2022
Tiên vàn hãy tìm Nước Thiên Chúa
27.7. Thứ Tư trong tuần thứ Mười Bảy Mùa Quanh Năm
Gr 15:10,16-21; Tv 59:2-3,4,10-11,17,18; Mt 13:44-46
Tiên vàn hãy tìm Nước Thiên Chúa
Trong cuộc sống trần thế, con người thường lẫn lộn giữa các giá trị, nhất là các giá trị thiêng liêng, tinh thần. Sự thẩm định chính xác đã khó khăn, sự chọn lựa, ưa thích cho đúng đắn lại càng khó khăn hơn vì nó liên hệ đến đời sống tâm linh. Biết chọn lựa cũng là biết từ bỏ mà không chút xót xa tiếc nuối. Con người thường lo nghĩ cái hiện tại hơn cái tương lai, cái tạm bợ đời này hơn cái vĩnh cửu cho đời sống mai sau. Thêm vào đó, con người còn bị ma quỷ cám dỗ, thế gian lôi kéo ham thích những sự thế gian xác thịt. Vì vậy, bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đưa ra hai nhân vật gương mẫu khi thấy kho báu và viên ngọc quý, họ đã ứng xử rất khôn ngoan, chọn lựa rất đúng đắn, chúng ta hãy làm như họ đã làm khi tìm ra Nước Trời.
Tin Mừng hôm nay tiếp tục đưa ra ba hình ảnh diễn tả về Nước Trời là dụ ngôn kho báu, ngọc quý và lưới cá: Nước Trời được ví như một người nông dân đi cày ruộng phát hiện ra một kho báu được chôn giấu trong thửa ruộng đang cày, hay Nước Trời được ví như một nhà buôn ngọc khi mua bán ngọc quý, đã phát hiện ra một viên ngọc đẹp rất có giá trị, nên sẵn sàng về nhà bán tất cả gia sản của mình để mua cho được thửa ruộng có kho báu, hay mua viên ngọc quý giá kia.
Tiếp đến Nước Trời cũng được ví như công việc thả lưới bắt cá của một ngư dân: Sau khi bắt được một mẻ cá lớn đã ngồi trên bãi cát mà chọn lựa, rồi giữ lại cá tốt trong giỏ và loại bỏ cá xấu ra ngoài. Cũng vậy, đến ngày tận thế chỉ những người lành mới được vào Nước Trời là thiên đàng, còn kẻ dữ sẽ bị phạt trong hỏa ngục muôn đời. Nhiệm vụ của các môn đệ Đức Giê-su là phải tìm hiểu ý nghĩa của mầu nhiệm Nước Trời so sánh với Lề luật của Mô-sê để biết sử dụng cả những điều cũ điều mới.
Nước Trời là chính Thiên Chúa, là Chúa Giêsu, là thiên đàng, là sự sống đời đời, là ân ban của Thiên Chúa, là sự thánh thiện của linh hồn. Khi nói về Nước Trời giống như kho báu, và như viên ngọc quý, không có ý so sánh, nhưng để diễn tả rằng: ai tìm ra được Nước Trời thì hãy xem đó là kho tàng quý báu duy nhất của mình, đó là báu vật quý hoá và tốt đẹp nhất của mình, không còn có cái gì hơn nữa khiến chúng ta phải khao khát ước mong, và tha thiết tìm kiếm nó, phải nổ lực, phải cố gắng qua cửa hẹp, phải luôn hướng lòng trí về đó vì “ kho tàng ngươi ở đâu thì lòng ngươi cũng ở đó” ( Lc 12, 34; Mt 6, 21).
Trước hết hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa ( Lc 12, 31). Khi ta tìm thấy, đã hiểu biết, đã tin vào Chúa vào sự sống đời đời, chúng ta sẽ yêu mến nó hết lòng, hết sức, hết tâm hồn và hết trí khôn, chúng ta sẽ lấy nó làm niềm vui lớn lao, niềm vui tuyệt đỉnh của cõi lòng chúng ta, chúng ta sẽ hân hoan vui vẻ từ bỏ tất cả, bán hết tất cả để chiếm đoạt cho được kho báu ấy, chiếm hữu cho được viên ngọc quý ấy. Nhưng làm sao để tìm được Nước Trời?
Đối với lương dân thì đó là ơn ban nhưng không của Thiên Chúa, được xem như một sự tình cờ, một cơ hội may mắn nào đó. Còn đối với người kitô hữu vì như lái buôn phải công phu học hiểu giáo lý của Chúa và đào sâu đức tin. Người lương dân cũng như người kitô hữu một khi đã tìm thấy kho báu và viên ngọc quý là Nước Trời rồi, họ phải làm gì để chiếm đoạt nó làm sở hữu của mình. Nước Trời thuộc về thần bí, tìm kiếm nó đã là một vấn đề khó khăn như là dấu kín trong ruộng, như là ở đâu mà ta không định vị được. Khi tìm được rồi lại đem giấu kín, đó là chúng ta phải ôm ấp nó tận đáy lòng ta, để bắt đầu thực hiện những điều cần thiết để chiếm hữu nó. Chúng ta bước vào một hành trình thiêng liêng để tiến vào Nước Trời.
Trước tiên chúng ta thực hiện việc Chúa đòi hỏi chàng thanh niên: “ Anh hãy bán tất cả những gì anh có…” (Mt 19, 16 – 22). Nước Trời rất quý giá và sự đòi hỏi của Nước Trời rất quyết liệt. Chính đây là điểm mà Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh trong dụ ngôn Nước Trời và một kho tàng là viên ngọc quý, đòi ta phải bỏ tất cả những gì mình có kể cả bản thân, việc đáp trả của chúng ta phải trọn vẹn, dấn thân hoàn toàn và trưng dụng tất cả những gì ta có, không được ngần ngại trước bất cứ một sự hi sinh nào, dẫu là chặt tay, chặt chân, móc mắt (Mt 18, 8 – 9 ), cũng không phải là giá quá đắt đối với đặc ân tham dự vào Nước Trời, kể cả sự hi sinh mạng sống mình “ ai yêu mạng sống mình thì mất còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ được lại nó” (Mt 16, 25 ).
Chúng ta cần ý thức phần rỗi linh hồn chúng ta giá trị cao quý tốt đẹp và cần thiết tuyệt đối biết chứng nào, chúng ta không thể đánh mất nó được, chúng ta cần chú tâm và chuyên cần tìm kiếm đạt cho được phần rỗi linh hồn, dù hi sinh tất cả mọi sự thế gian và chính bản thân mình nữa. Chúng ta chọn Chúa là gia nghiệp như một kho tàng quý giá bằng chính đời sống thờ phượng Chúa trọn cả cuộc đời chúng ta trong niềm vui vì được sống trong Nước Trời, và sống cho Nước Trời. Chúng ta cần siêng năng học giáo lý, Kinh Thánh, giáo huấn của Chúa Giêsu, đào sâu đức tin, nhờ đó chúng ta càng mộ mến Nước Trời và sống dấn thân cho Nước Trời hơn nữa.
Chúng ta bắt chước người lái buôn tìm sự lời lãi chính đáng là Nước Trời, để sẵn sàng từ bỏ mọi sự thế gian đang ngăn cản phần rỗi của ta. Người lái buôn về bán mọi của cải vật chất để mua viên ngọc quý, chúng ta biết sử dụng mọi ân huệ Chúa ban về vật chất cũng như tinh thần để mua sắm Nước Trời là sự sống đời đời, đó là chúng ta đã làm lợi nén bạc Chúa trao được lãi gấp đôi. Chúng ta cũng cần ý thức sự cám dỗ của ma quỷ, sự lôi kéo của thế gian để chiến đấu cho thắng trận, và thành công cho cuộc đời chúng ta ở trần gian, đó là chiếm hữu được Nước Trời.
Cám dỗ nguy hiểm cho nhiều người trẻ hôm nay, đó là cuộc sống xã hội đang tạo ra nhiều giá trị ảo, mục tiêu ảo, hạnh phúc ảo, thế giới ảo và nhiều thứ ảo giác khác khiến cho nhiều người trẻ đã lạc đường, mất hướng không còn biết mục đích cuộc đời của mình là gì, và hạnh phúc thật là gì. Chính vì thế đã có nhiều bạn trẻ thay vì đánh đổi cuộc đời mình để đạt được hạnh phúc Nước Trời, trái lại họ đang đốt cháy cuộc đời mình trong nghiện ngập, đam mê chơi bời, cờ bạc, buông thả. Nhiều người trẻ đang bị cám dỗ để lao vào tìm kiếm các giá trị ảo trong xã hội như tìm kiếm sự nổi danh, nổi tiếng, tìm đẳng cấp ăn chơi đua đòi hưởng thụ, và tiêu phí cuộc đời mình trong những thứ đó.
Chúng ta cùng cầu nguyện cho nhau, biết nhận ra Chúa Giêsu là nguồn hạnh phúc đích thực của cuộc đời và Tin Mừng của Ngài là một bảo đảm để đạt được hạnh phúc ấy, để chúng ta dám đánh đổi tất cả những sự tạm bợ của thế gian này, để đạt được hạnh phúc vĩnh cửu mà Chúa đem đến cho chúng ta.
2022
Bài Học Kiên Nhẫn
26.7 Thánh Joachim và Anna, thân phụ mẫu Đức Mẹ
Gr 14:17-22; Tv 79:8,9,11,13; Mt 13:35-43
Bài Học Kiên Nhẫn
Mục đích của dụ ngôn thường chỉ muốn nói lên một điều chính yếu. Điều chính yếu trong dụ ngôn cỏ lùng là sự hiện diện của quỉ thần trong cuộc sống con người. Chúng cạnh tranh với Thiên Chúa để lôi kéo con người theo chúng; nhưng chúng chỉ có quyền hạn trên con người cho tới Ngày Tận Thế. Trong ngày đó, quỉ thần và con cái của chúng sẽ bị tiêu diệt muôn đời, như lời Chúa Giêsu tuyên bố hôm nay: “Vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến Ngày Tận Thế cũng sẽ xảy ra như vậy.”
Chúa Giêsu hay dùng dụ ngôn để nói đến từng khía cạnh của Nước Trời. Trong bài Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu đưa ra ba dụ ngôn để ta suy gẫm , đó là dụ ngôn hạt giống và cỏ lùng, dụ ngôn hạt cải và dụ ngôn men bánh.
Dụ ngôn cỏ lùng giải thích cho chúng ta lý do tại sao lại có sự thiện và sự ác trên trần gian, tại sao trong Hội thánh lại có người lành kẻ dữ ? Và tại sao Thiên Chúa lại để cho người dữ sống chung với người lành mà không tiêu diệt nó đi.
Hai dụ ngôn hạt cải và men bánh nói lên sự tăng triển của Nước Trời. Nước Trời hay Hội thánh chỉ là cộng đoàn nhỏ nhưng sẽ phát triển mạnh trong âm thầm và trong những hoàn cảnh khó khăn, như những cuộc cấm cách, bách hại đạo.
Qua những dụ ngôn này, chúng ta có thể rút ra được một kết luận để cảnh giác chúng ta : đừng có ảo tưởng là có thể có một Hội thánh hoàn hảo ở trên trần gian này, trong đó chỉ còn có toàn những người thánh thiện. Trái lại, kẻ lành người dữ sống chung với nhau. Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi cho kẻ dữ biết ăn năn sám hối để được tha thứ.
Ánh sáng và bóng tối trong thế giới chúng ta đang sống ; điều thiện và sự ác trong mỗi con người đó là hình ảnh mà dụ ngôn lúa và cỏ lùng muốn trình bày. Tuy nhiên, hạt giống tốt mới là hạt giống được Thiên Chúa gieo đầu tiên và ở khắp mọi nơi và rồi sẽ được gặp sau cùng và ở khắp mọi chốn. Cỏ lùng không phải là nguyên thủy và cùng đích. Nhận ra điều này để Kitô hữu có cái nhìn tích cực hơn về xã hội, về con người. Một cái nhìn lạc quan cho tương lai tốt đẹp. Một ánh nhìn cảm thông với anh chị em lầm lỗi, để mở đường đưa họ trở về. Nhìn lên Thiên Chúa để thấy Ngài là Đấng kiên nhẫn, nhân từ, chịu đựng biết bao nhiêu thế kỷ tội lỗi của nhân loại. Ngài không chấp nhận tội lỗi nhưng lại yêu thương tha thứ và chờ đợi tội nhân hối lỗi ăn năn dù có tội đến mấy đi nữa.
Lời Chúa nhắc nhở Kitô hữu trước hết hãy lo hoán cải cuộc sống, từ bỏ tội lỗi, Thiên Chúa luôn yêu thương kiên nhẫn chờ đợi và ban đủ ơn cũng như thời gian để chúng ta quay về. Đồng thời, mời gọi mỗi người hãy biết cảm thông, nhân từ với anh chị em chung quanh.
Các bài đọc hôm nay dạy chúng ta rằng : luôn luôn có một thế lực thù địch ở trong thế gian, tìm kiếm và chời đợi để phá hủy hạt giống tốt. Kinh nghiệm đời sống chúng ta có hai loại ảnh hưởng và cùng tác động trên đời sống chúng ta : ảnh hưởng giúp cho hạt giống Lời Chúa được nảy nở tăng trưởng và ảnh hưởng tìm hủy hoại hạt giống tốt trước khi nó có thể đâm bông kết trái. Đó là bài học nhắc nhở chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác.
Không có vinh quang nào mà không phải trải qua đau thương, không có vinh dự nào mà không đòi hỏi phải chiến đấu. Bởi đó, khi sống trong trần gian đối diện với cái ác, chúng ta không run sợ đầu hàng, hoặc thất vọng nản chí, nhưng hãy kiên tâm chiến đấu để luôn đứng vững trong hàng ngũ con cái Chúa, rồi chắc chắn Chúa sẽ đội mũ triều thiên cho ta. Trong khi chiến đấu với cái ác, chúng ta cũng phải luôn có cái nhìn bao dung với những người tội lỗi, phải có lòng quảng đại, biết cảm thông, và luôn giúp họ tìm dịp trở về. Có như thế chúng ta mới thực sự là những Kitô hữu hoàn thiện như người thợ đóng giầy trong câu chuyện trên.
“Kiên nhẫn không chỉ là khả năng chờ đợi, nhưng chính là cung cách ta cư xử đang khi chờ đợi” (Nhà văn Mỹ J. Meyer). Ta mong muốn Hội Thánh gồm các tín hữu tốt lành, hội đoàn gồm các thành viên nhiệt tâm, con cái gồm các người con hiếu thảo, láng giềng gồm những hàng xóm tốt bụng… Thế nhưng, trong thực tế ta đành phải chấp nhận tình trạng vàng thau lẫn lộn, người tốt – kẻ xấu, lúa tốt – cỏ lùng chen lẫn với nhau. Chúa Giê-su, qua dụ ngôn lúa tốt và cỏ lùng, dạy ta thái độ kiên nhẫn, bao dung khi sống trong “thửa ruộng thế gian.” Trong thiên nhiên, cỏ lùng muôn đời vẫn là cỏ lùng, nhưng trong “thửa ruộng thế gian,” người xấu có thể trở thành người tốt; ngược lại, người tốt có thể trở thành kẻ xấu không thể nào ngờ.
Thiên Chúa không muốn triệt tiêu sự dữ, nghĩa là những kẻ dữ, nhưng muốn họ sống còn và sống chung với những người tốt. Hẳn là Ngài hiểu tính hợp lý trong đề nghị của các đầy tớ, nhưng Ngài đã phải xử sự ngược đời, là vì cỏ lùng sống đan quyện với lúa tốt, nên nếu nhổ cỏ lùng, thì khó tránh được chuyện nhổ cả lúa tốt. Với lại, nếu cỏ lùng không thể thành lúa tốt (về thực vật học), kẻ xấu lại có thể trở thành người tốt (trong đời sống thiêng liêng). Sự hiểu biết và kiên nhẫn của Thiên Chúa là nhằm cứu độ mọi người. Đàng khác, sự xấu và sự thiện đan quyện với nhau tinh vi đến nỗi không dễ gì mà phân tách ra. Thật ra không phải là với những cuộc tiêu diệt mà người ta xây dựng được Nước Thiên Chúa, nhưng là với sự kiên nhẫn và tin tưởng.
Chúa Giêsu giải thích dụ ngôn cỏ lùng. Con cái Nước Trời chính là những hạt giống tốt Chúa gieo xuống mảnh ruộng của Người. Hạt giống tốt sẽ lớn lên theo ngày tháng. Cùng với sự lớn lên của hạt giống tốt ấy cũng có cỏ lùng là con cái của sự dữ do ma quỷ gieo vào. Trong tâm hồn của mỗi người ta cũng luôn có mầm sống của hạt giống tốt và mầm sống của cỏ lùng. Mầm sống của hạt giống tốt là những việc lành phước đức, hy sinh hãm mình. Mầm sống của hạt giống tốt càng mạnh thì mầm sống của cỏ lùng sẽ càng yếu đi.
Chúa Giêsu đến không như một nhà chiến thắng oai hùng, có sức thuyết phục và thống trị mọi người. Con đường Người theo và công trình của Người gây nhiều mệt nhọc. Cái chết của Người trong tình trạng bất lực và bị bỏ rơi dường như cung cấp một dấu chỉ rõ ràng cho thấy Người không đáng giá gì và ta không thể tin cậy nơi Người.
2022
Cỏ Lùng và Lúa
23.7 Gr 7:1-11; Tv 84:3,4,5-6,8,11; Mt 13:24-30
Cỏ Lùng và Lúa
Trong bài Tin Mừng Âm hôm nay, Thánh sử Mat-thêu kể lại Chúa Giê-su đã dùng dụ ngôn về nước Trời và Ngài đã dùng hình ảnh rất gần gũi với dân chúng là cây lúa và cỏ lùng trong cùng một thửa ruộng. Cây lúa là cây sinh ra lợi ích cho loài người, mang tính tượng trưng cho người lương thiện. Còn cỏ lùng, một loài cây cũng có dáng dấp và sự tăng trưởng tương tự cây lúa. Chúng chỉ khác đi là không những không sinh hoa trái có lợi cho con người, mà còn làm tổn hại cây lúa xung quanh nó. Một hình ảnh mới nghe qua thì hầu như ai cũng có thể nghĩ ngay đến việc người thợ sẽ phải tức khắc bỏ công ra tìm cách dọn nhổ loài cỏ ấy trong đám ruộng của mình.
Thiên Chúa toàn Chân toàn Thiện toàn Mỹ, đã tạo dựng ra loài người và khởi đầu con người là sự tốt đẹp. Ngài để cho con người tự do trong cuộc sống. Tâm tính của mỗi người phát triển theo tâm sinh lý và môi trường chung quanh cùng với thời gian. Các tâm hồn ấy là những mảnh ruộng chờ sinh lợi hoa trái. Nhưng theo dòng đời trong tâm hồn có thể bị biến đổi, bị biến dạng bởi những điều xấu, như cây lúa tốt lành đã được gieo trồng bị giống cây cỏ lùng chen lấn.Thế nên, trong xã hội có những người có tâm tính tốt lành, nhưng đồng thời có những kẻ thâm hiểm, độc ác.
Mặt khác, trong lời thuật dụ ngôn Thánh Mat-thêu cho thấy, cỏ lùng được gieo trong lúc mọi người đang ngủ, điều này nhắc nhở chúng ta luôn cần khiêm nhường nhìn lại mình, vì sự chủ quan của mình không dễ gì nhận ra khiếm khuyết của bản thân, hoặc có nhận ra, thì lại tìm những lý lẽ tự bào chữa, quên đi mảnh ruộng tâm hồn mình đã dần nhiều cỏ hơn lúa. Về khía cạnh giáo dục cũng thế, các bậc phụ huynh, bấy lâu nay có quan tâm chặt chẽ đến các trẻ thơ, thiếu nhi ? Đấy là những mảnh đất màu mỡ mà những điều xấu xa luôn được lén lút gieo trồng và phát triển nếu cha mẹ lơ đãng, kém tỉnh táo thì hậu quả thật khôn lường.
Dụ ngôn cũng cho thấy sự kiên nhẫn và lòng bao dung của Chúa. Chúa kiên nhẫn đợi cho đến ngày tận thế phân loại lúa và cỏ lùng. Chúa kiên nhẫn chờ mong những người tội lỗi ăn năn sám hối. Chúa rộng lượng tha thứ không nỡ trừng phạt người tội lỗi tức khắc. Chúa yêu thương, tin tưởng người xấu sẽ có ngày hoán cải nên tốt. Nếu như lời người đầy tớ trong Phúc Âm, điển hình cho tâm lý chung của loài người, nói thì Chúa trừng phạt ngay những kẻ xấu, còn đâu Kẻ trộm lành, các thánh như Ma-đa-lê-na, Au-gut-ti-nô, …và ngay cả chính ta, có thể cũng không thoát khỏi sự trừng phạt do cái xấu còn tồn tại, do cỏ lùng nhiều hơn lúa trong ta.
Dụ ngôn cho ta hiểu tất cả là hồng ân của Chúa. Có sự tốt lành để ta hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa nhân lành.
Có những sự dữ để ta không phán xét anh em nhưng là để khiêm nhu nhìn lại chính mình, cần ta “thật sự cải thiện lối sống và hành động” như trong bài đọc 1, tiên tri Giê-rê-mia .Chỉ có tình yêu mãnh liệt mới làm Chúa kiên nhẫn chờ đợi sự đổi thay nơi tâm hồn thay đổi từ sự lành ra sự dữ. Chúa không vội trừng phạt vì sự không đón tiếp khi đi qua làng Sa-ma-ri-a như lòng mong muốn nóng nảy của Gioan và Gia cô bê. Chúa không ngoảnh mặt với một Phê-rô chối từ Ngài. Nhưng Ngài trông đợi thật sự cải thiện lối sống và hành động.
Chúa dạy chúng ta bài học yêu thương.“Anh em hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương anh em”.(Ga 13, 34)
Chúng ta hãy tập yêu thương mọi người, nhất là những người đang sống xung quanh chúng ta, cố gắng nghĩ tốt về họ, nói tốt về họ, tập quên đi những sai sót của họ như Chúa Giê-su yêu thương chúng ta. Nước Trời chỉ dành cho những người biết chiếm lấy bằng sức mạnh từ Thiên Chúa. Sức mạnh đó chính là sự kiên nhẫn, tha thứ, yêu thương, chờ đợi . . .để chúng ta đủ kiên nhẫn để chịu đựng những đau khổ mà người ác tâm gây ra cho mình. Chúng ta cần mặc lấy tâm tình yêu thương và cứu độ của Đức Giêsu : «Tôi đến không phải để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi». (Mt 9,13). Chúng ta có yêu thương họ thì mới giúp họ được và có khả năng sống với cả những người khác ý với mình. Amen .
Giáo Hội vốn không phải là một xã hội hoàn hảo. Giáo Hội tự bản chất là thánh thiện, nhưng lại gồm những con người tội lỗi, đó là ý nghĩa của dụ ngôn mà Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe và suy niệm hôm nay. Chúng ta có một Giáo Hội gồm nhiều vị thánh, nhưng cũng có vô số tội nhân. Những tội nhân vẫn có thể trở thành các thánh trong giây phút, còn các vị thánh thì trở nên thánh thiện hơn; các tội nhân cần sự tha thứ của chúng ta; còn các thánh thì khơi dậy sự cảm phục và quyết tâm cải hóa của chúng ta. Người Pháp thường nói: “Ðể hiểu mọi sự, thì cần phải tha thứ mọi sự”. Chúng ta luôn được mời gọi để nhìn Giáo Hội như một đoàn người đang lữ hành, trong đoàn người này, có người đang cố gắng tiến đến gần Chúa, có kẻ lại xa rời Ngài.
Dụ ngôn làm nổi bật sức sống mãnh liệt của hạt giống Nước Trời, một khi đã được Thiên Chúa gieo vãi vào thế gian này sẽ lớn lên và đơm bông kết hạt bất chấp những cản trở, phá hoại do ma quỷ là kẻ cầm đầu và gây ra mọi sự gian ác. Mặc dù đôi khi có thể bị chèn ép bởi thế lực của sự dữ, như lúa phải sống chung với cỏ lùng trong ruộng, nhưng không có sức mạnh nào có thể ngăn cản hay bóp nghẹt sức sống và sự lớn mạnh của Nước Trời. Những giá trị tốt lành của Nước Trời rồi sẽ chiến thắng trong ngày tận thế, dù trong hiện tại có thể phải trải qua nhiều khó khăn, thử thách. Tất cả đều không nằm ngoài sự quan phòng nhiệm mầu và đầy yêu thương của Thiên Chúa. Ngài thấu biết mọi sự và vẫn kiên nhẫn đợi chờ để hạt giống Nước Trời sinh hoa trái dồi dào, và được thu vào kho lẫm của Ngài trong mùa gặt sau hết.
Kinh nghiệm thực tế cuộc sống cho thấy rằng người lành kẻ dữ, người công chính và kẻ tội lỗi vẫn sống chung với nhau. Con người ta cũng thường hay thay đổi, lúc thì là lúa tốt, lúc lại là cỏ lùng… Tình trạng bấp bênh, không rõ ràng ấy chúng ta thường thấy có trong Hội Thánh, trong xã hội, trong bất cứ đoàn thể nào và trong mỗi cá nhân: hai yếu tố tốt và xấu, lành và dữ, như lúa tốt và cỏ lùng luôn luôn tranh chấp, giành giật ảnh hưởng lẫn nhau.
Bao lâu còn sống ở trần gian, không ai có thể phân định rõ ràng dứt khoát được. Nhưng đến “mùa gặt là ngày tận thế”, khi mà các “thợ gặt là các thiên thần” sẽ dễ dàng phân biệt cỏ lùng với lúa tốt. Sự dữ như cỏ lùng, dù có giống lúa đến mấy, cũng không thể lẩn tránh hoặc che dấu thân phận thật của mình trong ngày tận thế khi đứng trước sự soi xét công minh của Thiên Chúa. Và khi ấy sẽ có quyết định dứt khoát, bất di bất dịch về số phận đời đời của chúng: “Cũng như người ta thu lấy cỏ lùng, rồi thiêu đốt trong lửa thế nào, thì ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy: Con Người sẽ sai các thiên thần đi thu tất cả gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác khỏi nước Chúa, rồi ném tất cả chúng vào lửa: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng”. Còn những người lành như lúa tốt khi phải sống chung với cỏ lùng, bị thiệt thòi, cay đắng, ngột ngạt, nhưng rốt cuộc sẽ được ân thưởng xứng đáng trong ngày sau hết: “Bấy giờ kẻ lành sẽ sáng chói như mặt trời trong nước của Cha mình” .
Làm người Kitô hữu chính là nhập cuộc vào đoàn người lữ hành ấy với cố gắng, với thiện cảm và nhất là với cảm thông. Những kẻ cuồng tín cũng giống như một vụ cháy rừng. Lửa bốc cháy và tiêu diệt cả những mầm non: lửa cần thiết cho cuộc sống, nhưng lửa cần phải được làm chủ và sử dụng vào mục đích. Yêu mến Giáo Hội là luôn thức tỉnh để nhận ra những tiêu cực và tệ đoan trong Giáo Hội. Ðó là sự thức tỉnh của thánh Phanxicô Assisiô thời Trung cổ. Thế nhưng, con đường canh tân mà thánh nhân đã chọn không phải là nổi loạn hoặc lìa bỏ Giáo Hội, mà là canh tân chính bản thân bằng cuộc sống hy sinh, từ bỏ, và nhất là cảm thông. Ðó là cách thế tốt nhất để đương đầu với cỏ lùng chen lẫn lúa tốt trong cánh đồng Giáo Hội.
2022
Hoán cải
22.7 Thánh Maria Mađalêna
Gr 3:14-17; Gr 31:10,11-12,13; Mt 13:18-23
Hoán cải
Tin Mừng hôm nay cho thấy cô có thêm một hạnh phúc mới, là người đầu tiên được gặp Chúa, được tận mắt nhìn thấy Chúa từ cõi chết sống lại.
Quả thật Chúa là Đấng từ bi nhân hậu và hay thương xót. Chỉ cần chúng ta biết ăn năn quay về với Chúa, chắc chắn Chúa sẽ bỏ qua những gì yếu đuối nơi con người chúng ta. Đón nhận chúng ta như là đón nhận cô Maria vậy.
Ma-ri-a Mác-đa-la chính là người phụ nữ đứng gần thập giá Chúa Giê-su được Gio-an nêu đích danh (Ga 19, 25). Sau này chị đã được nói tới như nhân chứng đầu tiên được Đấng Phục Sinh hiện ra với và sai đi loan báo biến cố quan trọng này cho các môn đệ khác. Nhưng tại sao lại là Mác-đa-la – một phụ nữ mà thanh danh dưới cả mức trung bình được chọn cho một danh dự lớn lao như thế? Một ngẫu nhiên chăng hay có chủ đích rõ ràng?
Thiết tưởng cùng với việc Mát-thêu – người thâu thuế được gọi làm tông đồ, Phê-rô – môn đệ chối bỏ Thầy được cắt đặt làm thủ lãnh tông đồ đoàn, Phao-lô – kẻ bắt đạo trở thành tông đồ nhiệt thành rao giảng… thì Mác-đa-la – nữ tội nhân trở thành đệ nhất chứng nhân sẽ ăn khớp cách hoàn hảo với toàn cảnh bức tranh rất hoành tráng của Tin Mừng cứu rỗi. Sau này cho dầu huyền thoại có muốn thêu dệt nên một Mác-đa-la – nữ thánh với những tình tiết như lui về Ê-phê-xô ở ẩn cùng với Ma-ri-a – Mẹ Chúa Giê-su, hay một Mác-đa-la truyền giáo miền Provence – nước Pháp với một đời sống đầy những sám hối và khổ hạnh (xem St Mary Magdalen trong Catholic Encyclopedia), thì Mác-đa-la của các sách Tin Mừng vẫn giữ nguyên nét độc đáo riêng, đáng cho chúng ta chiêm ngưỡng.
Phải là một Mác-đa-la “đã yêu mến nhiều, vì tội của chị rất nhiều nhưng đã được tha” mới xứng đáng sức dầu thơm “có ý dành cho ngày mai táng Thầy” (Ga 12:7), mới xứng đáng đứng gần thập giá khi Giê-su thốt lên: “Thế là đã hoàn tất!” Rồi gục đầu xuống và trao Thần Khí’ (19:25), mới ‘sáng ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối… đã đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ… liền chạy về gặp Si-mon Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến…’ (20:1-2), mới ‘đứng ngoài, gần bên mộ, mà khóc…’ (20:11), và mới âu yếm kêu lên với Người Thầy sống lại: “Ráp-bu-ni!” (20:16)
Thế đấy, chỉ có ai “đã yêu mến nhiều, vì tội… rất nhiều nhưng đã được tha” mới đáng có cái vinh dự được làm tất cả các điều ấy, và làm cách chân thành nhất với cả cõi lòng mình. Nhiều người đã muốn gọi Mác-đa-la là ‘tông đồ cho các tông đồ’ (Apostle to the Apostles), hay một nữ anh hùng của niềm tin (Protestant churches honor her as a heroine in the faith), nhưng thiết tưởng còn hơn thế nữa, chị nên được coi là mẫu mực hay tiêu biểu cho ơn gọi Ki-tô hữu qua mọi thời đại. Kể từ ngày lãnh nhận phép rửa ‘nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”, Ki-tô hữu được sách Công Vụ Tông Đồ mô tả như những con người ‘đau đớn trong lòng…’ vì nhận ra những lỗi tội mình phạm, để rồi đáp lại lời mời gọi của Phê-rô: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giê-su Ki-tô để được ơn tha tội…” (Cv 2:37-38).
Rất tiếc sau này thói quen rửa tội ấu nhi đã làm cho khía cạnh căn bản và quan trọng này của ơn gọi Ki-tô hữu đễ bị lu mờ. Ki-tô hữu tiên quyết phải là những con người, trong niềm tin vào Đức Giê-su Ki-tô, “yêu mến nhiều, vì tội rất nhiều nhưng đã được tha”. Họ phải là những người không ngừng ‘đứng gần thập giá Đức Giê-su’, những người hàng ngày chứng kiến và làm chứng cho mọi người về cái Chết Thập Giá và Phục Sinh của Người. Tắt một lời, để có thể chu toàn xuất xắc sứ mạng được trao phó, nhất thiết họ phải kinh qua cùng một tâm trạng như Ma-ri-a Mác-đa-la thuở nào.
Thế nên không lạ gì, trong số các diện mạo khả ái hay ít khả ái hơn được các sách Phúc Âm đề cao, Mác-đa-la chiếm một vị trí đặc biệt. Ngay từ thời buổi đầu tiên, các Ki-tô hữu đã sớm nhận ra nơi chị hình ảnh của chính mình là ‘đứng gần Thập Giá’, sứ mệnh của mình là làm chứng về Giê-su đã chết và sống lại (không như một sự kiện bên ngoài, nhưng như một biến đổi sâu xa bên trong mà chính mình phải là một chứng nhân thực thụ…), và mình được sai đi loan báo Tin Mừng này cho mọi người trong hân hoan. Họ coi Ma-ri-a Mác-đa-la là ‘thánh nữ’ chính vì những điểm này hơn là bất cứ điều gì khác chị sẽ thực hiện sau này trong phần còn lại của đời chị. Họ hiểu rằng đời Ki-tô hữu của họ cũng hệ tại ở việc sức dầu ‘thống hối’ mai táng mà họ phải làm mỗi ngày, vì… “Tin Mừng này được loan báo bất cứ nơi nào trong khắp thiên hạ, thì người ta cũng sẽ kể lại việc cô vừa làm mà nhớ tới cô ấy” (Mt 26:13).
Tin Mừng theo thánh Gioan vừa nhắc đến Thánh nữ Maria Mađalêna, vị thánh mà Giáo Hội kính nhớ hôm nay. Bà là người nữ được diễm phúc gặp Chúa Giêsu phục sinh đầu tiên. Khi gặp được Chúa, bà vui sướng reo mừng, bà đi báo cho các môn đệ rằng : “Tôi đã thấy Chúa”. Rồi bà kể lại cho các ông những điều Chúa đã nói với bà. Tuy nhiên thật tiếc thay, bà Maria Mađalêna đã không nhận ra được Chúa phục sinh, ngay từ phút giây đầu tiên khi Chúa xuất hiện trước mặt bà. Chúa đứng đó nhưng bà đã không nhận ra Chúa, mà phải trải qua một tiến trình với nhiều dấu hiệu, đến khi Chúa gọi tên bà, lúc ấy bà mới nhận ra Chúa.
Chúng ta tự hỏi, điều gì đã ngăn cản cản bà Maria Mađalêna không nhận ra Chúa ngay từ phút đầu tiên ấy. Thánh Gioan cho chúng ta thấy qua các dấu hiệu :
Bà Maria Mađalêna đến mộ từ sáng sớm, bà thấy dấu hiệu đầu tiên đó là “tảng đá lăn khỏi mộ”, bà không còn thấy Chúa. Với suy nghĩ của loài người, bà chỉ nghĩ được rằng “Người ta đem Chúa đi khỏi mộ và các bà chẳng biết họ để Người ở đâu ?” Bà không đủ sáng suốt để nghĩ về Chúa Giêsu, Đấng đã chữa lành bà khỏi bảy quỷ, giờ đây hẳn Ngài thực hiện quyền năng của Ngài như đã báo trước. Bà tối tăm sầu buồn đến nỗi đâu còn nhớ Chúa có đủ quyền năng, làm cho đứa con trai duy nhất của bà góa thành Naim cũng như Lazaro chết chôn trong mồ được sống lại. Bà chỉ suy nghĩ và lý giải theo cách hiểu, cách nhìn rất trần thế của bà. Tảng đá được lăn ra, mồ trống, nghĩa là Người ta đem Chúa đi. Với lối suy nghĩ về Thiên Chúa theo cách suy luận của con người, thật khó để nhận ra Chúa.
Khi bà Maria Mađalêna đến mộ lần thứ hai cùng với hai môn đệ, bà không thấy mọi sự diễn ra như bà suy tính, bà buồn rồi khóc. Bỗng bà thấy dấu hiệu nữa là : hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Chúa Giêsu, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân. Thiên Thần hỏi “sao bà khóc”. Thấy Thiên Thần, vậy mà bà chưa mở lòng để suy nghĩ thêm : Thiên Thần đâu dễ xuất hiện trong cuộc sống đời thường, phải có điều gì đó rất đặc biệt Thiên Thần mới xuất hiện chứ ? Rồi bà vẫn trả lời một câu y như lần trước, một câu nói như đã lập trình sẵn trong suy nghĩ kiểu loài người của bà. Bà nói với Thiên Thần : “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu !”. Với lối suy tính và chờ mong mọi sự diễn ra theo ý mình, mà không chịu mở lòng ra với các dấu hiệu Chúa gởi đến trong cuộc đời, chắc hẳn sẽ không nhận ra Chúa.
Và rồi, khi thấy dấu hiệu là chính Chúa Giêsu đứng đó. Chúa Giêsu nói với bà : “Này bà, sao bà khóc ? Bà tìm ai ?” Bà đang vẽ ra trong đầu suy nghĩ của mình về Thiên Chúa. Nên bà tưởng Chúa là người làm vườn, liền nói : “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về”. Bà cứ mải miết bám vào các dữ liệu trần thế theo cách nhìn của bà, rằng đã có ai đó lấy xác Chúa. Giờ đây bà thấy ông này dáng vẻ người làm vườn, với suy nghĩ không đổi bà trả lời cũng vẫn bằng một câu trả lời không thay đổi, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết… Với lối tưởng tượng và suy đoán theo cách của con người, làm sao có thể nhận ra Chúa.
Hôm nay chúng ta cử hành lễ nhớ Thánh Maria Mađalêna. Khi nhắc đến người phụ nữ này, chắc chắn mọi người sẽ nghĩ đến người đàn bà tội lỗi. Người phụ nữ đã được Chúa Giê-su cứu thoát khỏi tay những người muốn ném đá cô.
Tuy tội lỗi nhưng cô đã ăn năn hối cải. Sau khi hoán cải cô đã trở nên người tông đồ nhiệt thành của Chúa. Maria đã cùng đồng hành với chúa trên con đường rao giảng Tin Mừng; theo sát chân Chúa đến đồi Can-vê. Một Maria tội lỗi suốt ngày chỉ ở trong bóng tối, giờ đây đã được Chúa giải thoát mang cô ra ánh sáng. Đó chính là ánh sáng của Chúa chiếu tỏa trên cô.
