2022
BÌNH AN CỦA CHÚA
17/5 Thứ Ba trong tuần thứ Năm Mùa Phục Sinh
Cv 14:19-28; Tv 145:10-11,12-13,21; Ga 14:27-31
BÌNH AN CỦA CHÚA
Ta thấy lời cầu chúc bình an của Chúa Giêsu với các môn đệ rằng: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (c. 27).Sự bình an mà Chúa Giêsu ban không có nghĩa là không có những trắc trở gian nan như mặt hồ lặng sóng nhưng là sự bình an sâu thẳm trong tâm hồn khi phải đối mặt với phong ba bão táp. Người luôn tin tưởng phó thác vào Chúa Cha nên đã có được bình an trong tâm hồn mặc dù những thử thách đang bủa vây.
Khi Chúa Giêsu biết mình sắp bị giới lãnh đạo Do Thái bắt nộp, bị môn đệ Giuđa phản bội và giờ Chúa Cha tôn vinh đã cận kề, Người đã trăn trối lại cho các môn đệ những lời tâm huyết sau cùng. Các môn đệ cảm thấy hoang mang sợ hãi, tâm hồn đầy xao xuyến, Thầy đi rồi còn tương lai của các ông sẽ về đâu? Một câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp. Hiểu được tâm trạng đó, Chúa Giêsu hứa ban bình an và niềm vui của Người cho các ông.
Các môn đệ lo lắng sợ hãi vì không biết phải đi con đường nào giữa trăm ngàn ngã rẽ, không biết tin cậy vào đâu trước những thế lực xấu đang bủa vây. Chúa Giêsu đã động viên các ông và khẳng định “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống”. Ai đi theo con đường của Chúa chắn chắn sẽ tới đích. Ai tin vào Chúa sẽ không phải thất vọng bao giờ. Ngược lại ai cậy dựa vào sức riêng mình và sự bảo đảm của cải vật chất trần gian sẽ phải gánh chịu nỗi bất an ê chề.
Người ta có thể có được sự bình an khi cuộc sống không có chiến tranh hận thù ghen ghét. Sự bình an của thế gian ban có thể được bảo đảm bằng của cải vật chất, bằng những tiện nghi khoa học tối tân đáp ứng mọi nhu cầu của con người. Sự bảo đảm này có giá trị nhất định, nhưng Chúa Giêsu muốn đưa chúng ta tiến xa hơn trong niềm tin Kitô giáo, đó là sự bình an đích thực nơi Thiên Chúa. Như Chúa Giêsu đã đón nhận mọi đau khổ, đã uống trọn chén đắng Cha trao để nên một trong thánh ý Cha, Người đã đánh đổi cả mạng sống để cho nhân loại được bình an.
Với ơn bình an Chúa Giêsu ban sau khi Người sống lại và lên trời, các Tông đồ được đầy sức mạnh Thánh Thần, đã đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng, như trong bài đọc I, sách Công vụ Tông đồ thuật lại công cuộc loan báo Tin Mừng của hai ông Phaolô và Banaba cho dân ngoại, dù gặp phải nhiều cấm cách, bách hại, các ngài vẫn can đảm làm thi hành sứ mạng (Cv 14,19-20). Bên cạnh việc rao giảng Tin Mừng, các ngài củng cố tinh thần các tín hữu, an ủi họ trong những thử thách gian nan, “khuyên bảo họ giữ vững đức tin mà rằng: Chúng ta phải trải qua nhiều nỗi gian truân mới được vào nước Thiên Chúa” (14,22).
Đồng thời, các ngài cũng cắt đặt các kỳ mục, “rồi ăn chay cầu nguyện, trao phó họ cho Chúa” (14,23), để việc phục vụ của họ đem lại nhiều ích lợi thiêng liêng cho cộng đoàn tín hữu. Các ngài đã thực hiện sứ vụ của mình với một niềm xác tín rằng chính Thiên Chúa luôn hoạt động với các ngài (14,23); các ngài chỉ là những khí cụ Thiên Chúa dùng để đem Tin Mừng bình an cho muôn dân. Với niềm xác tín như thế, các ngài đã loan báo Tin Mừng với tất cả lòng nhiệt thành, để xây dựng những cộng đoàn Kitô hữu trên nền tảng là đời sống yêu thương, hiệp nhất và bình an. Hoạt động loan báo Tin Mừng của Hội Thánh hôm nay cũng có thể dựa trên những yếu tố căn bản này.
Bình an là hồng ân cao cả Chúa Kitô ban tặng cho những ai biết mở lòng ra đón nhận, như Hội Thánh vẫn cầu xin trong mọi Thánh lễ: “Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an”; “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã nói với các môn đệ rằng: Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban bình an của Thầy cho các con…” Vậy chúng ta hãy hiệp ý với Hội Thánh tha thiết cầu xin ơn bình an cho chính mình, để trong mọi hoàn cảnh chúng ta luôn là khí cụ hữu hiệu đem bình an đến cho mọi người, cách riêng cho những ai đang phải đương đầu với thử thách gian nan luôn vững lòng tin tưởng vào tình thương quan phòng của Thiên Chúa.
Lời Chúa hôm nay là niềm an ủi lớn cho chúng ta. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, Thiên Chúa vẫn chở che và gìn giữ chúng ta khỏi rơi vào nỗi khốn khổ bất hạnh. Nhưng điều kiện để được bình an là thi hành ý muốn của Chúa Cha. Như Chúa Giêsu luôn hướng về Chúa Cha, chúng ta cũng được mời gọi khám phá ra dự phóng của Thiên Chúa trong cuộc đời mình.
Phần chúng ta, chúng ta sẽ gặp những trắc trở khó khăn, những nghi kỵ bắt bớ, những tù ngục đòn roi, nhưng có thể đó là lúc chúng ta được tôi luyện để kiên vững trong đức tin, nhẫn nại trong đức cậy và sắt son trong lòng mến. Một khi đã tin tưởng tuyệt đối và thi hành trọn vẹn ý Chúa, chúng ta sẽ đạt đến nguồn bình an.
2022
Yêu mến
16/5 Thứ Hai trong tuần thứ Năm Mùa Phục Sinh
Cv 14:5-18; Tv 115:1-2,3-4,15-16; Ga 14:21-26
Yêu mến
Lời Chúa hôm nay nằm trong mạch văn ở phần của Tin Mừng Gioan, một phần chính yếu với tựa đề : Giờ của Chúa Giêsu – Lễ Vượt Qua của Chiên Thiên Chúa. Phần này, tác giả mô tả và thể hiện lại những lời nói, hành vi mang đậm tính “ từ biệt” của Chúa Giêsu, khi Ngài thấy “ Giờ của Ngài” đã đến.
Tin Mừng hôm nay là một bài giáo lý về Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “Ai nghe các giới răn Thầy truyền và tuân giữ… Ai yêu mến Thầy, sẽ được Cha Thầy yêu mến… Đấng phù trợ, là Cha Thầy mà Cha Thầy sẽ đến nhân danh Thầy, chính Ngài sẽ dạy các con mọi điều và sẽ nhắc nhở các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con”.
Thật vậy, khi một người thấy mình sắp lìa bỏ cõi trần này, họ thường cảm thấy cô đơn, trống vắng. Họ muốn có những người thân luôn ở bên cạnh để an ủi và lắng nghe họ. Chúa Giêsu cũng không nằm ngoài qui luật thiên nhiên dành cho con người. Ngài cảm được Giờ của Ngài về cùng Chúa Cha đang gần kề, sứ vụ của Ngài sắp hoàn tất, khoá học sắp kết thúc, thế mà các Tông Đồ chẳng hiểu gì về con đường cứu độ của Ngài cả. Các ông vẫn tranh giành vương quyền, chức tước (Lc 22, 24-27 ). Ba năm theo Thầy giờ chỉ còn tranh chỗ ngồi bên tả, bên hữu…
(Mt 20, 20 tt). Vì thế, Chúa Giêsu thấy giờ đây cần phải nhắc nhớ các môn đệ những “ công thức” vắn gọn, dễ nhớ , dễ hiểu… mà chúng ta sẽ thấy Ngài cứ lập đi lập lại trong bài Tin Mừng Ga 14, 21-26 này.
Mở đầu câu 21 , Chúa Giêsu nói : “ Ai có các điều răn của Thầy và tuân giữ, người ấy là kẻ yêu mến Thầy”. Ở đây, chúng ta chú ý đến 2 động từ “ có” và “giữ”. Người yêu luôn có, luôn chiếm làm sở hữu những gì có nơi người mà họ hằng yêu mến. Họ thích những gì người kia thích ; họ tập ăn, tập nói, tập đi đứng… như người họ yêu vậy. Họ muốn nên giống y như người họ yêu ; họ muốn nên một với nhau, khi yêu ai, chúng ta thường nhớ và luôn làm theo những lời người ấy căn dặn. Đó là mực thứơc để đo tình yêu.
Khi chúng ta yêu Chúa Giêsu là chúng ta yêu mến cả Chúa Cha nữa. Vì : Chúa Cha và Chúa Giêsu là một ; vì Chúa Giêsu ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Chúa Giêsu, vì lời của Chúa Giêsu chính là lời của Chúa Cha. Đây là một tình yêu trong tương quan liên hoàn : Tình yêu trao ban, Tình yêu truyền từ người này sang người kia và nó càng thêm dồi dào, phong phú. Và vì thế, “ Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ mình ra cho người ấy”. Khi yêu nhau, ở trong nhau, thì cả hai sẽ biết rõ nhau hơn và càng yêu mến nhau hơn. “ Tỏ mình ra” có nghĩa là “ biết nhau”, “ biết” tường tận những gì người yêu mong ước đến nỗi họ cùng nhau chia sẻ vui buồn, sướng khổ. Âu sầu của người này là nỗi buồn của người kia. Niềm vui của người kia là hạnh phúc của người này.
Khi Chúa Giêsu nói những lời ấy xong, không biết ông Giuđa có hiểu ý Chúa không, nhưng ông đã hỏi “ Sao Chúa tỏ mình ra cho chúng con mà không tỏ mình ra cho thế gian ?” ( c.22 ). Nghe câu hỏi như có phần nào trách móc hay thiên vị một số người, nhưng câu trả lời của Chúa Giêsu nghe vang lên trong một nỗi buồn man mác, khi Ngài muốn giải thích lý do “ tại sao thế?” của ông Giuđa. Ngài khẳng định : “ Ai yêu mến Thầy, sẽ tuân giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến ở lại nơi người ấy” ( c.23). Ở câu 23 này, Chúa Giêsu xác quyết lại những gì Ngài đã nói ở câu 21, nhưng thay vì nói “ tỏ mình”, Ngài dùng từ “ ở lại” nhằm giải thích cho Giuđa hiểu rõ ý Ngài hơn. “Ở lại” cũng chính là “ nên một”. Nói đến đây, chúng ta nhớ lại sự “ ở lại” của Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể.
Qua việc Rước Lễ, Ngài muốn Nên Một với chúng ta, muốn lưu lại trong tâm hồn, trong cuộc đời chúng ta từng ngày, từng giờ, muốn đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường ta đi trong cuộc sống. Hơn nữa, Chúa Giêsu lại tái khẳng định bằng một mệnh đề phủ định “ Ai không yêu mến Thầy, thì không tuân giữ lời Thầy” Ngài nói rõ Tình yêu của chúng ta đối với Ngài là việc vâng nghe lời Ngài. Vì “ lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy” ( c.24). Ở đây, Chúa Giêsu tỏ lộ ý muốn của Chúa Cha và Chúa Giêsu là con người đến thi hành ý Chúa Cha mà thôi. Vì “ Chúa chẳng thích tế phẩm hay lễ vật… con liền thưa. “ Này con xin đến”. Trong sách chép về con : con thích làm theo thánh ý và ấp ủ luật Chúa trong lòng…”
(Tv 40,7-9).
Trong 2 câu cuối bài Tin Mừng, Chúa Giêsu nhắc nhớ cho các môn đệ rằng : Điều vâng giữ Lời Chúa, Ngài đã nói khi Ngài ở với các ông và bây giờ Ngài về cùng Cha, thì Đấng Bảo Trợ là Ngôi Ba Thiên Chúa, được Chúa Cha sai đến để dạy các ông và nhắc lại những điều Chúa đã dạy ( x.c.25-26). Nghĩa là Chúa Thánh Thần sẽ dạy các môn đệ tất cả những gì các môn đệ phải biết mà Chúa Giêsu chưa nói. Chúa Thánh Thần cũng sẽ giúp các ông hiểu ý nghĩa của lời rao giảng và các dấu lạ của Đức Giêsu mà trước đây các ông chưa hiểu được.
Qua lời Chúa Giêsu đã khẳng định, con người chúng ta phải có thái độ tin hay không tin nhận.
Tin Chúa sẽ mang lại ánh sáng soi cho cuộc đời của mình.
Từ chối không tin, con người tự kết án mình: không tin là sống trong bóng tối.
Theo thánh Philipphê, tin thì phải xem thấy Chúa Cha, nên Chúa Giêsu tuyên bố một chân lý quan trọng: Ngài là Con Thiên Chúa và đồng bản tính với Thiên Chúa: “Thầy ở trong Chúa và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14, 11), để rồi “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14, 9).
Chúa Cha và Chúa Con hợp đồng công tác “Cha tôi làm việc liên lỉ, tôi cũng làm như vậy” (Ga 5, 17): xem những việc lành thì nhận ra Chúa nhân lành, như Chúa đã giải thích cho dân Do thái: “Nếu tôi không làm các việc của Cha tôi, thì các ông đừng tin tôi. Còn nếu tôi làm các việc đó, thì dù các ông không tin tôi, ít ra cũng hãy tin các việc đó. Như vậy các ông sẽ biết thêm rằng: Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa Cha” (Ga 10, 37-38).
Chúa Giêsu cũng muốn môn đệ của Ngài đi lại con đường Ngài đã đi qua: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy”. Giữ lời Chúa Giêsu cũng là yêu mến Thiên Chúa Cha. Vì lời Ngài là của Cha, Ðấng đã sai Ngài đến trần gian. Lời dạy của Chúa Giêsu là gì, nếu không phải là gì khác là biết quên mình vì Chúa và vì anh em, quên đi bản thân bằng cách dành cho Thiên Chúa và tha nhân một chỗ đứng ưu tiên trong tư tưởng và hành động.
Qua trang Tin Mừng hôm nay, ước mong rằng mỗi người chúng ta sẽ biết thể hiện tình yêu bằng lời dạy của thánh Phaolô: “Dù ăn, dù khi uống, dù khi làm việc gì, anh em hãy làm cho sáng danh Chúa”
2022
Chúa thương thì Chúa chọn
14/5 Thánh Matthia, Tông Đồ
Cv 13:44-52; Tv 98:1,2-3,3-4; Ga 14:7-14
Chúa thương thì Chúa chọn
Thánh Matthia Tông Đồ đã được chọn để thế chỗ cho Giuđa. Theo bài đọc I của Thánh lễ hôm nay thì Matthia hay Giustô là một trong số 120 môn đệ có mặt tại nhà tiệc ly lúc đó. Matthia cùng với Joseph biệt danh là Bácsaba là hai người được đề cử, nhưng khi cầu nguyện và bắt thăm thì Matthia được trúng và được kể là một trong số 12 Tông Đồ. Và theo lời thánh Phêrô thì Matthia đã cùng sống với Chúa Giêsu.
Trang Tin Mừng hôm nay đề cập đến hai vấn đề quan trọng:
Điều răn mới của Chúa Giêsu
Và việc Chúa chọn các Tông Đồ.
Hôm nay, trong bầu khí thân mật của nhóm Thầy trò, Chúa Giêsu tâm sự với các Tông Đồ: như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy (Ga 15,9).
Có lẽ các Tông Đồ đang rất cảm động trước những lời yêu thương đó và đang lắng nghe với tất cả trái tim rung cảm của mình. Tình yêu này đã nâng các Tông Đồ lên, từ địa vị Thầy trò đến địa vị bạn bè: Anh em là hạn hữu của Thầy(Ga 15,19). Tình yêu đích thực bao giờ cũng khiêm hạ. Tình yêu là một sức mạnh có thể biến đổi một môn đệ yếu đuối thành một người bạn thân yêu.
Trong thế giới loài người cũng vậy. Không phải những lời nói hay, những lý luận sắc bén mà thay đổi được một con người, nhưng là tình yêu. Lịch sử Giáo Hội cho thấy, Giáo Hội được canh tân là nhờ sức mạnh tình yêu của các vị thánh chứ không phải do những lý luận sắc bén của các nhà thần học hay triết gia lỗi lạc.
Vì thế mà Chúa Giêsu nhấn mạnh đến tình yêu, đến điều răn mới. Trước khi chọn Phêrô đứng đầu Hội Thánh, Chúa cũng đòi hỏi ở Phêrô về lòng mến chứ không phải kiến thức, khả năng hay bằng cấp.
Chính Thầy đã chọn anh em… để anh em ra đi, sinh nhiều hoa trái (Ga 15,16).
Hai vợ chồng nhà báo người Hà Lan tên là Val Der Meer de Walcheren đã cùng xin chịu Bí tích Thánh Tẩy vào năm 1911 để gia nhập Giáo hội Công giáo. Sau đó, ông bà đã lần lượt khuyên các con cùng theo đạo, rồi lại cùng lần lượt theo đuổi ơn gọi Tận Hiến của các dòng tu. Người con trai lớn sau này trở thành một linh mục dòng Biển Đức Nam (Bénêdictin), người con gái kế làm nữ tu trong đan viện Biển Đức Nữ (Bénédictine).
Năm 1933, nhờ lòng khao khát tuyệt đối và ý chí tận hiến cho Chúa, Tòa Thánh đã chấp thuận đơn xin của hai ông bà để họ được phép chia tay nhau trong Lòng Mến Đích Thật. Ông xin được vào dòng Biển Đức Nam, nơi người con trai linh mục vừa sớm lìa đời, còn bà thì xin vào dòng Biển Đức Nữ chung với người con gái .
Trong thời kỳ tập tu, Bề Trên cả hai dòng chỉ định cho ông bà phải tiếp tục thường xuyên thư từ cho nhau. Sau hai năm, cả hai ông bà vẫn đầy thiện chí, sẵn sàng hy sinh dâng mình cho Chúa. Thế nhưng, Bề Trên của hai bên đều nhận thấy mối duyên tình của ông bà còn quá khăng khít, nên đã khuyên cả hai trở về với đời sống gia đình. Ông bà vâng lời trở về, tiếp tục sống hạnh phúc bên nhau, chan hòa lòng yêu thương bác ái đối với tha nhân, nhất là với những người nghèo khổ.
Đến năm 1954 thì bà Val Der Meer de Walcheren qua đời. Nối lại ý hướng từ 20 năm về trước, cụ ông 74 tuổi đã xin trở lại tu viện. Và vào ngày 22.12.1956, cụ được thụ phong linh mục tại nhà nguyện tu viện Đức Mẹ nơi người con gái của cụ vẫn đang sống cuộc đời đan tu gương mẫu đã hơn 40 năm qua .
Qua trang Tin Mừng hôm nay, ta thấy thánh Philipphê, một trong nhóm mười hai đã nói lên ước muốn: “Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Cha và như thế là đủ cho chúng con”. Chúa Giêsu đã phản ứng thế nào? Và trả lời làm sao? Ðó là những vấn đề mà chúng ta sẽ đề cập trong bài Tin Mừng.
Chúa không chọn các Tông Đồ dựa trên tiêu chuẩn của loài người; và khi đã chọn rồi thì Chúa chỉ đòi hỏi một điều nơi những người được chọn: hãy yêu mến nhau. Và khi đã chọn ai thì Chúa liền ra lệnh: hãy ra đi và sinh nhiều hoa trái.
Tâm trạng của Philipphê cũng là tâm trạng của vị vua trên hay của bất cứ ai trong chúng ta, một niềm tin đòi hỏi sự lạ. Bởi thế mà không ít người sẵn sàng hao tốn tiền bạc, thời giờ để tìm đến nơi xảy ra dấu lạ cho bằng được. Một dịp hành hương có ý nghĩa và quan trọng hơn Tam Nhật Thánh của ngày lễ Phục Sinh.
Tuy nhiên, đáp lại yêu cầu của Philipphê, Chúa Giêsu đã dùng một lời khẳng định và một câu hỏi khẳng định đặt trước và một câu hỏi nằm sau. Nếu theo đúng phương pháp sư phạm, câu hỏi phải được đặt trước, vì đặt câu hỏi là giúp khai mở dần của việc đối diện để hướng về sự thật sắp được giãi bày. Chẳng phải Chúa Giêsu không biết đến phương pháp này, nhưng Ngài đã trả lời cách khác, vì Ngài muốn nêu lên một chân lý: “Ai thấy Thầy là thấy Cha, Thầy với Cha là một”. Ðó là một thực tại quá hiển nhiên không còn phải bàn cải.
Câu hỏi tiếp theo có công dụng như một lời nhắc nhở cho Philipphê hãy quay nhìn trở lại cuộc sống thân tình giữa Thầy và các môn đệ. Những lời Thầy nói, những việc Thầy làm không phải là của Thầy, nhưng đều là của Thiên Chúa Cha ở trong Thầy. Sự thân tình quen thuộc đã khiến cho các môn đệ chẳng nhận ra Ngài là Thiên Chúa.
Lời nhắc nhở của Chúa Giêsu đối với tông đồ Philipphê cũng là lời Ngài muốn nhắc nhở chúng ta hôm nay. Ðừng cho các quen thuộc bên ngoài che mất thực tại bên trong. Tìm kiếm Thiên Chúa là một điều tốt, nhưng thật đáng trách khi đứng trước Ngài mà chẳng nhận ra Ngài. Chúng ta nôn nao tìm kiếm dấu lạ, nhưng rồi dấu lạ xảy ra trước mắt mà lại chẳng nhìn thấy.
Hằng ngày qua lời truyền phép của linh mục, Chúa Giêsu hiện diện thực sự trên bàn thờ mà đã mấy lúc chúng ta tỏ ra thái độ cung kính tin nhận Ngài. Và rồi trong cuộc sống, biết bao lời cầu khẩn, xin ơn được dâng lên Thiên Chúa, nhưng đã có lần nào chúng ta biết dừng lại để khám phá ra ơn lành của Ngài đã bị mất giữa chuỗi dài những quen thuộc thường xảy ra.
Chúa Giêsu muốn Kitô hữu chúng ta cũng phản ánh dung mạo của Người cho tất cả mọi anh em còn xa lạ với Chúa để họ được nhận biết Người; nghĩa là: nhìn vào đời sống các con, thiên hạ sẽ nhận biết được sự tốt lành của Thiên Chúa chân thật. Cụ thể: Tình thương được diễn tả bằng những cử chỉ cảm thông, chia sẻ, và phục vụ cách vô vị lợi – “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy là các con yêu thương nhau” (x. Ga 13, 35); bên cạnh đó, chúng ta còn phản ánh dung mạo của Đức Kitô bằng đời sống ngay thẳng, thật thà, liêm chính không gian dối, lươn lẹo, lọc lừa, hay tham lam, ích kỷ nơi học đường, trong công sở, chỗ làm việc…
“Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm được những việc Thầy đã làm; người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn.” Nhận biết và tin vào Thiên Chúa, chúng ta được thúc đẩy dấn thân để thực thi trọn vẹn ý muốn của Người. Như Thiên Chúa ở trong Đức Ki-tô và làm mọi việc (c. 10), chúng ta hãy tha thiết gắn bó và cầu xin để Đức Ki-tô làm mọi việc trong chúng ta hầu thi hành thánh ý của Người; và như thế chắc chắn muôn điều kỳ diệu sẽ được thực hiện trong cuộc sống.
15/5 Chúa Nhật thứ Năm Mùa Phục Sinh
Cv 14:21-27; Tv 145:8-9,10-11,12-13; Kh 21:1-5; Ga 13:31-33,34-35
Điều răn mới
Không phải chỉ có Kitô giáo mới giảng dạy về tình yêu thương. Văn hoá Á đông đã từng nhấn mạnh: Tứ hải giai huynh đệ, bốn bể đều là anh em. Cha ông chúng ta thuở trước cũng đã khuyên nhủ: Thương người như thể thương thân, để nói lên tấm lòng yêu thương rộng mở đối với mọi người trong xã hội. Vậy giới luật của Chúa có điều chi mới mẻ?
“Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.
Người ta cho rằng: yêu thương phát xuất từ con tim. Người ta còn nói: Tình yêu xưa như trái đất, nghĩa là tình yêu có từ khi có trái đất hay trái đất xưa bao nhiêu thì tình yêu lâu đời bấy nhiêu. Như thế, tình yêu cũ kỹ lắm rồi! Ở đấy, Đức Giêsu không nói đến thời gian có tình yêu. Người chỉ nói phải đổi mới tình yêu.
Tình yêu đã bị hủ hoá, tha hóa vì nó chứa quá nhiều các thứ trần tục, nó bị ô nhiễm bởi tội tổ tông, làm mất giá trị cao quý của con người siêu việt là con Thiên Chúa.
Yêu thương anh em, nhiều người trong chúng ta cho rằng, lệnh truyền này có tính cách giáo điều, mang nặng tính chất đạo đức, không còn gây được những ấn tượng mạnh mẽ. Trong khi đó, cuộc sống thì biến đổi từng ngày và từng giờ. Người ta chú trọng đến những vẻ hào nhoáng bên ngoài. Những lời nói tuyên truyền. Tất cả làm thành như một lớp sơn, phết trên thanh gỗ mục. Trong khi đó tinh thần bác ái, tinh thần yêu thương vẫn cứ bị quên lãng, và không có một chỗ đứng quan trọng nào trong sinh hoạt thường ngày.
Dựa vào những lời tâm sự cuối cùng của Chúa, chúng ta có thể tìm thấy được những nét độc đáo của tình thương yêu trong Kitô giáo. Nét độc đáo thứ nhất đó là hãy yêu thương nhau như Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta. Thực vậy, cái khuôn mẫu lý tưởng, cái thước được dùng để đo tình yêu thương của chúng ta, không còn là mối liên hệ máu mủ, cũng không còn là chính bản thân của mình nữa, nhưng là chính tình yêu của Chúa Giêsu, Đấng đã xuống thế và chịu chết trên thập giá để cứu chuộc chúng ta như lời Ngài đã nói: Không ai có tình yêu cao quý hơn người dám hy sinh mạng sống vì bạn hữu. Chỗ khác Ngài cũng bảo: Ta là mục tử tốt lành. Người mục tử tốt lành thì hy sinh mạng sống cho đoàn chiên. Tình yêu ấy không bị giới hạn, không bị ngăn cách nhưng được dành cho hết mọi người.
Bên cạnh thập giá Đức Kitô không ai là không có chỗ của mình, kể cả những kẻ tội lỗi, đĩ điếm và trộm cướp. Ngài không huỷ diệt một khả năng nào để vươn lên. Đứa con hoang đàng cũng có chỗ trong nhà cha mình. Người trộm cắp cũng được mời gọi tham dự tiệc cước và người phụ nữ nhẹ dạ cũng có thể hôn chân Ngài. Ngài đã tỏ cho chúng ta thấy một Thiên Chúa đầy lòng nhân từ và thương xót đối với mọi người, không trừ một ai. Tình yêu thương vô bờ ấy phải trở nên mẫu mực để chúng ta noi theo: Hãy yêu thương như như Thầy đã yêu thương các con.
Nét độc đáo thứ hai đó là tình yêu thương phải trở nên dấu chỉ của những người thuộc về Chúa. Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy là các con yêu thương nhau. Thực vậy, Chúa Giêsu không đòi hỏi các môn đệ của mình phải thông thái như các tiến sĩ luật, cũng không bắt họ phải sống gò bó nhiệm nhặt như nhóm biệt phái. Điều duy nhất Ngài đòi hỏi nơi các ông đó là tình yêu thương.
Ngay từ đầu các tín hữu đã thực sự sống tình bác ái yêu thương để làm chứng cho Đức Kitô phục sinh và trải qua dòng lịch sử của Giáo Hội, các tâm hồn ở mọi nơi và trong mọi lúc, vẫn nhận ra Thiên Chúa là tình yêu xuyên qua những chứng từ sống động của những người tin Chúa, được biểu lộ bằng hành động bác ái yêu thương.
Yêu thương nhau như Thầy yêu. Thiên Chúa là Tình Yêu. Thiên Chúa đã sai chính Con Một yêu dấu xuống thế để cứu độ nhân loại. Chúa Giêsu đã bày tỏ tình yêu Thiên Chúa một cách cụ thể trong đời sống. Tình yêu của Chúa trải rộng trong mọi khía cạnh của cuộc sống con người. Ngài đã dùng mọi cách gần gũi nhất để tỏ lòng yêu thương. Chúa sinh ra nơi máng cỏ nghèo hèn, chịu chung số phận với những người kiều cư khách lạ, sinh sống nơi làng quê nghèo và hoạt động cách bình dị âm thầm. Chúa Giêsu hoà chung những sinh hoạt hằng ngày với mọi người, đến nỗi người đồng hương chẳng nhận ra Chúa là ai. Họ nghĩ Chúa chỉ là con bác thợ mộc Giuse và mẹ là bà Maria. Thiên Chúa ẩn mình một cách thật khiêm hạ.
Chúa Giêsu đã kiên nhẫn đợi chờ trong thời gian và không gian để thi hành sứ mệnh. Ngài đã hoàn tất mọi lời tiên tri loan báo về Ngài. Chúa đã chịu mọi khổ nhục và chịu chết treo trên cây Thánh giá. Chúa đã sống lại. Mọi uy quyền trên trời dưới đất được trao ban trong tay Ngài. Mọi tư tưởng, lời nói, hành động của Chúa Giêsu là lời nói hành động của Thiên Chúa làm Người. Lời của Ngài là Tin Mừng cứu độ. Trước khi rời khỏi thế gian, Chúa Giêsu đã ưu ái ban truyền cho các Tông đồ: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Yêu thương nhau như Thầy yêu chúng con. Một điều răn căn cốt tóm gọm lời dạy của Chúa.
Chính vì hiểu như thế, Thánh Augustinô đã giải thích: “Sau khi lột bỏ con người cũ, nó mặc cho ta con người mới… Kẻ vâng theo giới răn mới này được canh tân, không phải nhờ một thứ tình yêu nào, nhưng chỉ nhờ tình yêu mà Chúa đã phân biệt với tình yêu xác thịt khi Người nói thêm rằng: “Như Thầy đã yêu chúng con”. Tình yêu ấy đổi mới chúng ta, những kẻ hát khúc ca mới. Tình yêu ấy đã canh tân tất cả những người công chính ngày xưa, các thánh tổ phụ, các tiên tri thời trước, cũng như đã đổi mới các dân tộc và toàn thể nhân loại sống rải rác khắp mặt địa cầu. Nó đang kết hợp lại thành một dân mới, làm thành thân thể người bạn trăm năm mới của con Thiên Chúa.
2022
Thầy đi dọn chỗ cho anh em
13/5 Thứ Sáu trong tuần thứ Tư Mùa Phục Sinh
Cv 13:26-33; Tv 2:6-7,8-9,10-11; Ga 14:1-6
Thầy đi dọn chỗ cho anh em
Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy tâm trạng của các môn đệ khi các ông biết Chúa Giêsu sắp lìa bỏ các ông mà đi. Mặc dù đã từng được kề vai sát cánh cùng Thầy Giêsu trong nhiều năm trên bước đường đi rao giảng, được Thầy dạy dỗ và bảo ban rất nhiều điều tốt lành và bổ ích, nhưng với thân phận con người, các ông không khỏi bàng hoàng, lo lắng cho cuộc sống của mình khi không có Thầy của mình bên cạnh. Trong bối cảnh như thế, các ông cảm thấy cuộc sống phía trước của mình thật là u sầu, ảm đạm, các ông không biết mình sẽ đi đâu và đi theo ai bây giờ
Lời căn dặn đầu tiên với các môn đệ mà hôm nay ai nghe mà không yên tâm, tin tưởng?: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. Được gần bên Chúa ba năm, các ông đã được chứng kiến quyền năng, phép tắc của Người. Nhất là được tận hưởng tình yêu thương của Chúa nữa. Thiết nghĩ nếu Chúa không dặn dò gì nữa thì các ông cũng đã được đầy an vui hy vọng nơi Người rồi. Thế nhưng, các ông lại còn được lời căn dặn ân tình thắm thiết, càng chứng tỏ Chúa yêu thương, lo lắng cho các ông đến mức nào. Người lo lắng cho các ông hôm nay và lo lắng cho cả tương lai.
Trước nhất Chúa chỉ vẽ cho các ông nơi đặt niềm tin tối cần và tối cao trong đời mình: “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. Ở đời ta còn phải tin vào những đối tượng khác nữa như: ông bà, cha mẹ, người thân… Nhưng Thiên Chúa, là Đấng quyền năng tối cao trong thế giới vũ trụ này và trên cuộc đời mỗi người chúng ta, nên ta phải đặt vào Người một niềm tin tuyệt đối.
Chúa tiếp tục dặn dò và hứa với các ông, nếu tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy thì sau này các ông sẽ được về“nhà Cha Thầy”. Chúa như vật chất hóa, cụ thể hóa ngôi nhà của Thiên Chúa trên trời để các ông dễ tin, dễ hiểu, dù chưa được thấy, được đến bao giờ nhưng tin chắc có ngôi nhà ấy: “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở… Thầy đi để dọn chỗ cho anh em”.
Một điều mà làm cho các môn đệ cũng như cả chúng ta hôm nay vui sướng, yên vui nhất đó là chính lời hứa cũng như cam kết của Chúa với các môn đệ: “Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó”. Ôi! con người mà được ở chung một nhà, một chốn với Đấng Tạo Hóa quyền phép toàn năng, còn ai được hạnh phúc bằng.
Khi biết được tâm trạng và những suy nghĩ lo lắng của các môn đệ, Chúa Giêsu đã nói: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy“. Lời trấn an của Chúa Giêsu đã làm cho các môn đệ cảm thấy an lòng. Chúa Giêsu không chỉ muốn tâm hồn các ông được bình an thư thái, nhưng Ngài còn muốn khích lệ các ông hãy hướng tâm hồn về Nước Trời, hãy tìm cho mình một con đường, mà con đường đó sẽ dẫn đưa họ đến với cuộc sống trường tồn và vĩnh cửu, khi Ngài nói: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống…”
Nói đến đây, các môn đệ tưởng như Chúa Giêsu sẽ chỉ vẽ cho các ông một con đường vật chất, để đi tới ngôi nhà vật chất có không gian, địa lý của Thiên Chúa. Vì vậy khi Chúa nói đến “Thầy đi đâu anh em biết đường rồi”, các ông đã ngơ người. Tôma là người điển hình thưa lại: “Thưa Thầy chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao biết được đường?”. Vậy là cuối cùng Chúa Giêsu đã nói cho các môn đệ con đường để về với Chúa Cha thật mầu nhiệm vừa hữu hình vừa vô hình: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống”.
Chúa là con đường: Ai vâng nghe lời Chúa, thực thi lời Chúa, nên giống Chúa là họ đang đi trên con đường của Chúa bước về nhà Thiên Chúa. Bước trên con đường ấy họ như đã bước vào ngưỡng cửa của ngôi nhà Thiên Chúa, họ đã được nếm thử, ngắm nhìn, dù chưa được hưởng ngoạn tất cả hạnh phúc huy hoàng nơi Nhà Thiên Chúa.
Chúa là sự thật: Tin giữ lời Chúa, ta không còn buồn phiền lo lẵng mà yên vui sống trên dương thế, cho dù gặp muôn nỗi thăng trầm nhưng tin tưởng Lời Chúa sẽ thành hiện thực.
Chúa là sự sống: Chúa là chủ, là nguồn cội sự sống thân xác và sự sống linh hồn mọi người. Tổ tiên ta đã có câu: “Sống chết bởi Trời”. Còn như thánh Phaolô dạy: “Anh em có sống là sống cho Chúa và có chết cũng là chết cho Chúa”. Thật thế Chúa nắm giữ vận mạng tôi, để tôi luôn gắn kết tâm hồn thể và xác tôi trong Người.
Chúa Giêsu ra đi không phải đi tìm hạnh phúc cho riêng mình, nhưng cho các tông đồ và cho cả nhân loại. Ngài ra đi để chúng ta được cứu rỗi, Ngài đi trước để dọn chỗ cho chúng ta được sống đời đời hạnh phúc bên Chúa Cha. Chính qua cái chết và sự phục sinh của Ngài, Ngài đã trở thành con đường duy nhất dẫn chúng ta đến với Chúa Cha.
Khi suy nghĩ về mục đích của cuộc đời hiện tại và về cuộc sống mai sau, chúng ta hãy biết sống tỉnh thức bằng việc giữ tâm hồn trong sạch, luôn tín thác vào Chúa, Ngài sẽ giúp chúng ta đạt tới hạnh phúc muôn đời nơi Nhà Cha của Ngài là Thiên Đàng vinh phúc đã được dọn sẵn cho chúng ta.
