2022
Tương Quan Giữa Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu
30,7 Thứ Bảy trong tuần thứ Mười Bảy Mùa Quanh Năm
Gr 26:11-16,24; Tv 69:15-16,30-31,33-34; Mt 14:1-12
Tương Quan Giữa Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu
Tin mừng Mátthêu nói đến Gioan vị ngôn sứ sống khiêm nhường, công chính, lương tâm ngay thẳng, luôn bảo vệ sự thật, đã can đảm, mạnh dạn lên tiếng ngăn cản vua Hêrôđê cướp vợ anh trai mình (Mt 14,4). Vì, Gioan nói lên sự thật, nên Hêrôđia đem lòng căm hờn, ghen ghét, tìm cách giết vị ngôn sứ, để tìm kiếm lối sống dục vọng, hưởng thụ bất chính. Hêrôđia đã xúi dục con gái là Salômê, xin vua Hêrôđê chém đầu Gioan (Mt 14,6), để hưởng mối lợi trước mắt. Hêrôđê, dù có thân thiện, kính nể vị ngôn sứ, nhưng lo sự mất uy tín, danh dự và ảnh hưởng tới địa vị trong xã hội. Ông đã đánh mất lương tâm, khi cho giết vị ngôn sứ (Mt 14,19), khiến ông trượt dài trong tội lỗi. Vì thế, cái chết của vị ngôn sứ Gioan nói lên ý nghĩa bóng tối của hận thù, tâm hồn giả dối của con người bị sự thật và công lý phơi bày.
Tin Mừng hôm nay thuật lại cái chết bi thảm của vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu Ước đó là Gioan Tẩy Giả, người dọn đường cho Chúa Cứu Thế đến. Cái chết của ông chứng minh cho lòng can đảm dám sống cho sự thật và chết cho sự thật vì yêu luật Chúa.
Ở khởi đầu trình thuật, vua Hêrôđê nghe danh tiếng Chúa Giêsu, thì ông cho đó chính là Gioan Tẩy giả, người mà ông đã cho chém đầu nay sống lại. Ơn gọi của Gioan Tẩy giả như chính miệng ông Zacaria loan báo trong ngày lễ đặt tên cho con mình: “Con là tiên tri của Ðấng tối cao, con sẽ đi trước dọn đường cho Ngài”. Ơn gọi đó Gioan đã chu toàn một cách tốt đẹp. Gioan chuẩn bị cho Chúa Giêsu đến, không những bằng việc rao giảng thống hối, mà còn bằng chính cái chết vì trung thành với sự thật. Dung mạo của Gioan Tẩy giả loan báo dung mạo của Chúa Giêsu một cách tốt đẹp, đến nỗi khi Chúa Giêsu xuất hiện, vua Hêrôđê tưởng Ngài là hiện thân của Gioan Tẩy giả sống lại.
Một chi tiết nữa, đó là các môn đệ Gioan Tẩy giả, sau khi chôn cất ông xong, thì đến báo tin cho Chúa Giêsu. Chi tiết này nói lên mối liên hệ thân tình giữa Gioan Tẩy giả và Chúa Giêsu, đồng thời nhấn mạnh vai trò của Gioan Tẩy giả là hướng về Chúa Giêsu. Gioan Tẩy giả không phải là Chúa Giêsu, nhưng là người giúp anh em mình đến với Chúa. Chính Gioan Tẩy giả đã tuyên bố: “Tôi không phải là ánh sáng, nhưng tôi đến để làm chứng cho ánh sáng”.
Sau bao năm ở sa mạc một mình với Thiên Chúa để chuẩn bị sứ vụ, Gioan Tẩy Giả xuất hiện giữa dân chúng, kêu gọi mọi người sám hối và dọn lòng đón nhận Đấng Cứu Thế. Trong bối cảnh đó, ông cũng mạnh dạn lên tiếng can ngăn vua Hêrôđê không được phép lấy vợ của anh mình. Tiếng nói chân thật của ông đã đưa ông đến chỗ bị vua Hêrôđê ra lệnh bắt trói và xiềng ông trong tù. Vua muốn giết Gioan nhưng lại sợ đám đông vì họ coi ông như một vị ngôn sứ. Người ta thường nói: “Sự thật, mất lòng” nhưng với Gioan Tẩy Giả thì “sự thật, mất đầu”. Ông chấp nhận “ thật thà, thẳng thắn thường thua thiệt” để hy vọng cứu được một quân vương khỏi sa lầy tội lỗi. Nhưng vì giữ danh dự trước bá quan và khách mời, ông đã bị Hêrôđê ra lệnh chém đầu để thỏa mãn sự căm thù của một người đàn bà thiếu đạo đức tên là Hêrôđia, vợ của Philipphê, anh vua Hêrôđê mà vua đã lấy làm vợ mình. Gioan Tẩy Giả mất đầu nơi thân xác, nhưng tâm hồn và tiếng nói chân thật của ông vẫn còn vang vọng và là gương sáng trong mọi thời đại. Qua cái chết vì lòng trung thành với lề luật Thiên Chúa, chúng ta nhận ra Gioan Tẩy Giả cũng đã cùng chung thân phận với bao ngôn sứ khác.
Trở lại với Hêrôđê, chúng ta có thể thấy ông là một con người có tính khí bất thường. Ông vừa kính Gioan, vừa muốn nghe Gioan nói, nhưng lại không muốn dứt bỏ người tình Hêrôđia. Ông bắt cá hai tay nên ông loay hoay, luẩn quẩn trong cái vòng tội lỗi để rồi khi thấy Chúa Giêsu bắt đầu nổi danh, ông ngỡ là Gioan Tẩy Giả đã sống lại, người mà ông đã ra lệnh chém đầu trước đây! Ông sợ đối diện với sự thật về đạo lý luân thường, lòng ông luôn thiếu bình an. Ông không còn đủ sáng suốt nhận ra chân lý nên chỉ vì giữ một lời hứa trong lúc có men, ông đã giết oan một ngôn sứ mà Đức Giêsu đã giới thiệu trước: “ Trong số phàm nhân lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả” (Mt 11, 11a).
Nhìn Hêrôđê, chúng ta cũng tự vấn lương tâm mình trong cách sống đạo trong thế giới hôm nay. Phải chăng tiếng nói luân lý ngày xưa còn được con người quan tâm hoán cải, dù vẫn có những người như Hêrôđê. Nhưng tiếng nói luân lý ngày nay đang bị con người coi thường đến mức báo động. Họ coi có quyền, có tiền là có tất cả. Nguy hiểm hơn là vì không sợ tội nên họ có thể làm tất cả những gì mình muốn, bất chấp luật lệ và công lý. Rất may là chúng ta còn gặp những người như Gioan Tẩy Giả trong gia đình là cha là mẹ sẵn sàng quan tâm dạy dỗ con cái sống đạo hoặc trong các hội đoàn hay những người đầy ơn Chúa, họ sẵn lòng kiên trì đi gặp gỡ, khuyên nhủ và tìm nhiều phương cách giúp những anh chị em Kitô hữu khô đạo hay lạc xa đức tin trở về với Chúa. Giáo Hội rất vui mừng và biết ơn những con người như thế để cộng tác vào ơn cứu độ của Chúa là cứu anh chị em mình thoát khỏi sự dữ đời đời.
“Các con sẽ làm chứng về Thầy”, đó là mệnh lệnh của Chúa Giêsu cho các Tông đồ, cho mỗi môn đệ của Chúa. Chúng ta cần trở nên một Chúa Kitô cho anh em mình, vận mệnh của Chúa sẽ là vận mệnh của chúng ta.
Người Kitô hữu được mời gọi sống hướng về Chúa, kết hợp với Chúa, trở thành một Chúa Kitô thứ hai cho anh em. Nhưng đó là để giúp anh em đến với Chúa, chứ không dừng lại nơi mình. Người Kitô hữu không được chiếm chỗ của Chúa trong tâm hồn anh em: Chúa Kitô phải lớn lên trong tâm hồn anh em, còn tôi chỉ là phương thế, tôi không được cản trở anh em đến với Chúa.
Thách đố cho người Kitô hữu trong cuộc sống là vẫn còn nhiều Hêrôđê và Hêrôđia đương đại, là những kẻ lợi dụng dịch Covid nham hiểm, ích kỷ, mưu mô, xảo quyệt, để sống trục lợi tiền bạc bất chính từ những món hàng khẩu trang, viên thuốc giả, Chỉ vì, người ta cố tình sống tham lam, ham hố danh vọng, địa vị, quyền lực chính trị bất chính, đưa ra những thông tin sai lệch về dịch bệnh, bất chấp đạo lý làm người, để làm xáo trộn cuộc sống nhân loại. Với chủ đích gây chia rẽ cộng đoàn giáo hội, xứ đạo, hội đoàn, khu xóm và xã hội. tạo sức ép lên cuộc sống của tha nhân.
Vì thế, xã hội chúng ta, cần người môn đệ Chúa Kitô luôn đứng về phía sự thật như Gioan. Mỗi người được mời gọi thể hiện đời sống yêu thương, hiệp nhất, can đảm bảo vệ đời sống công bằng, dấn thân, hy sinh, quảng đại và vị tha cho nhau, tha thứ những lỗi lầm của tha nhân xúc phạm đến mình. Nhờ đó, mỗi Kitô hữu chúng ta luôn biết song chân thành, trung thực trong đời sống mỗi ngày.
Hãy cùng nhau xóa bỏ những đố kỵ, hận thù, ghen ghét, tự kiêu, để mỗi chúng ta luôn sống theo tiếng gọi của Chúa, làm theo đúng lương tâm, để tạo công bình và đón nhận chân lý cứu độ của Chúa dành cho cho mình và mọi người, giữa một thế giới tội lỗi hôm nay.
2022
Sống niềm tin mạnh mẽ
29.7 Thánh Mácta
Gr 26:1-9; Tv 69:5,8-10,14; Mt 13:54-58
Sống niềm tin mạnh mẽ
Chúa Giêsu yêu quý Mácta, Maria và Lagiarô.” Câu nói độc nhất này trong Tin Mừng của thánh Gioan cho chúng ta biết về sự tương giao đặc biệt giữa Chúa Giêsu và Mácta, người em Maria, và Lazarô của Thánh nữ.
Có vẻ như Chúa Giêsu là người khách thường xuyên đến nhà Mácta ở Bêtania, một ngôi làng nhỏ bé cách Giêrusalem chừng hai dặm. Chúng ta thấy ba lần đến thăm của Chúa Giêsu được nhắc đến trong Tin Mừng theo Thánh Luca 10,38-42, Gioan 11,1-53, và Gioan 12,1-9.
Nhiều người dễ nhận ra Mácta qua câu chuyện của thánh Luca. Khi ấy, Mácta chào đón Chúa Giêsu và các môn đệ vào nhà của mình, và ngay sau đó Mácta chuẩn bị cơm nước. Sự hiếu khách là điều rất quan trọng trong vùng Trung Ðông và Mácta là điển hình. Thử tưởng tượng xem Mácta bực mình biết chừng nào khi cô em Maria không chịu lo giúp chị tiếp khách mà cứ ngồi nghe Chúa Giêsu.
Thay vì nói với cô em, Mácta xin Chúa Giêsu can thiệp. Câu trả lời ôn tồn của Chúa Giêsu giúp chúng ta biết Người rất quý mến Mácta. Chúa Giêsu thấy Mácta lo lắng nhiều quá khiến cô không còn thực sự biết đến Người. Chúa Giêsu nhắc cho Mácta biết, chỉ có một điều thực sự quan trọng là lắng nghe Người. Và đó là điều Maria đã làm. Nơi Mácta, chúng ta nhận ra chính chúng ta thường lo lắng và bị sao nhãng bởi những gì của thế gian và quên dành thời giờ cho Chúa Giêsu. Tuy nhiên, thật an ủi khi thấy rằng Chúa Giêsu cũng yêu quý Mácta như Maria.
Lần thăm viếng thứ hai cho thấy Mácta đã thấm nhuần bài học trước. Khi ngài đang than khóc về cái chết của anh mình và nhà đang đầy khách đến chia buồn thì ngài nghe biết Chúa Giêsu đang có mặt ở đấy. Ngay lập tức, ngài bỏ những người khách ấy cũng như gạt đi mọi thương tiếc để chạy đến với Chúa Giêsu.
Chính Mácta đã phục vụ Chúa Giêsu qua các bữa ăn ngon, khi Người đến thăm gia đình Mácta. Chúng ta có thể nhận thấy Mácta đã phải bận rộn sửa soạn bữa ăn cho Chúa Giêsu và các môn đệ của Người như thế nào. Đến nỗi Mácta phải xin Chúa Giêsu nhắc cho cô em Maria phụ giúp mình một tay, vì Maria đang ngồi bên chân Chúa Giêsu mà nghe lời Người: “Thưa Thầy, xin Thầy bảo em con giúp con với!” Chúa Giêsu rất hài lòng với công việc phục vụ dễ thương của Mácta. Tuy vậy, Người muốn cho Matta hiểu rằng việc nghe lời Chúa và cầu nguyện thì có tầm quan trọng hơn. Vì thế, Chúa Giêsu đã dịu dàng nói: “Mácta, Mácta, con lo lắng bối rối về nhiều chuyện! Chỉ có một chuyện cần mà thôi! Maria em con đã chọn phần tốt nhất!” (Lc 10, 42).
Cuộc đối thoại của ngài với Chúa Giêsu chứng tỏ đức tin và sự can đảm của ngài. Trong cuộc đối thoại, Mácta khẳng định rõ ràng là ngài tin vào quyền năng của Chúa Giêsu, tin vào sự Phục sinh, và nhất là tin Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói với cô rằng Ngài là sự sống lại và là sự sống và sau đó đã cho Lazarô sống lại từ cõi chết.
Hình ảnh sau cùng của Mácta trong Tin Mừng đã nói lên toàn thể con người của ngài. Lúc ấy, Chúa Giêsu ít lâu sau đã trở lại Bêthania để ăn uống với các bạn thân của Người. Trong căn nhà ấy có ba người đặc biệt. Chúng ta đã từng nghe người em trai Lazarô đã tạo nên cả một sự khuấy động khi anh được làm cho sống lại. Còn Maria là người gây nên cuộc tranh luận trong bữa tiệc khi cô dùng dầu thơm đắt tiền mà xức lên chân Chúa Giêsu. Nhưng về phần Mácta, chúng ta chỉ được nghe một câu rất đơn giản: “Mácta lo hầu hạ.” Cô không nổi bật, cô không thi hành những việc có tính cách phô trương, cô không được hưởng phép lạ kỳ diệu. Cô chỉ đơn thuần hầu hạ Chúa Giêsu.
Chúng ta không biết nhiều hơn về Mácta và những gì xảy ra cho cô sau đó. Theo một truyền thuyết không đáng tin lắm, thì Mácta cùng với Maria đến giảng Tin Mừng tại nước Pháp sau khi Chúa Thánh Thần hiện xuống.
Nhưng thật là tuyệt vời nếu điều quan trọng nhất có thể nói được về chúng ta là “Những người ấy đã phục vụ”? Thánh Mácta được đặt làm quan thầy của các người phục vụ và đầu bếp.
Khi người em là Lazarô chết, Mácta và Maria buồn sầu báo tin cho Chúa Giêsu. Giữa những đau khổ thử thách đó, Mácta vẫn giữ được bình tĩnh. Mácta đã thưa với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, con biết Thầy xin gì cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho Thầy”. Dù rằng em cô là Lazarô đã chết, Mácta vẫn tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu cách tuyệt đối: “Thưa Thầy: vâng, con đã tin Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian”. (Ga 11, 27).
Với niềm tin của Mácta, Chúa Giêsu đã làm phép lạ cho Lagiarô sống lại sau khi chôn cất trong mồ đã bốn ngày.
Mừng lễ thánh nữ Mácta hôm nay, chúng ta nguyện xin Chúa qua lời cầu bầu của thánh Mácta, ban cho chúng ta sống theo mẫu gương của thánh nữ, luôn ân cần đón tiếp Chúa và sẵn sàng hy sinh phục vụ Chúa, phục vụ Giáo Hội và tha nhân. Đón tiếp Chúa bằng việc lắng nghe lời Chúa, suy gẫm và cầu nguyện. Đón tiếp Chúa Giêsu Thánh Thể để có sự sống của Ngài hun đúc tinh thần tông đồ, nuôi dưỡng đời sống đạo. Đón tiếp Chúa với lòng yêu mến chân thành, sẽ giúp chúng ta được gần bên Chúa, gần gũi tha nhân. Đồng thời, theo gương thánh nữ Mácta, chúng ta sống đức tin mạnh mẽ giữa những cơn thử thách của cuộc sống. Nhờ đó, chúng ta cố gắng vượt qua những thử thách hiện tại và hướng đến sự phục sinh vinh quang với Chúa Kitô.
2022
Thái Ðộ Bao Dung
28.7 Thứ Năm trong tuần thứ Mười Bảy Mùa Quanh Năm
Gr 18:1-6; Tv 146:1-2,2-4,5-6; Mt 13:47-53
Thái Ðộ Bao Dung
Với bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy có thái độ kiên nhẫn bao dung hơn đối với Giáo Hội của Ngài. Qua hình ảnh chiếc lưới thả xuống biển, kéo lên với đủ loại cá, trong đó người ta giữ lại những con cá tốt và ném đi những con cá xấu, Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta rằng cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người chỉ được thực hiện trọn vẹn vào ngày cánh chung mà thôi, trong khi chờ đợi, thì người môn đệ của Ngài cần có thái độ kiên nhẫn, bao dung.
Giáo Hội là Thân Thể của Chúa Kitô. Tự bản chất, Giáo Hội là thánh thiện, như chúng ta vẫn tuyên xưng trong Kinh Tin Kính, nhưng Giáo Hội thánh thiện ấy lại gồm những con người tội lỗi. Ý thức cơ bản và quan trọng nhất của người Kitô hữu chính là luôn nhận biết mình là tội nhân, để từ đó kêu cầu lòng thương xót của Chúa và sự tha thứ của anh em. Thiếu ý thức ấy, người Kitô hữu sẽ rơi vào thái độ kiêu căng giả hình của những người Biệt phái bị Chúa Giêsu lên án gắt gao. Ðồng hành với nhân loại, mang đến cho nhân loại Tin Mừng cứu rỗi, cũng như Chúa Giêsu, Ðấng cứu độ, Giáo Hội chỉ có thể thực thi sứ mệnh của mình với thái độ kiên nhẫn, cảm thông, yêu thương, tha thứ mà thôi. Không ngôn ngữ nào hùng hồn hơn, không sứ điệp nào có tính thuyết phục hơn lòng nhân từ, sự khoan dung và tha thứ. Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá là tuyệt đỉnh của hành động cứu rỗi của Ngài và lôi kéo mọi người lên với Ngài.
Mầu Nhiệm Nước Trời là một điều thật khó hiểu cho người nghe Lời Chúa, ở đó diễn tả một mô mẫu của vương quốc hạnh phúc mà thực tại trần thế không có được, là điều mà trong suy tư tự nhiên của con người khó chạm đến cách thấu đáo. Chính vì thế, khi Chúa Giê-su nói về Nước Trời Ngài luôn dùng dụ ngôn để diễn tả, cho người nghe có thể thấu cảm về một thực tại họ không nhìn thấy và rất khó để suy tưởng.
Trong bài Tin mừng hôm nay, thì thánh sử Mát-thêu ghi lại dụ ngôn chiếc lưới, dụ ngôn cuối cùng mà Chúa Giê-su đã dùng dể diễn tả mầu nhiệm Nước Trời.
Quả vậy, Vương Quốc ấy sẽ đến vào thời sau hết, ngày mà tất cả mọi sự sống điều quy hồi về Thiên Chúa. Ngày mà Đấng Tạo hóa phán xét mọi thụ tạo một cách công thẳng theo “tội – phúc” mà họ đã sống trên trần thế. Ngày đó, con người không thể lẫn tránh, nhưng phải đối mặt với Đấng Toàn Năng như “Cuộc phán xét chung” (Mt 25, 31-46) mà thánh Mát-thêu diễn tả. Người tốt lành thánh đức thì được vui hưởng niềm hạnh phúc trường cửu, còn kẻ gian ác phải chịu hình phạt muôn đời. Dụ ngôn là một lời tiên báo cho tương lai của mỗi chúng ta, những con người vốn hư nát và phải chết.
Tuy nhiên, trong đoạn tin mừng hôm nay, chúng ta lưu ý đến một chi tiết khá thú vị. Đó là lời kết thúc các dụ ngôn về Nước Trời. “Anh em có hiểu tất cả những điều đó không?”, tức là hiểu về mầu nhiệm Nước trời, hiểu về sứ mạng công bố Nước Trời cho thiên hạ, nhiệm vụ mà mỗi người môn đệ phải thi hành trong sứ mạng của mình. Sứ mạng ngôn sứ mà mỗi chúng ta đã lãnh nhận khi chịu phép rửa. Các môn đệ sau bao ngày tháng theo Chúa Giêsu đã trả lời, “Thưa hiểu” và các ông đã sống chứng tá cách hào hùng bởi lời thưa đáp ấy. Còn chúng ta, những ki-tô hữu, bao ngày tháng học hỏi Kinh Thánh, học giáo lý và sống mầu nhiệm đức tin, chúng ta có thực sự hiểu về mầu nhiệm Nước Trời chưa? Hay chúng ta, miệng thì thưa “Hiểu” nhưng hành động thì trái chiều với tinh thần đức tin, giữ đạo thì hời hợt, sống tinh thần bác ái thì miễn cưỡng, thực thi lòng xót thương thì gượng gạo khó khăn…
Quả thế, những người đã học hiểu về mầu nhiệm Nước Trời, họ sẽ nên những người môn đệ đích thực. “bất kỳ kinh sư nào đã học hỏi về Nước Trời, thì cũng giống như chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ”. Những ai đã được học hỏi về Nước Chúa, thì họ sẽ nên những thầy dạy cho người khác, kho tàng mà họ có không chỉ là những điều luật của Cựu ước (Thập giới) nhưng có cả tinh thần mới của Tân Ước. Có kho tàng ấy, người thầy dạy không còn chất lên vai người khác những gánh nặng của lề luật, nhưng cùng với người khác sống tinh thần của luật, đó là thực thi lòng thương xót của Thiên Chúa, điều mà chính Ngôi Hai Thiên Chúa đã nêu gương.
Như thế, đạo lý của bài Tin mừng hôm nay muốn nhắc nhở mỗi chúng ta rằng, hãy biết sống tinh thần mới của người ngôn sứ, tinh thần của một thầy dạy trọn hảo sống theo tinh thần mới của Chúa Giê-su trong luật mang lại sự sống, “luật cũ trong tinh thần mới”. Bởi lẽ, sứ mạng ngôn sứ ấy sẽ được thẩm vấn khi đến thời đến buổi của công nghi phán xét muôn dân, ngày chung thẩm để nhận hạnh phúc thật hay án phạt.
Luôn ý thức về thân phận tội lỗi yếu hèn của mình, không ngừng cảm thông với những thiếu sót bất toàn trong Giáo Hội, cố gắng thực thi lòng nhân từ bao dung với mọi người, đó là thách đố đang đặt ra cho người Kitô hữu chúng ta hơn bao giờ hết. Xin Chúa khơi dậy trong tâm hồn chúng ta lòng yêu mến Giáo Hội được thể hiện bằng những cử chỉ cảm thông bao dung, kiên nhẫn mỗi ngày.
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu muốn cảnh báo cho chúng ta về ngày tận thế, ngày ấy xảy ra khi chúng ta phải nhắm mắt lìa đời. Sinh ra chúng ta Thiên Chúa luôn ấp ủ gìn giữ bảo vệ chở che, Ngài đặt trong tâm hồn mỗi người tiếng nói của lương tâm để chỉ dẫn cho chúng ta làm lành lánh dữ. Tình yêu của Thiên Chúa bao phủ loài người có thể ví như chiếc lưới. Không một ai bị loại trừ và thoát ra khỏi tấm lưới yêu thương ấy. Thế nhưng Thiên Chúa chỉ chọn những cá tốt, nói cách khác; Thiên Chúa chỉ đón nhận những ai muốn được Ngài biến đổi để trở nên tốt. Còn những ai chối bỏ Ngài thì trở nên cá xấu, bị quang ra ngoài, nơi đó sẽ là bất hạnh và than khóc muôn đời.
Khi chúng ta sống và hành động theo tiếng chỉ bảo của lương tâm, nghĩa là sống theo ý Chúa, thì chúng ta sẽ có một cuộc sống thanh thản bình an ngay ở đời này, và chắc chắn sẽ được hạnh phúc đời sau. Còn ngược lại, nếu sống trong gian ác, tội lỗi thì ngay ở đời này sẽ là một chuỗi những tháng ngày sống trong bất an, bất hạnh và rồi sẽ đánh mất luôn cả sự sống đời sau!
2022
Tiên vàn hãy tìm Nước Thiên Chúa
27.7. Thứ Tư trong tuần thứ Mười Bảy Mùa Quanh Năm
Gr 15:10,16-21; Tv 59:2-3,4,10-11,17,18; Mt 13:44-46
Tiên vàn hãy tìm Nước Thiên Chúa
Trong cuộc sống trần thế, con người thường lẫn lộn giữa các giá trị, nhất là các giá trị thiêng liêng, tinh thần. Sự thẩm định chính xác đã khó khăn, sự chọn lựa, ưa thích cho đúng đắn lại càng khó khăn hơn vì nó liên hệ đến đời sống tâm linh. Biết chọn lựa cũng là biết từ bỏ mà không chút xót xa tiếc nuối. Con người thường lo nghĩ cái hiện tại hơn cái tương lai, cái tạm bợ đời này hơn cái vĩnh cửu cho đời sống mai sau. Thêm vào đó, con người còn bị ma quỷ cám dỗ, thế gian lôi kéo ham thích những sự thế gian xác thịt. Vì vậy, bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đưa ra hai nhân vật gương mẫu khi thấy kho báu và viên ngọc quý, họ đã ứng xử rất khôn ngoan, chọn lựa rất đúng đắn, chúng ta hãy làm như họ đã làm khi tìm ra Nước Trời.
Tin Mừng hôm nay tiếp tục đưa ra ba hình ảnh diễn tả về Nước Trời là dụ ngôn kho báu, ngọc quý và lưới cá: Nước Trời được ví như một người nông dân đi cày ruộng phát hiện ra một kho báu được chôn giấu trong thửa ruộng đang cày, hay Nước Trời được ví như một nhà buôn ngọc khi mua bán ngọc quý, đã phát hiện ra một viên ngọc đẹp rất có giá trị, nên sẵn sàng về nhà bán tất cả gia sản của mình để mua cho được thửa ruộng có kho báu, hay mua viên ngọc quý giá kia.
Tiếp đến Nước Trời cũng được ví như công việc thả lưới bắt cá của một ngư dân: Sau khi bắt được một mẻ cá lớn đã ngồi trên bãi cát mà chọn lựa, rồi giữ lại cá tốt trong giỏ và loại bỏ cá xấu ra ngoài. Cũng vậy, đến ngày tận thế chỉ những người lành mới được vào Nước Trời là thiên đàng, còn kẻ dữ sẽ bị phạt trong hỏa ngục muôn đời. Nhiệm vụ của các môn đệ Đức Giê-su là phải tìm hiểu ý nghĩa của mầu nhiệm Nước Trời so sánh với Lề luật của Mô-sê để biết sử dụng cả những điều cũ điều mới.
Nước Trời là chính Thiên Chúa, là Chúa Giêsu, là thiên đàng, là sự sống đời đời, là ân ban của Thiên Chúa, là sự thánh thiện của linh hồn. Khi nói về Nước Trời giống như kho báu, và như viên ngọc quý, không có ý so sánh, nhưng để diễn tả rằng: ai tìm ra được Nước Trời thì hãy xem đó là kho tàng quý báu duy nhất của mình, đó là báu vật quý hoá và tốt đẹp nhất của mình, không còn có cái gì hơn nữa khiến chúng ta phải khao khát ước mong, và tha thiết tìm kiếm nó, phải nổ lực, phải cố gắng qua cửa hẹp, phải luôn hướng lòng trí về đó vì “ kho tàng ngươi ở đâu thì lòng ngươi cũng ở đó” ( Lc 12, 34; Mt 6, 21).
Trước hết hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa ( Lc 12, 31). Khi ta tìm thấy, đã hiểu biết, đã tin vào Chúa vào sự sống đời đời, chúng ta sẽ yêu mến nó hết lòng, hết sức, hết tâm hồn và hết trí khôn, chúng ta sẽ lấy nó làm niềm vui lớn lao, niềm vui tuyệt đỉnh của cõi lòng chúng ta, chúng ta sẽ hân hoan vui vẻ từ bỏ tất cả, bán hết tất cả để chiếm đoạt cho được kho báu ấy, chiếm hữu cho được viên ngọc quý ấy. Nhưng làm sao để tìm được Nước Trời?
Đối với lương dân thì đó là ơn ban nhưng không của Thiên Chúa, được xem như một sự tình cờ, một cơ hội may mắn nào đó. Còn đối với người kitô hữu vì như lái buôn phải công phu học hiểu giáo lý của Chúa và đào sâu đức tin. Người lương dân cũng như người kitô hữu một khi đã tìm thấy kho báu và viên ngọc quý là Nước Trời rồi, họ phải làm gì để chiếm đoạt nó làm sở hữu của mình. Nước Trời thuộc về thần bí, tìm kiếm nó đã là một vấn đề khó khăn như là dấu kín trong ruộng, như là ở đâu mà ta không định vị được. Khi tìm được rồi lại đem giấu kín, đó là chúng ta phải ôm ấp nó tận đáy lòng ta, để bắt đầu thực hiện những điều cần thiết để chiếm hữu nó. Chúng ta bước vào một hành trình thiêng liêng để tiến vào Nước Trời.
Trước tiên chúng ta thực hiện việc Chúa đòi hỏi chàng thanh niên: “ Anh hãy bán tất cả những gì anh có…” (Mt 19, 16 – 22). Nước Trời rất quý giá và sự đòi hỏi của Nước Trời rất quyết liệt. Chính đây là điểm mà Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh trong dụ ngôn Nước Trời và một kho tàng là viên ngọc quý, đòi ta phải bỏ tất cả những gì mình có kể cả bản thân, việc đáp trả của chúng ta phải trọn vẹn, dấn thân hoàn toàn và trưng dụng tất cả những gì ta có, không được ngần ngại trước bất cứ một sự hi sinh nào, dẫu là chặt tay, chặt chân, móc mắt (Mt 18, 8 – 9 ), cũng không phải là giá quá đắt đối với đặc ân tham dự vào Nước Trời, kể cả sự hi sinh mạng sống mình “ ai yêu mạng sống mình thì mất còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ được lại nó” (Mt 16, 25 ).
Chúng ta cần ý thức phần rỗi linh hồn chúng ta giá trị cao quý tốt đẹp và cần thiết tuyệt đối biết chứng nào, chúng ta không thể đánh mất nó được, chúng ta cần chú tâm và chuyên cần tìm kiếm đạt cho được phần rỗi linh hồn, dù hi sinh tất cả mọi sự thế gian và chính bản thân mình nữa. Chúng ta chọn Chúa là gia nghiệp như một kho tàng quý giá bằng chính đời sống thờ phượng Chúa trọn cả cuộc đời chúng ta trong niềm vui vì được sống trong Nước Trời, và sống cho Nước Trời. Chúng ta cần siêng năng học giáo lý, Kinh Thánh, giáo huấn của Chúa Giêsu, đào sâu đức tin, nhờ đó chúng ta càng mộ mến Nước Trời và sống dấn thân cho Nước Trời hơn nữa.
Chúng ta bắt chước người lái buôn tìm sự lời lãi chính đáng là Nước Trời, để sẵn sàng từ bỏ mọi sự thế gian đang ngăn cản phần rỗi của ta. Người lái buôn về bán mọi của cải vật chất để mua viên ngọc quý, chúng ta biết sử dụng mọi ân huệ Chúa ban về vật chất cũng như tinh thần để mua sắm Nước Trời là sự sống đời đời, đó là chúng ta đã làm lợi nén bạc Chúa trao được lãi gấp đôi. Chúng ta cũng cần ý thức sự cám dỗ của ma quỷ, sự lôi kéo của thế gian để chiến đấu cho thắng trận, và thành công cho cuộc đời chúng ta ở trần gian, đó là chiếm hữu được Nước Trời.
Cám dỗ nguy hiểm cho nhiều người trẻ hôm nay, đó là cuộc sống xã hội đang tạo ra nhiều giá trị ảo, mục tiêu ảo, hạnh phúc ảo, thế giới ảo và nhiều thứ ảo giác khác khiến cho nhiều người trẻ đã lạc đường, mất hướng không còn biết mục đích cuộc đời của mình là gì, và hạnh phúc thật là gì. Chính vì thế đã có nhiều bạn trẻ thay vì đánh đổi cuộc đời mình để đạt được hạnh phúc Nước Trời, trái lại họ đang đốt cháy cuộc đời mình trong nghiện ngập, đam mê chơi bời, cờ bạc, buông thả. Nhiều người trẻ đang bị cám dỗ để lao vào tìm kiếm các giá trị ảo trong xã hội như tìm kiếm sự nổi danh, nổi tiếng, tìm đẳng cấp ăn chơi đua đòi hưởng thụ, và tiêu phí cuộc đời mình trong những thứ đó.
Chúng ta cùng cầu nguyện cho nhau, biết nhận ra Chúa Giêsu là nguồn hạnh phúc đích thực của cuộc đời và Tin Mừng của Ngài là một bảo đảm để đạt được hạnh phúc ấy, để chúng ta dám đánh đổi tất cả những sự tạm bợ của thế gian này, để đạt được hạnh phúc vĩnh cửu mà Chúa đem đến cho chúng ta.
