2021
Mẹ Thiên Chúa – Mẹ chúng ta
Tháng 1 năm 2022
1.1.2022 Đức Maria Mẹ Thiên Chúa
Ds 6:22-27; Gl 4:4-7; Tv 67:2-3,5,6,8; Lc 2:16-21
Mẹ Thiên Chúa – Mẹ chúng ta
Thiên Chúa không muốn dựng nên thân xác thần hiện nào khác, nhưng dùng chính thân xác từ trong loài người để cứu độ loài người. Ví như muốn cứu người ăn mày có hai cách: một là cho tiền, gạo để ăn chơi nhàn rỗi, hai là dạy cho họ có công ăn việc làm để họ dùng chính khả năng họ làm ăn. Cách thứ hai rất khó nhưng chắc chắn có giá trị lâu dài và giá trị tự do hưởng ứng của họ. Cũng thế, Thiên Chúa đã dùng chính khả năng con người trong Đức Mẹ hợp tác với Chúa để cứu loài người.
Tước hiệu Đức Maria Mẹ Thiên Chúa là một tước hiệu đã có từ lâu đời trong Giáo Hội. Đây là một tước hiệu xứng hợp ơn mọi tước hiệu khi nói về Đức Trinh Nữ Maria.
Vào thế kỷ V, Nestôriô đã nổi lên chống đối tước hiệu Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria. Theo Nestôriô, chỉ nên gọi Maria là Mẹ của Đức Giêsu Kitô, chứ không được gọi là Mẹ Thiên Chúa. Một cuộc xung đột lớn đã xảy ra trong Giáo Hội xoay quanh việc Ngôi Hai nhập thể. Thế nên, vào năm 431, Hội Thánh đã triệu tập Công đồng Ephêsô dưới sự chủ toạ của thánh Cyrillô, các nghị phụ trong công đồng này đã tuyên bố cất chức Nestôriô và đánh đổ lạc thuyết của ông ta. Công đồng Ephêsô đã định tín Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa vì thực sự Mẹ đã sinh ra Con-Thiên-Chúa-làm-người.
Bắt đầu từ công đồng Ephêsô tước hiệu Maria Mẹ Thiên Chúa đã trở thành tước hiệu chính thức của Đức Trinh Nữ Maria. Đây là tước hiệu trổi vượt trên mọi tước hiệu mà Giáo Hội đã ca tụng và tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria. Thánh công đồng Vaticanô II trong Hiến chế Tín lý về Hội Thánh đã viết: “Từ những thời xa xưa, Đức Trinh Nữ đã được tôn kính dưới tước hiệu là Mẹ Thiên Chúa, và các tín hữu đã khẩn cầu cùng ẩn náu dưới sự che chở của Người trong mọi cơn gian nan khốn khố”. Đức Giáo Hoàng Piô XI đã viết khi lập thánh lễ kính trọng thể Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa ngày 11.10 nhân dịp kỷ niệm 1500 năm công đồng Ephêsô vào năm 1931: “Tín điều Mẹ Thiên Chúa là một mối nước mầu nhiệm vô tận, đã tuôn ra mọi đặc ân cho Đức Mẹ và nâng Người lên một địa vị cao sang tuyệt vời bên Thiên Chúa”.
Hôm nay, Giáo Hội dành ngày đầu năm dương lịch để cầu nguyện cho thế giới hoà bình trùng vào ngày kính trọng thể Đức Maria Mẹ Thiên Chúa như lời Đức Thánh Cha Phaolô VI đã viết trong tông huấn Marialis Cultus, khi người dời thánh lễ kính trọng thể Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa vào ngày 01.01 mỗi năm như sau: “Vì sự trùng hợp tốt đẹp giữa ngày 01 tháng Giêng với ngày thứ tám sau lễ Giáng Sinh mà chúng tôi đã đặt ngày đó là ngày thế giới hoà bình, mà thế giới mỗi ngày càng hưởng ứng thêm, và thành quả của hoà bình đã phát sinh trong lòng nhiều người”.
Lời Chúa trong bài Tin Mừng mời gọi ta trở lại chiêm ngắm cảnh hang Bê-lem, một cảnh tượng quá đơn sơ nhưng có điều gì đó cần phải được khám phá. Trong suốt những ngày này, Maria đã chẳng chỉ suy đi nghĩ lại trong lòng các điều đó là gì? “Đến nơi, các mục đồng gặp bà Maria, ông Giu-se, cùng với Hài nhi đặt nằm trong máng cỏ”. Ta nhận ra cái diễm phúc lớn hơn hết của con người được cái đặc ân cưu mang trong lòng dạ chín tháng, sinh hạ, rồi ôm ẵm trên tay, cho bú mớm và nuôi dưỡng Hài Nhị nhỏ bé này chính là được trở thành nhân vật gần gũi, được chạm tới, được chiêm ngắm trực diện hơn ai hết một Thiên Chúa làm người để cứu độ, một Thiên Chúa đang tỏ hiện lòng từ bi thương xót của Ngài cách quá cụ thể và độc đáo. Không trách gì mà Maria đã “hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng”.
Phải chăng khi nói ‘nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa’, Đức Giêsu đã muốn ám chỉ điều này? Lời Thiên Chúa chắc hẳn không phải chỉ là một vài giáo điều luân lý hay một học thuyết cao siêu nào đó (như giới luật mến Chúa yêu người chẳng hạn), mà phải là điều mà, qua sự hiện diện trần thế trong hình hài một trẻ sơ sinh cũng như qua cái chết thập giá, Ngài đã và đang không ngừng nói lên: Thiên Chúa yêu thương con người! Rõ ràng là Maria đang ‘nghe’ điều này qua các diễn biến tuần tự xảy ra tại Bê-lem, và nghe cách chăm chú với tất cả cõi lòng của một phụ nữ làm mẹ, nghe với tất cả tâm trí của một nữ tì khiêm hạ, để khi có dịp sẽ cất lên thành bài ca: “Thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa , Đấng cứu độ tôi… Người đoái thương nhìn tới phận nữ tỳ hèn mọn…” (Lc 1, 46-48)
Và Maria cũng đang ‘tuân giữ’, qua việc đón nhận cách trọn vẹn và tham gia cách tích cực, việc Thiên Chúa tỏ hiện lòng thương xót cứu độ của Ngài. Đón nhận nào sâu xa và trọn vẹn cho bằng với trọn cả tâm trì và cõi lòng: tâm trí Maria đã nhảy mừng và lòng dạ Maria đã cưu mang; và có tham gia nào thực tế cho bằng người mẹ đã cưu mang để đem tình thương cứu độ đó trao ban lại cho toàn thể nhân loại? Maria đã làm được điều đó và làm cách xuất sắc hơn hết thảy mọi người trong tư thế một người mẹ. Đức Giêsu có lẽ đã ám chỉ điều này khi Người lên tiếng: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?… Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi” (Mc 3, 31-35). Được làm Mẹ Thiên Chúa sướng và hạnh phúc thật, nhưng với Giêsu và Maria, đó không phải là một địa vị, một đặc ân, nhưng là một tư thế trước Tin Mừng cứu độ. Và hình như Đức Giêsu cũng muốn mỗi người chúng ta tham gia vào cái ‘vinh dự’ đó thì phải, đơn giản là vì mỗi Kitô hữu đều phải có một tư thế của riêng của mình trước Tin Mừng cứu độ: mỗi người đều phải biết ‘nghe và tuân giữ’ Lời Cứu Độ của lòng thương xót theo cách thức của mình.
Mừng lễ Mẹ hôm nay, với trọn niềm tin tưởng, mến yêu, chúng ta hãy phó thác cho Mẹ thế giới này, đất nước ta, gia đình ta. Hãy để Mẹ hiện diện để yêu thương, chăm sóc và dẫn dắt chúng ta sống theo ý Chúa. Hãy hết lòng yêu Mẹ bằng tình con thảo hiếu!
Nhờ Mẹ cầu bầu, xin cho cuộc đời mỗi nguời chúng ta được đổ đầy bình an của Chúa trong năm mới này, để chúng ta cũng trở nên những người xây đắp an bình cho gia đình, cho mọi người bằng đời sống tin yêu phó thác vào Chúa và quên mình phục vụ tha nhân như Mẹ. Ước gì chúng ta không chỉ thành khẩn thưa lên với Mẹ bằng lời, mà bằng trọn cả con tim và cuộc sống chúng ta: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con, là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.”
2021
Thiên Chúa làm người để con người làm con Thiên Chúa
31 28 Tr Thứ Sáu. Ngày thứ bảy trong Tuần Bát Nhật Giáng Sinh.
(Tr) Thánh Xin-vet-tê I (Sylvester I), Giáo hoàng.
Ga 1, 1-18
Thiên Chúa làm người để con người làm con Thiên Chúa
Lúc trưởng thành, thánh nhân đã có lòng rộng rãi cứu giúp mọi người, nhất là những người nghèo khổ, bệnh tật, khách đi đường. Nhà ngài là nơi trú ngụ của những người Công giáo ngoại kiều; ngài chăm sóc chu đáo, lo cho họ ăn uống nghỉ ngơi vì lòng kính mến Chúa. Thánh nhân thực hành đúng theo Lời Chúa phán:
“Ta đói, các ngươi đã cho ăn, Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã chăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã viếng thăm” (Mt. 25, 35-36).
Một hôm, thánh nhân gặp nhà truyền giáo Ti-mô-tê thành An-ti-ốt. Ngài rước vào nhà nuôi dưỡng và giúp đỡ mọi phương tiện cho ông giảng đạo. Và khi Ti-mô-tê bị nhà vua bắt giết vì rao giảng đạo Chúa, đang đêm ngài lén lấy xác ông ta về chôn cất tử tế.
Chính nhờ lòng đạo đức, và đức bác ái của thánh nhân mà Đức Giáo Hoàng Men-si-át đã phong chức phó tế cho ngài. Và năm 314, khi Đức Men-si-át băng hà, ngài được hàng giáo sĩ và giáo dân chọn lên kế vị. Ngài làm Giáo Hoàng được 21 năm. Trong thời gian nầy, ngài làm rất nhiều việc giúp ích Hội thánh.
Tương truyền Hoàng đế Rô-ma lúc đó là Công-tăn-tin còn ngoại đạo, ông không thích gì đạo Công giáo, ông ta mắc bệnh phong hủi. Thánh nhân đã chữa ông ta khỏi bệnh, nên xin vào đạo. Ngài đã dạy dỗ và Rửa tội cho nhà vua. Từ đó, ông ta có nhiều thiện cảm với thánh nhân và dành mọi sự dễ dàng cho Hội thánh. Cuộc trở lại đạo của nhà vua kéo thêm nhiều cuộc trở lại khác trong triều đình cũng như ngoài dân gian. Đạo Chúa được rao truyền khắp nơi, các thánh đường được xây dựng thêm; trong số đó có đại thánh đường Thánh Gio-an, Thánh Phê-rô và Thánh Phao-lô.
Ngoài ra, trong triều đại thánh nhân làm Giáo Hoàng, còn một biến cố đặc biệt quan trọng nữa là đại hội Công đồng chung Ni-xê năm 325. Ở đại hội nầy, ngài cùng với hội đồng Giám mục đã kết án lạc thuyết A-ri-ô, và định tín rõ ràng thiên tính của Chúa Giê-su, Người là Thiên Chúa làm người: Người là Thiên Chúa thật và là người thật như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi.
Như thế, nhờ thánh nhân mà các lạc giáo phải lùi bước. Hội thánh Chúa được bình an phồn thịnh. Chính Đức Êu-xi-ni-ô, Giám mục Xê-sa-rê, đã ca tụng thời gian hưng thịnh của Hội thánh dưới triều đại của Ngài:
“Ngày quang minh trong sáng, không vẩn chút mây, đã chiếu giải ánh sáng bởi trời xuống trên mọi giáo đoàn của Đức Ki-tô rải rác khắp địa cầu. Cả những kẻ khác đạo với chúng ta, mặc dầu không được hưởng tất cả như chúng ta, nhưng chắc chắn cũng được tiếp nhận phần nào những ơn lành mà Thiên Chúa ban cho chúng ta”.
“Nhất là chúng ta, những kẻ đã đặt mọi hy vọng vào Đức Ki-tô, chúng ta được vui mầng khôn tả; một nỗi hoan lạc thiêng liêng đã chiếu giải trên khuôn mặt mọi người, vì những nơi mà ít lâu trước đây, bị lòng độc dữ của những kẻ tàn bạo phá đổ, thì chúng ta thấy như đang sống lại giữa cơn đổ nát lâu dài và tàn tệ, các đền thờ lại được xây lên thật cao và trang trọng huy hoàng, khác xa những nhà đã bị phá hủy trước đây”.
“Quang cảnh chúng ta đang chờ đã được thực hiện, nghĩa là trong mỗi thành lại có những buổi lễ cung hiến và thánh hiến những nguyện đường mới được xây cất”.
“Trong những cuộc lễ như thế, có các Giám mục sum họp, có những khách hành hương từ ngoại quốc, từ những nơi thật xa xôi tuôn đến, có các dân, các nước tỏ tình tương thân tương ái, vì các chi thể thân mình Đức Ki-tô cũng hòa hợp trong một đoàn thể”.
“Một sức mạnh Thánh Thần đã chảy tràn trong mọi chi thể; mọi người một lòng một niềm tin nhiệt thành, một cung hát ngợi khen Thiên Chúa…”
“Sau hết, mọi lớp tuổi đông đúc, cả nam lẫn nữ, đã hết lòng cầu nguyện tạ ơn, và hết sức hoan hỷ thờ lạy Thiên Chúa, Đấng ban mọi ơn lành”.
Thánh nhân qua đời ngày 31 tháng 12 năm 335.
“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” đó là lời xác quyết của thánh sử Gioan, là lời xác quyết của các tông đồ, của Giáo Hội và cũng là lời xác tín của mỗi người Kitô hữu chúng ta. Ý nghĩa của câu Lời Chúa này diễn tả mầu nhiệm nhập thể, một Ngôi vị của Thiên Chúa đã được sinh ra và ở giữa chúng ta, để nhờ Người chúng ta trở nên con cái của Thiên Chúa và hưởng trọn lời hứa cứu độ.
Nhìn ngắm Hài Nhi Giêsu dưới dáng dấp của một Hài Nhi đơn sơ nằm trong máng cỏ, quả là một mầu nhiệm cao cả tuyệt vời của đức tin. Sự ra đời của Chúa Giêsu đánh dấu “thời viên mãn” đã tới. Vì tội lỗi của ông bà nguyên tổ, con người mất đi sự hiệp thông với Thiên Chúa. Nhưng nay Thiên Chúa đầy lòng từ bi đã xót thương đến sự buồn tủi của con người mà sai Chúa Con hằng có đời đời, sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria, làm người để cứu chuộc chúng ta khỏi nô lệ tội lỗi.
Bằng cách sử dụng các công thức có chiều kích thần học sâu xa, thánh Tông đồ Gioan đã giải thích cho chúng ta : “Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1, 1). Gioan gọi ngôi vị thứ hai trong Chúa Ba Ngôi là “Ngôi Lời”, Con Thiên Chúa. Ngài còn thêm: “Và Ngôi Lời đã nhập thể làm người, và ở giữa chúng ta” (Ga 1, 14). Ngôi Lời đã hóa thành xác thịt nơi cung lòng của Mẹ. Đấng vĩnh cửu đã bước vào thời gian. Thiên Chúa đã đến cắm lều và cư ngụ giữa con người.
Ngay từ câu đầu tiên của Tin Mừng thánh Gioan đã khẳng định căn tính và nguồn gốc của Ngôi Lời (Logos). “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Lúc khởi đầu là một kiểu nói gợi lên sự khởi đầu tuyệt đối theo sách Sáng thế: “Lúc khởi đầu Thiên Chúa tạo dựng trời và đất”. Điều này cho thấy nguồn gốc của Đức Giêsu không phải bởi thụ tạo mà bởi Thiên Chúa. Ngôi Lời ấy là Thiên Chúa thật, Đấng được sinh ra mà không phải được tạo thành. Hay nói cách khác, Ngôi Lời đã có từ trước khi tạo dựng, nên Người hiện hữu mà không phải do tạo dựng.
Thánh Gioan còn khẳng định thêm: “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại”.
Chính Ngôi Lời ấy đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta, như Đức Chúa hứa qua lời ngôn sứ I-sai-a trong Cựu Ước “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai và đặt tên là Em-ma-nu-en”. Ngài đã đến thế gian từ cung lòng Thiên Chúa Cha, và từ nay sự hiện diện của Ngôi Lời Nhập Thể là sự hiện diện của Thiên Chúa giữa nhân loại. Quả thế, “Ngôi Lời là Thiên Chúa” (1,1c) “đã trở nên xác phàm” (1, 14) và sống thân phận làm người với sự mong manh, lệ thuộc vào không gian và thời gian. Đó là một con người đã được sinh ra và lớn lên trong một gia đình, một dân tộc và một nền văn hóa riêng như mỗi người chúng ta. Đó là một vị Thiên Chúa đã xuống thế mang thân phận làm người, để đưa con người lên với Thiên Chúa.
Mầu nhiệm nhập thể ấy thật thâm sâu, Ngôi Lời là nguồn Ân Sủng (Đức Giêsu) tái tạo sự sống cho nhân loại, một “mắt xích” nối kết con người với Thiên Chúa và con người với con người. Nhờ đó, trong sự thông hiệp chúng ta được nên một trong Đức Kitô và nên một trong Thiên Chúa. Như vậy, Ngôi Lời nhập thể là niềm vui, là niềm hạnh phúc viên mãn mà con người luôn khát khao. Chúng ta kỷ niệm ngày Chúa Giáng Sinh cũng với tâm tình như vậy, một niềm vui rộn rã vì Hài Nhi Giêsu đã và đang ở giữa chúng ta.
Ước gì trong cuộc sống, chúng ta luôn ý thức sự hiện diện của Thiên Chúa, nhất là mùa giáng sinh này. Lạy Ngôi Lời nhập thể, chúng con chúc tụng ngợi khen và tạ ơn Ngài vì tình yêu huyền nhiệm Ngài dành cho nhân thế. Xin cho mỗi người chúng con luôn được ân sủng và niềm vui của Ngài chiếu tỏa, để trong sự cuộc sống chúng con biết mang niềm vui ấy đến cho người khác. Không phải là niềm vui hời hợt của những cuộc chung vui mừng lễ, nhưng là niềm vui có Chúa nơi tâm hồn
2021
CHỌN CHÚA LÀ GIA NGHIỆP
30 27 Tr Thứ Năm. Ngày thứ sáu trong Tuần Bát Nhật Giáng Sinh.
lC 2, 36-40
CHỌN CHÚA LÀ GIA NGHIỆP
Chúng ta vừa mừng kính trọng thể Mầu Nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người. Mầu Nhiệm này nói lên tình yêu của Thiên Chúa giành cho nhân loại qua Người Con yêu dấu của Người là Chúa Giêsu Kitô, vì nhờ Người, mà thế gian được sống và được cứu độ.
Cuộc sống con người được đan dệt bằng những mối tương quan gặp gỡ. Có cuộc gặp gỡ tình cờ bất chợt, người đến rồi đi. Có cuộc gặp gỡ như đã hẹn hò từ kiếp trước tạo nên tình thân ái. Đó là cuộc gặp gỡ định mệnh khiến người ta còn ghi nhớ đến ngàn đời sau.
Tin mừng hôm nay thuật lại cuộc gặp gỡ ân phúc giữa trẻ Giêsu và bà Anna, một nữ ngôn sứ thuộc chi tộc A-sê. Tám ngày sau khi sinh trẻ Giêsu, bà Maria và ông Giuse đưa con mình lên đền thờ Giêrusalem để tiến dâng cho Thiên Chúa theo luật Môsê.
Đoạn Tin mừng này trình bày về hai nghi thức truyền thống xa xưa của Do thái đó là: nghi thức thanh tẩy cho người phụ nữ sau khi sinh con. Khi mang thai và sinh con, người phụ nữ bị xem là ô uế nên phải thanh tẩy sạch sẽ mới được giao tiếp với người khác. Nghi thức thứ hai quy chiếu theo luật Môsê “Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa” (Xh 13, 2.12.15).
Tin Mừng hôm nay cũng được thánh sử Luca đề cao đời sống của nữ ngôn sứ tên là Anna. Bà tuy đã già, nhưng là một mẫu người Israel lý tưởng. Bà đã nhận ra giá trị của món quà mà Thiên Chúa trao tặng cho nhân loại, nên “bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa”. Theo tập tục của người Do Thái, người phụ nữ không thể ở lại trong khuôn viên Đền Thờ vào ban đêm, nhưng tác giả Tin Mừng thứ ba muốn nhấn mạnh đến sự chuyên cần trong việc phụng tự và cầu nguyện của người Do Thái thời đó, và còn cho rằng bà Anna có những đức tính tốt lành đó. Vì thế, cả cuộc đời còn lại của bà, là gắn bó mật thiết với Chúa vì bà đã chọn Chúa.
Trong ngày thanh tẩy người mẹ và tiến dâng con trẻ, gia đình bà Maria và ông Giuse đã có cuộc gặp gỡ thân thiện với hai vị ngôn sứ cao niên là ông Simêon và bà Anna. Cuộc gặp gỡ có vẻ như sự tình cờ bất chợt nhưng với thánh sử Luca thì đây là biến cố vô cùng quan trọng nói lên cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa với dân của Người.
Vốn là người công chính và sùng đạo, ông Simêon được ơn linh hứng sẽ gặp Đấng Kitô trước khi chết. Dù đã ở độ tuổi gần đất xa trời, trước khi nhắm mắtxuôi tay, ông Simêon cảm thấy không yên lòng nếu chưa nhìn thấy Đấng Cứu Độ. Được Thần Khí thúc đẩy, ông Simêon náo nức lên đền thờ để cầu nguyện và khiêm cung chờ đợi. Niềm vui vỡ òa khi ông được bồng ẵm Hài Nhi Giêsu trên tay. Bằng đôi mắt đức tin, ông Simêon đã nhận ra Hài Nhi Giêsu chính là ánh sáng soi đường cho dân ngoại và là vinh quang của Israel.
Ngoài ông Simêon còn có bà Anna cũng là một bậc đạo hạnh. Xuất giá lúc còn trẻ, bảy năm sau bà Anna trở thành góa phụ nhưng vẫn giữ lòng chung thủy với chồng. Bà thường xuyên giữ chay và hàng ngày chìm sâu trong cầu nguyện nơi đền thờGiêrusalem. Bà Anna đã vượt qua những điều luật khắt khe của Do thái không cho phụ nữ lưu lại trong đền thờ, nhờ thế bà đã gặp được Đấng Cứu Độ. Bà mạnh dạn nói về Hài Nhi cho hết những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giêrusalem. Hài Nhi Giêsu chính là Đấng Mêsia, Người sẽ nối lại mối thân tình giữa Thiên Chúa và loài người. Mối dây hôn phối với người chồng ở trần gian bị cắt đứt, bà Anna lại tìm được mối thông hiệp thiêng liêng với Thiên Chúa.
Sau cuộc gặp gỡ thân tình giữa Hài Nhi Giêsu, cả ông Simêon và bà Anna đều đã được chứng nghiệm về Đấng Cứu Độ. Ông Simêon đang đối diện với sự già nua của tuổi tác, những giới hạn của phận người, còn bà Anna chịu sự chia ly xa cách cái chết của người chồng. Thế nhưng sau khi gặp Hài Nhi Giêsu, họ đã có một niềm vui tròn đầy viên mãn và cuộc sống mới tươi đẹp được mở ra thay cho những gì là già nua chết chóc. Cuộc gặp gỡ đã lưu lại nhiều kỷ niệm, niềm vui linh thánh chan hòa khiến họ cất cao tiếng hát chúc tụng tình thương Thiên Chúa. Còn với gia đình Nagiaret, sau khi làm xong mọi việc như Luật Chúa truyền, họ trở về quê hương bắt đầu cuộc sống đầy ân nghĩa cùng Thiên Chúa.
Nữ ngôn sứ Anna là hình ảnh của nhân loại mong chờ Đấng Cứu Độ. Cuộc gặp gỡ giữa Hài Nhi Giêsu và bà Anna cho chúng ta xác tín một điều: chỉ những ai có tâm hồn đơn sơ bé nhỏ, thành kính chay tịnh và âm thầm cầu nguyện mới gặp gỡ được Thiên Chúa. Ngược lại những ai để lòng mình lấp đầy với những sự thế gian như tiền bạc, ham muốn dục vọng chức quyền, người đó chỉ thấy bóng tối của dối trá và chết chóc. Khi sống thân tình với Thiên Chúa trong cầu nguyện, tâm hồn chúng ta sẽ được bình an hạnh phúc. Cũng vậy, khi sống yêu thương hòa nhã với anh em đồng loại cũng là lúc chúng ta gặp gỡ được Thiên Chúa.
Chúa Giêsu đã sinh ra trong hoàn cảnh khó nghèo, chuồng bò là nhà, máng súc vật là nôi và cỏ rơm là nệm. Đó không phải do số mệnh nhưng vì một tình yêu thẳm sâu. Người đã không chọn sinh ra trong cảnh giàu sang phú quý, trong nhung lụa ngọc ngà hay trong đền đài vua chúa. Người chọn cảnh nghèo để nên gương sáng cho chúng ta.Con Thiên Chúa đã muốn hòa mình với những người cùng khổ để thông chia mọi buồn vui của kiếp người. Chúa Giêsu đặc biệt yêu thương những người nghèo, người già yếu, người cô đơn góa bụa. Vì thế những ai tự mãn cho mình là người khôn ngoan giàu có, người đó sẽ không nhận ra tình thương của Thiên Chúa.
Hài Nhi Giêsu chính là Ánh Sáng xua tan bóng tối của đau khổ, đưa nhân loại thoát mọi u mê lầm lạc của tội lỗi và sự chết. Người cất đi cái ách nặng và gông cùm đang đè lên cổ loài người. Người chính là món quà tình yêu được Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta, tên Người là Cố vấn Kỳ Diệu, là Thần Linh dũng mãnh, là Người Cha muôn thuở và là ông Vua Thái Bình. Người đến khai mở một triều đại mới, đưa muôn dân nước về hưởng phần gia nghiệp của con cái Thiên Chúa.
Hài nhi Giêsu chính là ánh sáng của tình yêu, ánh sáng của niềm tin và hy vọng chiếu tỏa trên những ai có tâm hồn đơn sơ và khiêm tốn. Ước gì tình yêu của Đấng Cứu Thế ngự trị trong tâm hồn mọi người tín hữu, nơi mỗi gia đình, trong mọi quốc gia, mọi dân tộc. Ân phúc của Chúa Giáng Sinh cũng là mời gọi mỗi người chúng ta dâng lời cảm tạ hồng ân cứu thế, hăng say lên đường ra đi loan báo tin vui, tin bình an cứu độ để tình thương của Thiên Chúa lan tỏa khắp trần gian.
Chính khi chọn Chúa là tất cả đời mình, tâm hồn bà tràn ngập niềm vui, khiến cho bà quên cả thân phận góa bụa – già nua của mình để chỉ ngày đêm nghĩ đến việc thờ phượng và cảm tạ Thiên Chúa. Hơn thế nữa, khi có cơ hội được tiếp xúc với những người thành tâm thiện chí, nhất là những người từ thành Giêsuralem đến, bà không ngần ngại nói về “Hài Nhi cho những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc” (Lc 2, 38b).
Nữ ngôn sứ mà Tin Mừng thuật lại cho chúng ta hôm nay cũng là mẫu gương cho mỗi người chúng ta. Chúng ta hãy là những người khôn ngoan, chọn Chúa là phần gia nghiệp đời mình và để tâm tìm cách làm đẹp lòng Chúa. Nhờ đó, dù ở đâu, làm gì … chúng ta vẫn hướng về Chúa là món quà duy nhất Thiên Chúa Cha ban tặng chứ đừng hướng chiều về thế giới vật chất. Vì thánh Gioan nói: “mọi sự trong thế gian: như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian; mà thế gian đang qua đi cùng với dục vọng của nó. Còn ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì tồn tại mãi” (1 Ga 2, 16).
Xin Chúa cho chúng ta nhận ra giá trị của tình yêu mà chọn Chúa, biến tình yêu thành hiến lễ hy sinh trong đời sống kết hợp với Chúa, chay tịnh và cầu nguyện … chúng ta sẽ trở nên mẫu gương thánh thiện cho những người khác.
2021
VUI MỪNG VÌ ĐƯỢC GẶP CHÚA
29 26 Tr Thứ Tư. Ngày thứ năm trong Tuần Bát Nhật Giáng Sinh.
(Tr) Thánh Tô-ma Bec-ket (Thomas Becket), Giám mục, Tử đạo.
lC 2, 22-35
VUI MỪNG VÌ ĐƯỢC GẶP CHÚA
Là một người kiên quyết, dù có đôi lúc giao động nhưng sau đó biết rằng, không thể hòa giải với tội lỗi, ngài trở nên một giáo sĩ hăng say, bị tử đạo và được tuyên xưng là Thánh – đó là cuộc đời Thánh Tôma Becket, Tổng Giám Mục của Canterbury, bị giết ngay trong vương cung thánh đường của ngài vào ngày 29.12.1170.
Thánh Tôma sinh ở Luân Ðôn. Ngài theo học ở cả hai trường đại học Luân Ðôn và Ba lê. Sau cái chết của người cha, ngài bị khánh tận, Ðức Tổng Giám Mục Canterbury, là người đã từng sai ngài đến Rôma một vài lần, đã cấp dưỡng và cho ngài theo học giáo luật.
Trong khi làm tổng phó tế cho giáo phận Canterbury, vào lúc 36 tuổi, ngài được Vua Henry II, là bạn của ngài, chọn làm thủ tướng Anh, là nhân vật quyền thế thứ nhì trong nước, chỉ sau vua. Ngài nổi tiếng vì lối sống xa hoa và phung phí, nhưng khi Vua Henry chọn ngài làm giám mục chính tòa Canterbury, thì cuộc đời ngài thay đổi hoàn toàn. Ngài được thụ phong linh mục chỉ một ngày, trước khi được tấn phong giám mục. Và ngài quyết liệt thay đổi đời sống bằng sự khổ hạnh. Không bao lâu, ngài đụng độ với vua về vấn đề quyền lợi của Giáo Hội và hàng giáo sĩ.
Vua Henry nhất quyết nắm lấy quyền điều khiển Giáo Hội. Có khi, vì cố giữ hòa khí, Ðức Tổng Tôma phải nhượng bộ. Ngài tạm thời chấp nhận Hiến Chương Clarendon, không cho phép giáo sĩ được xét xử bởi một toà án của Giáo Hội, và ngăn cản họ không được trực tiếp kháng án lên Rôma. Nhưng sau cùng, Ðức Tổng Giám Mục Tôma tẩy chay Hiến Chương này, ngài trốn sang Pháp và sống ở đó trong bảy năm. Khi trở về Anh, ngài biết mình sẽ bị chết. Vì ngài từ chối không miễn tội cho các giám mục được vua sủng ái, vua Henry đã tức giận kêu lên, “Không có ai đưa tên giáo sĩ rắc rối này khuất mắt ta hay sao?” Bốn hiệp sĩ đã thể hiện lời nguyện ước của vua, và đã hạ sát Ðức Tổng Giám Mục Tôma ngay trong vương cung thánh đường Canterbury.
Chỉ trong vòng ba năm sau, Ðức Tôma được phong Thánh, và ngôi mộ của ngài trở thành nơi hành hương. Chính Vua Henry II đã ăn năn sám hối tại ngôi mộ Thánh Tôma, nhưng người kế vị là Henry VIII đã chiếm đoạt ngôi mộ ấy, và tẩu tán các thánh tích của ngài. Tuy nhiên, Ðức Tôma Becket vẫn là một thánh nhân anh hùng trong lịch sử Giáo Hội cho đến ngày nay.
Đức Mẹ và Thánh Giuse đem Chúa Giêsu hài nhi lên đền thờ Giêrusalem để tiến dâng cho Thiên Chúa theo luật ông Môsê truyền dạy.
Trong dịp may hiếm có này, ông Simêon là người công chính và có lòng kính sợ Chúa; Ông đến đền thờ và gặp gỡ Chúa Giêsu; lòng ông vui mừng nhận ra hài nhi Giêsu là Chúa Cứu Thế; ông tạ ơn Chúa vì đã được bồng ẵm Chúa trên cánh tay của mình; Ông rất mãn nguyện và hạnh phúc, thốt lên:
“Lạy Chúa, bây giờ Chúa để cho tôi tớ Chúa đi bình an, theo như lời Chúa. Vì chính mắt con đã thấy ơn cứu độ mà Chúa đã sắm sẵn trước mặt muôn dân, là ánh sáng đã chiếu soi các lương dân, và vinh quang của Israel dân Chúa”.
Ông Simêon nói về Con Trẻ là Đấng cứu độ của muôn dân, là ánh sáng soi cho lương dân, và đặc biệt, Con Trẻ sẽ phải chịu nhiều đau khổ thử thách:
“Ðây trẻ này được đặt lên, khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp đổ hay được đứng dậy, và cũng để làm mục tiêu cho người ta chống đối.”
Chúa Giêsu là Đấng muôn dân trông đợi. Tiêu biểu cho lòng mong đợi của dân Israel chính là ông Simêon. Vì tin vào Con Trẻ là Đấng thiên sai và lòng ông hằng khao khát gặp Chúa Cứu Thế, nên ông đã gặp được Chúa, được bồng ẵm Chúa. Lòng ông hân hoan vui mừng.
Chúng ta đang trong những ngày bát nhật mừng Chúa Giáng Sinh. Chúng ta hãy đến hang đá chiêm ngắm Chúa Hài Nhi và gặp gỡ Ngài.
Chúa Giêsu là ánh sáng, là Đấng ban ơn cứu độ cho nhân loại. Để tất cả chúng ta đón nhận được ơn cứu độ của Chúa, chúng ta cần phải có đức tin mạnh mẽ.
Tin vào Chúa Cứu Thế, mỗi người chúng ta mới gặp gỡ được Ngài, và chúng ta sẽ vui mừng hân hoan, vì Ngài đã giáng sinh cho chúng ta, và tỏ bày tình thương của Ngài cho chúng ta. Qua Lời Chúa phán dạy, Chúa soi sáng cho chúng ta thánh ý của Ngài, chân lý của Tin Mừng và ơn cứu độ cho muôn dân. Qua bí tích Thánh Thể, Chúa trao ban sự sống của Ngài cho chúng ta.
Vì thế, chúng ta hãy vui mừng vì gặp được Chúa, đón nhận Chúa, yêu mến Chúa và sống sự sống của Ngài trao ban cho chúng ta.
Trong tâm tình đó, chúng ta hãy dâng lời cảm tạ tình thương của Thiên Chúa. Chúng ta hãy đến và thờ lạy Chúa Hài Nhi và kết hiệp với Ngài qua mầu nhiệm Thánh Thể mỗi ngày trong Thánh lễ Misa.
