2022
KHỞI ĐẦU SỨ VỤ CỦA CHÚA GIÊSU
7.1.2022
Thứ Sáu sau Lễ Hiển Linh
1 Ga 3:224; Tv 2:7-8,10-11; Mt 4:12-17,23-25
KHỞI ĐẦU SỨ VỤ CỦA CHÚA GIÊSU
Ta vừa tưng bừng mừng lễ Chúa Giáng Sinh và lễ Chúa Hiển Linh. Những lễ này gợi nhắc cho chúng ta nhớ rằng ánh sáng tình thương ơn cứu độ của Chúa đã chiếu tỏa trên khắp cõi nhân gian này.
Tin mừng theo Thánh Matthêu hôm nay miêu tả ngày đầu tiên Chúa Giêsu khởi sự sứ vụ loan báo Tin Mừng. Sau 30 năm sống âm thầm nơi làng quê Nagiarét, đúng lúc “thiên thời địa lợi”, Chúa Giêsu rời xa gia đình ra đi tung gieo hạt giống Nước trời.
Kinh Thánh cho biết, sau khi chuẩn bị chu đáo cho Chúa một con đường thẳng tắp, một mảnh đất phì nhiêu màu mỡ, ông Gioan đã lui vào bóng tối âm thầm để ánh sáng Giêsu chiếu tỏa cho hạt giống nứt mộng nảy một mầm sống. Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa đã được loan báo qua lời ngôn sứ Isaia “Này đất Dơvulun, và đất Náptali, hỡi con đường ven biển và vùng tả ngạn sông Giođan, hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại! Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”.
Dưới thời Chúa Giêsu, đất nước Do Thái bị cai trị bởi đế quốc Rôma, người dân phải sống kiếp nô lệ nên họ mất hết tự do. Hàng năm họ phải nộp cho Roma thuế nhà đất, thuế lợi tức, thậm chí thuế thân và nhiều loại thuế gián thu khác. Riêng người Do Thái hằng năm còn phải nộp thuế Đền Thờ và thuế thập phân.Về chính trị, Do Thái còn duy trì chế độ quân chủ nô lệ.Các nô lệ không có quyền gì về pháp lý và bị mua bán như một món hàng.
Từ thời Cựu Ước, dân Do Thái đã phải sống trong cảnh lưu đày suốt 40 năm dài ở Babylon, trước mắt họ là con đường dài thăm thẳm tối tăm. Vì thế họ hằng ấp ủ trong lòng khát vọng sớm được giải thoát, được trở về đoàn tụ nơi quê cha đất tổ. Đức Giêsu đã đến như một vị vua của dân tộc, mở cho dân một con đường sống tự do thênh thang. Người đã đến hoàn trọn lời các ngôn sứ loan báo. Từ đây ánh sáng cứu độ đã bừng lên xua tan bóng tối sự chết, cất đi cái ách nô lệ nặng nề tủi nhục.
Chúa Giêsu chọn Galilê – miền Bắc Do Thái là miền đất của dân ngoạinhư một trung tâm truyền giáo vì nơi đây có vai trò tôn giáo quan trọng, nơi có thành Caphacnaum, hơn nữa Chúa Giêsu đã lớn lên ở Nadaret cũng thuộc Galilê. Có thể nói Chúa Giêsu đã quen thuộc địa lý xã hội chính trị và tôn giáo tại Galilê.Bên cạnh đó, người dân vùng Galilê sống cởi mở, thích đón nhận những trào lưu tư tưởng mới nên rất thuận lợi cho việc truyền giáo. Điều đáng nói ở đây, Chúa Giêsu giảng dạy có uy quyền và thuyết phục hơn các kinh sư và thày khác bởi Người có phép lạ kèm theo.
Chúa Giêsu loan báo Nước trời “đến gần” qua các dấu hiệu và việc làm cụ thể đó là ma quỷ bị xua trừ, mọi người đau bệnh tật nguyền được chữa lành.Một viễn cảnh thái bình an vui đang mở ra trước mắt mọi người. Dân chúng từ miền Galilê, vùng Thập Tỉnh, thành Giêrusalem, miền Giuđê và vùng bên kia sông Giođan lũ lượt kéo đến đi theo Đức Giêsu.Ai nấy lắng nghe một cách chăm chú và sửng sốt bởi chưa bao giờ họ đượcnghe những điều huấn giáo mới mẻ và thuyết phục như vậy.
Chúa Giêsu đã có một khởi đầu mới “thuận buồm xuôi gió”.Người đã đến để thực hiện kế hoạch cứu độ mà Thiên Chúa Cha đã trao phó.Kế hoạch đó không gì khác ngoài việc yêu thương và giải thoát loài người khỏi ách nô lệ của tội lỗi và sự chết, đem đến cho họ niềm vui, sự an bình và nguồn hạnh phúc đích thực. Nhưng để có được hạnh phúc lớn lao ấy đòi hỏi mọi người phải sám hối. Như vậy sám hối chính là thái độ cần phải có để trở thành công dân Nước Trời.Sám hối chính là nhìn nhận những yếu đuối của mình để thêm tin tưởng vào tình thương Thiên Chúa.
Ta thấy Giáo hội mời gọi mỗi người chúng ta Tân Phúc-Âm-hóa” bằng việc làm “mới về lòng nhiệt thành, mới trong phương pháp, và mới trong cách diễn tả Lời Chúa”.Đó là nhìn nhận lại mối tương quan giữa bản thân chúng ta với Đức Giêsu Kitô, để mối tương quan ấy hướng dẫn toàn bộ đời sống chúng ta.Mới trong phương pháp là biết vận dụng những phương pháp thích hợpđể đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của thời đại về nhiều mặt, văn hóa, xã hội cũng như kỹ thuật.Mới trong cách diễn tả là cố gắng nghiên cứu và sử dụng những cách diễn tả phù hợp, để con người hôm nay có thể hiểu và lĩnh hội được sứ điệp Phúc Âm.
Hơn 2000 năm qua, Giáo hội đã lãnh nhận và tiếp tục sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu thế nhưng đâu đó trên thế giới vẫn còn “đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm” chưa nhìn thấy ánh sáng cứu độ, vẫn còn những vùng đất “Galilê” chưa đón nhận hạt giống đức tin. Ý thức được sự khẩn thiết này, ước gì mỗi kitô hữu biết quảng đại dấn thân nhiều hơn nữa trong việc loan báo Tin Mừng, đặc biệt canh tân đời sống đạo trong gia đình, trong giáo xứ để Lời Chúa được vang xa, lan rộng đến tận cùng thế giới.
Tin mừng hôm nay cũng có cùng một sứ điệp gợi nhắc cho chúng ta nhớ rằng các dân tộc trên thế giới đã lầm lũi bước đi trong bóng tối của khốn khổ, ù sầu thì nay Chúa đã tỏ mình, Chúa đã hiển linh, đã soi rọi ánh sáng tình thương ơn cứu độ của Ngài vào cả dân ngoại lẫn dân Israel vốn là dân riêng Thiên Chúa tuyển chọn.
Nhưng có một điều xem ra nghịch lý: Chúa đã tỏ mình, hiển linh rồi mà sao thế giới vẫn lầm lũi bước đi trong tăm tối của sự dữ, của hận thù và chia rẽ? Chúa đã chiếu rọi ánh sáng tình thương và quyền năng của Ngài vào chốn dương gian này rồi mà sao lòng chúng ta vẫn tăm tối trong yếu đuối, tội lỗi? Như vậy có lẽ nào chúng ta còn phải chờ đợi một Đấng Thiên Sai khác?
Thật ra, ta chẳng còn phải đợi Đấng Cứu Độ nào khác ngoài Đức Giêsu Kitô. Sở dĩ thế giới này và bản thân mỗi người chúng ta vẫn ngập ngụa trong bóng tối của tội lỗi và sự ác là vì chúng ta vẫn chưa ăn năn, hoán cải, thay đổi lại đời sống của mình để ánh sáng tình thương của Chúa được tỏ rạng. Bởi vậy, lời mời gọi của Chúa: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” vẫn là sứ điệp có tính thời sự không chỉ dành cho dân Chúa xưa kia mà còn dành cho mỗi người chúng ta ngày hôm nay và mãi mãi về sau.
2022
TRAO BAN NGỌC QUÝ NƯỚC TRỜI
5.1.2022 Thứ Tư
Thánh Gioan Neumann, Gm
1 Ga 3:11-21; Tv 100:1-2,3,4,5; Ga 1:43-51
TRAO BAN NGỌC QUÝ NƯỚC TRỜI
Thánh Gioan Neumann sinh trưởng ở Bohemia. Vào năm 1835, ngài trông đợi để được thụ phong linh mục nhưng đức giám mục sở tại quyết định không phong chức thêm. Thật khó để ngày nay chúng ta tưởng tượng rằng Bohemia dư thừa linh mục, nhưng thực sự là như vậy. Gioan viết thư cho các giám mục khắp Âu Châu, nhưng câu trả lời ở đâu đâu cũng giống nhau. Tin rằng mình có ơn thiên triệu nhưng mọi cơ hội dẫn đến sứ vụ ấy dường như đều đóng kín.
Không nản chí, và nhờ biết tiếng Anh khi làm việc trong xưởng thợ của người Anh, ngài viết thư cho các giám mục ở Mỹ Châu. Sau cùng, vị giám mục ở Nữu Ước đồng ý truyền chức linh mục cho ngài. Ðể theo tiếng Chúa gọi, ngài phải từ giã quê nhà vĩnh viễn và vượt đại dương ngàn trùng để đến một vùng đất thật mới mẻ và xa lạ.
Ở Nữu Ước, Cha Gioan là một trong 36 linh mục trông coi 200,000 người Công Giáo. Giáo xứ của ngài ở phía tây Nữu Ước, kéo dài từ Hồ Ontario đến Pennsylvania. Nhà thờ của ngài không có tháp chuông nhưng điều đó không quan trọng, vì hầu như lúc nào Cha Gioan cũng di chuyển, từ làng này sang làng khác, lúc thì lên núi để thăm bệnh nhân, lúc thì trong quán trọ hoặc gác xếp để giảng dạy, và cử hành Thánh Lễ ngay trên bàn ăn.
Vì sự nặng nhọc của công việc và vì sự đơn độc của giáo xứ, Cha Gioan khao khát có một cộng đoàn, và đã ngài gia nhập dòng Chúa Cứu Thế, là một tu hội chuyên giúp người nghèo và những người bị bỏ rơi.
Vào năm 1852, Cha Gioan được bổ nhiệm làm giám mục Philadelphia. Việc đầu tiên khi làm giám mục là ngài tổ chức trường Công Giáo trong giáo phận. Là một nhà tiên phong trong việc giáo dục, ngài nâng số trường Công Giáo từ con số đơn vị lên đến 100 trường.
Ðức Giám Mục Gioan không bao giờ lãng quên dân chúng — đó là điều làm giới trưởng giả ở Philadelphia khó chịu. Trong một chuyến thăm viếng giáo xứ ở thôn quê, cha xứ thấy ngài ngồi trên chiếc xe bò chở phân hôi hám. Ngất ngưởng ngồi trên mảnh ván bắc ngang trên xe, Ðức Gioan khôi hài, “Có bao giờ cha thấy đoàn tùy tùng của một giám mục như vậy chưa!”
Khả năng biết tiếng ngoại quốc đã đưa ngài đến Hoa Kỳ thì nay lại giúp Ðức Gioan học tiếng Tây Ban Nha, Pháp, Ý, và Ðức để nghe giải tội bằng sáu thứ tiếng. Khi phong trào di dân người Ái Nhĩ Lan bắt đầu, ngài lại học tiếng Gaelic và sành sõi đến nỗi một bà Ái Nhĩ Lan cũng phải lầm, “Thật tuyệt chừng nào khi chúng ta có được vị giám mục là người đồng hương!”
Trong chuyến công tác mục vụ sang nước Ðức, đến nơi ngài ướt đẫm dưới cơn mưa tầm tã. Khi gia chủ đề nghị ngài thay đôi giầy sũng nước, ngài trả lời, “Tôi chỉ có cách đổi giầy từ chân trái sang chân phải thôi. Chứ có một đôi giầy thì làm gì được.”
Ðức Gioan từ trần ngày 5-1-1860 khi mới 48 tuổi. Ngài nổi tiếng về sự thánh thiện và sở học cũng như các trước tác tôn giáo và bài giảng, do đó ngài được phong chân phước ngày 13-10-1963, và ngày 19-6-1977 ngài được phong thánh.
Tin mừng theo Thánh Gioan thuật lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê su và philipphê và sau đó, qua Philiphê, là cuộc gặp gỡ, trao đổi giữa Nathanaen và Giêsu.
Nếu như cuộc diện kiến giữa Chúa Giêsu và Philipphê có nhiều thuận lợi,Thánh Gioan ghi lại: Ông Philipphê là người Betsaida cùng quê với các ông Anrê và Phêrô ( những người đầu tiên đã đi theo làm môn đệ Chúa), để rồi sau đó, Philiphê dễ dàng tin và đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu “Anh hãy theo tôi”.
Trường hợp theo Chúa của Nathanaen thì không phải thế, Philipphê nói về Chúa Giêsu Nadaret và trình bày cặn kẽ cho Nathanaen biết Ngài chính là Đấng mà kinh thánh đã nói đến, các tiên tri đã loan báo, muôn dân hằng mong đợi, chúng tôi đã gặp và chúng tôi đã đi theo Ngài. Dù vậy, xem ra , giữa sứ điệp được trình bày và người nghe sứ điệp cũng còn một khoảng cách khá lớn, “từ Nadaret, làm sao có cái gì hay được ?”. Để thu hẹp khoảng cách đó, Philiphê đề nghị một cuộc gặp gỡ :” Cứ đến mà xem !”. Nathanaen đã đến và, không chỉ là để xem những “cái chi hay” mà là gặp được Đức Giêsu, tin và đi theo Người.
Chúa Giêsu Kitô chính là Tin Mừng phải được loan báo cho mọi người, mọi nơi, có những mảnh đất tâm hồn màu mỡ, đã được chuẩn bị kỹ càng, nhưng cũng có những mảnh đất khô cằn, gai góc, chẳng mấy thuận lợi. Nhưng hạt giống Tin mừng cần được gieo xuống trên tất cả.
Đời sống của Hội thánh, của tất cả mọi Kitô hữu phải là lời loan báo, lời mời gọi “hãy đến mà xem!”, không phải chỉ là đến để nghe chúng tôi rao giảng, mà còn thấy chúng tôi, những con người “mến Chúa yêu người” đang diễn tả điều đó thế nào trong cuộc sông hàng ngày, và gặp được Tin Mừng cứu độ là chính Đức Kitô. “ Cái chi hay”, cái độc đáo mà giáo xứ, cộng đoàn chúng ta muốn giới thiệu cho mọi người đến chiêm ngưỡng là gì, đó có phải là đời sống đậm nét Tin Mừng, của đời sống liên đới, của yêu thương, khiêm tốn.
Một giáo xứ nơi vùng quê, hưởng ứng lời mời gọi của Đức Cha Giáo phận,về việc thực hiện những hành động cụ thể trong năm Đức tin, nhiều người giáo dân đã chủ động chào hỏi, làm quen, thân thiết hơn với những anh chị em lương dân sống cùng địa phương với mình, những gặp gỡ đời thường đó phải chăng là khởi đầu cho việc “quan tâm đến nhu cầu của mọi anh chị em chung quanh chúng con, nhờ đó họ sẽ được nhận biết Chúa, để chính họ cũng nhận được ơn đức tin đem lại sự sống đời đời” .(Kinh năm đức tin). Thiết nghĩ, đây cũng là một “cái chi hay”.
Tin Mừng Nước Trời chính là kho báu, Hồng ân cứu độ là viên ngọc quí, nhưng tất cả có thể đang bị vùi chôn , đang bị che lấp bởi chính đời sống thụ động, đời sống cầu an của người tin Chúa. Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người hãy cùng Chúa mở rộng kho báu,và hãy cùng nhau trao ban viên ngọc Nước Trời.
2022
NÓI VỀ CHÚA CHO NGƯỜI KHÁC NHƯ GIOAN
4.1.2022 Thứ Ba
Thánh Elizabeth Ann Seton
1 Ga 3:7-10; Tv 98:1,7-8,9; Ga 1:35-42
NÓI VỀ CHÚA CHO NGƯỜI KHÁC NHƯ GIOAN
Thiếu nữ Êlizabeth đã làm nhiều việc tốt để giúp đỡ những người nghèo khổ.
“Mẹ Seton” là danh hiệu mà mọi người đều biết khi Êlizabeth qua đời ngày mùng 4 tháng Giêng năm 1821 ở Emmitsbơ, Maryland. Cuộc sống đầy những ngạc nhiên bất ngờ đã trao tặng thánh nữ danh hiệu đó.
Êlizabeth sinh ngày 28 tháng Tám năm 1774 tại thành phố Niu Gioóc. Thân sinh của ngài, ông Richard Bơlây, là một bác sĩ danh tiếng. Thân mẫu của Êlizabeth, là bà Catarina, đã lìa đời khi Êlizabeth còn rất trẻ. Êlizabeth là một tín hữu theo đạo Tin lành, thuộc giáo phái Epiocopan. Khi còn là thiếu nữ, Êlizabeth đã làm nhiều việc tốt để giúp đỡ những người nghèo khổ.
Năm 1794, Êlizabeth kết hôn với William Seton. Ông là một lái buôn giàu có và là chủ của một đoàn tàu. Êlizabeth, William và năm người con cùng chung sống hạnh phúc bên nhau. Nhưng đột nhiên chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, William mất hết gia sản và sức khỏe ông bị suy giảm. Người vợ của ông nghe nói khí hậu ở bên nước Ý có thể giúp ông khá hơn. Vì vậy, Êlizabeth, William và Anna, đứa con gái lớn nhất của họ, đã đáp tàu sang Ý.
Nhưng sau đó ít lâu, William qua đời. Êlizabeth và Anna ở lại Ý như những người khách của gia đình Filicchi. Những người trong gia đình này rất tử tế, tốt bụng. Họ cố gắng xoa dịu nỗi đau đớn của Êlizabeth và Anna bằng cách chia sẻ cho hai người nghe biết về tình yêu thâm sâu của họ trong đức tin Công giáo. Êlizabeth trở về nhà ở Niu Gioóc với ý định sẽ trở nên một tín hữu Công giáo. Gia đình và bạn bè của ngài không hiểu được điều đó nên họ rất lấy làm khó chịu; thế nhưng với lòng can đảm, Êlizabeth cứ tiến hành điều mình đã quyết định. Êlizabeth đã gia nhập Giáo hội Công giáo ngày 4 tháng Ba năm 1805.
Ít năm sau, người ta mời Êlizabeth đến mở một trường nữ sinh ở Baltimo. Ở đó, Êlizabeth đã quyết định sống như một nữ tu. Cũng có nhiều chị em đến gia nhập nhóm của ngài, gồm cả cô em gái và người chị dâu nữa. Các con của Êlizabeth, Anna và Catarina cũng lần lượt tham gia nhóm ấy. Họ trở thành hội Nữ Tu Bác Ái Người Mỹ và người ta tôn tặng cho Êlizabeth tước hiệu “Mẹ Seton”. Êlizabeth trở nên nổi tiếng. Ngài đã thiết lập nhiều trường học Công giáo và một số viện mồ côi. Êlizabeth cũng dự tính sẽ lập một bệnh viện và viện này đã được khai trương sau khi ngài qua đời.
Êlizabeth yêu thích việc viết lách và ngài đã chuyển dịch một số sách giáo khoa từ tiếng Pháp sang tiếng Anh. Nhưng đặc biệt nhất là thánh nữ thích việc viếng thăm những người nghèo khổ, đau yếu.
Đức thánh cha Phaolô VI đã tôn phong Êlizabeth lên bậc Hiển thánh ngày 14 tháng Chín năm 1975.
Nếu có điều gì xảy ra làm thay đổi cuộc sống của chúng ta từ hạnh phúc sung sướng sang khó khăn bế tắc, chúng ta hãy quay ánh nhìn về Thiên Chúa như Mẹ Seton và kêu xin Người giúp đỡ. Thiên Chúa có thể giúp chúng ta nhận thấy rằng những khó khăn đó có thể làm sáng tỏ những tài năng ẩn giấu bên trong chúng ta như thế nào. Và rồi chúng ta sẽ hoàn thành được điều chúng ta chẳng bao giờ mơ tới.
Nhìn lại cuộc đời của Gioan, ta thấy Gioan đã có rất nhiều ảnh hưởng nơi dân chúng. Dân chúng rất ngưỡng mộ Ngài. Khi được Chúa Giêsu hỏi “Phép Rửa của Gioan bởi đâu mà có? Bởi trời hay bởi người ta?” (Mt 21,25), thì nhóm Pharisêu đã cảm thấy thật lúng túng. Nói bởi người thì sợ dân chúng phản đối, nói bởi trời thì sao quý vị lại không nghe lời Gioan, nghe những lời mà Gioan đã nói về nhân vật Giêsu. Nói chúng tôi không biết là cách để chữa cháy, để tránh trả lời một sự thật. Họ không dám chấp nhận sự thật.
Ta thấy không những có ảnh hưởng trong dân chúng mà Gioan cũng có nhiều môn đệ theo mình. Nhưng Gioan vẫn luôn tuyên bố “tôi không phải là Đức Kitô” (Ga 1,19). “Tôi không đáng cởi dây giày cho Ngài” (Ga 1,27). “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại” (Ga 3,30).
Và rồi không ngần ngại, không tiếc nuối, mà một cách xác tín, Gioan đã dõng dạc, xác quyết với hai môn đệ đang đứng với mình, khi thấy Chúa Giêsu đi qua: “Đây là chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29). Hai môn đệ đó đã tức khắc bỏ thầy Gioan mà đi theo Chúa Giêsu. Thế là mất toi hai môn đệ!
Thánh Gioan đã xác tín rằng Chúa Giêsu đích thị là Minh Quân. Chắc chắn Gioan phải mừng thầm vì đồ đệ của mình đã gặp được Minh Quân, Gioan vui mừng vì đã giới thiệu Chúa Giêsu cho người khác. Gioan đã đóng đúng vai trò Tiền Hô của mình và Đức Giêsu cũng là Đấng Minh Quân của Gioan. Chẳng phải Gioan đã nhảy mừng trong bụng mẹ mình, khi chỉ mới là 6 tháng tuổi khi gặp được Đức Kitô? Gặp được Chúa là gặp được niềm vui, và niềm vui thì cần được chia sẻ, loan tỏa cho mọi người.
Nói về Chúa Giêsu cho người khác biết. Chúng ta cũng thấy được gương tốt của Thánh Anrê tông đồ. Anrê đã đến và xem chỗ Chúa Giêsu ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy (Ga 1,39-40). Trong khoảng thời gian rất ngắn ngủi này, Anrê đã nhận ra Đức Giêsu là Đấng Mêsia, nghĩa là Đấng Kitô. Anrê đã không thể không nói cho người thân của mình là Simon em ông biết (Ga 1,41). Chắc chắn hai anh em đã trao đổi với nhau về Chúa Giêsu, trước khi Anrê dẫn em mình đến gặp Chúa Giêsu. Gặp được Chúa Giêsu là đổi tên, là đổi đời: “Anh sẽ được gọi là Kê-pha (là Đá Tảng) (Ga 1,42).”.
Và ta tự hỏi lòng ta rằng có bao giờ tôi đã nói về Chúa Giêsu cho người khác? Có bao giờ cha mẹ đã kể chuyện Chúa Giêsu cho con cái? Có bao giờ mình đã nói về Chúa Giêsu cho người yêu, cho người chồng, người vợ ngoại đạo? Có bao giờ gia đình bên Công Giáo đã nghiêm túc đặt vấn đề về Chúa Giêsu cho người rể, người dâu không Công giáo trong gia đình mình?
Mỗi người chúng ta nên chăng dừng lại để nghĩ rằng thì là mình là Kitô hữu, tôi đã thật sự yêu mến Chúa Giêsu chưa? Đã hãnh diện về niềm tin của mình để chia sẻ cho người thân chung quanh tôi chưa?
Trong sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo 2014 của ĐTC Phanxicô, Ngài bắt đầu sứ điệp: “Ngày nay vẫn còn rất nhiều người không nhận biết Chúa Giêsu Kitô. Thế nên, sứ mạng ad gentes (đến với muôn dân) vẫn còn hết sức cấp bách. Mọi thành viên của Hội Thánh được kêu gọi tham gia sứ mạng này, vì Hội Thánh tự bản chất là truyền giáo: Hội Thánh được sinh ra để “đi ra”. “Các con đừng đi về phía các dân ngoại và đừng vào thành của người Samaria. Tốt hơn, các con hãy đến cùng các chiên lạc nhà Israel” (Mt 10, 5-6). Vậy thì trước tiên hãy đến với con cái mình, hãy đến với người bạn đời chưa tin Chúa của mình, hãy đến với người dâu, người rể không niềm tin vào Thiên Chúa trong gia đình mình. Hãy giới thiệu Chúa Giêsu cho họ trước tiên.
Thánh Phaolô đã nói câu: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Ước gì câu này không phải là câu dành riêng cho Thánh Phaolô. Ước gì câu này là câu của mỗi Kitô hữu chúng ta.
Chúng ta yêu mến Chúa Giêsu bởi vì người yêu thương chúng ta, Ngài đem cho ta ơn cứu độ. Chúng ta rao giảng Chúa Giêsu cho mọi người, bởi vì Chúa Giêsu là Đấng cứu độ duy nhất của loài người. Nhất định không còn Đấng cứu độ nào khác.
2022
TRỞ NÊN ÁNH SÁNG CHO MUÔN DÂN
3.1.2022
Thứ Hai sau Lễ Hiển Linh
1 Ga 2:293; Tv 98:1,3-4,5-6; Ga 1:29-34
TRỞ NÊN ÁNH SÁNG CHO MUÔN DÂN
Nhìn lại lịch sử cứu độ cũng như lịch sử nhân loại. ta thấy có những con người, sự xuất hiện của họ đã làm thay đổi cục diện thế giới, có người đưa thế giới đến sự thay đổi tích cực, nhưng cũng có những con người lại hoàn toàn gây ảnh hưởng tiêu cực cho nhân loại. Ví dụ: Với sự xuất hiện của Napoleon hoặc Hitler đã đưa thế giới vào cảnh chiến tranh giết chóc tàn khốc, song cũng có những con người như Louis Pasteur và các nhà khoa học chân chính khác đã cứu nhân loại khỏi những căn bênh hiểm nghèo.
Và rồi người ta cũng không thể phủ nhận được, với sự xuất hiện của những người như Bill Gate và Steve Jobs đã làm thay đổi hoàn toàn suy nghĩ và phương thức cũng như công nghệ thông tin ngày nay; Đức giáo Hoàng Fancis vừa mới được báo time bình chọn là nhân vật của năm 2013, mặc dù ngài mới chỉ xuất hiện với thế giới trong cương vị Giáo hoàng được 10 tháng, song Ngài đã và đang có một ảnh hưởng lới trên thế giới về lối sống và luồng gió mới Ngài đang đem vào Giáo Hội.
Cũng vậy với sự xuất hiện công khai của Chúa Giêsu ở vùng Galilea- sông Jodan quả thật là một sự kiện hết sức quan trọng và gây sự chú ý cho nhiều người. Tuy nhiên, cho đến ngày nay nhiều người vẫn chỉ nhìn Đức Giêsu như bao các ngôn sứ khác trong Cựu ước, mà không tin Ngài là Thiên Chúa.
Chính vì thế các tác giả tin Mừng đã muốn khẳng định cho chúng ta rằng Đức Giêsu Nazareth là chính Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, Đấng đã đến từ nơi Thiên Chúa Cha, Ngài chính là Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật. Biến cố xuất hiện công khai của Chúa Giêsu như mở đầu cho một thời đại mới và đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt nhân loại và cả thế giới này. Gioan Tẩy giả cho thấy, lúc đó mặc dù ông đang là tâm điểm thu hút nhiều người tuốn đến với ông, nhưng khi nhìn thấy Chúa Giêsu xuất hiện, thì Gioan nhận ra rằng nhiệm vụ của ông đã vào hồi kết. Ông nhường bước và long trọng giới thiệu Chúa Giêsu cho mọi người: Đây là chiên Thiên Chúa, đây là Đấng xóa bỏ tội trần gian. Với lời giới thiệu này thì người Do Thái nào cũng nghĩ ngay đến hình ảnh ngày lễ xá tội hàng năm, vị Thượng tế phải đại diện cho dân chúng đặt tay trên đầu một con chiên trước đền thờ Chúa để xưng thú tất cả tội lỗi của dân, và con chiên ấy trở thành con chiên gánh tội cho dân.
Khác với các tiên tri khác là những người chỉ tiên báo về Đấng Cứu Thế, thì Gioan đã chỉ đích danh Đấng Cứu thế cho mọi người. Ông còn giải thích thêm: Chính Người là Đấng tôi đã nói đến: Người đến sau tôi nhưng trổi vượt hơn tôi và Ngài có trước tôi. Như thế có nghĩa là Gioan đã giới thiệu cho mọi người biết địa vị trổi vượt cua Đức Giêsu và thời đại của Đấng Mesia đã bắt đầu, thời đại của ánh sáng cứu độ đã đến. Gioan đã tuyên xưng niềm tin của mình khi tin nhận Ngài là Đấng có trước ông, là Đấng hiện hữu từ muôn đời, nay xuất hiện giữa loài người và mang lấy tất cả sự giới hạn của con người. Gioan đã nhớ lại mấy ngày trước đây Ngài đến xin ông làm phép rửa, và khi vừa ra khỏi nước thì trời mở ra và Thần Khí của Thiên Chúa như chim bồ câu đậu xuống trên Người. Gioan cũng cho biết chính Đấng sai ông làm phép rửa đã cho ông một dấu chỉ: Ngươi thấy Thần Khí ngự xuống trên ai thì đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần và Đức Giêsu chính là Đấng ấy và những ai tin và lãnh nhận phép rửa bởi Đức Giêsu cũng sẽ đón nhận được Thần Khí của Ngài.
Chúa Giêsu chính là Thiên Chúa đã được sai sai đến trần gian với sứ vụ đem ơn cứu độ cho đến tận cùng trái đất. Lời của Isaia trong bài đọc một đã ứng nghiệm hoàn toàn nơi Đức Giêsu, Ngài trở thành Đấng quy tụ muôn dân nên một, đem nhà Jacop trở về, chiếu tòa vinh quang Thiên Chúa cho mọi người mọi dân. Thiên Chúa còn nói với Người rằng: Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đên tận cùng trái đất.
Do bởi tội lỗi và sư bất tuân của Adam Eva đã làm cho bóng tối của sự chết bao trùm nhân loại, với sự bắt tay thỏa hiệp với Satan, tổ tông loài người đã đưa cả nhân loại rơi vào sư trói buộc của ma quỷ và dục vọng, thế giới và con người như chìm ngập trong tăm tối không còn biết đường đi. Đức Giêsu và Tin Mừng của Ngài là ánh sáng đã xua tan bóng tối của tội lỗi và sự chết, Ngài đã chỉ cho nhân loại con đường ánh sáng và hy vọng con đường giải thoát.
Sứ mạng trở thành ánh sáng và đem ơn cứu độ đến cho muôn dân của Chúa Giêsu vẫn còn liên tục được thực hiện qua những con người mà Chúa đã tuyển chọn, trước hết đó là các tông đồ kế đến là mỗi người chúng ta. Thánh Phaolô rất ý thức điều đó khi nói với cộng đoàn Corintô rằng: Tôi là Phaolô, bởi ý của Thiên Chúa đã được gọi là tông đồ của Chúa Giêsu Kitô và ông Xôthênê là anh em của chúng tôi.
Vì lẽ ý thức mình là người được chọn để đem ánh sáng cứu độ đến với muôn dân, nên Phaolô và các tông đồ đã chấp nhận nên như ngọn đuốc đốt cháy cả cuộc đời mình để chiếu tỏa ánh sáng cho thế giới hôm nay. Từ những con người đầu tiên này, mà chúng ta hôm nay biết Đức Giêsu và Tin Mừng của Ngài.
Cũng thế, ngày mỗi ngày mỗi chúng ta trong ngày lãnh Bí tích rửa tội, qua cha mẹ đỡ đầu Giáo Hội đã trao cho ta ngọn nến sáng với lời căn dặn rằng: Các con hãy sống như con cái sự sáng và chiếu tỏa ánh sáng cho muôn người cho đến ngày được gia nhập đoàn rước nước trời. Như thế giữ cho ngọn đèn đức tin luôn cháy sáng, và chiếu tỏa ánh sáng cho mọi người là trách nhiệm của mỗi chúng ta.
Ta thấy rằng ngag ngày hôm nay cũng đang nói với chúng ta: Ta đặt ngươi làm ánh sáng cho muôn dân để ngươi đem ơn cứu độ của ta đến tận cùng trái đất. Trong năm Sống và Loan báo Tin Mừng này, trước hết để có thể trở thành ánh sáng muôn dân, thì mỗi người cần phải kiểm tra lại ngọn lửa đức tin của mình đang trong tình trạng nào? Nó còn cháy sáng bừng bừng hay đã bị tàn lụi và trở nên leo lét yếu ớt ? Để cho ngọn lửa đức tin có thể cháy sáng, thì nó cần phải đốt bằng những thứ dầu nguyên chất đó là đời sống cầu nguyện, là việc lãnh nhận các bí tích thường xuyên, để nuôi dưỡng cho đức tin của mình. Kế đến ngọn đuốc này cần phải được che chắn bằng lời của Chúa qua việc đọc, lắng nghe và thực hành thì mới có thể chống chọi được với những cơn gió bão của các tư tưởng sai lạc, khuynh hướng, trào lưu chống phá đức tin ngày nay. Chúng ta không thể giữ riêng ánh sáng này cho mình mà phải soi chiếu cho anh em.
Để có thể chiếu tỏa ánh sánh cho mọi người, thì đòi chúng ta phải chấp nhận sự hy sinh và hao mòn cuộc đời của mình. Các bậc làm cha mẹ hãy chiếu tỏa cho gia đình mình ánh sáng ấm áp của mùa xuân, xua tan đi những bóng tối của gian dối quanh co, đẩy lui những nỏng nảy giận hờn cãi vã; hãy đem về cho gia đình mình nhiều hơi ấm và ánh sáng của niềm vui thay cho sự lạnh lùng băng giá. Nhất là cha mẹ hãy đem ánh sáng của Chúa và Tin Mừng của Ngài vào gia đình mình, qua đời sống đạo đức qua các giờ kinh tối sớm, qua những phút cầu nguyện trước và sau bữa ăn mỗi ngày.
Mỗi người chúng ta, mỗi gia đình Công Giáo hãy trở nên ánh sáng cho các gia đình chung quanh bằng cuộc sống chan hòa tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau, sống với nhau thuận hòa, chân tình, yêu thương giúp đỡ, biết quan tâm đến nhau và làm những điều tốt đẹp cho nhau. Mỗi gia đình cùng sống và làm như thế, thì ánh sáng của Chúa sẽ chạm đến tâm hồn các anh chị em khác bên cạnh.
Trở nên ánh sáng cho muôn dân cũng là sứ mạng được trao cho các bạn trẻ. Cuộc sống xã hội ngày nay, trong mọi lãnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, gia đình,… vẫn còn có quá nhiều mảng tối. Mỗi người trẻ sẽ phải là ngọn đuốc cho xã hội hôm nay. Hãy trở thành những con người ngay thẳng trong xã hội gian dối này, hãy có một trái tim nhân ái trong một xã hội bàng quan lạnh lùng, hãy đem ánh sáng và giới răn của Tin Mừng vào trong công ty xí nghiệp, trường học nơi chúng ta đang làm việc, học tập, hãy mang theo Đức Kitô vào trong mọi sinh hoạt, vui chơi, mọi lãnh vực, vào các cuộc tụ họp gặp gỡ. Khi mỗi người trẻ công giáo cùng thắp lên một ngọn lửa như thế, các bạn sẽ làm cho xã hội này bừng sáng Tin Mừng của Đức Kitô.
