2022
LÒNG NHÂN
15.7 Thánh Bonaventure, Gmtsht
Is 38:1-8,21-22; Is 38:10-11,12,16; Mt 12:1-8
LÒNG NHÂN
Ai cũng biết lòng nhân trọng hơn lễ vật nhưng lắm kẻ vẫn thích dùng lễ vật để “khuynh đảo” lòng nhân, khiến lòng nhân phải nghiêng ngửa! Hằng ngày chúng ta nghe nói đến biết bao nhiêu vụ tham nhũng hối lộ động trời xảy ra trên mọi lĩnh vực. Tiếp theo đó là biết bao việc làm sai trái được nhắm mắt làm ngơ. Hậu quả là những người thấp cổ bé miệng phải gánh chịu những bất công. Ôi! Phải chi người ta biết trọng lòng nhân hơn lễ vật thì đâu có chuyện người vô tội bị áp bức bất công! Một khi lễ vật bị đặt sai chỗ, bị dùng để mua chuộc, lấy lòng nhau thì lòng nhân sẽ không còn là lòng nhân nữa mà chỉ còn bất nhân.
Tin Mừng hôm nay nằm trong phần đầu của chương 12. Một chương nói nhiều về luật ngày Sabát : không được làm việc trong ngày sabát, ngay cả khi đó là một công việc tốt cho tha nhân. Kế đó, Chúa Giêsu cũng tỏ lộ Người là tôi trung của Thiên Chúa qua việc tiên báo dấu lạ ngôn sứ Giôna. Nhưng người pharisiêu cho rằng Chúa Giêsu dùng quyền lực ma quỷ khi Người xua trừ thần dữ. Chúa Giêsu kết luận : nếu tư tưởng và trong thâm sâu cõi lòng con người chứa đầy sự xấu xa, thì ắt sẽ tràn ra bờ môi, thể hiện trong lời nói và hành động. Cuối chương 12, Chúa Giêsu khẳng định : Ai thi hành ý Chúa Cha, người đó sẽ thuộc về gia đình Chúa Giêsu, thuộc dòng dõi Thiên Chúa… Nhưng ở đây, tôi chỉ xin chia sẻ một khía cạnh khác ngoài cụm từ “ ngày sabát” nổi cộm ở trên, đó là Lòng Nhân của Thiên Chúa.
Mở đầu bài Tin Mừng chỉ vỏn vẹn trong một câu mà thánh sử đã giới thiệu về: thời điểm “ngày sabát”, về các nhân vật “Chúa Giêsu và các môn đệ”, về địa thế “một cánh đồng lúa” và sự kiện “đói, bứt lúa ăn”. Cùng một vấn đề mà Chúa Giêsu và người Pharisiêu có những quan điểm đối nghịch. Người Pharisiêu nói với Chúa Giêsu “ các môn đệ của ông đã làm điều không được phép”, nghĩa là: các ông ấy đã vi phạm luật; phần ông là thầy của họ, ông đã không dạy đồ đệ của mình giữ luật cho thật tốt. Họ kể cho Chúa Giêsu nghe lỗi của các môn đệ nhưng đồng thời muốn “dằn mặt” ông thầy về việc tuân giữ luật lệ tổ tiên.
Vào lúc này, Chúa Giêsu mới mở tâm trí cho họ hiểu ý nghĩa những điều đã viết trong Sách Thánh, sách mà họ đọc hàng ngày, sách mà họ đeo nơi tua áo, mang vác trên người “các ông chưa đọc trong sách sao? Ông Đavít đã làm gì khi ông và thuộc hạ đói bụng?”. Chúa Giêsu đã dẫn chứng một trường hợp cụ thể, rất gần với hiện trạng đói bụng của các môn đệ. Người nói : “Đavít vào nhà Thiên Chúa và cùng thuộc hạ ăn bánh tiến, thứ bánh chỉ dành riêng cho tư tế mà thôi”.
Thật thế, do lòng nhân từ của Thiên Chúa, Ngài không thể chịu được nỗi khốn cùng của kẻ Ngài tuyển chọn. Họ ăn bánh tiến, họ đã bứt lúa, chỉ vì… họ đói. Ở đây, Chúa Giêsu thể hiện gương mặt Thiên Chúa nhân từ, Người muốn trở nên giống anh em mình trong mọi sự, để cảm nghiệm sự khốn cùng của kẻ mà Người cứu vớt. Vì thế, lời nói và dẫn chứng của Người cũng là cách phô diễn lòng nhân từ của Thiên Chúa, mà đối tượng Chúa ưu đãi luôn là người nghèo. Như thế, tình thương Chúa lan tràn và bao trùm mọi người, không phân biệt, không loại trừ và ơn cứu độ tuôn đổ dồi dào trên khắp mặt đất.
Ở câu 5, Chúa Giêsu còn dẫn chứng rằng “ Trong ngày sabát, các tư tế trong đền thờ vi phạm luật mà không mắc tội”. Người tỏ lộ quyền năng của một vị Thiên Chúa “ở đây còn lớn hơn Đền Thờ và Người làm chủ ngày sabát, làm chủ luật lệ…”. Nếu Đền Thờ là nơi Thiên Chúa ngự, là chỗ con người tụ họp thờ phượng và tạ ơn Thiên Chúa; còn luật lệ là kim chỉ nam hướng dẫn con người tôn thờ Thiên Chúa cho tốt, biết cách đối xử với nhau bằng tình yêu… thì cớ gì Đền Thờ là nơi chúng ta bị “bắt lỗi” hay bị trừng phạt ? Còn luật lệ lại trở thành sợi dây ích kỷ trói buộc tình yêu tha nhân, biến con người trở nên những cỗ máy vô cảm trước sự đói khổ của anh em đồng loại? Chúa Giêsu nhấn mạnh cho họ điều cốt lõi của luật, đó là: Thiên Chúa muốn lòng nhân, chứ không cần lễ tế.
Vua Đavít đã cảm nhận lòng nhân từ của Thiên Chúa qua thánh vịnh 50: “Lạy Thiên Chúa, Xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, Mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm..”và thánh vương đã xin được “rơi vào tay Giavê còn hơn là vào tay con người, vì Giavê có lòng nhân từ vĩ đại..” (2 Sm 24, 14). Phải, điều Thiên Chúa muốn chính là người ta phải vâng giữ giới luật “tình yêu huynh đệ” hơn cả hy lễ toàn thiêu và lễ xá tội (Hs 4, 2) và khi thực hành đức công chính, là ta hoàn tất bằng một tình yêu âu yếm (Mk 6, 8).
Thiên Chúa là Đấng nhân từ và Ngài cũng đòi hỏi con người cần có lòng thương cảm lẫn nhau “anh em hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ”.
Đó cũng là điều kiện cần thiết để vào Nước Trời. Tình thương ấy như người Samaritano tốt lành, đến gần và giúp đỡ người khốn khổ, dù không quen biết (Lc 10, 30-37); tình thương ấy là tha thứ cho người đã xúc phạm đến mình (Mt 18, 23-35), chỉ vì tôi được Thiên Chúa thương xót và tình yêu của Thiên Chúa chỉ có nơi những người thực thi Lòng thương xót (1Ga 3, 17)
Quả thật, nhiều người giữ đạo một cách máy móc. Họ tham gia đầy đủ các nghi lễ, tuân thủ mọi quy định, đóng góp mọi điều khoản. Họ tự hào vì giữ đạo một cách sốt sắng nhiệt tình, và bởi thế, họ chỉ trích những ai không giữ đạo như họ. Đó không phải là đạo thật. Họ chỉ giữ hình thức bên ngoài mà không hiểu ý nghĩa bên trong, giống như những người Pharisêu thưở xưa.
Chúa mời gọi chúng ta hãy hướng về Chúa với một con tim đơn sơ chất phác, Người thích đón nhận tâm hồn hơn là những lời kinh, Người thích chúng ta trao dâng tình yêu hơn là những việc thờ phượng trống rỗng. Người muốn chúng ta yêu thương giúp đỡ tha nhân hơn là tuân thủ lề luật một cách cứng nhắc.
Cũng nhân dịp này Chúa Giê-su hướng họ đến một vấn đề quan trọng mà việc này không nằm nơi việc tuân giữ lề luật một cách câu nệ;. Đó là tấm lòng chân thành, đơn sơ, nhân nghĩa; Đây là của lễ cao trọng, có thể thay thế mọi của lễ khác mà dâng lên Thiên Chúa “ Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần của lễ.”
2022
Hiền hậu và khiêm nhường
14.7 Chân Phước Kateri Tekakwitha, Đt
Is 26:7-9,12,16-19; Tv 102:13-14,15,16-18,19-21; Mt 11:28-30
Hiền hậu và khiêm nhường
Hiền hậu hay Hiền hậu là thái độ của một người tốt lành, giàu lòng từ bi nhân ái, có lòng thương xót và thích làm điều tốt cho kẻ khác. Hiền hậu theo Kinh Thánh còn có nghĩa là thái độ hiền dịu, không cứng cỏi… Như vậy sự hiền hậu vừa có trong lòng lại vừa phát xuất ra bên ngoài: Trong lòng thì từ bi, khoan dung, độ lượng, cảm thông, còn bên ngoài thì nhẹ nhàng, từ tốn nhỏ nhẹ, không thô bạo, không gây thù chuốc oán với ai…
Trong đời sống thường ngày, những người có quyền thường tự cao tự đại, không muốn ai làm trái ý mình, lại thường nóng tính biểu lộ qua nét mặt cau có, hay la mắng người dưới làm trái ý mình, có khi còn “giận cá chém thớt” nữa.
Khiêm nhường là thái độ nhún nhường không thích khoe khoang thành tích, sẵn sàng hạ mình một chút. Căn bản của khiêm nhường là tôn trọng sự thật về mình: nhận thức đúng mình là người xấu tốt như thế nào để không muốn mình nổi trội hơn người khác. Giả như người khác có coi thường mình thì cũng không tức giận và không để bụng trả thù. Nhờ “biết mình biết người” như vậy nên người khiêm nhường sẽ luôn thành công trong mọi việc, sẽ tránh được buồn phiền chán nản khi sự thể xảy ra không như ý của mình. Người khiêm nhường dễ gây được thiện cảm với người khác và nhận được sự hợp tác của nhiều người.
Nếu Chúa Giêsu mở lớp dạy các môn học như: Toán, Lý, Hóa, Anh văn, Vi tính… Có lẽ nhiều người sẽ đăng ký học, bởi vì những môn học này có lợi ích thiết thực đối với nhiều người. Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy Chúa Giêsu mở lớp dạy môn “Hiền lành và khiêm nhường” khi Chúa nói: “Anh em hãy học với tôi vì tôi hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11, 29). Khởi đi từ ý tưởng nền tảng này, chúng ta cùng tìm hiểu hai điều quan trọng sau đây: Thứ nhất, đó là sống hiền lành và khiêm nhường trong tương quan với Thiên Chúa; thứ hai, đó là sống hiền lành và khiêm nhường trong tương quan với mọi người.
Trước hết, đó là sống hiền lành và khiêm nhường trong tương quan với Thiên Chúa. Người sống hiền lành và khiêm nhường là người sống lòng biết ơn Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã nói: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh?” (2 Cr 4, 7), điều này có nghĩa là mọi sự chúng ta có đều do bởi ơn Chúa. Thật vậy, có ai trong chúng ta đây có thể tự tạo ra mạng sống, trí khôn, sức khỏe, thời gian… cho mình đâu. Tất cả những gì chúng ta đang có đều được Chúa ban cho. Ngược lại, người kiêu ngạo là người vô ơn với Thiên Chúa và cho rằng mọi sự mình có đều do sức riêng của mình, vì thế, dễ dẫn đến việc xem thường Thiên Chúa, không tôn trọng Thiên Chúa và mọi người.
Tiếp theo, đó là sống hiền lành và khiêm nhường trong tương quan với mọi người. Trong đời sống cộng đồng xã hội, chúng ta có thể sống hiền lành và khiêm nhường khi chúng ta ghi nhận công ơn của mọi người và quảng đại đóng góp vào những công việc chung của cộng đồng. Chúng ta thấy rằng không ai trong chúng ta có thể tự lo cho mình hết mọi việc. Chúng ta cần đến người thợ để hớt tóc hoặc may quần áo; cần có bác sĩ để chữa bệnh, cần những công nhân làm ra các sản phẩm để sử dụng mỗi ngày, cần những nông dân để làm ra lúa gạo, cần người đánh cá, cần người quét đường v.v…
Những kẻ vất vả mang gánh nặng mà Tin Mừng hôm nay nhắc đến được các nhà chú giải hiểu là những con người đơn sơ khiêm tốn, sẵn sàng để Thiên Chúa dạy dỗ hướng dẫn, như được nói đến trong đoạn Tin Mừng trước đó. Tâm hồn họ đã sẵn sàng, giờ đây, Chúa Giêsu mời gọi họ đến với Ngài để được Ngài nâng đỡ bổ sức cho; hay nói theo một bản dịch Kinh Thánh khác: để được Ngài giải thoát khỏi gánh nặng. Gánh nặng nào? Ðó là gánh nặng của lề luật mà các nhà thông thái chất trên vai những con người đơn sơ, hèn mọn. Họ bó gánh nặng đặt lên vai người khác, còn chính họ thì không muốn động ngón tay vào, như lời Chúa trách cứ thái độ giả hình của những người Biệt Phái. Tinh thần vụ luật, vụ hình thức đã làm cho những vị lãnh đạo Do Thái giáo không còn quả tim để thông cảm nữa.
Chúa Giêsu mời gọi dân chúng đến với Ngài để được Ngài giải thoát khỏi gánh nặng và được nâng đỡ bổ sức. Chống lại những người Biệt Phái, Chúa Giêsu đề ra một cái ách mới cho những ai chấp nhận Ngài. Ðây chẳng phải là không còn lề luật, bởi vì giáo huấn của Chúa Giêsu đòi hỏi không thua gì lề luật của Môsê. Nhưng đối với Chúa Giêsu, những kẻ tuân giữ luật Chúa được sức mạnh tinh thần nâng đỡ ủi an, đó là sức mạnh của Thánh Thần mà Ngài đã ban cho các môn đệ để họ tuân giữ luật Chúa, và như vậy luật Chúa trở nên nhẹ nhàng, dễ chu toàn.
Người Kitô hữu không lẻ loi một mình, không tự sức mình tuân giữ luật Chúa. Hằng ngày họ được Chúa nuôi dưỡng bằng chính Mình Máu Thánh Ngài và được ban cho tràn đầy Thánh Thần. Sống theo ơn soi sáng của Thánh Thần, họ sẽ cảm nghiệm được rằng đời sống đức tin với tất cả những hệ lụy, những đòi buộc của nó, sẽ không còn là gánh nặng, mà là niềm vui và sức mạnh trong mọi biến cố, mọi hoàn cảnh cuộc đời.
Không có ai dám kêu gọi người ta đến với mình để được an ủi đỡ nâng khi người đó biết mình sắp lìa cõi thế, ngoại trừ một mình Chúa Giê-su; mà lý do để làm thế là vì Ngài “hiền lành và khiêm nhường.” Hiền lành và khiêm nhường, đó là căn tính của Vị Thiên Chúa Làm Người: Ngài chiếu tỏa dung nhan hiền hậu của Chúa Cha, Đấng đầy lòng thương xót. Tin Mừng hôm nay vừa tiên báo cái chết đau thương của Con Chiên hiền lành bị đem đi xén lông và làm thịt, vừa là lời mời gọi mỗi người tin tưởng vào tình yêu của Chúa giữa cảnh đời buồn nhiều hơn vui, vất vả nhiều hơn sung sướng và khổ đau nhiều hơn hạnh phúc này.
Tóm lại, không ai trong chúng ta có thể sống cho riêng mình. Chính vì thế, chúng ta cần khiêm tốn nhận ra sự thiếu thốn của mình để đón nhận người khác, để ghi nhận công ơn của mọi người và để tích cực góp sức mình xây dựng và làm phát triển cộng đoàn xã hội. Ngược lại, người kiêu ngạo thì sống vô ơn, ích kỷ, không đóng góp vào việc xây dựng cộng đoàn.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta sống hiền lành và khiêm nhường trong tương quan với Thiên Chúa và mọi người. Xin Chúa biến đổi chúng ta để chúng ta biết sống mến Chúa và yêu người mỗi ngày một hơn.
2022
Quay về nẻo chánh đường ngay
12.7 Thứ Ba trong tuần thứ Mười Lăm Mùa Quanh Năm
Is 7:1-9; Tv 48:2-3,3-4,5-6,7-8; Mt 11:20-24
Quay về nẻo chánh đường ngay
Trang tin mừng hôm nay ta thấy Chúa Giêsu bắt đầu quở trách các thành : « Khốn cho ngươi hỡi Kho-ra-din, khốn cho ngươi hỡi Bết-xai-đa »
Và sau đó, Người còn nói : « Còn ngươi nữa, hỡi Ca-phác-na-um, ngươi tưởng sẽ được nâng lên đến tận trời ư? Ngươi sẽ phải nhào xuống tận âm phủ! »
Dân những thành ven hồ Tiberia được nghe Lời Chúa và chứng kiến những phép lạ của Ngài nhiều hơn những nơi khác, lẽ ra họ phải tin Chúa nhiều hơn, đằng này ngược lại. Ta có thể tưởng tượng sự thất vọng của Chúa Giêsu trong những lời Ngài thốt ra: khốn cho ngươi, hỡi Corozain! Khốn cho ngươi, hỡi Bethsaiđa. Lời trách mắng của Chúa Giêsu giống cách của người cha nhân từ sửa dạy những đứa con ngỗ nghịch và cứng lòng không nghe theo lời dạy dỗ của mình. Chúa Giêsu yêu thương tất cả mọi người, Ngài không muốn bất cứ ai phải hư mất, chính vì thế mà Ngài giận dữ và trách mắng những kẻ tội lỗi để họ tỉnh thức và hoán cải để được cứu rỗi.
Chúng ta đừng để mình bị tê liệt bởi những lời quở trách và những lời công bố án phạt nặng nề. Cũng giống như cha mẹ của chúng ta nói những lời rất mạnh, khi chúng ta phạm lỗi nặng. Nhưng đó là những lời có tính sư phạm, chứ không phải là lời phán quyết chung cục, nghĩa là những lời này được nói ra để làm cho chúng ta sợ, sửa đổi, hoán cải, không dám tái phạm và trở nên tốt hơn.
Thật vậy, những lời quở trách của Chúa Giê-su, trong trường hợp này, không phải là lời nói cuối cùng của Chúa Giê-su, nói cách khác, đây không phải là bức thư tối hậu. Lời nói cuối cùng, lời tối hậu của Chúa Giê-su là « lời Thập Giá » (1Cr 1, 18), nói lên tình yêu bao dung và tha thứ tuyệt đối của Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa là tình yêu và chỉ là tình yêu mà thôi.
Điều quan trọng là ba thành phố này đã làm gì, đã phạm lỗi gì khiến cho Chúa Giê-su nổi giận như vậy : đó là không sám hối, khi chứng kiến các dấu lạ Chúa Giê-su đã thực hiện. Và trong bài Tin Mừng, Chúa Giê-su nhấn mạnh đến sự từ chối của cả một tập thể, đó thành Kho-ra-din, thành Bết-xai-đa và thành Ca-phác-na-um đã không biết đọc ra các dấu chỉ mà Ngài thực hiện ở giữa họ để hoán cải.
Khi nghe những lời này, ước gì chúng ta quan tâm nhiều hơn đến cách thức cả Hội Dòng, cộng đoàn và gia đình nhận ra sự hiện diện, hoạt động và lời mời gọi của Chúa ngang qua các dấu chỉ Chúa ban cho chúng ta. Có thể nói, chúng ta cũng được Chúa ưu ái ban cho các dấu lạ như đã ban cho Kho-ra-din, Bết-xai-đa và Ca-phác-na-um. Và Chúng ta cũng được mời gọi nhận ra những dấu lạ Chúa làm cách nhưng không cho mỗi người chúng ta ở trong cuộc đời, để với lòng biết ơn, chúng ta yêu mến và phụng sự Chúa trong mọi sự. Nếu không, có lẽ Chúa cũng « nổi giận » !
Trước hết, đó là dấu chỉ sự sống và tất cả những gì liên quan đến sự sống (thiên nhiên, môi trường sống, dân tộc, xã hội, gia đình, lương thực, tương quan, ý nghĩa cuộc đời, ơn gọi…), và nhất là Đức Giê-su Ki-tô, quà tặng tuyệt vời nhất mà Thiên Chúa đã ban cho loài người và cho từng người chúng ta. Người là Dấu Lạ của mọi dấu lạ, ơn huệ của mọi ơn huệ. Bởi vì, Người là đường đi, là ánh sáng, là lương thực hằng sống, là tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người. Nhận ra ơn huệ Thiên Chúa ban (Ga 4, 10) sẽ khơi dậy nơi chúng ta lòng khát khao được Thiên Chúa dẫn đưa theo chính lộ ngàn đời (Tv 139).
Khi Chúa Giêsu sai 72 môn đệ lên đường thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng Nước Trời (Lc 10, 1-12), Ngài không nói tới cá nhân, nhưng chỉ nói tới “cấp” nhà và “cấp” thành: vào nhà nào…; vào thành nào… Đó chính là chiều kích liên đới của ơn cứu độ mà Kinh Thánh và Tin Mừng đặc biệt nhấn mạnh; chẳng hạn, trong lời đối thoại của tổ phụ Abraham với Đức Chúa, chúng ta thấy rằng những người công chính có thể cứu được cả một thành đô (St 18, 16-33); và Đức Giêsu nói với ông Giakêu: “hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (Lc 19, 9).
Trong thực tế, ơn cứu độ thường được nêu ra và giải đáp chỉ trên bình diện cá nhân: tội ai nấy chịu, công ai nấy hưởng. Điều này đúng, nhưng vẫn còn một sự thật khác: trong Chúa, còn có sự liên đới trong lầm lỗi, trong xét xử và trong cả ơn phúc nữa. Vì thế, đối tượng loan báo Tin Mừng của chúng ta không chỉ là những cá nhân, nhưng còn là và nhất là cả một dân tộc, một xã hội, một thành phố, một làng, một nhà, một cộng đoàn.
Sự liên đới trong sứ mạng loan báo Nước Trời, sự liên đới trong sự đón nhận lời loan báo, đặt nền tảng trên một sự liên đới khác, đó là sự liên đới thần linh: “Ai nghe anh em là nghe Thầy, ai từ chối anh em là từ chối Thầy; nhưng ai từ chối Thầy là từ chối Đấng đã ai Thầy” (Lc 10, 16)
Nếu để tâm suy nghĩ một chút, chúng ta thấy một ngày trôi qua, quanh chúng ta, trong chúng ta đã xảy ra biết bao điều lạ lùng, từ bé nhỏ cho đến to lớn. Mặt trời, mặt trăng và muôn ngàn tinh tú đang di chuyển trong vũ trụ nhưng không xảy ra va chạm…Trong cơ thể của mình, chúng ta chẳng biết điều hành gì đâu? Mà mọi bộ phận trong cơ thể vẫn âm thầm hoạt động nhịp nhàng đâu vào đấy, ăn khớp vơi nhau khiến chúng ta duy trì được sự sống. Đấy với những sự việc lạ lùng đang xảy ra quanh và trong chúng ta nó cũng như những phép lạ mà Tạo Hóa đã an bài để chúng ta nhìn vào đó mà nhận biết có một Thiên Chúa toàn năng, Đấng dựng muôn vật và quan phòng mọi sự, để tôn thờ, phụng sự và làm những điều đẹp lòng Ngài.
Lời Chúa hôm nay cũng cảnh báo chúng ta;hãy nhạy bén hơn trước những dấu chỉ xẩy ra trong thời đại mà chúng ta đang sống, mà ý thức để luôn giữ mình trong thư thế sẵn sàng đón chờ Chúa đến lần thứ hai để xét xử trần gian.
2022
Để làm môn đệ Chúa Giêsu …
11.7 Thánh Benedictô, Tu Viện Trưởng
Is 1:10-17; Tv 50:8-9,16-17,21,23; Mt 10:34; Mt 11:1
Để làm môn đệ Chúa Giêsu …
Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu nêu lên những điều kiện để làm môn đệ của Ngài và những niềm vui cùng phần thưởng đi kèm theo những điều kiện đó.
Trước tiên, Chúa Giêsu đòi hỏi người môn đệ phải đặt tình yêu và sứ vụ lên trên mọi tương quan gia đình, trên cả mạng sống ; Chúa cũng muốn người môn đệ phải định hướng sứ vụ bằng cách vác thánh giá đi theo Chúa. Đây là đòi hỏi quyết liệt nhất.
Muốn thuộc về Chúa Kitô, muốn làm môn đệ thân tín của Ngài, các tín hữu phải yêu mến Ngài hơn yêu mến cha mẹ, yêu Ngài hơn yêu mến con trai con gái “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy”. Tình yêu không được đầu môi chót lưỡi, nhưng phải được cụ thể hoá bằng hành động như: chăm chỉ cầu nguyện, siêng năng lãnh nhận bí tích, thường xuyên đọc, suy gẫm và thực thi lời Chúa… Nếu Chúa đòi ta phải làm gì lớn hơn mối liên hệ gia đình, ta phải sẵn sàng đáp lại như: dấn thân đi truyền giáo, sống đời tu trì…
Đặt tình yêu Chúa lên trên mọi tương quan thiết thân như cha mẹ, anh chị, vợ chồng và con cái ; người môn đệ phải từ bỏ tất cả ngay cả những điều hợp lẽ nhất. Khi từ bỏ như vậy, người môn đệ không còn bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì, hoặc bất cứ lý do nào. Người môn đệ không còn gì để bám víu, để níu kéo, hay lệ thuộc nữa.
Làm môn đệ của Chúa Kitô, các tín hữu không được phép từ chối thập giá, trái lại phải vui vẻ đón nhận, vác đi cho đến cùng trong sự liên kết với Ngài. Lý do cho việc bỏ mình vác thập giá là chính Chúa Kitô đã đón nhận thập giá đau khổ từ Chúa Cha, vác đi đến cùng, và chịu chết trên thập giá để cứu độ nhân loại. Như thế, nhờ Chúa Kitô mà thập giá khổ đau không còn vô nghĩa, nhưng có giá trị cứu độ. Thập giá như là phương tiện không thể thiếu trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa: Thập giá đem lại quả phúc trường sinh. Ai từ chối thập giá, không đón nhận vì lòng yêu mến và mang lấy trong cuộc đời, thì người ấy không xứng đáng với ơn cứu độ. Thập giá của mỗi người chính là những khổ đau vẫn xảy ra ngay trong cuộc sống hằng ngày.
Làm môn đệ Chúa Kitô, các tín hữu phải sẵn sàng liều mất mạng sống vì Chúa Kitô. Nếu không sẵn sàng liều mất mạng sống, cố gắng giữ chặt, thì không những không giữ được mà còn mất luôn cả sự sống đời đời “Ai tìm giữ mạng sống mình, thì sẽ mất; ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.” Chúa Kitô đã liều mất mạng sống mình vì đoàn chiên, nhờ đó đoàn chiên được sống và được sống dồi dào. Cuộc đời của Chúa Kitô được ví như hạt lúa mì rơi vào lòng đất đã thối đi, chết đi để trổ sinh nhiều bông hạt là nguồn ơn cứu độ cho tất cả nhân loại. Cuộc đời mỗi tín hữu cũng phải chết đi cho thói quen xấu, cho những đam mê, hẹp hòi toan tính. Chỉ chết đi như thế, cuộc đời của họ mới trổ sinh nhiều hoa trái như thánh Phaolô đã nói với các tín hữu Rôma: “Nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô, chúng ta sẽ cùng sống với Người”.
Đặt tình yêu Chúa lên trên mạng sống. Chúa Giêsu muốn người môn đệ phải dấn thân đến cùng trong mọi hoàn cảnh. Khi dấn thân như vậy, người môn đệ không còn gì để sợ mất, không có sứ vụ nào phải e ngại, không gì có thể làm cản bước chân dấn thân phục vụ. Người môn đệ noi gương Chúa Giêsu đến hy sinh cả mạng sống mình.
Đặt chọn lựa của mình theo Thánh Ý Chúa, Chúa Giêsu muốn người môn đệ phải đi theo con đường của Chúa bằng cách vác thánh giá đời mình mà theo.
Chính khi từ bỏ không còn gì để bám víu, không còn gì để lo giữ hoặc sợ mất ; Chính khi dấn thân đến quên mình và vác Thánh Giá đi theo Chúa. Người môn đệ trở nên giống Chúa hoàn toàn. Khi ấy người môn đệ sẽ được phần phúc vinh quang với Chúa. Vì như Chúa đã nói: Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Ðấng đã sai Thầy.
Để minh chứng mình muốn làm môn đệ Chúa, muốn thuộc về Chúa, muốn bày tỏ lòng yêu mến Chúa, các tín hữu phải rộng rãi đón tiếp người của Chúa “Ai tiếp đón anh em là tiếp đón Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy”. Chúa Kitô không ở mãi trên trần gian này. Ngài đã về trời và trước khi về trời, Ngài đã sai các tông đồ, các môn đệ ra đi tiếp tục sứ mạng của Ngài. Kế vị các tông đồ là các giám mục, các linh mục của Chúa. Khi vâng nghe các ngài là ta vâng nghe Chúa Kitô. Ai nghe lời Chúa Kitô thì thuộc về Chúa Kitô, xứng đáng được Chúa Cha yêu mến. Bài đọc thứ nhất trích sách các Vua cho hay: hai vợ chồng người Su-nêm có lòng mến khách, rộng rãi đón tiếp Êlisa, một ngôn sứ, một người của Chúa. Kết quả của lòng mến khách, mến người của Chúa là được Chúa chúc phúc: “Vào thời kì này, vào độ này sang năm, bà sẽ có cháu trai bồng” dẫu cho bà ấy không có con trai và chồng bà đã già.
Kitô hữu nghĩa là người có Chúa Kitô, thuộc về Chúa Kitô, đi theo Chúa Kitô, và sống chết cho Chúa Kitô. Vì thế, cuộc đời và lý tưởng của họ phải là Chúa Kitô, đặt Chúa Kitô lên trên mọi sự, thậm chí có thể hy sinh mạng sống vì Chúa Kitô như các thánh tử đạo đã làm.
