Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Suy niệm hàng ngày

Home / Phụng vụ / Suy niệm hàng ngày
03Tháng Mười Một
2021

LÒNG BAO DUNG

03/11/2021
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

04  30  Tr  Thứ Năm Tuần XXXI Thường Niên.

Thứ năm đầu tháng. Ngày các Linh mục.

Thánh Ca-rô-lô Bô-rô-mê-ô, Giám mục, lễ nhớ.

Rm 14,7-12; Lc 15,1-10.

LÒNG BAO DUNG

Thánh Carôlô là vị Giám Mục nổi tiếng của giáo phận Milan. Ngài sinh năm 1538 tại Arôna, trong một gia đình quý tộc và đạo đức.

Lớn lên, thánh nhân theo học luật tại Pari, nước Pháp. Và năm 1559, ngài đã đạt bằng tiến sĩ.

Lúc đó cậu ngài là Mêdici được bầu làm Giáo Hoàng, lấy hiệu là Piô thứ IV; ngài được triệu về Rôma làm thư ký, và năm sau được lãnh chức Hồng Y, với quyền cai quản Giáo phận Milan. Nhưng vì nhu cầu đòi hỏi, ngài phải ở lại Rôma, giúp Đức Giáo Hoàng tổ chức công đồng Triđentinô. Sau khi công đồng kết thúc vào năm 1546, ngài lại phải chăm sóc Đức Giáo Hoàng là cậu ngài đang lâm bệnh nặng cho đến khi qua đời. Ngài chỉ được đến Milan vào năm 1566.

Giáo phận này đang gặp cơn khủng hoảng trầm trọng: từ giáo dân đến giáo sĩ và các dòng tu đều sa sút về đạo đức. Ngài nỗ lực canh tân tất cả. Ngài là người làm việc không biết mệt mỏi và luôn luôn cầu nguyện. Lời nguyện và hoạt động là lý tưởng sống đời của ngài. Ngài dành trọn quãng đời còn lại để lo hoàn chỉnh giáo phận, bằng lời dạy dỗ nhất là bằng gương sáng.

Dựa theo những quyết định của công đồng Triđentinô, thánh nhân đổi mới mọi sinh hoạt trong giáo phận: trước tiên ngài lo củng cố lại hàng giáo sĩ và các dòng tu, vì đây là thành phần nòng cốt cho mọi hoạt động mục vụ. Mặc dù giáo phận rộng lớn, ngài cố gắng đi thăm viếng khắp nơi, quan sát từng chỗ rồi khích lệ, bảo ban, sửa đổi cho hợp với đường lối của Hội Thánh. Ngài thiết lập thêm nhiều tu viện và chủng viện, để đào tạo giáo sĩ tu sĩ. Những tu viện hoặc chủng viện nào sa sút kém cỏi, ngài củng cố tu chỉnh lại. Ngài dạy bảo họ:

“Tôi nhận thực là hết thảy chúng ta đều yếu đuối, nhưng Thiên Chúa lại ban cho chúng ta nhiều phương tiện, mà nếu chúng ta biết sử dụng, sẽ trở thành nguồn trợ lực cho chúng ta…”

“Hỡi các bạn, các bạn nên hiểu rằng: không có gì thiết yếu cho giáo sĩ chúng ta bằng việc nguyện ngắm, nó phải đi trước, đi đôi và theo sau mọi hoạt động của chúng ta; như lời vị ngôn sứ xưa đã nói: Tôi sẽ ca ngợi Chúa và tôi sẽ hiểu. Này bạn, nếu bạn ban các Bí tích, bạn hãy suy gẫm điều mình làm; nếu bạn cử hành Thánh lễ, bạn hãy suy gẫm điều mình dâng hiến; nếu bạn hát ca vịnh nơi Cung Thánh, bạn hãy suy gẫm mình đang hát gì và hát cho ai; nếu bạn chăm sóc các linh hồn, bạn hãy suy nghĩ nhờ máu ai mà họ được tẩy rửa. Và như vậy bạn làm mọi việc với lòng yêu mến; như thế chúng ta mới có thể dễ dàng chiến thắng mọi trở ngại mà chúng ta gặp phải hằng ngày, và cũng nhờ đó mà chúng ta mới có thể tác sinh Chúa Kitô nơi chúng ta cũng như nơi tha nhân.”

Nhưng những hoạt động và công cuộc canh tân của thánh nhân bị nhiều người bất mãn chống đối. Họ tổ chức giết hại ngài. Một lần đang khi cầu nguyện, ngài suýt mất mạng vì cuộc mưu sát của họ.

Năm 1576 đến 1578, một cơn dịch hạch đã xảy ra dữ tợn tại Milăn, thánh nhân dồn hết năng lực giúp đỡ dân chúng khổ sở. Ngài bố thí tất cả những gì ngài có, ngài sai các Linh mục tu sĩ chăm sóc cả phần hồn phần xác của họ; ngài tổ chức nhiều buổi cầu nguyện, kêu xin Chúa thương cứu vớt họ. Nhờ đó mà căn bệnh ngặt nghèo này đã chấm dứt. Mọi người vui mừng cảm tạ ơn Chúa và mến phục ngài. Những kẻ trước kia chống đối ngài bao nhiêu, nay quý mến ngài bấy nhiêu. Nhất là những người tội lỗi và ngoại giáo thấy vậy thì ăn năn trở lại với Chúa.

Thánh nhân qua đời ngày 3 tháng 11 năm 1584, hưởng dương 46 tuổi. Đức Giáo Hoàng Phaolô V đã phong thánh cho ngài năm 1610.

Trang  Tin Mừng chúng ta nghe hôm nay kể lại hai dụ ngôn đầu. Dụ ngôn tuy ngắn nhưng giàu hình ảnh và diễn tả nhiều sắc thái tình cảm khác nhau: lo lắng, so bì, ganh tỵ, bao dung, tha thứ, phấn khởi, hân hoan…

Bị mất và đi tìm là điều thường xảy ra trong cuộc sống của con người. Đọc báo hay xem tivi, chúng ta thấy người ta không chỉ đăng tin: tìm trâu bò, giấy tờ, xe máy bị mất mà đặc biệt là còn tìm người thân bị lạc mất.

Sự đánh rơi tài sản quý giá hay lạc mất người thân làm cho chủ nhân hay gia đình lo âu, đau khổ; phải vất vả bôn ba kiếm tìm.

Qua hai dụ ngôn, chúng ta nhận thấy: một con chiên dù không có giá trị là bao so với cả đàn chiên, nhưng người chăn chiên cũng cất công tìm kiếm; cũng thế, một đồng bạc chẳng đáng là gì nhưng người phụ nữ đã vất vả kiếm tìm. Cho nên, khi kể dụ ngôn, Chúa Giêsu không có ý nói về tải sản vật chất nhưng nói về các tội nhân được Ngài tìm kiếm và đưa về. Đối với Chúa, mỗi một con người -dù tội lỗi – đều có giá trị.

Sứ mạng của Chúa Giêsu đến trần gian là để tìm kiếm những tâm hồn đã hư mất vì tội lỗi. Ngài không quản ngại đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng và mời gọi người ta sám hối. Ngài len lỏi vào mọi ngóc nghách của cuộc sống, giao du tiếp đón mọi hạng người.

Thật vậy, Chúa Giêsu kể những dụ ngôn này trong một hoàn cảnh đặc biệt. Các luật sĩ và biệt phái lấy làm vấp phạm khi thấy Ngài giao du với những kẻ mà họ gọi là tội nhân.

Trong xã hội Do-thái, có một hàng rào ngăn cách giữa những người được xem là đạo đức và những người bị coi là tội lỗi. Các luật sĩ và biệt phái – những người tự nhận mình là đạo đức – hết sức khó chịu khi thấy Đức Giêsu làm bạn với những người tội lỗi.

Tuy nhiên, đối với Đức Giêsu, hạng người tội lỗi mới là đối tượng khiến Chúa phải cất công kiếm tìm: “Con Người đến để tìm kiếm và cứu chữa những gì đã mất”.

Con chiên lạc, đồng bạc mất là hình ảnh của mỗi người chúng ta, vì mỗi người chúng ta trước mặt Chúa đều là tội nhân. Chỉ những ai – như biệt phái và luật sĩ kiêu ngạo – tự nhận mình là công chính mới tự loại mình ra khỏi tình thương và ơn cứu độ của Chúa.

Chúa Giêsu vui mừng đón nhận những người tội lỗi và thu thuế đến với Ngài, lắng nghe giáo huấn Ngài; trong khi đó, các kinh sư và những người thuộc phái Pharisiêu bưng tai bịt mắt trước những lời giảng dạy của Chúa và các phép lạ Ngài làm, không những thế còn càm ràm, trách mọc Chúa vì sự cởi mở của Ngài đối với những người thu thuế và tội lỗi. Chúa tìm mọi cách để giúp những người yếu đuối, tội lỗi có cơ hội hối cải và Ngài vui mừng đón nhận họ trở lại giống như người chăn chiên vui mừng tìm lại được con chiên lạc hay người phụ nữ phấn khởi tìm lại được đồng bạc đã mất; trong khi đó, những người Pharisiêu và các kinh sư tìm cách ngăn cản và loại họ ra khỏi cộng đoàn.

Dừng lại suy nghĩ. chúng ta có tâm tình đầy yêu thương bao dung của Chúa hay chúng ta có thái độ hằn học, tẩy chay họ. Một khi ta tẩy chay họ thì chúng ta cũng tự loại mình ra khỏi cộng đoàn của những con người biết hoán cải trở về với Chúa để được Chúa vui mừng tiếp rước vào gia đình đầy tình thương và hạnh phục của Ngài.

Read More
02Tháng Mười Một
2021

THEO CHÚA

02/11/2021
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

03  29  X  Thứ Tư Tuần XXXI Thường Niên.

Thứ Tư đầu tháng. Kính Thánh Cả Giuse.

(Tr) Thánh Mac-ti-nô Po-ret, Tu sĩ.

Thánh Phê-rô Phan-xi-cô Nê-rôn Bắc (Pierre Francois Neron), Linh mục (U1860), Tử đạo.

Rm 13,8-10; Lc 14,25-33.

THEO CHÚA

Thánh Mác-ti-nô sinh năm 1579, tại Li-ma, nước Pê-ru, con một hiệp sĩ Tây Ban Nha tên là Gio-an và một phụ nữ da đen được giải phóng tên là An-na Vê-lát-khê. Giữa hàng chư thánh, Mác-ti-nô là một chứng tá của dân da đen bị khinh miệt một cách bi thảm ở Tân Thế Giới. Đang lúc giúp việc một người thợ hớt tóc, Mác-ti-nô xin gia nhập Dòng Thánh Đa Minh và được nhận vào số các anh em trợ sĩ tại tu viện Đức Mẹ Mân Côi ở Li-ma. Cũng tại tu viện này, Mác-ti-nô đã được nhận tuyên khấn trọng thể năm 1603.

Mác-ti-nô có lòng đơn sơ, thanh bạch và đức tin phi thường, được cắt đặt làm những việc thường hèn, nhưng Chúa lại cất nhắc người lên, với nhiều hồng ân và đoàn sủng cao siêu. Người rất nhiệt thành sùng kính mầu nhiệm Thánh Thể và Khổ Nạn của Chúa Cứu Chuộc. Người hiến cả cuộc đời để làm việc bác ái đối với người nghèo, nhất là những người đau yếu, với cả súc vật nữa. Người được tôn phong làm bổn mạng các anh em trợ sĩ quả là xứng đáng. Người quý chuộng việc ăn chay, hãm mình nhiệm nhặt và cầu nguyện, nhất là cầu nguyện ban đêm, theo gương Chúa Giê-su. Từ việc cầu nguyện đó, người đã kín múc được những nguồn sáng soi dẫn người cách lạ lùng trong đường lối dạy giáo lý.

Mác-ti-nô qua đời ngày 3-11-1639 tại Li-ma. Đức Ghê-gô-ri-ô XVI tôn người lên bậc chân phước năm 1837. Thánh Mác-ti-nô được mọi người Bắc Mỹ và Nam Mỹ sùng mộ không những vì đức khiêm tốn phi thường của người, mà còn vì chính người là một dấu chứng. Ngày 6-5-1962, Đức Gio-an XXIII ghi tên người vào số các hiển thánh.

Qua những mẫu gương trong đời sống, thánh Mác-ti-nô chứng tỏ rằng chúng ta có thể đạt tới sự cứu rỗi và thánh thiện bằng con đường mà Đức Giê-su Ki-tô đã vạch ra cho ta, nghĩa là trước tiên chúng ta phải yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, rồi yêu người tha nhân như chính mình.

Thánh nhân đã thâm tín rằng Đức Giê-su Ki-tô đã chịu đau khổ vì ta, và trên thập giá, Người đã mang lấy tội ta trong chính thân xác Người. Vì thế, thánh nhân đã đặc biệt yêu mến Đức Giê-su chịu đóng đinh, và khi chiêm niệm những đau khổ của Chúa, thánh nhân không thể cầm được nước mắt. Người cũng đặc biệt yêu kính Bí tích Thánh Thể. Thông thường, Người kín đáo chầu Thánh Thể trong nhà tạm nhiều giờ liên tiếp, và mong muốn được Thánh Thể nuôi dưỡng càng nhiều càng hay.

Rồi, vâng theo lời Thầy chí thánh, thánh Mác-ti-nô đối xử với anh em bằng tất cả đức ái, một đức ái phát xuát từ trái tim không phai nhoà và một tâm hồn khiêm nhu. Thánh nhân yêu mến người khác, vì Người thật sự coi họ là con cái Thiên Chúa, và là anh em của mình. Hơn thế nữa, Người còn yêu họ hơn mình.

Thánh nhân chữa lỗi cho người khác, và tha thứ những sỉ nhục cay đắng nhất. Người xác tín rằng, do tội đã phạm, mình còn đáng phải chịu những hình phạt nặng nề hơn nữa. Người hăng say cố công dẫn đưa tội nhân về đàng ngay. Người ân cần trợ giúp người đau yếu, cung cấp cho người thiếu thốn của ăn, áo mặc, thuốc men. Với các nông dân và người da đen hoặc người lai, lúc đó bị coi như những nô lệ xấu xa, thánh nhân vỗ về giúp đỡ theo khả năng của mình, và lo lắng cho họ đến độ được quần chúng mệnh danh là “Mác-ti-nô bác ái”.

Quả thật, nhờ lời nói, gương lành và nhân đức, vị thánh này đã lôi kéo được nhiều người theo đạo. Bây giờ người còn có thể lạ lùng hướng tâm trí ta về trời. Tiếc thay không phải mọi người đều hiểu những của cải trên trời cho đúng mức, không phải mọi người đều quý chuộng những của cải ấy. Tệ hơn nữa, mọi người đều bị tật xấu lôi cuốn, coi thường hoặc chán ghét, hoặc hoàn toàn xao lãng những của cải ấy. Ước chi, vì phần rỗi của họ, gương lành của thánh Mác-ti-nô dạy cho nhiều người biết : thật êm ái và hạnh phúc biết bao, nếu họ bước theo vết chân của Đức Giê-su Ki-tô, và vâng theo các giới răn của Người.

Hành trình đáp lại lời mời gọi bước theo Chúa Giê-su để trở nên môn đệ của Người là một hành trình hết sức tự do: Thiên Chúa mời gọi, con người tự do đáp trả và con người có thể nói tiếng không với Người. Tuy nhiên, Đức Giê-su cho biết: nếu chấp nhận bước theo tiếng gọi của Chúa, con người phải từ bỏ cách triệt để, hy hiến tất cả những gì có thể là thân thương, yêu quí nhất của mình, kể cả mạng sống mình để trở nên môn đệ thực thụ của Chúa. (x. c.26). Và dĩ nhiên, phần thưởng của người biết hy sinh từ bỏ để sống cho Chúa thì không gì ở trần gian này có thể sánh được hay mua lấy được (x. Mc 10, 29 – 30).

Trình thuật Tin mừng hôm nay nối tiếp trình thuật về dụ ngôn ‘Những người khách được mời dự tiệc cưới’ (x. Lc 14, 16 – 24). Những người khách này từ chối vinh hạnh được dự tiệc với nhiều lý do: “Tôi mới cưới vợ”, “Tôi mới mua thửa đất phải đi thăm”, “Tôi mới tậu năm cặp bò phải đi thử” – Họ đã coi trọng những lợi ích bản thân, những giá trị vật chất hơn tình thân mà chủ dành cho họ, và do đó họ không bao giờ được dự bữa tiệc trọng đại mà họ đã được mời ấy nữa. Lời Chúa Giêsu dạy là một đòi hỏi triệt để: bước theo Chúa là phải hy sinh, phải từ bỏ! Không một từ bỏ nào mà không có sự lựa chọn. Chúng ta lựa chọn theo Chúa hay theo thế tục? Ở đây không có sự bắt cá hai tay, không có thỏa hiệp giữa thiện và ác, không có sự dung túng cho những thói hư tật xấu và việc bước theo con đường hẹp của Chúa Giêsu.

Chúa mời gọi chúng ta phải cân nhắc cẩn trọng, có những quyết định dứt khoát và khôn ngoan trong việc chọn lựa theo Chúa hay tinh thần thế tục. (x. c 28 – 32); bởi vì trong suốt hành trình cuộc đời, không phải chúng ta chỉ lựa chọn và quyết định một lần để ‘về phe’ với Chúa, làm môn đệ của Người mà hằng ngày, hằng giờ, trong mỗi thời khắc, chúng ta đều có những lựa chọn và quyết định. Có những lựa chọn bình thường, nhẹ nhàng không cần đắn đo suy nghĩ nhiều, nhưng cũng có những lựa chọn và quyết định đòi sự cân nhắc khôn ngoan, hay những lựa chọn đòi ý chí chiến đấu, khiến người ta đớn đau, day dứt….

Theo Chúa phải từ bỏ mọi sự và phải vác Thập giá của mình. Từ bỏ nào cũng là thập giá. Tuy nhiên, có những thập giá ngoài sự chọn lựa: Thập giá của bệnh tật, thập giá của tai họa, thập giá về những khiếm khuyết, những hạn chế của bản thân… là những thập giá dù muốn hay không ta cũng buộc phải vác. Nếu ta vác trong niềm tin, trong tự do và trong tình yêu, thì thập giá sẽ thăng hoa thành thánh giá trui rèn đức tin và nhân đức của chúng ta, giúp ta trưởng thành trong đời sống nhân linh và giúp chúng ta nên giống Chúa Giêsu hơn, trở thành môn đệ thực thụ của Người. Còn nếu chúng ta bất nhẫn, kéo lê thập giá, thập giá sẽ làm ta thất vọng, sẽ trở nên một ách nặng nề và sẽ đè bẹp chúng ta.

Câu kết Đức Giê-su nói: “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được” (c. 33). ‘những gì mình có ở đây có thể là của cải vật chất, nhưng cũng có thể là thì giờ, tài năng, sức khỏe, năng lực….Sự từ bỏ ở đây Đức Giê-su nhắm tới thái độ tinh thần của chúng ta qui phục Thiên Chúa; chúng ta không được để cho bất cứ sự vật gì có thể ngăn cản bước đường chúng ta thực thi thánh ý Chúa; ngăn cản chúng ta làm môn đệ của Người; hay nói như thánh Phao-lô: “Không gì có thể tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa trong Đức Ki-tô.

 

Read More
01Tháng Mười Một
2021

Nay người – mai ta

01/11/2021
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

02  28  Tm  Thứ Ba Tuần XXXI Thường Niên.

CẦU CHO CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI.

Hôm nay, các tín hữu được viếng nhà thờ lĩnh ân xá. (Enchiridion Indulgentiarum năm 1999, concessio 13).

Theo Tông Hiến ngày 10/08/1915 của Đức Giáo hoàng Bê-nê-đíc-tô XV, hôm nay mọi tư tế được phép cử hành hoặc đồng tế ba Thánh lễ vào những thời điểm khác nhau: có thể chỉ một lễ cho bất cứ ai theo ý mình; ngoài ra phải dành một ý lễ cầu nguyện cho mọi tín hữu đã qua đời và một ý lễ cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng (Không được áp dụng bổng lễ cho lễ Nhì và lễ Ba).

Các Bài đọc gợi ý:

Lễ Nhất: G 19,1.23-27a; Rm 5,5-11; Ga 6,37-40.

Lễ Nhì: Is 25,6a.7-9; Rm 8,14-23; Lc 23,33.39-42.

Lễ Ba: 2Mcb 12,43-45; Kh 21,1-5a.6b-7; Ga 11,17-27.

Hoặc chọn trong sách Bài Đọc các Thánh Lễ Chung lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời, (1973, tr.225-249); Sách Nghi lễ an táng và Thánh Lễ Cầu Hồn, (1974, tr.61-106).

Cấm cử hành lễ nào khác, trừ lễ an táng.

Sau lễ Các Linh Hồn, các cha nhớ dâng lễ cầu cho các Đức Giám mục và Linh mục đã qua đời.

Nay người – mai ta

Sự thanh luyện thuộc về “cánh chung trung thời” bởi vì nó sẽ không tồn tại sau ngày tận thệ thế nữa. Luyện ngục chỉ là thời gian tạm trú. Không ai có hộ khẩu thường trú ở đó cả. Luyện ngục chỉ là một chuyến đò ngang. Thiên Chúa mới là bến bờ. Đời sống vĩnh cửu mới là cùng đích, là phần thưởng Thiên Chúa hứa ban.        Đạo lý về sự thanh luyện thúc giục chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn đã qua đời. Tập tục này đã có từ cuối thời Cựu ước và trong suốt lịch sử Giáo hội (x. GLCG số 1032; 958; 1371; 1689). Ngoài những hình thức cầu nguyện riêng tư, phụng vụ Giáo hội khuyến khích tục lệ này. Khởi đầu từ Thánh lễ, nơi đó Giáo hội hiệp thông với Các Thánh trên trời cũng như với các linh hồn còn đang chịu thanh luyện. Hằng năm, ngày 2 tháng 11 được dành để cầu nguyện cho tất cả các linh hồn đã qua đời tiếp sau lễ kính Các Thánh. Giáo hội còn dành cả tháng 11 nhớ đến các linh hồn và mời gọi con cái mình cầu nguyện, hy sinh hãm mình, làm việc bác ái như là nghĩa cử biểu lộ lòng yêu thương đối với họ cũng như tình hiệp thông trong nhiệm thể Chúa Kitô.

Công đồng Vatican II bàn đến tình trạng thanh luyện sau khi chết ở chương VII của hiên chế Lumen Gentium. Số 49, Công đồng nhìn nhận rằng “có những tín hữu đã qua đời và đang được thanh luyện”. Số 50, đạo lý về sự thông hiệp giữa hết mọi phần tử Giáo hội được dựa trên thói tục bắt nguồn từ thưở ban đầu Kitô giáo về sự tưởng niệm người chết và cầu nguyện cho họ. Phần kết chương VII trình bày về đường hướng mục vụ, Công đồng tái khẳng định đạo lý cổ truyền của Giáo hội : “ Thánh Công Đồng kính cẩn đón nhận niềm tin cao trọng của tiền nhân chúng ta trong việc hiệp thông sống động với các anh em được vinh hiển trên trời hay còn phải thanh luyện sau khi chết, và lấy lại các sắc lệnh của thánh Công đồng Nicêa II, Firence, Trento ( số 51 a)”

Con người sống được với nhau là nhờ ân nghĩa. Tình nghĩa càng thắm thiết càng thương nhớ đến nhau và muốn sống mãi bên nhau, nhất là đối với những người thân quen đã qua đời. Hơn nữa, khi biết sống tình nghĩa với nhau cách đằm thắm hay nhạt nhẽo thì mới rõ ai tốt hay xấu, ai thật lòng ai gian dối. Do đó, tình nghĩa không những là một nhu cầu cần thiết cho đời sống mà còn là một bổn phận, trách nhiệm phải đền đáp, chu toàn hết khả năng sẵn có.

Nếu thế thì chúng ta, những người còn sống tại dương thế, đang có tự do hành động theo ý muốn của mình lại càng sống thật tình nghĩa với những người đã khuất vì giờ đây họ chẳng khác gì những tù nhân chỉ còn trông mong sự cứu giúp của chúng ta mà thôi. Nhưng sống tình nghĩa với những người đã chết không có nghĩa là nhớ lại những kỷ niệm, những hình ảnh, dáng điệu, lời nói của họ để mà thương tiếc, nhớ nhung, trái lại điều quan trọng là hãy biến những tình cảm đó thành những hành động thương yêu thật cụ thể và có giá trị đời đời.

Đó là lý do chính yếu của ngày lễ hôm nay và trong tháng 11 này mà Giáo hội đề xướng ra để kêu gọi toàn thể mọi người hãy hướng lòng về những người thân quen cũng như xa lạ đã qua đời, nhất là ra sức tìm kiếm những tặng phẩm thiêng liêng để gởi làm quà cho họ. Và một khi đã biết rõ cách thức gởi, gởi những gì và gởi nhờ ai thì sẽ đến tay các linh hồn. Chỉ còn lại khâu cuối cùng là chúng ta có hăng say kiếm quà mà gởi hay không mà thôi.

Và nếu những người thân quen ở bên kia thế giới đang quằn quại đau khổ trăm chiều, từng giây từng phút đợi chờ sự cứu giúp của chúng ta, được chóng giải thoát cực hình hay phải giam phạt thêm là hoàn toàn do chúng ta có thương xót hay thờ ơ mà thôi, chẳng lẽ chúng ta cứ thờ ơ, lãng quên họ mãi hay sao? Vậy hãy mau cố gắng hết sức, tìm đủ mọi cách để giải thoát cho họ như siêng năng xưng tội rước lễ, làm việc lành phúc đức, ăn chay hãm mình, xin lễ cầu nguyện… Và nếu chúng ta cứu được các Đẳng, chắc chắn các Ngài sẽ không bao giờ quên ơn chúng ta.

Trong niềm hiệp thông, chúng ta hãy giúp đỡ các ngài bài những hy sinh, những lời kinh và những thánh lễ chúng ta dâng lên, bởi vì đó mới chính là những điều các ngày đang cần đến, đỗng thời đó cũng là cách thức chúng ta báo hiếu, đền đáp công ơn của các ngài một cách sâu xa và có ý nghĩa nhất.

Mang trong mình dòng máu linh thiêng của tổ tiên, dù là người công giáo, phật giáo hay bất cứ ai cũng đều thể hiện lòng biết ơn một cách trân trọng đối với các bậc sinh thành. Trở về cội nguồn tổ tiên, chúng ta một lần nữa nói lên lòng biết ơn sâu sắc, đối với cácbậc tiền nhân.

Vì thế, chúng ta cùng nhau thắp lên một nén nhang để cùng nhớ ơn, ca ngợi công ơn tổ tiên và cầu nguyện cho tất cả những ai đã từng một lần chắp cánh cho chúng ta buớc vào cuộc đời và sống trọn vẹn ý nghĩa của con người.

 

Read More
31Tháng Mười
2021

NÀY LÀ DÒNG DÕI NHỮNG NGƯỜI TÌM CHÚA

31/10/2021
Anmai
Phụng vụ, Suy niệm hàng ngày
0

NÀY LÀ DÒNG DÕI NHỮNG NGƯỜI TÌM CHÚA

Các Thánh là những người đói và khát sự công chính, theo ngôn ngữ Kinh Thánh là khát khao sự thánh thiện. Vì khao khát, nên Thiên Chúa đã cho các ngài thỏa chí toại lòng đúng như Chúa Giêsu công bố :  “Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả” (Mt 5, 6).

Trong sổ bộ các thánh, ta thấy nhiều đấng nhiều bậc và nhiều kiểu cách nên thánh. Ta thấy có thánh tông đồ, thánh tử đạo, thánh hiển tu, thánh đông trinh, thánh ẩn tu … và chung chung là các thánh nam và các thánh nữ.

Như câu Thánh Vịnh đáp ca trong Thánh Lễ các Thánh : ” Này là dòng dõi những người tim Chúa, đây là những người mong bệ kiến Người. Một đời lòng ngay không hề gian dối. Giữa bao hận thù luôn sống mến yêu”.

Các Thánh là những người sống lòng mến trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời. Các thánh là những người sống trọn vẹn lòng mến mà Chúa đòi hỏi hay mời gọi : “Cứ dấu này mà người ta nhận ra anh em là môn đệ của Thầy đó là anh em yêu thương nhau”.

“Anh em yêu thương nhau như Thầy !” chứ không phải yêu thương như kiểu của người đời. Như Thầy nghĩa là yêu với một tình yêu nhưng không, cho đi vô vị lợi , không tính toán. Cho đi đến độ hủy mình ra không như Thầy đã hủy mình ra không vậy.

Con đường nên Thánh không gì khác là con đường ước ao nên công chính, nên trọn lành trong tình yêu thương của Chúa.

Ta thấy không phải nhất thiết phải ở trong 4 bức tường của tu viện hay phải đổ máu đào nhưng đơn giản là khát khao sống công chính và yêu thương có lẽ là đủ.

Ngày 18 tháng 10 năm 2015, cha mẹ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu là đôi vợ chồng tiên khởi được phong thánh cùng nhau. Đó là hồng ân cao cả mà Thiên Chúa dành cho các ngài. Từ đây danh xưng của ông-Louis Martin và bà-Zélie Guérin sẽ được nhiều gia đình biết đến như “chứng tá ngoại thường của linh đạo vợ chồng và gia đình!” Là người con trong một gia đình có cha mẹ thánh thiện như thế, Têrêsa dĩ nhiên hạnh phúc biết chừng nào! Nhờ vậy mà thánh nữ mới có được cảm thức yêu mến và nguyện trót đời dâng mình cho Thiên Chúa từ rất sớm.

Cuộc sống của cha mẹ Têrêsa dưới thế trần luôn được tình yêu Thiên Chúa tỏa bóng mát. Trong đời lứa đôi, đúng là Thiên Chúa an bài se duyên cho hai người thành hôn (13-7-1858) nên nghĩa vợ chồng. Nhân kỷ niệm 150 năm ngày thành hôn của các ngài, ngày 19 tháng 10 năm 2008, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI tuyên phong Chân Phước cho các ngài tại Vương Cung Thánh Đường Têrêsa vào Chúa Nhật Truyền Giáo. Dịp ấy người ta nhắc nhiều đến đời sống gia đình của các ngài! Louis ước mơ là linh mục tốt lành, Zélie cũng khát khao là ma-sơ thánh thiện; nhưng Thiên Chúa lại muốn kết hợp các ngài trong một tổ ấm uyên ương để sinh được chín bông hoa trắng ngần. Bốn bông hoa vừa nở thì Thiên Đàng đã ngắt ngay lấy, còn năm bông sau lần lượt dâng cho Dòng Kín và Dòng Thăm Viếng.

Têrêsa hằng cảm ơn cha mẹ đã hướng dẫn con cái biết cách yêu mến Chúa Giêsu và rất hạnh phúc trong mái ấm gia đình của mình.

Một chiều hoàng hôn nọ Têrêsa theo cha đi dạo, rồi vào nhà thờ viếng Mình Thánh. Viếng xong cha chỉ cho Têrêsa xem bên trong song sắt kia, hằng có các ma-sơ thánh thiện cầu nguyện cả ngày. Rồi ở tư gia, Têrêsa vẫn được ngồi bên cha trong giờ kinh nguyện của gia đình. Têrêsa chỉ cần nhìn cha cũng đủ biết được cách mà các thánh cầu nguyện. Cứ thế ngày qua ngày, Têrêsa và các chị là những cây hoa hồng được cha mẹ gieo trồng, chăm sóc và chính Thiên Chúa làm cho những đóa hồng nở tươi sắc thắm, ngập tràn hương thơm!

Gia đình hạnh phúc là vậy, vui mừng là thế, nhưng Têrêsa phải mất đi người mẹ dịu hiền khi tuổi mới lên bốn. Ôi! Căn bệnh ung thư kéo dài khiến bà đau mệt, chỉ đợi mong Thiên Đàng. Ngày 28 tháng 8 năm 1877, mẹ Têrêsa đã lìa đời ở tuổi 46. Cha bế Têrêsa vào phòng để hôn mẹ lần cuối. “Vậy là mẹ về với Chúa trước con!” Têrêsa nhớ hoài những lần mẹ khiển trách một cách nhẹ nhàng nhưng không kém phần nghiêm khắc trước những lỗi lầm của con cái. Mẹ dạy dỗ và hướng dẫn mấy chị em Têrêsa cầu nguyện. Từ thuở còn thơ, Têrêsa được mẹ tập làm những việc hy sinh bé nhỏ để dâng lên Chúa, làm đẹp lòng Người. Và hàng tỷ tỷ gương lành, lời sáng của bà luôn đọng lại trong trái tim của Têrêsa. Cảm ơn mẫu gương một người mẹ dịu dàng thánh thiện!

Theo lời khuyên của bà trước lúc lâm chung, ông Louis đem gia đình mình về thành Lisieux. Louis dành trọn thời gian chăm lo và giáo dục con cái. Ước mong cho các con thành những người yêu mến Chúa Giêsu nồng cháy luôn là động lực để ông hăng say nguyện cầu và ra sức hướng dẫn các con. Sau khi lần lượt các con theo nhau vào Dòng, Louis ở một mình sống âm thầm cầu nguyện. Năm 1887, ông bị đột quỵ và chấn thương thần kinh. Suốt 7 năm chia sẻ thập giá với Chúa Giêsu, Louis đã từ trần ngày 29 tháng 7 năm 1894. Thế là hai ông bà phấn khởi trùng phùng trên Thiên Quốc!

Lễ tuyên thánh cho các ngài diễn ra trong dịp Thượng Hội đồng Giám mục về gia đình vào tháng 10 cách đây 3 năm. Điều ấy cho thấy Giáo hội muốn đặt các ngài làm mẫu gương sáng ngời cho các gia đình trong thời đại hôm nay. Chắc hẳn lối sống của các ngài xứng đáng là con đường cho bậc làm cha mẹ trong các gia đình Công Giáo. Xứng đáng vì các ngài đã chu toàn sứ mạng trong ơn gọi gia đình như lòng Chúa ước mong. Để hôm nay, Giáo hội luôn tạ ơn Thiên Chúa về mối tình và cung cách sống đời gia đình của cha mẹ! Bởi, các ngài được những ơn riêng cho bậc sống của mình trong Dân Chúa (x. LG 11). “Ân sủng đặc biệt của bí tích Hôn Phối kiện toàn tình yêu vợ chồng của các ngài, củng cố sự hiệp nhất bất khả phân ly của họ. Nhờ ân sủng này, “các ngài giúp nhau nên thánh trong đời sống hôn nhân, trong việc đón nhận và giáo dục con cái”. (GLHTCG, 1641).

Nếu người ta nhận xét về thánh Têrêsa: “Đằng sau những việc nhỏ bé của con người thấp hèn ấy lại ẩn chứa một tình yêu cao cả”, thì chính tình yêu ấy cha mẹ Têrêsa đã vun xới cho ngài. Cách duy nhất để Têrêsa chứng tỏ tình yêu của mình là gieo rắc muôn đóa hồng xuống trần gian; mỗi hoa hồng là những hy sinh bé nhỏ, mỗi cái nhìn, mỗi lời nói và thực hiện mọi việc làm bé nhỏ với tình yêu lớn. Và chúng ta tin rằng hôm nay đây hai thánh nhân cũng tỏa ngát hương hoa hồng xuống từng gia đình dưới thế. Chúng ta xin cả nhà của thánh Têrêsa cho mỗi gia đình trở nên thiên đường hạnh phúc, nên mái nhà yêu thương và nên gia đình thánh thiện!

Và ta còn nhớ Chân phước Carlo Acutis, bổn mạng của các lập trình viên.

Chân phước Carlo Acutis sinh ngày 3 tháng 5 năm 1991 tại thành phố Milan của nước Ý. Cậu là con trai duy nhất của ông bà Antonio và Andrea Acutis. Từ nhỏ, cậu đã tỏ ra là một cậu bé thông minh và nhanh nhẹn. Cậu bập bẹ học nói chỉ sau 3 tháng chào đời, và khi mới 5 tháng tuổi, cậu đã có thể nói những câu thoại ngắn. Khi vừa mới chập chững biết đi, cậu đã tỏ ra rất năng động và luôn chào hỏi mọi người trên đường. Chỉ mới bốn tuổi, cậu đã cho thấy lòng yêu mến Chúa Giêsu và Mẹ Maria cách đặc biệt nơi mình. Hằng ngày khi được mẹ cho đi dạo, Carlo thường nài nỉ mẹ dắt cậu vào nhà thờ để thăm Chúa Giêsu và hôn tượng chịu nạn. Cậu thường hái hoa và đặt dưới chân tượng Đức Mẹ trong khuôn viên giáo xứ. Ba mẹ rất ngạc nhiên trước lòng sùng kính của cậu con trai mình, bởi vì từ lâu họ đã không còn thực hành đời sống Kitô hữu nữa. Khi ấy, được đánh động bởi lòng sốt mến của cậu bé, mẹ Carlo đã quyết định quay lại với đời sống đức tin và trở thành một giáo lý viên. Khi mới lên sáu, Carlo thường theo mẹ đến các lớp giáo lý của bà. Mọi người trong lớp rất cảm mến tâm hồn vui tươi và quảng đại của cậu. Họ nói với mẹ cậu rằng, Carlo quả là một người đặc biệt; chắc chắn Thiên Chúa phải có một kế hoạch quan trọng cho cậu bé. Linh mục chánh xứ, sau khi gặp gỡ Carlo, đã quyết định cho cậu chịu rước lễ lần đầu khi cậu vừa tròn bảy tuổi. Từ đó trở đi, Carlo thường xuyên tham dự thánh lễ và cầu nguyện hằng ngày với chuỗi mân côi. Carlo được nhận vào học tại một trường Dòng Tên. Mặc dù rất thông minh, nhưng cậu không bao giờ để bạn bè phải ghanh tị, vì cậu có lối suy nghĩ tích cực và hài hước; đồng thời luôn cố gắng giúp đỡ mọi người. Từ nhỏ, cậu bé Carlo đã rất say mê công nghệ. Khi ấy, mẹ cậu đã mua những cuốn sách của bậc đại học và bắt đầu dạy cậu lập trình. Chỉ mới 9 tuổi, cậu bé đã có thể viết những ứng dụng đơn giản trên máy tính. Sau đó, cậu còn học thêm về thiết kế và dàn dựng phim hoạt hình.

Carlo đã sống một cuộc đời bình thường như bao thiếu niên khác ở thế kỉ 21. Cậu luôn mỉm cười và khôi hài với bạn bè, thậm chí còn làm những thước phim ngắn về họ, hoặc cùng nhau  chơi những trò chơi điện tử. Đôi khi cậu nói nhiều trong lớp, và đôi lúc cũng còn say mê ăn uống. Tuy nhiên cậu nhận thức được những điểm yếu của mình và luôn nỗ lực khắc phục chúng. Cậu thường xuyên đi xưng tội, ghi nhật ký hằng ngày để phản tỉnh về những hành vi của mình và để cải thiện bản thân. Cậu đã từng nói, bạn có thể thắng hàng ngàn trận chiến thì tại sao bạn không thể chiến thắng những đam mê hư hỏng của mình. Cuộc chiến thực sự nằm trong chính mỗi người. Carlo luôn ý thức về nỗi thống khổ của tha nhân. Bằng tài ăn nói tế nhị và chân thành, cậu thường an ủi bạn bè và khích lệ họ phấn đấu để sống tốt hơn. Cậu chia sẻ rằng, bản thân luôn cố gắng sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Chúa Giê-su là ưu tiên hàng đầu của cậu, và nhờ đó, cậu có một tâm hồn trong sáng và đầy yêu thương. Tất cả những ai tiếp xúc với cậu đều cảm nhận được điều này; và rất nhiều người trong số đó đã được biến đổi nhờ lối sống và nhân đức của cậu. Ngoài đời sống cầu nguyện, Carlo và mẹ còn tình nguyện mang đồ ăn và chăn màn cho những người vô gia cư trên các đường phố của Milan. Cùng với bạn bè, cậu luôn tích cực tham gia các hoạt động và chương trình của giáo xứ. Carlo lãnh nhận bí tích thêm sức năm 11 tuổi, và sau đó bắt đầu dạy giáo lý trong giáo xứ của mình. Cậu nhận thấy nhiều trẻ em khó tiếp thu giáo lý chỉ vì cha mẹ chúng chưa bao giờ đưa chúng tới nhà thờ.

Carlo từng nói, “Bí tích Thánh Thể là con đường đưa tôi về thiên đàng.” Cậu tin rằng nếu mọi người ý thức sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, cùng những ơn huệ cao quý mà họ lãnh nhận từ đó, cuộc sống của họ rồi sẽ được biến đổi. Ngay sau đó, cậu đã bắt đầu một dự án lớn trong đời mình, đó là tạo ra một trang web để trình bày tất cả các phép lạ Thánh Thể trên thế giới. Cậu đã đi đến nhiều địa điểm xảy ra phép lạ, chụp ảnh và lấy tư liệu để đăng lên website. Cậu tạo ra những bài trình bày về phép lạ, và cho phép tải xuống từ trang web của mình. Cậu chia sẻ rằng, chúng ta càng lãnh nhận nhiều Mình Thánh Chúa thì chúng ta càng trở nên giống Chúa Giê-su, để rồi được cảm nếm thiên đàng ngay tại thế này. Cậu tin rằng các bí tích là nguồn mạch thương xót giúp chúng ta có đủ sức để mang lấy những đau khổ của đời mình. Carlo luôn ý thức về việc không lãng phí thời gian. Mọi người xung quanh thường hỏi cậu muốn làm gì khi lớn lên. Cậu thường trả lời rằng, ai có thể biết được ngoài Chúa… hoặc…. gần gũi với Chúa Giê-su, đó là kế hoạch của đời tôi. Gần như cậu có một linh cảm rằng cậu sẽ không sống lâu trên cõi thế này. Carlo thường nói, “mọi người được sinh ra là bản gốc, nhưng nhiều người chết như bản sao.” Có thể nói, Carlo hướng tới mục tiêu sống trọn vẹn cho tha nhân thay vì chỉ lo cho bản thân mình.

Năm 15 tuổi, rất nhiều bạn học của cậu bị mắc bệnh cúm. Cậu cũng cảm thấy đau yếu trong người, nhưng chỉ nghĩ rằng mình cũng bị giống như các bạn. Tuy nhiên khi bệnh tình của Carlo không thuyên giảm, bố mẹ đã đưa cậu đến bệnh viện để thăm khám. Cậu được chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu. Trong thời gian điều trị, dù rất đau đớn và mệt mỏi nhưng Carlo vẫn luôn nghĩ đến những người đang chăm sóc cho mình: các bác sĩ, y tá, và cả cha mẹ cậu. Cậu cũng sẵn sàng đón nhận cái chết đang đến rất gần. Cậu nói với mẹ: “Mẹ ơi ! Con muốn rời khỏi bệnh viện này nhưng con biết mình sẽ không làm được như vậy khi con còn đang sống đây. Mẹ thấy không, dầu sao con cũng đang ở với Chúa. Con được chết trong hạnh phúc bởi vì con đã không lãng phí đời mình, lãng phí thời gian vào những điều không đẹp lòng Chúa.” Cậu tiếp tục mỉm cười và cố gắng không phàn nàn về những cơn đau đang hành hạ bản thân. Cậu đã dâng những đau khổ của mình để cầu nguyện cho Đức Thánh Cha và Giáo Hội. Một tuần sau khi được chẩn đoán bệnh, vào ngày 12 tháng 10 năm 2006, vị thánh trẻ Carlo đã nhắm mắt chào cuộc đời để trở về nhà Cha trên trời.

Rất nhiều người tham dự đám tang của cậu, cả người thân quen lẫn người xa lạ. Họ đứng kín cả trong và ngoài nhà thờ, xúc động khi lắng nghe câu chuyện cuộc đời của Carlo. Đời sống nhân đức của cậu đã được nhiều người chú ý, và họ bắt đầu cầu xin lời chuyển cầu của cậu. Mẹ Carlo đã nhận được rất nhiều lời chứng của những người được ơn hoán cải qua Carlo. Khi còn sống, Carlo đã từng nói, mục tiêu của chúng ta là cõi vĩnh hằng chứ không phải đời tạm này; mà thiên đàng mới là quê hương sau cùng của chúng ta. Chúng ta luôn được chờ đón trên nước trời. Bốn năm sau, vào đúng ngày mất của cậu, mẹ cậu đã sinh ra một cặp song sinh ở tuổi 44, như dấu hiệu báo trước rằng cậu đã về tới quê hương trên trời. Carlo Acutis được đức thánh cha Phanxico phong chân phước vào ngày 10 tháng 10 năm 2020.

Chúng ta hôm nay mừng kính trọng thể Các Thánh Nam Nữ ở trên Trời. Có thể nói, hôm nay là ngày hội lớn, ngày vui mừng của mọi thành phần con cái trong đại gia đình Hội Thánh. Mừng kính Các Thánh, là mừng kính những người đang sống sự sống của Thiên Chúa, những vị đang hưởng phúc vinh quang tràn đầy trước tòa cao sang của Chúa Ba Ngôi trên thiên đàng.

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 222
  • Page 223
  • Page 224
  • …
  • Page 343
  • Next page
Bài viết mới nhất
Phụ nữ Công giáo trẻ mang đức tin vào cuộc sống hàng ngày trực tuyến
09/05/2026
‘Mẹ tôi là Why’ của tôi: Mối liên kết không thể phá vỡ của Fernando Mendoza với mẹ và trận chiến của bà với MS
09/05/2026
Đức Giáo Hoàng Leo XIV Thực Hiện Cuộc Hành Hương Thánh Mẫu Nhân Kỷ Niệm 1 Năm Làm Giáo Hoàng
09/05/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.