2023
Không được phân ly
18.8 Thứ Sáu trong tuần thứ Mười Chín Mùa Quanh Năm
Gs 24:1-13; Tv 136:1-3,16-18,21-22,24; Mt 19:3-12
Không được phân ly
Tin Mừng hôm nay có mấy người Pharisêu đến gần đức Giêsu để thử người: “… Có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không?”. Chúa Giêsu đã khẳng định lại luật hôn nhân gia đình theo thánh ý của Thiên Chúa: “Các ông không đọc thấy điều này sao: Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ”, và Người đã phán: “Vì thế người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ thành một xương một thịt”.
Chúa Giêsu đã dùng Kinh Thánh và đôi vợ chồng ban đầu, để diễn tả ý định của Thiên Chúa mà trả lời họ: đôi vợ chồng ban đầu: Adong – Evà mà Chúa đã gắn bó đó đã nên mật thiết, “một xương một thịt”. Điều mà Kinh Thánh đã mô tả: “Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người. Con người nói: đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi.” (St 2, 22-23). Hình ảnh ấy cho ta thấy rằng: họ đã nên vợ chồng, con người không thể chia tách được và cũng không được phép chia cắt.
Giáo Hội xưa nay đã ca tụng hết lời công trình kết hợp thật vững bền, mầu nhiệm này của Thiên Chúa. Vững bền đến nỗi “dù tội nguyên tổ, dù án phạt đại hồng thủy cũng đã không phá hủy được.” (Lời nguyện trong thánh lễ hôn phối). Thật vậy! đôi vợ chồng ông bà nguyên tổ dù bị án phạt “đau đớn khổ sở khi sinh con, phải cực nhọc trong đời ngươi mới kiếm được miếng ăn, và còn phải chết nữa…” (St 4,16-17). Thế mà vợ chồng ấy vẫn mạnh mẽ, bền chặt bên nhau, lưu truyền giống nòi lan tràn khắp mặt đất.
Công trình tạo dựng có “nam có nữ” ấy của Thiên Chúa, đến muôn đời vẫn thật là huyền diệu. Những nam nữ ấy, cứ lớn lên là chúng hấp dẫn nhau, tìm đến nhau, khao khát nhau, cho đến khi tìm được người mình ưng ý nhất, yêu nhất để trao cho nhau thân xác tâm hồn và mọi ước vọng.
Có lần trên báo phụ nữ họ đã bàn về tình yêu, tình dục và đưa ra câu hỏi: Tại sao người nam, người nữ cứ khi trưởng thành là họ hấp dẫn nhau, khao khát nhau? Người ta đã đã đưa ra nhiều câu trả lời. Thế rồi cũng chẳng có được một lý do khoa học nào xác đáng. Cuối cùng tác giả chỉ biết dựa vào Kinh Thánh mà chấp nhận: vì họ được dựng nên “bởi xương là xương của nhau, là thịt bởi thịt của nhau.” (St 2,22-23).
Đôi nam nữ khi nên vợ, nên chồng, Thiên Chúa đã ban cho họ được hưởng một niềm vui hoan lạc đặc biệt nhất trên đời, đồng thời cũng trao cho họ một bổn phận đặc biệt nhất là: Sinh sản nuôi dưỡng và giáo dục con cái. Làm một nhiệm vụ huyền diệu đặc biệt: truyền sinh và giáo dục con cái, thay cho Thiên Chúa. Điều đó có thể nói: người không sống trong bậc vợ chồng thì không được quyền hưởng niêm vui hoan lạc ấy và cũng không có thể làm tốt nhất bổn phận sinh sản, nuôi dưỡng và giáo dục ấy. Bởi vi khi sinh ra những đứa con, là hạt giống, là tương lai của cả nhân loại. Đứa con ấy “bởi xương là xương của cả vợ cả chồng, bởi máu thịt là máu thịt của cả chồng cả vợ”. Ai xúc phạm đến đứa con ấy là động đến cả chồng, cả vợ, cả gia đình ba thành phần ấy họ đã nên “một”. Cho nên mầm sống tương lai ấy, sẽ được yêu thương và chăm lo tốt đẹp nhất.
Luật Chúa đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị, không phải chỉ cho người Công giáo nhưng cho mọi người. Còn Môsê đã “cấp giấy ly dị mà rẫy vợ”, đây như là một luật dân sự hôm nay. Còn Chúa Giêsu thì dạy ta: “Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môse đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu không có thế đâu”. Đó là luật vàng và là đặc tính của hôn nhân Công giáo xưa nay: đơn hôn và vĩnh hôn (một vợ một chồng sống với nhau trọn đời). Luật này còn bên trên cả luật độc thân giáo sĩ mà Giáo Hội lập ra. Vì có lý do Giáo Hội đã tiếp nhận cả những linh mục đã có vợ con của Tin Lành vào thi hành chức vụ linh mục.
Một đôi vợ chồng bỏ nhau, họ ra tòa ly dị rồi chia nhau mọi thứ tài sản, tiền bạc. Còn một đứa con nhỏ nó không chịu đi với mẹ như tòa xử, mà muốn ở một nhà có cả cha lẫn mẹ. Sau này cha mẹ mỗi người một nơi, không được như ý muốn, em hận cho số kiếp mà bỏ đi bụi đời rồi nghiện hút, trộm cắp…
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy ý thức tính bất khả phân ly của Bí tích Hôn Nhân trong Giáo Hội. Luật này do chính Chúa đặt ra chứ không phải do con người. Hơn nữa, hình ảnh người nam, người nữ kết hợp và thủy chung với nhau diễn tả hình ảnh Đức Kitô yêu thương Giáo Hội và không bao giờ xa lìa Giáo Hội.
Vì thế, nguyện ước sống chung, không phải do loài người đặt ra, nhưng chính Thiên Chúa se kết người nam và người nữ, để yêu thương, giúp đỡ nhau, sống trung thành với nhau đến trọn đời. Chỉ có cái chết của một bên mới cho phép bên kia được tái hôn mà thôi. Vì vậy, Đức Giêsu nói rõ ràng rằng: “Trong lúc mối dây hôn nhân vẫn còn hiệu lực, rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình”.
2023
Hãy tha thứ cho nhau
Thứ Năm trong tuần thứ Mười Chín Mùa Quanh Năm
Gs 3:7-11,13-17; Tv 114:1-2,3-4,5-6; Mt 18:21-19
Hãy tha thứ cho nhau (Mt 18,21-19,1)
Cuộc sống cộng đoàn cũng thường có nhiều va chạm nên Chúa Giêsu dạy thêm bài học về tha thứ: phải tha thứ luôn như Chúa đã tha thứ cho chúng ta. Những gì chúng ta tha thứ cho nhau, thì không là gì cả so với sự tha thứ của Thiên Chúa với chúng ta. Thật thế, “Thiên Chúa là Tình yêu”, bản chất của Thiên Chúa chính là tình yêu. Tình yêu của Người không bờ bến, nên Người cũng muốn chúng ta trao cho nhau tình yêu vô điều kiện, không giới hạn.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta phải tha thứ và tha thứ luôn. Nhưng tại sao phải tha thứ? Vì tha thứ là một điều cần thiết trong đời sống xã hội, trong gia đình, trong các đoàn thể; vì tha thứ là đặc điểm của tình yêu: trong tình yêu Chúa, chúng ta tha thứ cho nhau như Ngài đã tha thứ cho chúng ta. Tha thứ như thế không phải là yếu nhược, mà là sức mạnh của tình yêu, là khí cụ của hoà bình. Cuộc đời là một cuộc hành trình, nếu chúng ta cứ để mình mang nặng gánh ưu tư, phiền muộn thì làm sao có đủ sức để đạt tới đích được. Do đó, chúng ta hãy luôn sống tha thứ, để tâm hồn chúng ta được nhẹ nhàng thanh thoát trên đường đời với niềm hy vọng và an vui.
Người Do thái cũng được dạy cho biết phải tha thứ cho nhau, nhưng các tôn sư không đồng ý với nhau là phải tha đến lần thứ mấy mới thôi. Có ý kiến cho rằng chỉ có thể tha thứ tối đa là bốn lần, người Việt Nam chúng ta thì nói “sự bất quá tam” hay “quá tam ba bận” là cùng, bước sang lần thứ tư là coi như đã vượt chỉ tiêu. Do đó, ông Phêrô đã thắc mắc và hỏi Chúa Giêsu. Chúa cho biết phải tha thứ luôn, phải tha thứ mãi, không giới hạn số lần.
Và để làm sáng tỏ vấn đề, Chúa dùng một dụ ngôn. Dụ ngôn này có nghĩa là chúng ta mắc nợ với Chúa thì nhiều lắm: tội lỗi chúng ta xúc phạm đến Chúa vừa nhiều vừa rất nặng nề, dường như không thể tha thứ được, nhưng Chúa đã tha thứ cho chúng ta. Trong khi đó những lỗi phạm của anh em với ta, dù thế nào chăng nữa, cũng không đáng gì so với tội lỗi chúng ta đã phạm đến Chúa, thế mà chúng ta chấp nhất, ti tiện, không tha thứ. Nếu vậy, chúng ta đừng hòng mong Chúa tha thứ cho chúng ta. Phải thực hiện lời Chúa dạy: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” (kinh Lạy Cha).
Chân phước Maurice Tornay nói: “Chúng ta phải tha thứ cho nhau vô điều kiện, bởi vì Thiên Chúa nhân lành, luôn thương xót và tha thứ mọi lỗi lầm của chúng ta trước”.
Hôm nay Chúa Giêsu dạy ông Phêrô phải tha thứ cho người khác bảy mươi lần bảy. Ở đây, Chúa Giêsu không có ý nói ông Phêrô hãy đếm số lần tha thứ: một lần, hai lần… nhưng điều Chúa Giêsu muốn nói là ông phải tha thứ mãi mãi, tha thứ không tính toán, tha thứ tất cả. Tại sao vậy? Bởi vì trong văn hóa Israel con số 7 tượng trưng cho sự hoàn hảo, thành toàn, nên kiểu nói 70 lần 7 ở đây hàm nghĩa sự viên mãn tròn đầy. Vì vậy, khi Chúa Giêsu nói tha thứ 70 lần 7 nghĩa là tha thứ mãi mãi, tha thứ tất cả.
Để diễn tả tình yêu thương của Chúa hầu khích lệ chúng ta tha thứ cho nhau đã trình bày về dụ ngôn người đầy tớ mắc nợ không biết thương xót.
Mỗi nén vàng thời xưa là sáu ngàn quan tiền, tương đương với sáu ngàn ngày công, và mười ngàn nén bạc, trị giá khoảng một trăm ngàn lượng vàng.
Qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu có ý làm nổi bật sự khác biệt giữa hai món nợ và hai thái độ, để cho thấy lòng nhân từ quảng đại của Thiên Chúa và sự vô lý của lòng dạ con người, khi không sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác.
Điều cần lưu ý là trong dụ ngôn này, lý do thúc đẩy ta tha thứ cho anh em chính là tình thương hải hà của Thiên Chúa đối với chúng ta, chứ không phải vì anh em biết điều mà xin lỗi, cũng chẳng phải vì chúng ta cao thượng hay nhân đức không chấp lỗi lầm.
Chúa Giêsu dạy chúng ta phải kêu cầu ơn tha thứ của Thiên Chúa. Chỉ khi nào chúng ta cảm nhận được ơn tha thứ của Thiên Chúa, chúng ta mới có thể tha thứ cho người khác: “Xin Cha tha cho chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”.
Cảm nhận được ơn tha thứ của Chúa và sẵn sàng tha thứ cho người khác, đó là cuộc chiến đấu của cả một đời người, nhưng đó cũng là cuộc chiến đấu làm nên bản sắc của người tín hữu Kitô. Người tín hữu Kitô chỉ thực sự là tín hữu Kitô khi họ biết tha thứ mà thôi.
Con đường dẫn đến thứ tha cũng đầy gian nan dù chỉ nói một lời tha thứ. Mỗi chúng ta có cảm nghiệm: Để đến và hòa giải được quả thật không đơn giản, nhất là những ai gây tổn thất nặng về tinh thần và thể xác. Tha thứ luôn đòi hỏi vừa có sự nỗ lực cố gắng nơi con người, vừa cần trợ giúp ân sủng đến từ Thiên Chúa, Đấng tỏa sáng gương mặt bao dung, yêu thương, chậm giận và giàu lòng xót thương.
2023
Sửa dạy huynh đệ
16.8 Thứ Tư trong tuần thứ Mười Chín Mùa Quanh Năm
St 34:1-12; Mt 18, 15-20
Sửa dạy huynh đệ
Thường khi nói đến đức ái, là chúng ta nghĩ ngay đến tình thương yêu hoặc việc chia sẻ trao ban … Nhưng ở đây, Chúa Giê su dạy chúng ta và chính Ngài cũng là một mẫu gương về tinh thần đức ái tuyệt vời trong một lĩnh vực mới này. Đó là sửa lỗi.
Đã gọi là chỉnh sửa, ta chỉnh những lỗi lầm, thì phải dùng đến luật lệ và được thực hành cách nghiêm minh ra trước một phiên tòa còn gọi là trước vành móng ngựa. Nhưng ở đây, Chúa Giê su lại dẫn chứng hình ảnh về vị quan tòa, về cách xét xử khác với con người. Đó là vị quan tòa đầy tính hiền hòa và lòng khiêm tốn. Luật của Ngài là yêu thương và tha thứ.
“Nếu người anh em… trót phạm tội”. Ở đây không nói đến thứ tội trong lương tâm, nhưng là những tội gây xáo trộn hoặc làm mất uy tín của cộng đoàn (giáo xứ, dòng tu…). Như thế là có xảy ra những gương xấu trong cộng đoàn, phải cư xử thế nào?
Chúng ta hãy xem cách “sửa dạy huynh đệ” mà Chúa Giê su nêu ra như một bằng chứng về đức ái như sau: “Anh hãy đi sửa lỗi nó, một một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe, thì anh đã chinh phục được người anh em” ( câu 15). Đó là phương án thứ nhất: Một gặp gỡ, một ý nói: Lời trách cứ phải được thực hiện trong sự kín đáo. Nếu phương án này chưa đạt kết quả, cần phải thực hiện phương án hai là: “Đem theo một hoặc hai người nữa, để công việc được giải quyết…” Theo như sách Đệ Nhị Luật đã gợi ý (Đnl 19,15) Nếu người đó vẫn không chịu nghe, thì đem ra trước cộng đoàn; Với sự có mặt của cộng đoàn, cộng đoàn sẽ làm chứng và yêu cầu tội nhân nhận trách nhiệm của họ ( x. 17a ). Với cả ba phương án trên, nếu vẫn không đạt kết quả thì “hãy kể nó như người ngoại hay người thu thuế” (x. 17b ). Lúc này mới chấp nhận người đúng như một kẻ xa lạ đối với đời sống cộng đoàn.
Vì sao Chúa Giêsu lại đưa ra cách sửa lỗi từng bước như vậy? Vì theo Thánh sử Matthêu, việc sửa lỗi huynh đệ là một bổn phận của cộng đoàn Kitô. Việc sửa lỗi này có một nền tảng là Đức Ái, nhằm cứu vãn và xây dựng hơn là áp dụng kỷ luật để đàn áp, loại trừ. Vì thế, Chúa Giêsu muốn mọi phương cách phải được sử dụng để đưa tội nhân trở về. “Cộng Đoàn” ở đây là những người có trách nhiệm chính thức, và các vị này cũng phải áp dụng tiêu chuẩn sửa dạy trên đức ái. Nếu dùng quyền mà sửa trị và loại trừ, cũng là vì bác ái với đương sự, để đương sự nhận ra và hối cải, và cũng bác ái với các phần tử khác trong cộng đoàn để họ không theo gương xấu đó mà phạm tội.
“Dưới đất, anh em cầm buộc điều gì, trên trời cũng cầm buộc; dưới đất, anh em tháo cởi điều gì, trên trời cũng tháo cởi” (x. Câu 18). Đây là quyền bính được trao cho tông đồ đoàn và đạt được là Thánh Phê rô. Thiên Chúa ở trên trời sẽ chuẩn nhận những quyết định kỷ luật “tháo cởi – cầm buộc” của pháp lý Do Thái cổ xưa. Đối với Giáo Hội, đó là trách nhiệm nặng nề và tinh thần trách nhiệm đó được xác định trong hai câu 19 và 20 sau:
“Dưới đất, hai người hợp lời cầu xin… Cha Thầy… sẽ ban cho” (x. câu 19): Nói lên việc cầu nguyện chung với nhau sẽ dẫn đến tình bác ái và sự hiệp nhất trong cộng đoàn, và lúc đó lời cầu nguyện được Thiên Chúa nhậm lời. Như thế, khi cầu nguyện cần có hai việc được tiến hành song song: một là tâm đầu ý hợp trong đời sống cộng đoàn; hai là nhân danh Chúa Giê su (x. Câu 20). Chúa Giê su khẳng định Người sẽ hiện diện khi chúng ta cầu nguyện, thực hiện đủ hai bước này và Người sẽ bảo đảm hiệu năng của lời cầu nguyện trước mặt Chúa Cha, và lời cầu nguyện sẽ dẫn đến kết quả tốt đẹp.
Vì lý do nào mà Thánh sử Matthêu lại đề cao việc hiệp nhất trong cầu nguyện sau khi nói về việc “sửa dạy huynh đệ” ? Đó là vì có một tương quan giữa việc cầu nguyện và sửa dạy. Chỉ có Thiên Chúa là Đấng sửa dạy, chúng ta chỉ là dụng cụ thi hành ý Chúa. Vậy trước khi sửa dạy, cần cầu nguyện lắng nghe tiếng Chúa, cần theo cách của Ngài chứ không theo sự khôn ngoan của con người. Qua việc con người nhân danh Chúa Kitô sẽ liên kết chúng ta lại với nhau, nhất là liên kết những ai tham gia vào tiến trình “sửa dạy huynh đệ” này.
Ngày nay, nói chung, chúng ta rất nhạy cảm đến những bài diễn thuyết về chăm sóc và bác ái vì lợi ích thân thể và vật chất của người khác, nhưng chúng ta hầu như im lặng hoàn toàn về trách nhiệm tinh thần đối với anh chị em của mình. Điều đó không có trong Giáo hội sơ khai và trong các cộng đoàn thực sự trưởng thành trong đức tin, ở đó không chỉ lưu tâm đến sức khỏe thể xác của người anh em, mà còn chăm sóc linh hồn của người đó ở phút cuối phận đời.
Chúng ta đọc trong Thánh kinh: “Đừng khiển trách đứa ngoan cố kẻo nó thù ghét con. Hãy khiển trách người khôn ngoan, con sẽ được họ thương mến” (Kn 9,8). Chính Chúa Giêsu ra lệnh sửa lỗi người anh em khi phạm tội (Mt 18,15). Động từ được sử dụng để xác định việc sửa dạy huynh đệ cũng là động từ nói đến sứ mạng tiên tri về tố cáo của những người Kitô hữu đối với một thế hệ đắm chìm trong tội ác.”
Trong một thế giới chủ nghĩa cá nhân chiếm ưu thế, khám phá lại tầm quan trọng của việc sửa dạy huynh đệ thật sự quan trọng, để cùng nhau hướng đến sự thánh thiện. Ngay cả Thánh kinh cũng nói: “Vì chính nhân có ngã bảy lần cũng đứng lên được” (Cn 24, 16), và tất cả chúng ta đều yếu đuối và thiếu thốn (x. 1Ga 1,8).
Vì vậy, đó là một việc làm lớn lao để giúp đỡ và cho phép mình được giúp đỡ để đọc lại bản thân bằng sự thật, để cải thiện đời sống của mình và đi trên đường ngay chính của Thiên Chúa. Luôn cần một cái nhìn yêu thương và sửa dạy, nhận biết và thừa nhận, phân định và tha thứ (Lc 22, 61), như Thiên Chúa đã và đang làm với mỗi người trong chúng ta.”
2023
Chiêm ngắm mầu nhiệm Mẹ Hồn Xác Lên Trời
Chiêm ngắm mầu nhiệm Mẹ Hồn Xác Lên Trời
Ngày 01 tháng 11 năm 1950, tại Quảng Trường Thánh Phêrô, Đức Piô XII long trọng tuyên tín: “Do uy quyền của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, của hai thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, và với thẩm quyền của Tôi, Tôi phán quyết, tuyên bố, và định tín tín điều đã được mạc khải rằng: Đức Maria, Mẹ Vô Nhiễm của Thiên Chúa trọn đời đồng trinh, sau cuộc sống trần thế này, đã được phúc vinh quang Thiên Đàng cả hồn lẫn xác. Nếu ai, cả dám tự tình, chối bỏ hay nghi ngờ điều Tôi đã định tín, thì họ phải biết rằng: họ đã hoàn toàn phản bội đức tin của Hội Thánh Công Giáo”.
Đức Thánh Cha vừa dứt lời, thánh ca Te Deum do tất cả mọi người tại Quảng Trường Thánh Phêrô cất lên hùng tráng, hoà nhịp với những tiếng chuông trầm hùng của Đền Thánh Phêrô và của hơn 400 Đền Thờ khắp thành Rôma, cùng với toàn thể thần thánh trên trời, hân hoan reo mừng chúc tụng ngợi khen Mẹ vinh quang: Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Hội Thánh và Mẹ của toàn thể nhân loại.
1. Mẹ Maria hồn xác lên trời là biến cố sau cùng trong mầu nhiệm hiệp công cứu chuộc, đặc biệt liên đới với mầu nhiệm Nhập Thể cứu thế của Đức Giêsu, Con Mẹ.
2. Vì Mẹ đã chịu thai và hạ sinh Đức Giêsu, thì sau khi Chúa về trời, Chúa cũng đưa Mẹ vào hưởng phúc vinh quang cùng với Người.
3. Mẹ đã cho thân xác Chúa sự sống nhân loại, thì đáp lại, Chúa cũng cho thân xác Mẹ sự sống trường sinh bất diệt.
4. Do đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, thân xác trinh trong của Mẹ được thoát án lệ của Tội Nguyên Tổ, mà được sống lại và lên trời cùng với linh hồn trong sáng của Mẹ.
5. Biến cố Mẹ lên trời hồn xác hoàn thành sự thánh thiện và huân công của Mẹ, là niềm ủi an và là niềm hy vọng tràn trề của chúng ta, là khởi đầu và là hình ảnh Hội Thánh sẽ được thành toàn trên Nước Trời.
6. Hồn xác Mẹ lên trời vinh quang, được Chúa Ba Ngôi tôn phong làm Nữ Vương trời đất và làm Đấng Trung Gian ban phát mọi ơn lành cho chúng ta.
7. Đặc ân Mẹ Lên Trời là vinh quang chung cuộc của mọi đặc ân và là cùng đích cuộc đời, sứ mạng và huân công của Mẹ. Đặc ân Mẹ Lên Trời bao gồm nhiều điều kỳ diệu: Mẹ chết êm ái, và không chút đớn đau; Mẹ được sống lại, và không bị hư hoại; Mẹ lên trời hiển vinh, và được ban thưởng xứng đáng.
Ngay từ thuở đời đời, do cùng một quyết định tiền định duy nhất, Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời đã được kết hợp một cách huyền nhiệm với Đức Giêsu Kitô, được ơn vô nhiễm khi thành thai, được ơn đồng trinh vẹn tuyền khi làm Mẹ Thiên Chúa, được hiệp công trọn vẹn khi cộng tác với Con của Mẹ trong công trình cứu chuộc.
Đấng Cứu Chuộc đã hoàn toàn chiến thắng tội lỗi và các hậu quả của tội lỗi, thì Mẹ Đấng Cứu Chuộc cũng được thông phần, cũng được toàn thắng tội lỗi và tử thần. Chiến thắng này là phần thưởng rất cao quý giữa những đặc ân Mẹ đã nhận được. Nhờ đó, Mẹ được gìn giữ vẹn toàn, không bị hư nát chút nào trong phần mộ, và như Con của Mẹ, Mẹ chiến thắng tử thần và cả hồn lẫn xác được đưa về hưởng vinh quang cao cả trên trời. Nơi đó, Mẹ là nữ hoàng sáng ngời rực rỡ bên hữu Con của mình là Đức Vua bất tử muôn đời.
Sách Khải Huyền mô tả cuộc tranh hùng giữa thiện và ác, giữa dòng dõi con rồng hoả ngục và dòng dõi người nữ là Mẹ Maria:
Mẹ được hình dung là một mỹ nữ mặc áo mặt trời vinh quang chiếu sáng rực rỡ. Chân Mẹ đạp mặt trăng: mặt trăng khi tròn khi khuyết, tượng trưng sự đổi thay, nhưng, Mẹ không bị biến đổi theo thời gian, theo tứ thời bát tiết, vì Mẹ là bà chúa đạp trên tất cả mọi thụ tạo. Đầu Mẹ đội triều thiên mười hai ngôi sao tượng trưng cho mười hai chi tộc Israel. Điều này tiên báo Mẹ sẽ làm Nữ Vương của ức triệu thần dân nơi Giêrusalem mới, nơi trời mới đất mới, và triều thiên tượng trưng cho sự vinh thắng của Mẹ. Tất cả các điềm lạ là hình ảnh Hòm Bia Giao Ước mà Thiên Chúa dùng để ở cùng dân Người, và Người ở trong đó như ở trong cung lòng Mẹ. Người Con Trai là Đức Kitô, là Đấng Thiên Sai mà thánh vương Đavít đã tiên báo trong Tv 2 và Tv 109.
Con rồng lớn màu đỏ là sức mạnh của thần dữ, không thể tiêu diệt người Con Trai là Đức Kitô. Hội Thánh đã trải qua biết bao thời kỳ đẫm máu, nhưng, quỷ hỏa ngục sẽ không thắng nổi Hội Thánh của Đức Kitô. Thiên Chúa dành sẵn cho mỹ nữ một nơi trong sa mạc, nghĩa là, Hội Thánh phải đi vào nơi gian nan thử thách, nhưng, Hội Thánh sẽ luôn đứng vững vì có Chúa gìn giữ, chở che. Con Trẻ được cất bổng lên ngai Thiên Chúa là hình ảnh Đức Kitô được phục sinh. Sau hết, là bài ca chiến thắng: ơn cứu độ, quyền năng, và vương quyền của Thiên Chúa đã toàn thắng; và mọi uy quyền đều thuộc về Đức Kitô.
Nhờ lời Đức Mẹ chuyển cầu, xin cho chúng ta biết cộng tác với ơn Chúa để chiến đấu với Ba Thù: ma quỷ, thế gian, xác thịt, cách kiên cường và oanh liệt như Mẹ, để rồi, chúng ta cũng sẽ “được thưởng cùng Mẹ trên Nước Thiên Đàng”. Ước gì được như thế!
Tác giả: Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
