ra tổ chức cuộc gặp gỡ với các lãnh đạo của các tôn giáo khác như Phật Giáo, Khổng Giáo, Chính Thống Giáo Đông Phương, Do Thái Giáo, Cao Đài và Hồi Giáo. Ngài còn là vị Giáo Hoàng đầu tiên đến thăm một ngôi đền Hồi Giáo ở Syria, và là vị Giáo Hoàng đầu tiên tổ chức ra Ngày Giới Trẻ Thế Giới hằng năm, và cũng là vị Giáo Hoàng đầu tiên đến thăm vùng Thánh Địa Jerusalem.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã được Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI phong là Đấng Đáng Kính vào ngày 19 tháng 12 năm 2009 và phong Chân Phước vào ngày 1 tháng 5 năm 2011. Mặc dù chưa chính thức được phong thánh nhưng vì Ngài là người sáng lập ra Đại hội Giới Trẻ Thế Giới nên Ngài được chọn là một trong những vị Thánh Quan Thầy bảo trợ cho ba kỳ Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới liên tiếp tại Sydney năm 2008, Madrid năm 2011, và tại Rio de Janeiro năm 2013. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II sẽ được phong thánh vào ngày 27.4.2014 tại Roma.
Ông bảy mươi còn phải học ông bảy mốt. Dân gian đã nói như thế. Kinh nghiệm, tuổi tác, thời gian như là những bài học quý giá và sự kiện thực tế, bổ ích của con người. Nhờ kinh nghiệm mà con người có thể khám phá ra sự thay đổi của thời tiết, đất trời. Ví dụ khi tiên đoán về thời tiết, người ta vẫn thường nói: “cơn đàng đông vừa trông vừa chạy, cơn đàng nam vừa làm vừa chơi”. Và kinh nghiệm này được truyền miệng từ thời này sang thời khác, từ con người này sang con người kia. Thật thế, từ thời xa xưa, người Do thái cũng đã cho thấy kinh nghiệm sống, khả năng nắm bắt quy luật đất trời, đọc ra các dấu chỉ của thời cuộc. Họ rất giỏi thiên văn và những vấn đề liên quan tới kinh nghiệm sống thường ngày.
Hôm nay, trong bài Tin Mừng Chúa Giêsu cũng đã khen ngợi họ về sự lanh lợi, sự hiểu biết và mau lẹ ứng dụng kinh nghiệm sống của mình trong đời sống hàng ngày. Và Chúa Giêsu cũng mong muốn họ áp dụng, thích ứng những kinh nghiệm dân gian đó vào đời sống đức tin, đọc ra được những dấu chỉ của thời cuộc. Tuy nhiên, kinh nghiệm sống, giỏi thiên văn của người Do thái dường như đã và đang chôn vùi họ trong sự tự tôn, trong sự ích kỷ, trong sự thiển cận của mình. Chúa Giêsu đã mời gọi họ đi xa hơn những kinh nghiệm thường ngày mà họ đang cảm nhận. Ngài gọi mời họ khám phá, đi ra khỏi sự hạn hẹp và dám tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Thế nhưng, mặc cho sự gọi mời, mặc cho chân lý vẫy gọi, người Do thái, những kinh sư, những luật sĩ, họ vẫn cứng lòng, chai dạ trước sự thật, trước đức tin.
Ngày nay, có lẽ nhiều người Ki-tô hữu chúng ta cũng đang mang tâm trạng, đi vào vết xe đổ của những người Do thái và luật sĩ xưa. Chúng ta đã lãnh nhận Bí tích Thanh Tẩy. Chúng ta là những người Ki-tô hữu chính danh. Chúng tin tin vào Chúa, chúng ta có Chúa ở trong mình. Thế nhưng chính đời sống của chúng ta lại không phản ánh, chiếu tỏa ánh sáng của Chúa cho anh chị em mình. Là người tin có Chúa, thế nhưng khi gặp những nghịch cảnh trong đời sống như ốm đau, thất bại… chúng ta dễ dàng tìm đến thầy bói toán. Là người mang trong mình dòng máu Ki-tô hữu, thế nhưng khi phải đối diện với thử thách, với chủ nghĩa trần tục, chúng ta dễ dàng chao đảo và buông xuôi…
Lời Chúa ngày hôm nay gọi mời chúng ta biết dùng những khôn ngoan, kinh nghiệm của thời cuộc để khám phá, đào sâu và đọc ra được những dấu chỉ của thời đại. Đứng trước trào lưu trần tục hóa, người Ki-tô hữu cảm nhận được tình yêu vĩnh cửu của Chúa dành cho trần gian. Đối diện với sự tha hóa về đạo đức, người Ki-tô xác tín rằng chỉ nơi Chúa sự thật, công lý mới trường tồn, hằng bất biến. Cuối cùng, người Ki-tô hữu luôn được gọi mời sống tâm tình tạ ơn, xác tín vào lòng Chúa xót thương. Dám tin và đọc ra những dấu chỉ, sự gọi mời mà Chúa đã và đang gửi đến cho nhân loại chúng ta. Có như thế, cuộc đời người Ki-tô hữu luôn là một bản trường ca vang xa, tán tụng hồng ân Chúa như lời thánh vịnh đã nói lên rằng: “Ví như Chúa chẳng xây nhà. Thợ nề vất vả cũng là uổng công”(Tv 126).
Ta thấy mọi dân tộc đều trân trọng truyền thống, kinh nghiệm sống của cha ông ví dụ như những bài học áp dụng từ lao động, từ thiên nhiên, người Do Thái thời Chúa Giêsu cũng vậy, họ đón nhận kinh nghiệm từ cha ông họ, biết nhìn cảnh sắc đất trời để có những cách đối phó, ứng xử: Nhìn mây đoán được mưa, thấy gió đoán được trời sẽ oi bức…
Nhưng họ lại không nhận biết được dấu chỉ của thời đại: Không nhận ra Chúa Giêsu, Đấng phải đến loan báo Tin Mừng, chữa lành bệnh tật cho người đau yếu, trừ quỷ cho người bị quỷ ám và làm cho kẻ điếc được nghe, kẻ què đi được, người mù được thấy… như lời các ngôn sứ loan báo, nhưng họ lại không nhận ra đó là dấu chỉ của nước Thiên Chúa đang đến.
Cho nên, Chúa Giêsu đã khiển trách họ chỉ biết “nhận xét cảnh sắc đất trời” trong vũ trụ tự nhiên, nhưng lại không nhận biết những dấu lạ của Con Người đang hiện diện.
Chúa Giêsu kêu gọi hãy nhận ra dấu chỉ thời đại qua sự hiện diện của Ngài, mà tỏ lòng sám hối. Khi bất hòa với anh em, phải biết đi tìm sự hòa giải với anh em trước khi đến với tòa xét xử của Thiên Chúa, vị Thẩm Phán Tối Cao, Ngài sẽ xét xử chúng ta theo tình yêu thương mà chúng ta đối xử với anh em.
Thật thế, chúng ta, những môn đệ của Chúa Kitô trong thời đại hôm nay, cần phải tỉnh táo để nhận ra những dấu chỉ, những ý định của Chúa qua từng biến cố hằng ngày để sám hối, canh tân biến đổi chính mình mỗi ngày.
2021
LỬA TÌNH YÊU
21 16 X Thứ Năm Tuần XXIX Thường Niên.
Rm 6,19-23; Lc 12,49-53.
LỬA TÌNH YÊU
Cứ mỗi mùa Olympic, ngọn đuốc Olympic lại được thắp lên từ quê hương của nó là Olympia và được rước xuyên qua nhiều đất nước, nhiều thành phố, để cuối cùng đến với nước chủ nhà đăng cai. Suốt mấy tháng trời đi qua hàng chục ngàn cây số, ngọn đuốc luôn được giữ cháy sáng liên tục. Đặc biệt, tại lễ khai mạc của chính Đại Hội Olympic, ngọn đuốc được rước lên chỗ trang trọng nhất của sân vận động trung tâm, được làm cho cháy bùng lên và được tiếp tục giữ cháy sáng như thế nhiều tuần lễ, cho đến khi bế mạc.
Hình ảnh đó thật đẹp giúp ta hình dung ngọn lửa mà Thầy Giê-su đã đem đến, ném vào mặt đất. Và nhất là, hình ảnh ấy giúp ta đồng cảm với nỗi khát khao cháy bỏng của Thầy Giêsu: “Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên”.
Lời Chúa dạy cho chúng ta hôm nay, xét theo lẽ thường trong đời sống thì quả là “chướng kỳ”. Bởi vì con người ở đời thường khi chạy đến với các thần linh là để cầu xin cho được êm ấm, sung túc, được sự may mắn thành công. Và đặc biệt, với những nơi đang xẩy ra chiến tranh, những gia đình đang gặp cảnh bất hòa, xào xáo đều mong mỏi, khao khát cầu xin cho được hòa bình, được yên ổn. Thế nhưng, hôm nay chúng ta lại được nghe Chúa dạy: “Thầy đến không phải để đem hòa bình, nhưng là sự chia rẽ”. Chúa muốn dạy chúng ta điều gì?
Một câu truyện kể rằng: Có một chị Tác viên Tin mừng, tìm cách kết thân với một bà bạn ngoại giáo. Sau một thời gian dài thường xuyên lui tới, chị Tác viên nghĩ rằng thời cơ chín mùi đã tới, cần phải giới thiệu Chúa cho người bạn thân thiết này. Vì vậy, vào một buổi sáng đẹp trời, chị quyết định nói về Chúa và rủ bà bạn này theo đạo. Nhưng vừa mới mở lời, thì đã bị bà kia giảng cho một bài xối xả : “Bà đừng có mà nói với tôi về đạo. Bà theo đạo bao nhiêu năm nay, bà đã được gì? Con cái bà thì chả đâu vào đâu, nhà thì cứ vẫn nghèo rớt mùng tơi, chỗ thân thiết tôi mới nói, tôi không theo đạo, nhưng nhà tôi vẫn có của ăn của để, mọi việc trong ngoài vẫn đâu ra đó. Con cái đứa nào cũng thành đạt: đứa bác sỹ, đứa đi du học, nói chung không thiếu thứ gì…”
Thực sự, nếu chúng ta không có một đức tin vững vàng, một đức tin được nung nấu bằng ngọn lửa mến, một đức tin được tôi luyện trong mầu nhiệm Thập giá và Vinh quang của Chúa Ki tô, thì chắc chắn chúng ta sẽ bị lung lạc trước những lý lẽ của thế gian, như chúng ta thấy ở trên, Lời Chúa dạy thật là “chướng kỳ” : Chúa đến không phải để diệt trừ những đau khổ nơi kiếp người, nhưng Chúa đến để sống và chỉ cho con người hãy dùng tình yêu để thánh hóa những đau khổ của mình, biến nó thành con đường cứu độ vinh quang. Chúa Giêsu dạy những ai theo Chúa không phải là để được của cải vật chất, hay để được đi trên con đường trải thảm hoa hồng, nhưng là đi trên con đường hẹp, con đường vâng phục, con đường yêu thương, vác lấy thập giá mình hằng ngày mà đi theo Chúa.
Và như thế, theo Chúa không phải là để giầu sang sung túc hay là nghèo khó bần cùng theo cách hiểu ở đời. Nhưng theo Chúa là để Chúa làm chủ cuộc đời mình, điều đó được thể hiện qua chính những chọn lựa của mỗi người trong cuộc sống . Những chọn lựa đó, có khi lại trở thành những giằng co, xâu xé nơi bản thân mỗi người, nơi cuộc sống thường ngày với những người trong gia đình của mình, khi một bên là lời mời gọi của Chúa đi trên con đường hẹp, sống theo hướng dẫn của Chúa Thánh Thần: biết yêu thương, tha thứ, quảng đại, hy sinh…và bên kia là cách sống của thế gian: tìm kiếm sự dễ dãi, ích kỷ, chấp nhận một sự thỏa hiệp nào đó, miễn sao mình được có lợi.
Cuộc sống Kitô hữu luôn là một cuộc chiến đấu: Làm sao để chúng ta có thể trung thành cho những lựa chọn của mình? Thưa, Chúa đã ban cho chúng ta ngọn lửa mến của Chúa Thánh Thần . Ngọn lửa hằng cháy nơi Trái Tim Chúa, hướng lòng về ơn Cứu Độ, đó là cái chết thập giá của Chúa Giêsu vì vâng phục thánh ý Chúa Cha. Chúa Giêsu cũng mong muốn ngọn lửa đó được cháy mãi nơi tâm hồn mỗi người chúng ta, với ngọn lửa ấy, chúng ta sẽ luôn can đảm và trung thành đi trên con đường Chúa đã đi.
Chúa còn mong muốn chúng ta phải làm cho ngọn lửa đó phải bùng cháy lên. Có thể giờ đây, ngọn lửa Thánh Thần, ngọn lửa Tình yêu, ngọn lửa Chân lý đang còn leo loét, thậm chí đã tắt lịm hay chưa cháy lên trong lòng biết bao người. Vì thế, nhiệm vụ của chúng ta – khi thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng – là luôn cầu xin Chúa Thánh Thần cho Lửa Tình yêu bùng cháy lên trong chúng ta, bùng cháy lên trong Giáo Hội Chúa, để lan tỏa ngọn lửa đó cho những người đã mất lửa, hay những người chưa có lửa. Để, nói như thánh Gioan Thánh giá: “nếu nơi nào không có tình yêu, chúng ta hãy thắp lên ngọn lửa tình yêu, và ta sẽ nhận được ánh sáng của tình yêu. Khi cuộc đời chấm dứt, chúng ta sẽ được xét xử căn cứ vào tình yêu”.
Ngọn lửa mang tên Giê-su là lửa yêu thương, lửa hoà bình. Thế nhưng, cuộc sống này còn quá nhiều ghét ghen, đố kỵ. Người ta vẫn còn tranh chấp, loại trừ nhau – đôi khi ngay trong một cộng đoàn, một gia đình. Hôm nay, Thầy Giê-su vẫn cháy bỏng nỗi khát khao “phải chi lửa ấy đã bùng lên” trong Giáo Hội và trong thế giới này.
2021
Tỉnh Thức Trong Phục Vụ
20 15 X Thứ Tư Tuần XXIX Thường Niên.
Rm 6,12-18; Lc 12,39-48.
Tỉnh Thức Trong Phục Vụ
Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã nói lên quan niệm của Ngài về quyền bính. Các Tông đồ không ngừng tranh luận với nhau về quyền bính; cái giấc mộng công hầu khanh tướng luôn ám ảnh các ông, ai trong các ông cũng muốn ngồi chỗ cao trong Vương Quốc mà họ tưởng Chúa Giêsu đã đến để thiết lập. Nhưng đối lại với tham vọng ấy, Chúa Giêsu cho thấy rằng quyền bính là để phục vụ; trong Nước Ngài, kẻ càng được trao nhiều quyền hành, càng phải là người phục vụ, mà phục vụ theo đúng nghĩa là hoàn toàn quên mình để sống cho người khác.
Do phép Rửa, người Kitô hữu chúng ta được tham dự vào chức vị vương giả của Chúa Kitô. Chúa Kitô là Vua, nhưng là Vua của phục vụ. Cung cách vương giả của Ngài là quì trước các môn đệ và rửa chân cho họ. Do đó, tham dự chức vụ vương giả của Chúa Kitô, chúng ta cũng được trao cho một thứ quyền bính, và quyền bính ấy tương đương với phục vụ. Người ta không thể là Kitô hữu, không thể là môn đệ Chúa Kitô mà lại khước từ phục vụ.
Chúa Giêsu nói đến hai thái độ cần phải có của người quản gia là tỉnh thức và trung tín “Hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến”.
Ông bà ta thường bảo: “Đồng tiền liền khúc ruột”. Tiền ta có, bao giờ ta cũng ý thức giữ gìn nó cẩn thận, kẻo bị đánh cắp.
Tiền bạc thế gian tuy quý giá, nhưng so với kho tàng hạnh phúc thiêng liêng Nước Trời mà Chúa ban, thì nó chẳng đáng là bao, vì có lời Chúa rằng: Được lời lãi cả thế gian mà mất sự sống đời đời, nào được ích gì! Nếu tiến bạc thế gian ta còn biết giữ gìn cẩn thận như khúc ruột của mình, thì kho tàng thiêng liêng Nước Trời vô cùng quý giá mà Chúa ban, làm sao ta có thể thờ ơ hay coi thường cho được!
Satan như kẻ trộm ban đêm, luôn rình rập để đánh cắp đức tin của ta và dụ dỗ linh hồn ta thỏa hiệp với thế gian, thỏa hiệp với chính xác thịt ta để ta xa rời Thiên Chúa là nguồn mạch mọi kho tàng hạnh phúc thiêng liêng, đời đời. Nó rình chờ và dụ dỗ ta tin rằng ta có thể tìm kiếm kho tàng hạnh phúc quý giá ở ngoài Thiên
Trong dụ ngôn, Chúa Giêsu nói về hình ảnh của những người quản gia trung tín đang chờ đợi chủ trở về. Thật là phúc cho họ vì được ông chủ tín nhiệm do họ luôn làm tốt nhất bao nhiêu có thể công việc được trao phó trong khả năng của mình cho dù ông chủ có vắng nhà. Ông chủ sẽ thưởng công xứng đáng khi đặt anh ta lên coi sóc tất cả tài sản của mình. Tuy nhiên, thật vô phúc cho những quản gia bất trung, gian ác khi chủ vắng nhà thì “đánh đập tôi trai tớ gái và chè chén say sưa”. Ông chủ trở về “vào lúc hắn không ngờ, vào giờ hắn không biết”, khi ấy người đó sẽ phải lãnh nhận hậu quả dành cho những kẻ thất tín.
Mỗi người đều là những quản gia được Thiên Chúa trao phó cho những công việc theo khả năng của mình. Và Chúa muốn chúng ta chu toàn công việc này trong sự khôn ngoan và trung tín. Sự khôn ngoan và trung tín ở đây là chúng ta phải biết được ý chủ mà chuẩn bị sẵn sàng thi hành ý muốn của chủ. Để nhận ra được ý chủ mà thi hành thì quả là khó khăn và trung tín trong công việc được trao phó lại càng khó khăn hơn nhất là khi chủ vắng nhà. Do đó, thái độ của mỗi người quản gia cần phải có là yêu mến, kính phục chủ của mình và luôn tận tụy trong công việc phục vụ với ý thức khiêm tốn của người đầy tớ. Có như vậy, chúng ta mới đang tỉnh thức sẵn sàng chờ đợi chủ trở về.
Lời Chúa nhắc nhớ chúng ta hãy canh thức, là đưa chúng ta trở về với sự thật của cuộc sống, đó là chúng ta phải luôn sẵn sàng, để trả lại cho Chúa sự sống của chúng ta. Đó là một sự thật hay bị quên lãng, vì chúng ta quá bận rộn, quá bận tâm và quá gắn bó với những gì trong cuộc đời này. Tuy nhiên, mọi sự không tồn tại mãi, nhưng sẽ qua đi, chúng ta cũng không tồn tại mãi, nhưng có một ngày chúng ta sẽ qua đi, và có thể qua đi bất cứ lúc nào.
Và trong khi chờ đợi và canh thức, Đức Giê-su mời gọi chúng ta sống như người tôi tớ trung tín và khôn ngoan: người tôi tớ khôn ngoan là người hiểu ra rằng Chúa có thể đến bất cứ lúc nào; và vì thế, người này lúc nào cũng trung tín với Chúa, ngang qua việc khiêm tốn và kiên nhẫn “đúng giờ và đúng lúc”, thi hành sứ mạng được giao. Và như thế, Chúa có thể đến bất cứ lúc nào và ban phúc cho người tôi tớ. Và lời Chúa cũng mời gọi chúng ta đừng trở thành người tôi tớ bất trung và ngu dại: đó là người tôi tớ nghĩ trong lòng một cách sai lầm rằng: còn lâu chủ ta mới về! Và vì thế, anh ta tự biến mình thành chủ nhân, chiều theo lòng ham muốn, sống một cuộc sống bạo lực, lệch lạc và bê tha.
Vậy, chúng ta được mời gọi canh thức, để chờ đợi ngày Chúa đến. Nhưng thực ra Chúa vẫn đến với chúng ta mỗi ngày trong Thánh Lễ, qua những ân huệ và biến cố của từng ngày sống. Do đó, chúng ta có thể thực tập đón Chúa đến mỗi ngày, để cho lúc Chúa thực sự đến, chúng ta không còn bị bất chợt và sợ hãi; nhưng chúng ta đón mừng Chúa đến trong niềm vui của đợi chờ, giống như niềm vui được lập lại hằng năm của thời gian chờ đợi Chúa đến lần thứ nhất, trong đêm Giáng Sinh.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tỉnh thức. Sự tỉnh thức đích thực của người Kitô hữu chính là phục vụ. Càng phục vụ, họ càng nhận ra được Nước Chúa đang đến; càng phục vụ, họ càng nên giống Chúa trong cung cách vương giả của Ngài. Ai lãnh nhận nhiều sẽ bị đòi nhiều. Ân sủng dồi dào mà chúng ta lãnh nhận qua Bí Tích Rửa Tội là để san sẻ; tình yêu chúng ta cảm nhận được trong đức tin là để trao ban. Sự thức tỉnh đích thực của người Kitô hữu chính là ý thức rằng sống là để yêu thương và phục vụ, và đó cũng là hạnh phúc đích thực, vì “cho thì có phúc hơn là nhận”. Ước gì chúng ta luôn thức tỉnh trong hướng đi ấy.
Chúa đang khẩn thiết, hối thúc chúng ta phải tỉnh thức với một đức tin vững vàng rằng Thiên Chúa đang đến để dẫn đưa ta tới nguồn mạch sự sống đời đời. Nếu ta mất cảnh giác với xác thịt, thế gian và ma quỷ thì rồi cũng sẽ có ngày ta thỏa hiệp và vùi dập tâm hồn mình trong những đam mê thế gian mà lãng quên kho tàng hạnh phúc thiên đàng.
2021
Tỉnh thức
19 14 X Thứ Ba Tuần XXIX Thường Niên.
(Đ) Thánh Gioan Bơ-rê-bớp, và Thánh I-xa-ác Gio-gơ, linh mục và các bạn, tử đạo.
(Tr) Thánh Phaolô Thánh giá, linh mục.
Rm 5,12.15b.17-19.20b-21; Lc 12,35-38.
Tỉnh thức
Vào thế kỷ thứ XVII tại Bắc Mỹ, tám tu sĩ Dòng Tên bị tàn sát chết để làm chứng cho Chúa Kitô, có thể được phân chia làm hai nhóm:
Thánh René Goupil chịu tử đạo tại Auriesville, thuộc tiểu bang Nữu Ước vào ngày 29.9.1642. Ngài là Vị tử đạo đầu tiên của Mỹ Châu. Thánh Ixáac Giogơ và thánh Gioan Lalande tử đạo vào ngày 18.10.1648. Các thánh này thuộc nhóm thứ nhất.
Còn nhóm thứ hai chịu tử đạo tại Gia nã Ðại gồm có: thánh Charles Danvel tử đạo ngày 16.3.1649, thánh Gabriel Lalmault ngày 16.3.1649, thánh Gioan brébeuf ngày 16.3.1649, thánh Noel Chabanel tháng 12.1649 và thánh Charles Garnier ngày 7.12.1649.
Thánh Ixáac Giogơ bị dân Iroquois bắt,đánh đập,hành hình cách tàn nhẫn,nhưng Ngài được người Hòa Lan cứu sống trở về nước Pháp. Thánh nhân trở về nước Pháp chưa được 3 tháng lại muốn ra đi truyền giáo vì ước muốn được chết tử vì đạo.Thiên Chúa đã nhận lời thánh nhân cầu xin và cho Ngài được thỏa chí, toại nguyện, chết vì đạo. Thánh Gioan Bơ-rơ-Bớp là một nhà thần bí cao siêu, luôn kết hiệp với Chúa trong lời cầu nguyện và luôn có lòng thống hối ăn năn. Ngài luôn sẵn sàng chịu chết vì đạo Chúa Kitô.
Thánh Noel Chabanel khi bị cám dỗ,thử thách muốn trốn tránh nhiệm vụ muốn quay về nước Pháp để tránh hiểm nguy. Ngài đã làm lời thề hứa vào năm 1647 rằng: Ngài sẽ ở lại và trung thành với sứ mạng truyền giáo cho người Hurons dẫu có phải hy sinh mạng sống. Chúa đã chấp nhận lòng thành của thánh nhân và cho Ngài được vinh phúc lãnh triều thiên tử đạo.
Ý thức sứ mạng Giáo Hội,hiền thê của Chúa Giêsu trao phó, các thánh chúng ta mừng lễ hôm nay luôn có một tấm lòng cương quyết hy sinh vì Chúa Giêsu. Các Ngài đã tâm niệm làu làu lời Chúa: “Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của Người hiến mạng sống vì người mình yêu”( Ga 15,13 ).
Các thánh hôm nay đã quyết tâm cầu xin Chúa cho mình được phúc tử vì đạo. Các Ngài cho dù có lúc bị thử thách, cám dỗ, muốn tháo lui,chùn bước, bỏ cuộc, nhưng với ơn Chúa và tác động của Chúa Thánh Thần. Các Ngài đã lướt thắng tất cả và đã lãnh hận triều thiên tử đạo. Nhất nhất, các thánh tử đạo hôm nay đã cảm nghiệm sâu xa lời Chúa dạy:” Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất, không thúi đi, không chết đi, thì nó sẽ không sinh nhiều bông hạt ”
“Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn”. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta tỉnh thức. Có lẽ chúng ta rất tỉnh thức trong kinh kệ, trong nghĩa vụ đạo đức, nhưng lại mê ngủ trong những đòi hỏi của Tin Mừng. Kitô giáo không phải là đạo ru ngủ, nhưng luôn thức tỉnh chúng ta, bởi vì đạo là đường để đi. Người chăm chú đi đường không thể ngủ gật, trái lại luôn mở mắt để nhìn thấy cảnh trí chung quanh, để nhận ra hướng đi của mình, để đồng hành với người khác.
“Tỉnh thức và sẵn sàng” là sứ điệp mà Chúa Giêsu thường hay nhắc nhớ mọi người trong khi giảng dạy. Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy Chúa Giêsu dùng hình ảnh người chủ trở về bất ngờ sau bữa tiệc cưới để nhắc nhớ mọi người phải sống tỉnh thức và sẵn sàng. Chúng ta biết rằng tiệc cưới của người Do Thái thường kéo dài rất lâu, không ai có thể biết khi nào kết thúc (có khi buổi chiều, có khi nửa đêm, có khi muộn hơn nữa).
Chính vì không biết đích xác giờ nào ông chủ sẽ trở về, nên đầy tớ luôn luôn phải sẵn sàng: sẵn sàng trong tư thế làm việc qua việc thắt lưng cho gọn (vì áo của người Do Thái dài, lụng thụng, nên để dễ làm việc phải thắt cho gọn lại); và sẵn sàng trong tư thế phục vụ qua việc thắp đèn sẵn để soi đường cho chủ thấy lối vào nhà.
Chúa Giêsu nhắn nhủ chúng ta phải luôn sẵn sàng cho giờ từ giã cõi đời này, để bước vào sự sống đời sau. Trong Tin mừng, Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại nhiều lần cụm từ “Phúc cho đầy tớ nào khi chủ về mà tỉnh thức”. Qua hình ảnh ẩn dụ đó Chúa Giêsu nói đến sự trở về bất ngờ của ông chủ là cái chết của mỗi người. Giờ chết luôn là một sự bất ngờ, không ai biết rõ. Nên phúc cho ai tỉnh thức trước giờ chết của mình. Muốn tỉnh thức chúng ta phải xa tránh tội lỗi, chăm lo làm những việc lành phúc đức. Cuộc sống luôn đầy rẫy những cám dỗ hấp dẫn, chúng dễ ru ngủ ta làm ta lơ là không đề phòng nên dễ sa ngã. Hãy tỉnh thức bằng đời sống cầu nguyện, bác ái, yêu thương, siêng năng lắng nghe Lời Chúa để luôn sẵn sàng cho giờ chết
Từ câu chuyện rất đời thường đó, Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta cũng phải có thái độ tỉnh thức và sẵn sàng như người đầy tớ đợi ông chủ đi ăn tiệc cưới trở về, vì Thiên Chúa cũng đến với chúng ta cách bất ngờ như thế. Tuy nhiên trong cuộc sống hiện tại, giữ được sự tỉnh thức và sẵn sàng này không phải là điều dễ dàng, bởi vì để sống vươn lên, con người phải bon chen, phải đấu tranh về nhiều phương diện, do đó đôi lúc con người quên đi cùng đích của cuộc sống, nên sống như là chỉ có cuộc sống này mà thôi.
Sống tỉnh thức và sẵn sàng theo lời Chúa mời gọi là luôn sẵn sàng cho ngày giờ Chúa gọi chúng ta về với Chúa. Chúng ta xác tín rằng một ngày nào đó Chúa sẽ gọi chúng ta về, còn khi nào, cách nào, ở đâu? Thì chẳng có ai biết được. Do đó, chúng ta phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng.
Tỉnh thức không có nghĩa là không ngủ mà là ngủ trong tỉnh thức. Tỉnh thức không phải là ngồi không mà chờ đợi, nhưng vẫn làm như thường trong tư thế chờ đợi. Có những người tỉnh thức trong kinh kệ, trong nghĩa vụ đạo đức, nhưng lại ngủ mê trong những đòi hỏi của Tin mừng. Tỉnh thức cũng không phải là suốt ngày đọc Lời Chúa, nhưng là để Lời Chúa chi phối đời mình.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy tỉnh táo để nhận ra Nước Trời đang đến trong từng giây phút. Chúng ta hãy sống thế nào để đạo lý và Giáo Hội không bị hoen ố, nhưng được trình bày bằng những hình ảnh cao đẹp nhất của công bằng, bác ái, yêu thương.
