2022
Con đường cứu độ của Chúa
8.8 Thánh Đa Minh, Lm
Ed 1:2-5,24-28; Tv 148:1-2,11-12,12-14,14; Mt 17:22-27
Con đường cứu độ của Chúa
Ngay từ lúc còn nhỏ, thánh nhân đã mến mộ sự học hành, cầu nguyện, hãm mình, sống khắc khổ và yêu thương người nghèo. Mỗi ngày đều có giờ nhất định để cầu nguyện và ngài ăn chay hãm mình luôn. Ngày kia có người đến xin Ngài giúp đỡ để chuộc lại đứa em bị bắt, ngài không còn tiền cho người ấy, vì đã bố thí hết, nên nói:
– Tôi không còn tiền, nhưng này chị hãy dẫn tôi nộp cho người ta, để chuộc em chị về.
Người này không thể chấp nhận được đề nghị đó, nhưng lòng hết sức cảm phục sự hy sinh cao độ của Ngài.
Vì muốn dâng mình giúp việc Chúa, nên thánh nhân được gọi đến thụ giáo với một Linh Mục ở Gumiel d‘Izan. Năm 14 tuổi, Ngài gia nhập Đại chủng viện tại Palencia. Sau khi hoàn tất việc học, Ngài được Đức cha Diégo de Azsvedo truyền chức Linh mục. Và vì thấy ngài thông minh nhân đức, nên Đức Giám mục Martin de Bazan đặt ngài làm Kinh sĩ ở Osma.
Lúc Đức cha sang Pháp lo việc mục vụ, thánh nhân được đi theo. Trong thời gian ở đây, ngài thấy tận mắt những khó khăn do bè rối Albigeois gây ra cho Hội Thánh. Họ chủ trương tất cả những gì thuộc về vật chất đều xấu xa: muốn hoàn thiện phải tận diệt vật chất, sống hoàn toàn khắc khổ. Ngài quyết định đem hết khả năng chống lại chủ trương sai lạc của họ. Nhưng nhận thấy một mình không thể đương đầu với sức bành trướng quá mạnh của họ nên ngài kêu gọi nhiều nhà truyền giáo nhiệt thành cộng tác. Đó là những người sau này sẽ trở nên tu sĩ hội dòng Ngài sáng lập, gọi là “Dòng Anh Em Thuyết Giáo”.
Một cộng tác viên của ngài kể lại:
“Đaminh có một đời sống luân lý, một lòng sốt sắng kính mến Chúa mãnh liệt, đến nỗi hiển nhiên ai cũng thấy ngài là tác phẩm của sự cao trọng và ơn thánh. Ngài có một tâm hồn bình thản đến nỗi chỉ rộn lên khi phải trắc ẩn và thương xót. Và vì tâm hồn hân hoan thì làm cho bộ mặt rạng rỡ, nên ngài cũng để lộ sự bình thản của tâm hồn ngài ra trên nét mặt hiền từ và vui tươi của Ngài.”
“Đâu đâu ngài cũng tỏ ra một con người của Tin mừng, cả trong lời nói lẫn hành động.”
“Ngài năng dâng lên Chúa lời cầu xin đặc biệt này là cho ngài được lòng bác ái chân thật, có khả năng săn sóc và đem lại phần rỗi cho người ta. Ngài nghĩ mình sẽ thật là chi thể của Chúa, nên tiên vàn mình đem hết sức lực mình ra cứu rỗi các linh hồn, giống như Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc mọi người, đã tận hiến mình để cứu chuộc chúng ta. Và chính để làm công việc ấy mà theo ý Chúa an bài sâu xa, Ngài đã lập ra “Dòng Anh Em Thuyết Giáo.”
Suốt sáu năm trời, thánh nhân dâng lời cầu nguyện, sự hy sinh kèm theo lời rao giảng kêu gọi moị người trở về với đức tin chân chính, nhưng kết quả không được bao nhiêu. Ngài buồn sầu than thở với Mẹ Maria và được Mẹ dạy bảo hãy rao giảng và cổ động mọi người lần chuỗi Môi Côi, để nhờ đó Mẹ cầu cùng Chúa cho những người lầm lạc trở về với Hội Thánh. Vâng lời Đức Mẹ, ngài đem hết khả năng truyền bá chuỗi Môi Côi, giải thích các mầu nhiệm thánh, kêu gọi mọi người thực hành việc đạo đức này. Kết quả thật là lùng! Không bao lâu, những người tội lỗi và kẻ lầm lạc ăn năn trở về với Chúa. Thánh nhân hết sức vui mừng, tạ ơn Chúa và tri ân Đức Mẹ.
Năm 1215, thánh nhân đến Rôma, xin Đức Thánh Cha Honoriô III châu phê luật dòng vào ngày 22/10/1216. Từ đó, dòng phát triển mạnh mẽ và có mặt trên khắp thế giới .
Thánh nhân qua đời tại Bologna ngày 6 tháng 8 năm 1221. Năm 1231 Đức Thánh Cha Gregoriô thứ IX đã tuyên hiển thánh cho ngài.
Tường thuật phúc âm trong ngày lễ kính Cha Thánh hôm nay, gồm tóm tất cả những điều nhắn nhủ của Chúa Giêsu dành cho những ai muốn làm môn đệ của Ngài, muốn bước đi theo Ngài trên con đường rao truyền Tin Mừng cứu độ đặc biệt bằng linh đạo Đa Minh.
Trước hết, theo cái nhìn của thánh Luca con số 72 muốn nói lên rằng, tất cả mọi Kitô hữu chúng ta là những môn đệ của Chúa Giêsu, là những người được Chúa chọn, được Chúa chỉ định và sai đi. Chúng ta được nhắc nhở phải ý thức về nhiệm vụ của mình, nhiệm vụ ấy phải được thi hành chung với những môn đệ khác (c.1). Và khi thi hành nhiệm vụ người môn đệ cũng ý thức mình thuộc về nhóm môn đệ của Chúa Giêsu và dưới quyền chỉ đạo của Ngài. Qủa vậy, ý thức rằng mình được Chúa mời gọi, ý thức rằng phải hiệp thông với Hội Thánh, ý thức rằng mình thuộc về Chúa Giêsu và ra đi làm môn đệ cho Ngài đó là điều quan trọng nhất của một người môn đệ.
Hơn nữa, người môn đệ cũng ý thức về lời mời gọi đi đến mọi nơi, đến “tất cả các thành”, loan truyền Tin Mừng cho mọi người. Người môn đệ cũng được nhắc nhở ý thức rằng : loan Tin Mừng là sứ vụ cần thiết như “lúa chín đầy đồng” không thể bỏ bê, cũng không thể chậm trễ. Tuy nhiên, người môn đệ cũng được khuyến cáo lưu tâm về những hiểm nguy và khó khăn mà mình sẽ gặp phải “như chiên con đi vào giữa bầy sói”.
Sau khi Chúa Giêsu nhắc nhở về toàn bộ những điều mà người môn đệ phải ý thức khi thực thi sứ vụ. Chúa Giêsu tiếp tục nhắn nhủ người môn đệ về hành trang mà họ cần phải mang theo. Hành trang ấy phải gọn nhẹ, chỉ để phục vụ sứ mạng, không cồng kềnh để rồi bị chi phối làm chậm hoặc làm chùn bước chân sứ vụ. Người môn đệ cũng không bận tâm về nơi ăn chốn ở, về những phương tiện vật chất cá nhân, những nhu cầu phục vụ đời sống thường ngày.
Về các tương quan Chúa Giêsu cũng nhắc thêm cho người môn đệ rằng : người môn đệ phải thanh thoát không dính bén và níu kéo những tình cảm nảy sinh dọc đường theo kiểu “chào hỏi” Đông phương. Một lòng một ý chu toàn sứ mạng cách khẩn thiết, không la cà, không chậm trễ, không phân tán. Chỉ liên đới và cộng tác trong sứ vụ mà thôi.
Về tác phong, Chúa Giêsu muốn người môn đệ không tìm thỏa mãn vật chất cá nhân, không tìm tư lợi cho riêng mình, không mong thù lao, không yêu cầu lương bổng, không quan tâm đến những đòi hỏi mang nặng tính trần thế. Người môn đệ phải biết bằng lòng với những sự đón tiếp, những gì sẽ gặp phải trong khi thi hành sứ vụ cách vui tươi.
Cách riêng,về lời nói và hành động của người môn đệ phải có dấu hiệu mang bình an và chữa lành. Đối với mọi người thì người môn đệ đem “bình an”, nhưng đối với những tâm hồn đau thương tan nát thì người môn đệ phải “xoa dịu và chữa lành”. Không chỉ đem bình an hoặc chữa lành, nhưng Chúa Giêsu còn đòi hỏi cao hơn là đem niềm vui, bằng cách loan báo rằng “triều đại Thiên Chúa đã đến gần”.
Nghe lại tường thuật của Thánh Luca hôm nay trước những đòi hỏi của Chúa Giêsu về người môn đệ, chúng ta như thấy mình được nhắc nhở rằng : Đôi khi chúng ta muốn làm môn đệ cho Chúa, nhưng chúng ta lại quên đi mình đang thuộc về Chúa, được Chúa hướng dẫn ; đôi khi chúng ta lại quên rằng mình cần phải hiệp thông trong Hội Thánh, chúng ta mải mê nhiệt tình đi con đường của riêng chúng ta, mà rời xa dần Hội Thánh cũng như rời xa dần thầy Giêsu.
Đôi khi làm môn đệ cho Chúa, nhưng chúng ta lại ưa thích ngồi những chỗ an toàn, chọn những tiện nghi dễ chịu, níu kéo và bám víu vào những tình cảm chóng qua… Tất cả những thứ ấy đã làm bước chân sứ vụ của chúng ta như chậm lại, những thứ ấy đã làm cho nhiệt tâm tông đồ của chúng ta như cạn kiệt, những thứ ấy làm cho chúng ta bị chi phối vỡ vụn, phân mảnh.
Ước chi khi nghe Lời Chúa hôm nay, mỗi người trong chúng ta cũng hãy mau mắn lên đường vì “lúa đã chín đầy đồng”, ước gì mỗi chúng ta cũng thực thi được những đòi hỏi mà Chúa muốn khi làm tông đồ cho Ngài. Điều này lại càng được thôi thúc hơn, bởi chúng ta là con cái của Cha Thánh Đa Minh, người Cha hết lòng cho sứ vụ Loan Báo Tin Mừng. Chúng ta hãnh diện về điều đó. Chúng ta hăng say lên đường với niềm tin tưởng cùng đi với Cha Đa Minh.
2022
Hiển Dung như Chúa
6.8 Lễ Chúa Giêsu Hiển Dung
St 1:12; St 2:4; Tv 9:8-9,10-11,12-13; Mt 17:14-20
Hiển Dung như Chúa
Tin Mừng thánh Luca trình bày quang cảnh Chúa Giêsu Hiển Dung để tỏ bày vinh quang của Người. Qua đó, Người khích lệ và nâng đỡ cho niềm tin của các môn đệ cũng như của mỗi người chúng ta.
Chúa Giêsu Hiển Dung khi Người đang “cầu nguyện”, trong sự kết hợp thân mật với Chúa Cha “dung mạo của Người bỗng đổi khác”. Chúa Cha đã làm cho vinh quang của Chúa Con được chiếu tỏa trên núi thánh, để xác nhận về sứ mạng đã giao phó cho Người: “Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người!”. Tin Mừng Luca sử dụng thuật ngữ “người được tuyển chọn” từ bài ca thứ hai về Người Tôi tớ, trong lúc Hiển dung và khi trên thập giá (Lc 23,35), để nhấn mạnh mối liên hệ giữa cuộc khổ nạn và phục sinh vinh quang của Chúa Giêsu. Người chính là “Đấng Thánh của Israel” bị “người đời khinh chê” (Is 49,7).
Đồng thời, chúng ta thấy ý nghĩa sâu xa hơn nơi biến cố Hiển Dung của Chúa Giêsu: Người đến để hoàn thành toàn bộ lời hứa của Thiên Chúa trong Cựu ước. Sự hiện diện của ông Môsê đại diện cho Lề luật và của ông Êlia đại diện cho các Ngôn sứ nhằm mục đích làm sáng tỏ công trình cứu độ Chúa Giêsu thực hiện. Các ngài nói về sự “chết của Người sẽ thực hiện tại Giêrusalem”; hình ảnh “núi” và “mây che phủ”, cùng với nỗi sợ hãi của các môn đệ, nhắc nhớ về biến cố Thiên Chúa hiện ra trên núi Sinai. “Lều” mà Phêrô xin được dựng gợi lại hình ảnh dân Israel ngày xưa đi trong sa mạc tiến vào đất hứa. Chúa Giêsu chính là Môsê mới, hướng dẫn dân Israel mới là toàn thể nhân loại đi về Đất hứa là Nước Trời; Ngài cũng tiếp tục công việc của ngôn sứ Êlia là đưa con người ra khỏi tình trạng thờ ngẫu tượng để quay về với Thiên Chúa.
Trên núi Ta-bô trước mặt ba môn đệ được chọn lựa, Đức Giê-su đã biến dạng để hiển thị một dung mạo hoàn toàn mới, điều mà chúng ta quen gọi là ‘hiển dung’ hay ‘biến hình’. Theo cách mô tả của Lu-ca thì khuôn mặt hiển dung của Chúa Giê-su lúc đó rất mang nặng nét ‘Cựu Ước’, vì các môn đệ đều là những người theo đạo Do Thái. Một Thiên Chúa của Cựu Ước thì phải có dung mạo uy nghi sáng láng, thân thể Ngài phải tỏa chiếu hào quang; và để nhấn mạnh hơn nữa tính cách Cựu ước của toàn cảnh, hai nhân vật tiêu biểu là Mô-sê và Ê-li-a đã xuất hiện trong tất cả vẻ huy hoàng tráng lệ. Thế nhưng, hình như khuôn mặt Cựu Ước đó lại không phải là điều Chúa Giê-su muốn trình bày, và vì lẽ đó, Người đã không muốn các môn đệ duy trì hình ảnh này lâu dài; “Thưa thày, chúng con ở đây, thật là hay chúng con xin dựng ba cái lều”… và Người nghiêm cấm các ông.
Biến cố hiển dung được cả ba Phúc Âm Nhất Lãm trình bày với một vài khác biệt, tuy nhiên nội dung căn bản thì khá tương đồng. Nội dung đó là: vinh quang Ta-bô tự nó không phải là tâm điểm để mà phải quan tâm. Nó chỉ là tiền đề hay biểu tượng của một thứ vinh quang khác quan trọng hơn nhiều sẽ xảy đến sau này. Quả thực cả ba trình thuật đều khởi đầu bằng một xác định thời gian liên quan tới một lời công bố: 06 ngày theo Mát-thêu và Mác-cô, còn theo Lu-ca thì khoảng 08 ngày ‘sau khi nói những lời ấy’. ‘Lời ấy’ xác định điều đã được Đức Giê-su lặp đi lặp lại nhiều lần: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy”.
Lời công bố không tiên báo sự kiện hiển dung Ta-bô, ngược lại là đàng khác, biến cố hiển dung là để giải thích ý nghĩa của lời công bố. Chính cái chết và phục sinh của Đức Giê-su mới đích thực là diện mạo, là vinh quang của Thiên Chúa, một diện mạo và vinh quang mà sự sáng láng chói lọi bên ngoài trên đỉnh Ta-bô chỉ là minh họa cho dễ hiểu: “Hai vị hiện ra, rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành mà Người sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem”. Cuộc xuất hành được đề cập tới đó chính là biến cố ‘chết thập giá và phục sinh’ của Đức Giê-su, cao điểm mạc khải về Thiên Chúa khi dung mạo đích thực của Người được tỏ lộ cho toàn thể nhân loại.
Đó là dung mạo của một Thiên Chúa cứu độ, một Thiên Chúa xót thương, ngay cả đối với những con người tội lỗi nhất. Đức Ki-tô đã chẳng gọi đó là giờ phút vinh hiển Người được tôn vinh là gì: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh” (Ga 12:23)? Và không chỉ tôn vinh bản thân Người, mà còn tôn vinh chính Thiên Chúa là Cha nhân ái: ‘Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống: “Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa!”’ (Ga 12, 28).
Thế nhưng, hiển dung của lòng thương xót cứu độ mà Thiên Chúa biểu lộ qua Thập Giá và Phục Sinh của Đức Ki-tô Giê-su thì chỉ những ai có con mắt đức tin mới chiêm ngắm được mà thôi. Phê-rô, bằng con mắt thịt đã từng ngây ngất trước vinh quang của Ta-bô bao nhiêu, thì lại càng bị vấp phạm trước vinh quang của Thập Giá bấy nhiêu: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thày gặp phải chuyện ấy!” (Mt 17, 22) Còn các môn đệ khác thì, cả khi Đức Giê-su tiên báo cuộc thương khó của Người tới lần thứ ba, “các ông không hiểu gì cả; đối với các ông, lời ấy còn bí ẩn, nên các ông không rõ những điều Người nói” (Lc 18, 31-34).
Như vậy thì, cho dầu đoạn Tin Mừng có trình bày quang cảnh hoành tráng của cuộc hiển dung trên đỉnh Ta-bô, chúng ta vẫn không được phép dừng lại ở đó bằng cặp mắt xác thịt. Cặp mắt đức tin của Ki-tô hữu phải hướng về vinh quang của Can-vê hơn là của Ta-bô, vì chính trên đỉnh Can-vê, Thiên Chúa mới thực sự hiển thị dung mạo vĩ đại đích thật nhất của Người. Mải mê dừng lại mãi, tới độ muốn dựng ba lều trên Ta-bô, là một cám dỗ có thể dẫn tới phản bội niềm tin Ki-tô hữu. Phản bội này có thể xảy ra cho bất kỳ ai, chứ không chỉ riêng cho Phê-rô; “Chúa Giê-su truyền cho các ông không được kể lại cho ai nghe những điều vừa thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại.” (Mc 9, 9)
Đối với Ki-tô hữu chúng ta, Thánh Lễ chính là thời gian, là dịp để khám phá, chiêm ngắm và đi vào vinh quang đích thực của Thập Giá! Nếu hiển dung Ta-bô không phải là đích đến mà chỉ là bước đầu chập chững của niềm tin, thì đúng là, qua ngày lễ ‘Hiển Dung’ hôm nay, Hội Thánh muốn dẫn mọi Ki-tô hữu đạt tới đích đến thật là vinh quang của Thập Giá, khi mời gọi các tín hữu hãy chiêm ngưỡng dung mạo chói lọi của một Thiên Chúa đầy nhân ái và xót thương; một diện mạo mà Cựu Ước hay những con xác phàm, không thể hoặc không hề được chiêm ngắm. Cuộc hành trình đức tin này thì mọi Ki-tô hữu bất kỳ, ai cũng phải làm, bắt đầu từ Phê-rô thủ lĩnh, cho tới tất cả các môn sinh sau này, các tín hữu qua mọi thời đại, kể cả các linh mục và các tu sĩ chúng ta…
Qua biến cố Hiển Dung, Chúa Giêsu muốn khích lệ và nâng đỡ cho niềm tin của các môn đệ. Chính ba môn đệ này cũng chứng kiến đau khổ của Chúa Giêsu trong vườn cây dầu sau này (Mt 26, 37). Cả hai trường hợp các ông đều ngủ. Sức nặng của những khổ đau đã đè nặng các ông. Vì thế, biến cố Hiển Dung của Chúa Giêsu cho các môn đệ cảm nếm trước vinh quang thần linh của Người, giúp các ông hiểu rằng để đến vinh quang phục sinh phải qua đau khổ thập giá.
Như thế, cuộc Hiển Dung của Chúa Giêsu giúp chúng ta ý thức về một nguy hiểm: đó là sự chán nản, nhụt chí, thất vọng khi gặp những khó khăn thử thách và đau khổ trong đời sống đức tin. Để vượt qua mối nguy hiểm này và để trung tín đến cùng với Thiên Chúa, chúng ta cần biết lắng nghe và thực thi Lời Chúa trong đời sống hằng ngày, để sống xứng đáng là người được Thiên Chúa tuyển chọn.
2022
Niềm tin vào Chúa
3.8 Thứ Tư trong tuần thứ Mười Tám Mùa Quanh Năm
Gr 31:1-7; Gr 31:10,11-12,13; Mt 15:21-28
Niềm tin vào Chúa
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đề cao lòng tin của người đàn bà xứ Canaan, tức là một người ngoại giáo. Một trong những điều hẳn sẽ làm chúng ta ngỡ ngàng, đó là trên Thiên đàng, chúng ta sẽ gặp gỡ những người chúng ta chưa từng quen biết, ngay cả những người chưa một lần mang danh hiệu Kitô hay đặt chân đến nhà thờ.
Thời Chúa Giêsu, có biết bao người ngoại giáo có lòng tin sâu sắc hơn cả những người Do thái. Trước hết, tiên tri Isaia đã từng khiển trách lòng giả dối của người Do thái: “Dân này thờ Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng họ thì xa Ta”. Thời Chúa Giêsu, có biết bao người bị loại ra khỏi xã hội, bị đặt bên lề Ðền thờ, và có lẽ cũng không hề thuộc toàn bộ lề luật của Môsê, nhưng lại có lòng sám hối và tin tưởng sâu xa hơn. Nói với những người chỉ giữ đạo một cách hình thức, Chúa Giêsu đã cảnh cáo: “Không phải những ai nói: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời; nhưng là những kẻ thực thi ý Chúa”.
Người đàn bà Canaan có lẽ không hề biết đến lề luật Môsê, nhưng đã sống niềm tin của mình một cách mãnh liệt. Lòng tin đó được thể hiện qua việc phó thác hoàn toàn vào quyền năng của Chúa Giêsu. Trong tình thế hầu như tuyệt vọng, bà đã chạy đến với Chúa Giêsu; sự van nài của bà cho thấy sự kiên nhẫn và lòng tin sắt đá của bà. Sự khác biệt cơ bản giữa một người có niềm tin và một người không có niềm tin, không hệ tại ở danh hiệu Kitô hay những thực hành đạo đức, mà chính là lòng tin. Tin vào sự hiện diện quyền năng của Thiên Chúa trong cuộc sống, tin vào tình yêu vô biên của Ngài, tin vào ý nghĩa của cuộc sống, tin vào tình người, đó là sắc thái chủ yếu của người có niềm tin: chính trong niềm tin đó, con người gặp gỡ Chúa Giêsu.
Trong một hoàn cảnh mà cái nhìn của con người có thể cho là tuyệt vọng, người Kitô hữu hơn bao giờ hết được mời gọi để nêu cao niềm tin của mình. Ðây là thời điểm để họ chứng tỏ bản sắc đích thực của mình. Trong cuộc sống chỉ có nghi kỵ và hận thù, họ được mời gọi để đốt lên ngọn đuốc của yêu thương. Trong một xã hội bị gậm nhấm bởi chán nản tuyệt vọng, họ được mời gọi để mang lại niềm hy vọng. Chỉ khi nào giữ đúng vai trò đó, người Kitô hữu mới thực sự xứng đáng với danh hiệu của mình.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn vào đức tin của những người bị coi là dân ngoại, để biết tôn trọng đức tin chân thành của họ và còn để rà xét lại đời sống đạo và đức tin của mình. Thiên Chúa cho chúng ta rất nhiều cơ hội và ân phúc, nhưng nhiều khi chúng ta lại coi đó là những điều tự nhiên, may mắn, hơn là nhận ra tình yêu thương ban tặng của Chúa. Giống như người Do Thái, chúng ta thờ ơ với ơn cứu độ của mình, từ chối lời mời gọi của Thiên Chúa. Nếu chúng ta không hoán cải đời sống, thì cũng sẽ có ngày người từ đông chí tây được mời vào dự tiệc nước Thiên Chúa, còn chúng ta bị loại ra ngoài.
Kế đến, hãy học nơi tấm gương tin tưởng kiên trì và khiêm tốn của người phụ nữ Canaan hôm nay: đừng bao giờ thất vọng trước sự im lặng của Thiên Chúa. Vì để tôi luyện, thử thách đức tin của chúng ta, đôi khi Chúa dường như im lặng hoặc từ chối lời kêu cầu của chúng ta; nhưng nếu chúng ta cứ kiên trì, cứ nài xin, chắc chắn Chúa sẽ ra tay và cho chúng ta được như sự thỉnh cầu.
Người phụ nữ hôm nay quả là tấm gương cho các bậc làm cha mẹ. Nhiều người, nhiều gia đình đang rơi vào cảnh cùng quẫn, đau khổ vì vợ chồng đau yếu, con cái ngỗ nghịch hư hỏng ; nhiều người đã ngã lòng vì thấy lời cầu xin của mình chưa được Chúa nhận lời. Họ trách Thiên Chúa: Tôi đi lễ mỗi ngày, đã đi xin khấn ở nhiều nơi mà vẫn chẳng được… Nhiều người thì xin những người đạo đức, thánh thiện thêm lời kêu khấn cho mình. Đó là điều tốt, thế nhưng đừng quên chính bản thân cần phải hoán cải, cần lắng nghe để nhận ra tiếng nói và sự chỉ dẫn của Chúa qua từng biến cố xảy ra trong cuộc sống. Hãy tin tưởng, kiên trì để thưa với Chúa: Lạy Chúa, xin dủ lòng thương con và gia đình con. Chúa sẽ nghe lời chúng ta.
Nhiều người trẻ vì bị mê hoặc bởi khoa học công nghệ, bị mãnh lực của đồng tiền chiếm trọn cả thời giờ và ưu tư, khiến họ không còn chỗ cho Thiên Chúa. Họ đã để cho đức tin của mình bị mờ nhạt, èo uột khi rời xa gia đình hoặc khi lăn xả vào vòng quay của xã hội. Họ đánh mất thói quen cầu nguyện mỗi ngày, bỏ qua việc xưng tội rước lễ, xa rời với những sinh hoạt của cộng đoàn giáo xứ. Những dấu hiệu ấy cho thấy một đức tin đang bị khô héo, mất sức sống. Chúng ta cùng cầu xin Chúa củng cố đức tin của chúng ta, đặc biệt cho những người đang lung lạc đức tin vì thử thách, và xin Chúa giúp chúng ta luôn tin tưởng, cậy trông nơi Chúa dù lúc vui hay lúc buồn, khi thành công hay thất bại. Chúng ta tin rằng, Thiên Chúa luôn ở bên và sẵn sàng cứu giúp chúng ta.
Trong mọi gian nan thử thách, chúng ta luôn tin tưởng rằng Chúa luôn ở bên chúng ta để nâng đỡ, khích lệ mặc dầu chúng ta không trông thấy. Con mắt Ngài hằng theo dõi chúng ta, như người mẹ hiền đang tập cho con bước đi. Đứa con cứ tin tưởng bước đi trong vòng tay của mẹ, nếu có ngã thì vòng tay của mẹ đã ôm vào lòng.
2022
CHÚA BAN LƯƠNG THỰC CHO LOÀI NGƯỜI
1.8 Thứ Hai Thánh Anphongsô Maria Liguori, Gmtsht
Gr 28:1-17; Tv 119:29,43,79,80,95,102; Mt 14:13-21
CHÚA BAN LƯƠNG THỰC CHO LOÀI NGƯỜI
Vào năm 1950, thánh Anphongsô được Ðức Piô XII tuyên xưng là quan thầy của các thần học gia luân lý, ngài thật xứng với danh hiệu ấy. Trong cuộc đời ngài, thánh nhân phải tranh đấu để giải thoát nền thần học luân lý khỏi sự khắt khe của chủ thuyết Jansen. Thần học luân lý của ngài, đã được tái bản 60 lần trong thế kỷ sau khi ngài từ trần, chú trọng đến các vấn đề thực tiễn và cụ thể của các cha xứ và cha giải tội. Nếu có thói vụ luật và giảm thiểu hóa luật lệ xen vào thần học luân lý, chắc chắn nó không thuộc về mô hình thần học tiết độ và nhân từ của thánh Anphongsô.
Vào năm 16 tuổi, ngài lấy bằng Tiến sĩ giáo luật và dân luật của đại học Napôli, nhưng sau đó đã bỏ nghề luật sư để hoạt động tông đồ. Ngài được thụ phong linh mục và dồn mọi nỗ lực trong việc tổ chức tuần đại phúc ở các giáo xứ, cũng như nghe xưng tội và thành lập các đoàn thể Kitô giáo.
Ngài sáng lập dòng Chúa Cứu Thế năm 1732. Ðó là một tổ chức của các linh mục và tu sĩ sống chung với nhau, tận tụy theo gương Ðức Kitô và hoạt động chính yếu là tổ chức tuần đại phúc cho nông dân ở thôn quê. Như một điềm báo cho điều sẽ xảy ra sau này, sau một thời gian hoạt động, những người đồng hành với ngài ngay từ khi thành lập đã từ bỏ Tu hội và chỉ còn lại có một thầy trợ sĩ. Nhưng Tu hội cố gắng sống còn và được chính thức chấp nhận vào 17 năm sau, dù rằng khó khăn vẫn chưa hết.
Sự canh tân mục vụ lớn lao của thánh Anphongsô là cách giảng thuyết và giải tội – ngài thay thế kiểu hùng biện khoa trương, thùng rỗng kêu to, bằng sự giản dị dễ hiểu, và thay thế sự khắc nghiệt của thuyết Jansen bằng sự nhân từ. Tài viết văn nổi tiếng của ngài phần nào đã làm lu mờ công lao khó nhọc mà ngài đã ngang dọc vùng Napôli trong 26 năm trường để tổ chức tuần đại phúc.
Ngài được tấn phong Giám mục khi 66 tuổi và ngay sau khi nhậm chức, ngài đã cải tổ toàn diện Giáo phận.
Vào năm 71 tuổi, ngài bị đau thấp khớp khủng khiếp. Ngài đau khổ trong 18 tháng sau cùng với “sự tăm tối” vì sự do dự, sợ hãi, bị cám dỗ đủ mọi khía cạnh đức tin và mọi đức tính.
Thánh Anphongsô nổi tiếng về nền tảng thần học luân lý, nhưng ngài cũng sáng tác nhiều trong lãnh vực tâm linh và thần học tín lý. Văn bản Các vinh dự của Ðức Maria là một trong những công trình vĩ đại về chủ đề này, và cuốn Viếng Thánh Thể được tái bản đến 40 lần trong đời ngài, đã ảnh hưởng nhiều đến sự sùng kính Thánh Thể trong Giáo hội.
Ngài được phong thánh năm 1831, và được tuyên xưng Tiến sĩ Hội Thánh năm 1871.
Thánh Mátthêu cho biết, khi hay tin Chúa Giêsu xuống thuyền đi đến chỗ hoang vắng riêng biệt thì dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. Chúa Giêsu thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương vì họ như đàn chiên không có người chăn. Họ đến với Chúa như đến với vị mục tử nhân lành, họ đặt tin tưởng vào Chúa. Đáp lại, Chúa Giêsu chữa lành nhiều bệnh nhân và đáp ứng nhu cầu vật chất cho họ.
Dân chúng say mê nghe Chúa giảng, quên ăn quên uống, nhưng dù sao dạ dày của họ cũng phải nổi loạn khi không được cung cấp thức ăn thức uống cho nó. Bóng chiều đang xuống dần mà dân còn đang ở trong nơi hoang vắng xa làng mạc thành thị, họ ra về, đường còn xa sợ có người đói lả dọc đường. Chúa Giêsu muốn các môn đệ cho họ ăn. Nhưng trong hoang địa này lấy đâu ra lương thực cho ngần ấy người ăn. Ở đây chỉ có thằng nhỏ có 5 chiếc bánh và 2 con cá. Bằng ấy thực phẩm thì nhằm nhò gì với một biển người như vậy! Nhưng Chúa Giêsu cứ bảo họ ngồi xuống thảm cỏ để cho Người làm việc. Thánh Mátthêu kể: “Người cầm lấy 5 chiếc bánh và 2 con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho môn đệ, và môn đệ trao cho đám đông. Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được 12 giỏ đầy”.
Lời giảng của Chúa đã làm cho dân chúng say mê. Lời Chúa là thức ăn nuôi dưỡng và bồi bổ cho linh hồn. Tuy thế, Chúa không quên thoả mãn nhu cầu vật chất cho họ, vì họ là con người có hồn có xác, phải được nuôi dưỡng đầy đủ. Như vậy Chúa thực hiện lời khuyên: “Tiên vàn hãy tìm Nước Thiên Chúa, còn mọi sự khác Người sẽ thêm cho”.
Ngoài thức ăn vật chất, Chúa Giêsu còn muốn hướng con người đến một thức ăn khác nữa, cần thiết hơn, quí trọng hơn. Bởi đó, sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, người ta tiếp tục tuốn đến với Chúa mong Người tái diễn phép lạ ấy, nhưng Người đã lánh họ mà đi. Theo tường thuật của thánh Gioan, Người còn nói với họ: “Các ngươi tìm Ta chỉ vì đã được ăn bánh no nê. Hãy nỗ lực tìm kiếm thứ lương thực nuôi dưỡng sự sống muôn đời”. Thứ lương thực ấy chính là bản thân của Chúa Giêsu, được ban cho chúng ta qua bí tích Thánh Thể.
Các Tông đồ chỉ kiếm cho Chúa được có 5 cái bánh và 2 con cá. Thật là một đóng góp quá nhỏ nhoi, nhưng thực ra, chỉ cần bằng ấy đã quá đủ đối với Chúa. Chúa không muốn làm phép lạ tự không mà có bánh cho họ ăn, nhưng Chúa muốn cho con người đóng góp một chút để cộng tác với Chúa. Như vậy, phép lạ hóa bánh ra nhiều là kết quả của sự kết hợp giữa quyền năng vô biên của Chúa với sự cộng tác nhỏ bé của con người.
Mỗi người, mỗi gia đình hãy tìm đến để lãnh nhận lương thực kỳ diệu này mỗi ngày. Hãy ăn bằng tai những lời dạy bảo của Chúa. Hãy để cho Lời Chúa thấm nhập và chi phối cuộc sống và hướng dẫn hành động của chúng ta. Nhờ đó, chúng ta sẽ không còn khát khao điều gì nữa, vì Lời Chúa chính là lương thực cho chúng ta. Hãy siêng năng đến với Bí Tích Thánh Thể qua thánh lễ mỗi ngày. Hãy lãnh nhận và ăn mỗi ngày thứ lương thực thần linh này, Chúa sẽ bổ sức cho cuộc đời chúng ta, sẽ dập tắt mọi khát khao thấp hèn của con người và hướng chúng ta đến sự khao khát thánh thiện, khao khát hạnh phúc đời đời.
