2023
Chiêm ngắm mầu nhiệm Mẹ Hồn Xác Lên Trời
Chiêm ngắm mầu nhiệm Mẹ Hồn Xác Lên Trời
Ngày 01 tháng 11 năm 1950, tại Quảng Trường Thánh Phêrô, Đức Piô XII long trọng tuyên tín: “Do uy quyền của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, của hai thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, và với thẩm quyền của Tôi, Tôi phán quyết, tuyên bố, và định tín tín điều đã được mạc khải rằng: Đức Maria, Mẹ Vô Nhiễm của Thiên Chúa trọn đời đồng trinh, sau cuộc sống trần thế này, đã được phúc vinh quang Thiên Đàng cả hồn lẫn xác. Nếu ai, cả dám tự tình, chối bỏ hay nghi ngờ điều Tôi đã định tín, thì họ phải biết rằng: họ đã hoàn toàn phản bội đức tin của Hội Thánh Công Giáo”.
Đức Thánh Cha vừa dứt lời, thánh ca Te Deum do tất cả mọi người tại Quảng Trường Thánh Phêrô cất lên hùng tráng, hoà nhịp với những tiếng chuông trầm hùng của Đền Thánh Phêrô và của hơn 400 Đền Thờ khắp thành Rôma, cùng với toàn thể thần thánh trên trời, hân hoan reo mừng chúc tụng ngợi khen Mẹ vinh quang: Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Hội Thánh và Mẹ của toàn thể nhân loại.
1. Mẹ Maria hồn xác lên trời là biến cố sau cùng trong mầu nhiệm hiệp công cứu chuộc, đặc biệt liên đới với mầu nhiệm Nhập Thể cứu thế của Đức Giêsu, Con Mẹ.
2. Vì Mẹ đã chịu thai và hạ sinh Đức Giêsu, thì sau khi Chúa về trời, Chúa cũng đưa Mẹ vào hưởng phúc vinh quang cùng với Người.
3. Mẹ đã cho thân xác Chúa sự sống nhân loại, thì đáp lại, Chúa cũng cho thân xác Mẹ sự sống trường sinh bất diệt.
4. Do đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, thân xác trinh trong của Mẹ được thoát án lệ của Tội Nguyên Tổ, mà được sống lại và lên trời cùng với linh hồn trong sáng của Mẹ.
5. Biến cố Mẹ lên trời hồn xác hoàn thành sự thánh thiện và huân công của Mẹ, là niềm ủi an và là niềm hy vọng tràn trề của chúng ta, là khởi đầu và là hình ảnh Hội Thánh sẽ được thành toàn trên Nước Trời.
6. Hồn xác Mẹ lên trời vinh quang, được Chúa Ba Ngôi tôn phong làm Nữ Vương trời đất và làm Đấng Trung Gian ban phát mọi ơn lành cho chúng ta.
7. Đặc ân Mẹ Lên Trời là vinh quang chung cuộc của mọi đặc ân và là cùng đích cuộc đời, sứ mạng và huân công của Mẹ. Đặc ân Mẹ Lên Trời bao gồm nhiều điều kỳ diệu: Mẹ chết êm ái, và không chút đớn đau; Mẹ được sống lại, và không bị hư hoại; Mẹ lên trời hiển vinh, và được ban thưởng xứng đáng.
Ngay từ thuở đời đời, do cùng một quyết định tiền định duy nhất, Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời đã được kết hợp một cách huyền nhiệm với Đức Giêsu Kitô, được ơn vô nhiễm khi thành thai, được ơn đồng trinh vẹn tuyền khi làm Mẹ Thiên Chúa, được hiệp công trọn vẹn khi cộng tác với Con của Mẹ trong công trình cứu chuộc.
Đấng Cứu Chuộc đã hoàn toàn chiến thắng tội lỗi và các hậu quả của tội lỗi, thì Mẹ Đấng Cứu Chuộc cũng được thông phần, cũng được toàn thắng tội lỗi và tử thần. Chiến thắng này là phần thưởng rất cao quý giữa những đặc ân Mẹ đã nhận được. Nhờ đó, Mẹ được gìn giữ vẹn toàn, không bị hư nát chút nào trong phần mộ, và như Con của Mẹ, Mẹ chiến thắng tử thần và cả hồn lẫn xác được đưa về hưởng vinh quang cao cả trên trời. Nơi đó, Mẹ là nữ hoàng sáng ngời rực rỡ bên hữu Con của mình là Đức Vua bất tử muôn đời.
Sách Khải Huyền mô tả cuộc tranh hùng giữa thiện và ác, giữa dòng dõi con rồng hoả ngục và dòng dõi người nữ là Mẹ Maria:
Mẹ được hình dung là một mỹ nữ mặc áo mặt trời vinh quang chiếu sáng rực rỡ. Chân Mẹ đạp mặt trăng: mặt trăng khi tròn khi khuyết, tượng trưng sự đổi thay, nhưng, Mẹ không bị biến đổi theo thời gian, theo tứ thời bát tiết, vì Mẹ là bà chúa đạp trên tất cả mọi thụ tạo. Đầu Mẹ đội triều thiên mười hai ngôi sao tượng trưng cho mười hai chi tộc Israel. Điều này tiên báo Mẹ sẽ làm Nữ Vương của ức triệu thần dân nơi Giêrusalem mới, nơi trời mới đất mới, và triều thiên tượng trưng cho sự vinh thắng của Mẹ. Tất cả các điềm lạ là hình ảnh Hòm Bia Giao Ước mà Thiên Chúa dùng để ở cùng dân Người, và Người ở trong đó như ở trong cung lòng Mẹ. Người Con Trai là Đức Kitô, là Đấng Thiên Sai mà thánh vương Đavít đã tiên báo trong Tv 2 và Tv 109.
Con rồng lớn màu đỏ là sức mạnh của thần dữ, không thể tiêu diệt người Con Trai là Đức Kitô. Hội Thánh đã trải qua biết bao thời kỳ đẫm máu, nhưng, quỷ hỏa ngục sẽ không thắng nổi Hội Thánh của Đức Kitô. Thiên Chúa dành sẵn cho mỹ nữ một nơi trong sa mạc, nghĩa là, Hội Thánh phải đi vào nơi gian nan thử thách, nhưng, Hội Thánh sẽ luôn đứng vững vì có Chúa gìn giữ, chở che. Con Trẻ được cất bổng lên ngai Thiên Chúa là hình ảnh Đức Kitô được phục sinh. Sau hết, là bài ca chiến thắng: ơn cứu độ, quyền năng, và vương quyền của Thiên Chúa đã toàn thắng; và mọi uy quyền đều thuộc về Đức Kitô.
Nhờ lời Đức Mẹ chuyển cầu, xin cho chúng ta biết cộng tác với ơn Chúa để chiến đấu với Ba Thù: ma quỷ, thế gian, xác thịt, cách kiên cường và oanh liệt như Mẹ, để rồi, chúng ta cũng sẽ “được thưởng cùng Mẹ trên Nước Thiên Đàng”. Ước gì được như thế!
Tác giả: Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
2023
Lên Trời với Mẹ
15.8 Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời
St 31:1-832; Mt 18:1-5,10,12-14
Lên Trời với Mẹ
Tín điều Đức Maria Hồn Xác Lên Trời được Đức Giáo Hoàng Piô XII công bố vào ngày 1.11.1950: “Sau khi đã mãn cuộc đời dưới đất, Đức Maria được đem về trời cả xác hồn”.
Vào thế kỷ 19, có một luồng thần học chủ trương rằng Đức Maria không phải chết và xin Đức Thánh Cha hãy định tín như vậy. Họ cho rằng Đức Maria không mắc tội nguyên tổ, nên không phải chết bởi vì sự chết là hình phạt của tội nguyên tổ. Tuy nhiên đa số các nhà thần học cho rằng Đức Maria đã chết và sau đó được sống lại. Đức Piô XII không bàn tới vấn đề này, không nói rằng Mẹ không phải chết, cũng chẳng nói Mẹ đã chết và đã sống lại; nhưng chỉ nói rằng: sau khi chấm dứt cuộc đời dương thế, Mẹ được cất về trời cả xác và hồn.
Nhìn Đức Mẹ ngủ, ta thấy sáng lên vẻ đẹp thánh thiện cao quý. Mẹ tuyệt đẹp vì Mẹ đầy ơn Chúa. Mẹ đẹp thánh thiện vì ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội. Mẹ đẹp cao quý vì làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Mẹ tuyệt mỹ vì niềm tin đơn sơ và cuộc sống khiêm nhường. Nét đẹp ấy thoang thoảng như như một hương thơm hảo hạng toả ra lôi cuốn. Nét đẹp ấy mặn mà như thứ muối thiêng liêng. Nét đẹp ấy lung linh như ánh sáng dịu mát. Nét đẹp ấy huyền diệu như âm nhạc dịu êm mời gọi con người nâng tâm hồn lên tới Chúa.
Hôm nay, Giáo hội mừng kính Đức Maria được khải hoàn bước vào quê hương Nước Trời.
Bầu khí phụng vụ đượm sắc thái vui tươi với những lời ngợi khen và chúc tụng Đức Trinh Nữ lên trời hiển vinh. Từ đây, Đức Mẹ nắm giữ vai trò quan trọng nhất, là Nữ Vương trời đất. Từ nay, Đức Mẹ đảm nhận một địa vị cao cả nhất và cũng thật gần bên Thiên Chúa. Kể từ nay, Đức Mẹ trổi vượt trên mọi tạo vật với địa vị làm Mẹ Thiên Chúa và làm Mẹ nhân loại.
Quyền năng và tình yêu Chúa tràn đầy trên Mẹ làm cho Mẹ được khỏi tội tổ tông và được đầy ơn ơn sủng ngay từ trong lòng mẹ. Quyền năng và tình yêu Chúa bao phủ suốt cả đời Mẹ trên từng ý nghĩ, từng tình cảm, từng mỗi hành động, từng mỗi bước đi… khiến cho tâm hồn Mẹ luôn hướng về Chúa mà tạ ơn và ngợi khen liên lỉ. Quyền năng và tình yêu Chúa đong đầy trọn vẹn nhất trong khoảnh khắc lịch sử, Mẹ lên trời cả hồn cả xác. Đặc ân cao trọng này, chính là triều thiên sáng chói bao phủ lên Mẹ, vốn đã được “Thánh Thần ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao rợp bóng trên bà” (Lc 1, 35).
Giáo Hội cùng hiệp ý chung lời với Mẹ ngợi khen tạ ơn Thiên Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới, từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”.
Đó là những lời tán tụng ngợi ca Thiên Chúa phát xuất từ sâu thẳm lòng Mẹ trong ngày thăm viếng người chị họ Isave.
Những lời ngợi ca đó nói lên tất cả tâm hồn của Mẹ. Đó là toát lược cả cuộc đời Mẹ, cả chương trình sống của Mẹ, là con đường tu đức của Mẹ: mãi mãi là người nữ tỳ khiêm tốn, luôn phó thác hoàn toàn trong tay Chúa toàn năng và nhân hậu, hằng dâng lời ngợi khen tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh cuộc sống.
Những lời ca ngợi Magnificat nói lên hết ý nghĩa và tâm tình của Mẹ đối với Thiên Chúa toàn năng và yêu thương.
Mừng lễ Đức Trinh Nữ Maria hồn xác lên trời hôm nay, Lời Chúa cũng mời gọi chúng ta hãy nhìn lại đời sống của mình xem chúng ta đã biết lắng nghe và thực hành Lời Thiên Chúa hay chưa?
Trên một tấm bia mộ cổ của một người Công Giáo đạo đức có ghi đôi câu đối: “Tin không việc làm, đức tin chết. Sống chẳng yêu thương, cuộc sống tàn”. Quả thật, chủ đề “Lắng nghe và thực hành Lời Chúa”, có thể chúng ta đã nghe đến nhàm tai; nhiều người chép miệng: “ôi dào, biết rồi, khổ lắm, nói mãi”.
Vâng, từ xưa tới nay, tôi và anh chị em đã từng tự hào mình là người có đạo, chúng ta đã nghe Lời Chúa rất nhiều, nhưng trong giáo xứ, đây đó vẫn có những tranh giành, vẫn có những gia đình chưa được hòa thuận, vẫn có những gian lận trong làm ăn, vẫn có những bất công trong việc hành xử với anh chị em cùng xóm làng, cùng xứ đạo. Liệu như vậy, có phải chúng ta đang thực hành Lời Chúa dạy ?
Chúng ta tự hào rằng: mình vẫn đi nhà thờ, vẫn đọc kinh, tham dự Thánh Lễ, nhưng đôi khi lại thiếu bác ái với anh chị em của mình.
Chúa nói: “Ai nghe và thực hành Lời Chúa thì như người khôn biết xây nhà trên đá”. Còn chúng ta, mặc dù tin vào Đức Ki-tô, nhưng trong cuộc sống thực tế, chúng ta lại xây ngôi nhà cuộc đời của mình trên những thứ cát như tiền tài, quyền lực, danh vọng…
Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI đã khẳng định: “Ngày nay, người ta cần những chứng nhân hơn là những nhà giảng thuyết. Sở dĩ người ta nghe lời những nhà giảng thuyết bởi vì người ta đã thấy họ sống chứng nhân”. Thánh tông đồ Giacôbê Tông đồ cũng đã từng nói: “Bạn hãy chứng minh cho tôi thấy đức tin không có việc làm của bạn. Còn tôi, bằng việc làm, tôi sẽ chứng minh cho bạn thấy thế nào là tin” (Gc 2, 18). Chúng ta nghĩ gì về lời mời gọi đó?
Trong cuộc sống hôm nay, chúng ta cũng đang đi lại những chặng đường của Đức Mẹ: có cả vui, sáng, thương, mừng. Chúng ta lần hạt, tràng chuỗi nơi tay, miệng thầm thỉ, lòng kết hiệp với các mầu nhiệm vui mừng và đau thương của Đức Mẹ. Chúng ta cũng lần hạt một cách thiết thực nữa trong cuộc sống hằng ngày, mà tràng chuỗi và những hạt chuỗi giờ đây, chính là những hạt mồ hôi, những giọt nước mắt, những khổ đau, những oan ức…, và cũng chính là những tiếng vui cười, những tia hy vọng, những niềm hân hoan… Đó là tràng chuỗi sống, đi đôi với việc đọc kinh lần hạt suy niệm của chúng ta.
Đức Mẹ được vinh hiển hồn xác trên trời là hình ảnh và là khởi đầu bảo đảm cho tương lai của chúng ta sau nầy cũng sẽ được như vậy, miễn là bây giờ chúng ta biết noi gương Mẹ mà sống thánh giữa đời, qua những chặng đường vui, sáng, thương, mừng của cuộc sống (x. LG 68).
2023
Đức tin rất cần thiết
12.8
Thứ Bảy trong tuần thứ Mười Tám Mùa Quanh Năm
St 6:4-13; Tv 18:2-3,3-4,47,51; Mt 17:14-20
Đức tin rất cần thiết
Tin mừng thuật lại, sau khi Chúa Giêsu đưa ba môn đệ lên núi Tabor, số môn đệ còn lại ở dưới núi, vì thế người ta mang đến cho các ông một đứa trẻ bị quỷ ám mắc kinh phong. Các ông đã trừ mà không được. Nên thấy Chúa Giêsu xuống, dân chúng đã xúm lại và xin Ngài chữa lành. Sau khi Ngài chữa cho bé gái khỏi quỷ ám, các môn đệ tiến lại gần và hỏi: “Tại sao chúng con đây lại không trừ nổi tên quỷ ấy ?” Chúa Giêsu mạc khải cho họ biết: “Tại anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: ‘rời khỏi đây, qua bên kia’ nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được”.
Sau khi các ông nhận ra sự thất bại của mình và hiểu rõ về sức mạnh của niềm tin, Chúa Giêsu muốn dạy các ông sự khiêm nhường và gắn bó với Thiên Chúa cách trọn vẹn thì mới có thể thi hành được sứ vụ.
Việc Chúa Giêsu chữa một đứa bé bị kinh phong, có thể nói, không có gì đặc biệt, nếu phép lạ được thực hiện do Chúa Giêsu, bởi vì Ngài là Thiên Chúa toàn năng làm được mọi sự. Nhưng điều quan trọng là phép lạ có thể xảy ra là do đức tin của con người. Thật thế, trong bất cứ phép lạ nào, Chúa Giêsu cũng đòi hỏi con người phải tin, hoặc chính đương sự hoặc cha mẹ hay người bảo trợ. Là Đấng Cứu Thế, Chúa Giêsu yêu thương và muốn chữa con người khỏi mọi bệnh tật, nhưng mỗi khi thực hiện phép lạ để cứu chữa một người nào, Ngài cũng đòi phải có đức tin. Nếu việc cứu chữa riêng lẻ đó chỉ là hình ảnh lu mờ của việc cứu chữa tối hậu mà Chúa còn đòi hỏi đức tin, thì để được cứu rỗi trong thời cứu độ viên mãn, đức tin còn cần thiết biết chừng nào.
Mục sư Martin Luther nói: “Đức tin cho phép chúng ta nắm giữ trong tay những điều chúng ta không thấy được”.
Đức tin biến đổi chúng ta từ người tội lỗi trở thành con cái Thiên Chúa. Đức tin làm cho những việc tầm thường trở thành những việc có giá trị phi thường. Đức tin cho chúng ta có cái nhìn lạc quan, tin tưởng vào những điều dường như không thể lý giải. Đức tin cũng chính là điều kiện cần thiết, để Chúa Giêsu làm phép lạ cứu chữa người bệnh. Việc Chúa Giêsu chữa bệnh kinh phong cho em bé trong Tin mừng hôm nay là một ví dụ điển hình về sức mạnh của lòng tin. Thật vậy, chính nhờ lòng tin vững vàng của người cha mà em bé được chữa lành.
Con người dễ mắc phải cám dỗ cậy vào sức riêng và do đó dễ gặp thất bại trong đời sống. Chính các môn đệ cũng không tránh khỏi cám dỗ đó. Thật vậy, sau khi chứng kiến cuộc biến hình của Ngài, Chúa Giêsu muốn các ông xuống núi, trở về với những vấn đề của cuộc sống. Ngài muốn các ông nhận thức giới hạn của mình khi để các ông thất bại trong việc trừ quỉ câm. Trước đây nhờ quyền năng Chúa các ông đã xua trừ được nhiều quỷ. Có lẽ các ông bắt đầu quên điều đó, quên rằng mình chỉ là dụng cụ của Thiên Chúa. Bởi đó, sau khi các ông nhận thức rõ sự bất lực của mình, Chúa đã giải thích cho các ông biết rằng để thành công, các ông cần có đức tin dù chỉ là đức tin nhỏ bé, cần gắn bó với Chúa, và theo nhiều bản Tin mừng bổ túc, cần phải cầu nguyện và ăn chay.
Như hạt cải trổ thành cây lớn, đức tin đích thực dù ở khởi điểm còn ở mức độ nhỏ, nhưng rồi sẽ phát triển thêm thành cây lớn. Hơn nữa, chúng ta cũng nên lưu ý điều này là sự phát triển không tự động cách máy móc, cần có sự cộng tác của đương sự với ơn Chúa, để phát triển đức tin thêm nữa cho đến mức độ trưởng thành và sự cộng tác này được củng cố bằng lời cầu nguyện và việc ăn chay. Đây có thể là bài học Chúa Giêsu nhắc khéo cho các môn đệ khi Ngài phán: “Giống quỷ này không chịu ra, nếu người ta không ăn chay, cầu nguyện”.
Kết thúc bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: Nếu các con có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì chẳng có gì các con không làm được. Ðức tin làm cho chúng ta từ con người tội lỗi trở thành con cái Thiên Chúa; đức tin giúp cho những việc tầm thường trong đời sống trở thành có giá trị vĩnh cửu; đức tin cho chúng ta có cái nhìn lạc quan tin tưởng vào mọi biến cố cuộc sống; đức tin giúp con người làm được những điều mà người không có đức tin không hiểu nổi: các thánh tử đạo can đảm chấp nhận cái chết đau thương, các thánh hiển tu đã từ bỏ tất cả để hoàn toàn sống theo Chúa.
Thánh Augustinô nói: “Thiên Chúa dựng nên con người không cần con người, nhưng để cứu chuộc con người, thì Ngài cần đến sự cộng tác của con người”. Sở dĩ như vậy là vì Thiên Chúa dựng nên con người có tự do, và tự do bao hàm sự lựa chọn tin nhận hoặc khước từ Thiên Chúa. Ðức tin cần thiết cho con người, không những để được cứu rỗi, mà còn để biết vui tươi đón nhận những biến cố trong đời sống theo thánh ý Chúa.
2023
Hạnh phúc chính là Thập giá đời mình
11.8
Thánh Clare, Đt
St 4:32-40; Tv 77:12-13,14-15,16,21; Mt 16:24-28
Hạnh phúc chính là Thập giá đời mình
Thánh nữ Clara sinh vào khoảng năm 1193 tại thành Assisi, nước Ý. Thánh Phanxicô Assisi cũng sống tại thành phố này. Clara thường nghe Phanxicô thuyết giảng. Trái tim Clara bừng lên niềm khao khát mãnh liệt là muốn bắt chước tấm gương của Phanxicô.
Như Phanxicô, Clara cũng muốn sống cuộc đời nghèo khó và khiêm nhường vì Chúa Chúa Giêsu. Nhưng khổ nỗi song thân của Clara không bao giờ chấp nhận một dự định như vậy! Thế rồi, vào một buổi tối Chúa nhật Lễ Lá năm 1212, lúc vừa tròn 18, Clara đã rời bỏ gia đình thân thương và mái nhà sang trọng của mình. Và trong một nguyện đường bé nhỏ nằm bên ngoài thành phố Assisi, Clara đã dâng hiến mình cho Thiên Chúa. Thánh Phanxicô cắt mái tóc dài của Clara và trao cho Clara một tu phục nâu kết bằng vải thô. Clara ở với các sơ Bênêđictô cho tới khi có nhiều chị em cùng đến tham gia với ngài. Song thân của Clara đã cố gắng dùng mọi phương thế để bắt Clara về nhà nhưng không được. Chẳng bao lâu sau đó, cả Annê, cô em 15 tuổi của Clara, cũng đến xin gia nhập với ngài.
Cũng có nhiều thiếu nữ muốn trở nên những “phu nhân nghèo” của Đức Chúa Giêsu. Sau đó ít lâu, người ta thấy hình thành một cộng đoàn đạo đức nhỏ. Họ sống trong căn nhà tọa lạc gần bên nhà thờ thánh Đamianô, căn nhà được chính thánh Phanxicô Assisi sửa lại. Thánh nữ Clara và các chị em của ngài đã khấn không bao giờ ăn thịt, luôn đi chân không, sống trong căn nhà nghèo khó với bầu khí thinh lặng và cầu nguyện.
Tuy nhiên, họ rất hạnh phúc vì được sống cuộc đời nghèo khó như Đức Chúa Giêsu. Lần kia, có một đội quân hung hãn đã tiến vào công phá thành Assisi. Dù đau nặng, thánh nữ Clara cũng nài xin chị em đưa mình tới cửa sổ. Thánh nữ cho đặt Mình Thánh Chúa ngay tại nơi các binh lính có thể trông thấy. Sau đó, thánh nữ Clara quỳ xuống và nài xin Thiên Chúa ra tay cứu thoát các nữ tu và thành phố. Thánh nữ nguyện rằng: “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy bảo vệ những chị em này, những người mà giờ đây con không thể bảo vệ nổi!” Và dường như có một tiếng nói bên trong phát ra: “Ta sẽ luôn gìn giữ chúng trong sự quan phòng của Ta!” Ngay lúc ấy, một sự sợ hãi thình lình giáng xuống trên kẻ địch, và họ đã nhanh chân rời bỏ thành phố.
Thánh nữ Clara làm bề trên hội dòng được 40 năm, trong đó suốt 29 năm chịu bệnh. Nhưng thánh nữ nói rằng dầu sao cũng rất vui vì được phục vụ Đức Chúa Giêsu. Một số người lo ngại rằng các nữ tu sẽ bị khổ vì phải sống quá nghèo. Nhưng thánh nữ Clara đã sống hầu hết đời mình để bảo vệ điều mà ngài gọi là “đặc ân thanh bần.” Đức thánh cha đã cố gắng giảm bớt những đòi hỏi của lời khấn thanh bần trong tu luật của Clara, nhưng thánh nữ đã giải thích rằng ngài và các chị em thuộc hội dòng của ngài được mời gọi sống từ khước hết mọi của cải, và chỉ hoàn toàn tin cậy vào một mình Thiên Chúa mà thôi. Thánh nữ Clara về trời ngày 11 tháng Tám năm 1253. Chỉ hai năm sau, đức thánh cha Alêxanđơ IV đã tôn phong Clara lên bậc hiển thánh.
Thập giá đời mình chính là những lao công khó nhọc, những vui buồn – sướng khổ, những thất bại – thành công, những nụ cười – nước mắt, những lúc nắng – lúc mưa, những lúc xum vầy – chia xa…
Thập giá làm nên hạnh phúc, vinh quang của con người.
Sinh ra trên trần gian, ai cũng như ai: ăn để sống, lao động để phát triển. Người giàu hay kẻ nghèo, không ai cho ai hạnh phúc, cũng không ai lấy hạnh phúc của người cho chính mình. Hạnh phúc phải được tôi luyện, trả giá bằng chính đời sống của mình.
Vác thập giá mình, chính là chu toàn bổn phận, trách nhiệm của mình trong bất cứ hoàn cảnh nào ta cũng phải vui tươi, tín thác vào Chúa. Chúng ta phải nhìn nhận cuộc sống của chúng ta chính là món quà quý giá mà chính Thiên Chúa ban tặng cho mỗi người, tuỳ theo khả năng. “Có nhiều đặc sủng khác nhau nhưng chỉ có một Thần Khí” (1 Cr 12, 4). “Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tuỳ theo ân sủng Thiên Chúa ban cho mỗi người” (Rm 12, 6).
Như vậy, chúng ta mỗi người ai cũng có một thập giá cho riêng mình, thập giá ấy Chúa ban cho mỗi người vừa đủ với sức của mình.
Bất kỳ một biểu hiện thất vọng, u buồn, buông thả, chán chường, tức giận, buồn tủi, cô đơn, sa đoạ, so sánh hơn thua, tự mãn, kiêu căng… đều là dấu hiệu của vấp ngã trên đường vác thập giá mình.
Chính lúc chúng ta không vác thập giá đời mình là lúc chúng ta đang đau khổ, bất hạnh.
Sự tin tưởng, vui tươi, phó thác vào Thiên Chúa chính là động lực mãnh liệt để ta vác thập giá đời mình. Thập giá tôi luyện mỗi cuộc đời con người.
Trong chúng ta, có mấy người đã vác thập giá mình một cách trọn vẹn! với bổn phận làm con, làm cha, làm mẹ, làm ông bà… đã chẳng một lần muốn buông bỏ thập giá đời mình.
Dấu hiệu của sự buông bỏ thập giá mình luôn kèm theo một câu “NẾU”. nếu như chồng tôi, nếu như vợ tôi, nếu như hoàn cảnh đời tôi, nếu tôi được như thế này, thế kia… câu nếu này đã chối bỏ ân ban thập giá của Chúa.
Nhiều người muốn đi tìm thập giá đời mình bằng những hội đoàn đạo đức: họ xem hội đoàn đạo đức là nơi họ sẽ nên thánh, nhưng khi họ tham gia vào rồi thì một thời gian lại chán bỏ; bỏ hết hội đoàn này rồi tham gia hội đoàn khác. Chẳng có hội đoàn nào chu toàn được bổn phận. Đó chỉ là đi kiểm niềm vui theo sở thích, hết niềm vui thì hết hội đoàn.
Có những người chẳng cần hội đoàn nào, họ lo tìm kiếm làm việc bác ái. Nhưng rồi khả năng tiền bạc, thời gian chẳng có, việc làm bác ái cũng chẳng đâu vào đâu. Họ trở nên người nhàn rỗi mà không biết làm gì.
Như vậy, thập giá đời mình chính là ân sủng Chúa ban cho mỗi người tuỳ theo khả năng. Chúng ta chỉ cần chu toàn khả năng Chúa ban là đã vác thập giá mình mọi ngày theo Chúa. Khả năng ấy như những nén bạc Chúa trạo cho mỗi người. Kẻ năm nén, kẻ ba nén và kẻ một nén. Hãy sinh lợi cho Chúa bằng chính đời sống Tin Mừng của mình, chúng ta sẽ được sự sống vĩnh hằng, hạnh phúc viên mãn trong Nước Chúa.
