2023
Người Israel lòng dạ ngay thẳng
24.8 Thánh Barthôlômêô, Tông Đồ
Tl 11:29-39; Tv 40:5,7-8,8-9,10; Mt 22:1-14
Người Israel lòng dạ ngay thẳng
Trong Tân Ước, Thánh Batôlômêô chỉ được nhắc đến trong danh sách các tông đồ. Một số học giả cho rằng ngài là Nathanaen, người Cana xứ Galilê được Philípphê mời đến gặp Chúa Giêsu. Và Chúa Giêsu đã khen ông: “Ðây đích thực là người Israel. Lòng dạ ngay thẳng” (Ga 1, 47b). Khi Natanien hỏi Chúa Giêsu làm sao Ngài biết ông, Chúa Giêsu trả lời “Tôi thấy anh ở dưới cây vả” (Ga 1, 48b). Ðiều tiết lộ kinh ngạc này đã khiến Nathanaen phải kêu lên, “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa; chính Thầy là Vua Israel” (Ga 1, 49b). Nhưng Chúa Giêsu đã phản ứng lại, “Có phải anh tin vì tôi nói với anh là tôi thấy anh dưới cây vả? Anh sẽ được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa!” (Ga 1, 50)
Theo truyền thuyết truyền lại, thì thánh nhân là người có tầm vóc trung bình với mái tóc đen, nước da trắng trẻo, và đôi mắt tròn, lớn ẩn sâu trong hai con mắt hơi rộng, ngày ngày Ngài đọc kinh có tới trăm lần. Giọng nói của Ngài sang sảng và có sức thu hút lạ thường. Vẻ mặt Ngài luôn luôn vui tươi, Ngài cũng được ơn nói nhiều thứ tiếng và biết mọi sự tương lai. Với những ơn đặc biệt ấy, danh tiếng Ngài chả mấy chốc lừng lẫy như sóng cồn, khiến bao nhiêu con bệnh cũng như bao nhiêu người mắc cơn nguy biến đều tìm đến xin thánh nhân cứu chữa.
Bấy giờ vua Pôlêmon có một công chúa bị quỷ ám. Vua đã nhờ các quỷ khác trừ nhưng vô hiệu quả, nghe nói thánh nhân có uy quyền trừ được tà ma, đầu tiên nhà vua không tin, nhưng phần tin công chúa, phần muốn thử tài của Ngài nên vua cho mời thánh nhân tới. Sau khi cầu nguyện sốt sắng, thánh nhân đã trừ quỷ và chữa cho công Chúa khỏi.
Trước phép lạ nhãn tiền này, nhà vua cho người mang vàng bạc hậu tạ thánh nhân, nhưng Ngài một mực khước từ. Một đêm kia vua Polêmon chiêm bao thấy thánh nhân hiện đến và nói với nhà vua rằng: “Tôi đến đây không phải để gầy dựng gia nghiệp, thu tích vàng bạc nhưng để cứu rỗi các linh hồn, giải phóng người ta khỏi ách lầm than của ma quỷ.
Đồng thời vua cũng được thánh nhân giảng cho biết qua về Chúa Giêsu và hứa sẽ chỉ tên vạch mặt quỷ Atarôt, bằng cách bắt nó tuyên xưng Chúa Kitô rồi mới trục xuất nó ra một lần nữa. Sự việc xẩy ra y như vua đã chiêm bao: một ngày kia trước mặt vua và cả triều đình thánh nhân công khai bắt tên quỷ Atarôt thú nhận nó là tên lừa bịp dân chúng và là tên phản tặc đối với Thiên Chúa. Đồng thời nó tuyên xưng thánh nhân là tông đồ Thiên Chúa sai đến để truyền bá Phúc âm. Thánh nhân ra lệnh cho nó phải cút khỏi vùng này và cấm từ nay không được lai vãng đến hại dân. Tên quỷ vâng lệnh và “cúp đuôi” biến mất. Bấy giờ dân chúng hết lời ca tụng thánh nhân và đập phá tượng quỷ đang thờ. Chứng kiến phép lạ nhãn tiền này, cả triều vua xin học đạo và chịu phép rửa tội.
Ma quỷ căm giận vì thất bại nên tìm cách trả thù. Chúng xúi giục một số viên chức nổi lên chống đối lại thánh nhân và coi Ngài như kẻ thù phá hoại chùa miếu đền thờ, phá rối an ninh. Rồi tiếng đồn thổi vu cáo thánh nhân mỗi ngày một lan rộng.
Lần kia một số công chức âm mưu đến vu cáo với vua Atigiê em vua Polemê rằng: thánh nhân đã phá hủy đền chùa của họ. Tức giận, Atigiê truyền đưa thánh nhân tới. Trước sân rồng lộng lẫy, thánh nhân đàng hoàng tiến lên tâu trình mọi việc với nhà vua. Đang khi nhà vua sỉ nhục thánh nhân thì tất cả các tượng bụt trong đền vua tự nhiên đổ tan tành, nhà vua nổi nóng hạ lệnh lột da rồi thiêu sinh thánh nhân. Nhưng Chúa toàn năng đã tỏ uy quyền của Ngài để mở mắt cho những kẻ mù tối: qua hai cuộc hành hình thánh nhân vẫn còn sống. Sau cùng thánh nhân bị trảm quyết, ngày 24 tháng 8 năm 52.
Nghe tin thánh nhân bị trảm quyết, cả triều vua Pôlômon vội vã sang xin xác thánh Ngài và an táng rất trọng thế. Để thưởng công vua Pôlômon, sau 30 ngày các vị tông đồ đã truy phong nhà vua lên chức giám mục. Còn vua Atigiê và những kẻ đã nhúng tay hành quyết thánh nhân đều bị bệnh quỷ ám và chết một cách khốn nạn.
Sau khi an táng xác thánh nhân, dân chúng tấp nập đến kính viếng và được hưởng nhiều phép lạ. Nhiều người lương dân thấy vậy đâm ghen tương. Họ bí mật quật mộ và quẳng quan tài Ngài xuống biển. Nhưng Chúa quan phòng đã làm phép lạ khiến tấm quan tài bằng chì của thánh nhân nổi lềnh đềnh trên mặt biển và được sóng biển đưa tới hòn đảo Lipari gần Xixin (Cicile). Tín hữu miền này rước quan tài thánh nhân về miền Bênêven và xây cất đền thờ kính Ngài. Với những phép lạ thời danh Ngài làm, chẳng bao lâu nơi đây trở thành đất hành hương danh tiếng. Năm 983 dưới thời Đức giáo hoàng Grêgôriô V, xác thánh Ngài được di chuyển vể La-mã nằm bên cạnh các Tông đồ khác.
Sổ Tử Ðạo Rôma viết rằng Thánh Batôlômêô đã rao giảng ở Ấn và Armenia, là nơi ngài bị lột da và bị chém đầu bởi vua Astyages.
Philipphê cùng quê quán với hai anh em Phêrô và Anrê, ở làng chài Bétsaiđa bên bờ biển Tibêriát. Ông là một trong những vị tông đồ đầu tiên được gọi theo Chúa như Tin Mừng Gioan ghi nhận ngay ở chương đầu (Ga 1, 43-44).
Philipphê gặp Nathanaen cũng thường gọi Batôlômêô, giới thiệu về thầy của mình – Chúa Giêsu: “Chúng tôi đã gặp thấy Con Người mà luật Môisê và các tiên tri đã nói đến: Đó chính là Giêsu, con trai ông Giuse làng Nadarét”. Cùng với Betsaiđa, Cana, Nadarét chỉ là những thị trấn nhỏ vùng quê. Trong Cựu ước không có một ngôn sứ nào nhắc đến Nadarét. Vì thế, Nathanaen, người Cana, nghi ngờ rằng thân thế của Thầy Giêsu: “Từ Nadarét làm sao có cái gì hay được”. Philipphê không cần mất thời giờ để tranh luận, nhưng thuyết phục bạn mình đến gặp Đức Giêsu để chính Nathanen tự mình khám phá ra Ngài: “Hãy đến mà xem”. Chỉ kinh nghiệm gặp và sống với Chúa Giêsu mới có thể giúp Nathanaen vượt qua được những giới hạn trần tục, che kín mầu nhiệm Con Thiên Chúa nhập thể. “Hãy đến mà xem”, là câu trả lời của Chúa Giêsu, khi hai ông Andrê và Gioan, những môn đệ của ông Gioan Tẩy giả hỏi Ngài: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu ?” Chúa trả lời: “Hãy đến mà xem… đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người…” (Ga 1,35-42).
Vừa gặp Chúa Giêsu, Ngài đã nhận định về ông như một người Israel đích thực: “Lòng dạ không có gì gian dối”. Ông đã kinh ngạc trước nhận xét của Đức Giêsu, Đấng thấu suốt lòng dạ con người. Đức Giêsu biết rõ Nathanaen đang khao khát hiểu biết về Thiên Chúa, đang muốn gặp Thiên Chúa. Người đã đặt vào lòng Nathanaen lòng khao khát Đấng đã dựng nên con người vì tình yêu: “Trước khi Philipphê gặp anh, Thầy đã thấy anh dưới cây vả”. Nathanaen đã đến và nghe lời Chúa Cứu Thế, ông đã hết sức cảm phục” (x. Ga 1,43-51).
Ông Nathanaen, còn được gọi là Batôlômêô, có lẽ sẽ không yêu mến Chúa nếu như ông không “đến mà xem” như lời mời gọi. Nếu ông chỉ dừng lại với những hiểu biết đóng khung của mình thì Đức Giêsu sẽ chẳng là gì trong tâm trí của ông. Được kêu mời đến mà xem, ông đã nhận ra người mà ông đang mong chờ, biết được người mà ông đang mong chờ, biết được người mà ông muốn gắn kết cuộc đời, và yêu được người mà ông tôn thờ.
Sự hiểu biết không chỉ đến nhờ lý trí, nhưng còn được khai mở nhờ đức tin. Lý trí cho ta biết cách thức thông truyền tình yêu, còn đức tin giúp ta biết mức độ của tình yêu. Lý trí giúp ta hiểu lúc nào có tình yêu, còn đức tin giúp ta vững tin vào tình yêu luôn mãi.
Từ đời đời, Thiên Chúa đã biết ta trong mọi bí ẩn của tâm hồn. Chúa dò thấu tường tận. Không có gì kín nhiệm mà Chúa không thông suốt. Chúa biết rõ tất cả nơi chúng ta.
Qua cuộc gặp gỡ Chúa đã biến đổi Nathanaen, tình gắn bó với Thầy bền vững. Cũng thế, người đến gặp gỡ Thiên Chúa là thân thiết với Ngài, là biết Người một cách thâm sâu hơn, là “kiểm nghiệm bằng mắt thấy tai nghe, bằng con người xương thịt, cái thực tại lịch sử sẽ làm nền tảng cho đức tin”
2023
Chiến thắng lòng ghen tị
23.8 Thứ Tư trong tuần thứ Hai Mươi Mùa Quanh Năm
Tl 9:6-15; Tv 21:2-3,4-5,6-7; Mt 20:1-16
Chiến thắng lòng ghen tị
Chúa Giêsu đã dùng dụ ngôn để cảnh cáo người Do thái không nên so đo, phân bì với người tội lỗi hay người ngoại giáo được ơn Chúa trở lại và thừa hưởng Nước Trời, bởi vì Nước Trời là phần thưởng nhưng không do lòng quảng đại của Chúa, chứ không do lòng đạo đức hay công nghiệp của con người. Câu trả lời của Chúa Giêsu cho những kẻ phàn nàn kêu trách nêu bật lòng quảng đại của Thiên Chúa: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi một quan sao; cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn, tôi không có quyền được tùy ý sử dụng của cải tôi sao?”. Thiên Chúa đối xử tốt với mọi người, Ngài ban ơn cho mọi người chỉ vì lòng thương của Ngài mà thôi. Còn con người thì dễ bị cám dỗ, ghen tỵ, hẹp hòi, muốn giới hạn hành động yêu thương của Thiên Chúa.
Trình thuật tin mừng hôm nay là cả một câu chuyện về tình yêu và lòng thương xót của Thiên chúa. Cho dù bạn là ai, tuổi tác thế nào, địa vị ra sao, tài năng vượt trội hay hạn chế, sức khỏe dồi dào hay suy kiệt, bạn vẫn nhận được lời mời gọi của thiên Chúa “Hãy vào làm vườn nho cho ta.”
Vì thế không bao giờ là quá muộn màng để chúng ta có thể làm việc cho Chúa, và đồng thời bất cứ lúc nào chúng ta cũng có cơ hội để làm việc cho Người với một phần thưởng gấp trăm luôn sẵn sàng chờ đợi để trao ban cho chúng ta.
Những ai đã từng thất nghiệp hẳn sẽ cảm được một niềm vui lớn lao như thế nào khi nghe tin mình được tuyển dụng, có được việc làm với một mức lương hậu hĩnh. Vì vậy, ‘Đi làm vườn nho cho Chúa’ là một lời mời gọi, hiệu triệu đặc biệt các Kitô hữu sống đức tin, làm chứng nhân cho tình yêu của Thiên Chúa trong gia đình, tại giáo xứ, và ở những nơi chúng ta hiện diện để danh Chúa được ‘rạng rỡ vinh quang’. Đồng thời chúng ta tin rằng ‘lương bổng’ Thiên Chúa ban cho chúng ta sẽ luôn dư dật. Vì thế, bạn và tôi còn chần chờ lưỡng lự gì nữa trước lời mời gọi đi ‘làm vườn nho’ cho Chúa.
Thiên Chúa không bao giờ chê bỏ những thiện chí và cố gắng của chúng ta và Ngài luôn đưa tay ra cho chúng ta nắm lấy để cứu vớt, để đỡ nâng. Đồng thời đến lượt chúng ta, chúng ta cũng hãy đưa tay ra cho những anh em đồng loại để nâng đỡ, cảm thông, sẻ chia với một tình yêu không tính toán. Thiên Chúa là Đấng công bình, nhưng sự công bình của Ngài là sự công bình của tình yêu thương xót. Có lẽ chúng ta sẽ không so đo khi một người thân yêu của chúng ta đang có nguy cơ lâm vào cảnh thất nghiệp, nhưng lại được nhận vào làm việc cùng chúng ta, với một mức lương như chúng ta, mà trái lại chúng ta sẽ vui mừng khôn xiết cho họ.
Cũng thế, trong ‘vườn nho’ yêu thương của Thiên Chúa sẽ không có chỗ cho sự so đo tính toán, nhưng hoàn toàn là một tình yêu vô vị lợi. Nếu ta tự mãn về lòng ‘đạo đức’ hay sức lực, tài năng của mình cống hiến cho Giáo hội thì hãy coi chừng, vì Chúa cảnh báo: “Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót.” (c.16) Vì vậy chúng ta hãy quảng đại làm việc cho Chúa với hết khả năng của mình để Giáo hội – ‘Vườn nho của Chúa’ sinh nhiều hoa trái tốt lành mà không so đo tính toán, còn mọi sự khác Người sẽ ban cho sau.
Cuối ngày, những người thợ vườn nho đi làm từ sáng sớm, đã được chủ trả tiền công đúng như thoả thuận, không thiếu một hào. Thế nhưng họ vẫn không hài lòng, lại còn lẩm bẩm kêu trách chủ vườn đã cho những người đến làm sau được hưởng đồng lương bằng họ. Họ tỏ ra bất bình và ghen tị với các đồng nghiệp chỉ vì những người nầy ít tốn mồ hôi hơn mà cũng được hưởng tiền công bằng mình.
Lòng ghen tị đã xuất hiện từ khởi thuỷ loài người. Ca-in ghen tị với A-ben chỉ vì lễ vật của A-ben được Chúa thương chấp nhận, còn lễ vật của anh thì bị Thiên Chúa khước từ. Lòng ghen tị đã xui khiến Ca-in đánh chết đứa em thân yêu.
Lòng ghen tị sục sôi trong lòng vua Sa-un khi Đa-vít chiến thắng Gô-li-át và đập tan quân thù nên dân chúng ca tụng Đa-vít hơn cả vua, khiến vua Sa-un lùng sục Đa-vít tận thâm sơn cùng cốc, quyết hạ sát cho bằng được vị anh hùng kiệt xuất nầy. (Samuen I, chương 17-18).
Người ta không muốn cho kẻ khác trội hơn mình và thậm chí không muốn cho người khác bằng mình. Ai cũng muốn mình nổi bật hơn, chói sáng hơn, vinh quang hơn người khác. Khi khát vọng nầy không được thoả mãn, và nhất là khi thấy người khác thành công, thắng lợi hơn mình, thì lòng ghen tị phát sinh.
Chỉ có Chúa là ông chủ tốt bụng, không đến để khai thác sức lao động của công nhân, nhưng chăm lo cho đời sống của từng người.
Thiên Chúa là ông chủ tốt bụng quan tâm tới từng người, đặc biệt là người bị bỏ rơi. Người thợ không có ai thuê là người kém may mắn trong xã hội. Bị xã hội gạt ra ngoài lề. Chỉ có Thiên Chúa mới quan tâm, mời họ vào làm vườn nho cho Chúa.
Thiên Chúa là ông chủ tốt bụng, không chỉ có công bình mà còn có tình thương. Công bình tuyệt đối chỉ có trong hỏa ngục. Xã hội không tình thương không thể sống được. Xã hội là một toàn thể, là một gia đình Thiên Chúa. Trong một toàn thể, cần phải có sự hài hòa trong tổng thể. Ta liên đới với người khác. Ta không thể hạnh phúc một mình. Người đau khổ là lời chất vấn lương tâm trách nhiệm của ta. Thiên Chúa dậy ta hãy quan tâm tới anh em bé nhỏ khi trả cho người thợ chỉ làm 1 giờ số lương đủ sống cho cả gia đình.
Thiên Chúa là ông chủ tốt bụng, không nhìn con người theo hiệu năng công việc nhưng nhìn theo tình người. Xã hội hôm nay nhìn con người theo hiệu năng. Nên những người già cả, ốm yếu bị loại trừ. Trong mắt Thiên Chúa, con người không những là nhân vị đáng kính trọng mà còn là những người con đáng yêu mến. Theo nhãn quan thiêng liêng, những người bất hạnh, đau khổ là nguồn ơn phúc cho chúng ta vì những đau khổ của họ thông phần vào sự đau khổ của Chúa Giêsu.
Qua trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su phê phán những người biệt phái vì họ đã ghen tị với những người thu thuế và tội lỗi chỉ vì những người nầy được Chúa Giê-su yêu thương và tiếp đón.
Lòng ghen tị làm xấu đi những tương quan tốt đẹp giữa anh em, bạn bè. Lòng ghen tị còn xui khiến người ta làm hại nhau, làm cho xã hội chậm tiến và kém phát triển.
2023
CON ĐẾN TRƯỚC TÒA NỮ VƯƠNG
22.8
Lễ Đức Maria Trinh Nữ Vương
Tl 6:11-24; Tv 85:9,11-12,13-14; Mt 19:23-30
CON ĐẾN TRƯỚC TÒA NỮ VƯƠNG
Thánh vịnh 44, 10 viết rằng:” Lạy Chúa, bên hữu Ngài, Hoàng Hậu sánh vai, mặc xiêm y dệt gấm thêu vàng, và trang điểm huy hoàng rực rỡ”.
Đức Thanh Cha Piô VII vào thế kỷ XIX đã cho phép rõ ràng một số giáo phận được mừng kính lễ này. Đức Giáo Hoàng Piô IX đã thiết lập một lời nguyện riêng và một lễ kính riêng Đức Maria Nữ Vương. Đức Piô XII đã ước mong cho toàn thể Hội Thánh mừng lễ Đức Maria Trinh Nữ Vương. Năm 1942, chiến tranh thế giới hai bùng nổ, Đức Thánh Cha Piô XII đã dâng nhân loại cho trái tim vẹn sạch Đức Mẹ.
Năm 1944, chính Đức Thánh Cha Piô XII đã buộc toàn thể Hội Thánh mừng kính lễ Mẹ Trinh Vương một cách long trọng. Những kinh Kính Mừng, Thánh Maria và kinh Lạy Nữ Vương là những kinh ca ngợi ơn phúc của Mẹ và giúp cho con người, nhân loại cậy trông vào uy quyền của Mẹ: ” Thân lạy Nữ Vương, lạy Mẹ từ bi, nhân hậu, Mẹ là sự sống, sự ngọt ngào và hy vọng của chúng con “. Mẹ là Mẹ của Con Thiên Chúa, là Nữ Vương hoà bình, Vương Quốc của Mẹ sẽ muôn đời tồn tại.
Khi thiết lập ngày lễ này, Đức Thánh Cha Piô XII đã mời gọi tất cả các tín hữu hãy đến ngai tòa ân sủng và xót thương của Nữ Vương và Mẹ chúng ta, để nài xin Mẹ phù trợ trong những nghịch cảnh, ban ánh sáng trong lúc tối tăm, và nâng đỡ giữa khổ đau. Ngài khuyến khích mọi người hãy nài xin ơn Chúa Thánh Thần, ra sức gớm ghét tội lỗi, và thoát ly cảnh nô lệ, để có thể dâng lên Đức Nữ Vương, từ mẫu tuyệt vời, một tâm hồn luôn luôn vâng phục và thơ thảo yêu mến.
Mẹ là người được chúc phúc giữa mọi người phụ nữ. Trong đời sống của Mẹ ở dưới thế Mẹ là người đầu tiên đón nhận được Tin Mừng từ nơi Chúa và qua cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, Con của Mẹ, Maria cũng là người đầu tiên đón nhận ơn cứu độ. Mẹ đã cảm tạ tri ân Chúa suốt đời Mẹ và bài ca Magnificat Mẹ cất lên là lời ngợi khen cảm tạ không chỉ trong giây lát, không phải nơi đó và lúc đó, nhưng là lời chúc tụng suốt cả đời của Mẹ: ” Đấng toàn năng đã làm cho tôi những việc cao vời. Danh của Người thật chí thánh chí tôn…Vì vậy mọi thế hệ sẽ khen tôi là người có phúc”.
Những lời lẽ như thế và với ơn phúc mà Thiên Chúa tặng ban và muôn thế hệ sẽ khen ngợi Mẹ là có phúc nói lên rõ ràng tước hiệu:” Maria Trinh Nữ Vương” của Mẹ. Thực ra, lòng tôn sùng Mẹ Maria, tôn sùng trái tim tinh khiết, vẹn tuyền, trinh khiết của Mẹ đã được các Kitô hữu trên toàn thế giới tôn kính từ lâu đời rồi.
Vương quyền cao sang của Đức Maria được gắn liền chặt chẽ với vương quyền của Con Mẹ. Chúa Giêsu Kitô là Vua vì Người có quyền toàn vẹn, riêng biệt, và tuyệt đối, trong trật tự tự nhiên cũng như siêu nhiên. Vương quyền của Đức Maria cũng vậy: phát xuất từ Con của Mẹ. Các tước hiệu Nữ Vương và Bà Chúa dành cho Đức Thánh Trinh Nữ không phải là những tước hiệu bóng bẩy.
Qua những tước hiệu này, chúng ta nhìn nhận một địa vị ưu việt, một phẩm giá và quyền năng đích thực của Mẹ trên trời cũng như dưới đất. Là Mẹ của Đức Vua, Đức Maria thực sự và đúng là Nữ Vương. Mẹ là đỉnh cao trên mọi thụ tạo, và là con người vượt trên mọi người. Thiên Chúa Toàn Năng đã đặt Mẹ vượt trên mọi thần thánh, và đổ tràn trên Mẹ tất cả ân sủng trên trời, những ân sủng từ kho tàng châu báu của Thiên Chúa, để Mẹ được miễn khỏi mọi tì ố tội lỗi. Mẹ toàn mỹ và hoàn hảo. Mẹ không thể phạm tội và thánh thiện không thể tìm được một nơi nào khác, ngoài Thiên Chúa, và không ai, trừ Thiên Chúa, có thể hiểu thấu.
Đức Maria được tôn làm Nữ Vương vì mối liên kết hợp nhất với Chúa Kitô trong tư cách là hiền mẫu, như lời sứ thần Gabriel đã tuyên xưng, và vì sự cộng tác của Mẹ trong công trình cứu độ thế giới của Con Mẹ. Với nguyên nhân thứ nhất, Mẹ là Nữ Vương vì là hiền mẫu của Đức Vua, Đấng là Thiên Chúa, nên Mẹ được tôn vinh trên mọi thụ tạo. Với nguyên nhân thứ hai, Mẹ là Nữ Vương vì Mẹ ban phát các kho tàng và thiện ích trong nước Chúa qua vai trò cộng tác trong công trình cứu độ.
Trong kinh lạy Nữ Vương chúng ta xưng tụng” Thân lạy Nữ Vương, lạy Mẹ từ bi, Mẹ là sự sống, sự ngọt ngào và hy vọng của chúng con”. Mẹ Maria được xưng tụng như Esther trong Cựu Ước đã cứu dân ra khỏi hoạ diệt vong, Nữ Vương có mọi quyền hành bên Đức Vua và là Đấng bầu cử linh thiêng nhứt bên cạnh Đức Vua. Ngày nay, những lời ca tụng Đức Mẹ hướng về vẻ đẹp tuyệt mỹ của Đức Mẹ và uy quyền của Mẹ bên ngai toà Chúa Giêsu. Mẹ là hoa quả tuyệt vời của ơn cứu độ và là hoa trái tuyệt mỹ của thập giá Chúa Giêsu” Một người nữ mình mặc áo mặt trụi, chân đạp vầng trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12, 1). Mẹ Maria là người Mẹ đầy uy quyền trước mặt Chúa:” Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”(Ga 2, 5).
Chào kính Đức Nữ Vương thánh thiện! Nép vào nơi ẩn khuất chốn thung lũng, con hát mãi, trên những hoa và cỏ, ở đó con đã nhìn thấy những linh hồn bay lên. Đức Mẹ thường soi sáng chúng ta cầu nguyện và nhường công trạng cho các linh hồn đang chịu giam phạt. Mẹ làm tăng giá trị những lời cầu nguyện của chúng ta và dâng lên Thiên Chúa. Nhân danh Chúa Con, Mẹ áp dụng những công nghiệp của Người và của chính Mẹ cho các linh hồn luyện ngục. Mẹ giúp đỡ chúng ta trong việc hỗ trợ các linh hồn luyện tội.
Nếu chúng ta năng đến cùng Mẹ, Mẹ sẽ giúp chúng ta biết tự thanh tẩy tội lỗi và khiếm khuyết ngay ở đời này. Mẹ sẽ cho chúng ta được nhìn thấy Mẹ ngay sau khi qua khỏi đời này, không phải băng qua nơi đợi chờ và thanh luyện, bởi vì chúng ta đã thanh tẩy linh hồn khỏi những sai lỗi và khiếm khuyết ngay trên đời này.
Ta hãy đến ngai tòa ân sủng với niềm tín thác, để nài xin lòng thương xót và tìm ơn thánh trong những khi cùng quẫn. Như thế, ngai tòa Nữ Vương của Mẹ là biểu hiện quyền bính của Chúa Kitô. Chúa muốn Mẹ Người là một ngai tòa ân sủng, nơi chúng ta dễ dàng tìm được sự cảm thông, bởi vì Chúa ban Mẹ Người để làm trạng sư ân sủng cho chúng ta và Nữ Vương của mọi thụ tạo.
2023
Ðường Ðến Sự Sống Ðời Ðời
21.8 Thánh Piô X, Giáo Hoàng
Tl 2:11-19; Tv 106:34-35,36-37,39-40,43,44; Mt 19:16-22
Ðường Ðến Sự Sống Ðời Ðời
Đức thánh giáo hoàng Piô X, qua đời tại Roma ngày 21 tháng tám năm 1914, phong thánh năm 1954, nhắc ta nhớ tới một giai đoạn rối rắm và đau thương trong lịch sử Giáo hội. Các lý thuyết duy lý, duy tân và Jansenis đe dọa đức tin nguyên truyền trong lúc lửa chiến tranh thế giới thứ nhất trên đà bộc phát.
Giuseppe Sarto sinh năm 1835 tại Riese, một làng nhỏ miền Vénétie, là con một gia đình nông dân tầm thường. Sau những năm học chủng viện ở Padoua, thầy Giuseppe Sarto thụ phong linh mục, rồi lần lượt làm phó xứ, cha sở, giám mục Manton, giáo chủ Venise và hồng y năm 1893. Tại hội nghị hồng y năm 1903, Ngài được bầu kế vị Đức Lêô XIII.
Triều giáo hoàng của Ngài nổi bật với những cải tổ phụng vụ liên quan đến sách nhật tụng, Phép Thánh thể, bình ca và việc rước lễ thường xuyên. Ngài cũng cho ấn hành một cuốn giáo lý mới mà đích thân Ngài giải thích nó mỗi ngày Chúa nhật. Ngài bắt đầu công việc sửa đổi bộ Giáo luật. Việc quản trị Giáo hội đặc biệt Giáo triều Roma, cũng được sửa đổi. Thế nhưng vị giáo hoàng hiền lành đạo đức này lại gặp nhiều khó khăn, trái ý; Ngài cũng bị vướng vào nhũng rối rắm chính trị và giáo lý của một thời đại nhiều xáo trộn. Hơn nữa, Ngài linh cảm sự đe dọa của chiến tranh thế giới thứ nhất sắp bùng nổ năm 1914.
Ngài qua đời hai mươi ngày sau chiến tranh bùng nổ. Ngài nói: “Các con yêu dấu, cha hiến dâng mạng sống của cha. Hằng triệu người chết … Cha muốn giúp tránh nó, nhưng lực bất tòng tâm”. Trong chúc thư để lại, Ngài viết: “Tôi sinh ra trong cảnh nghèo và tôi muốn chết nghèo”. Thân xác Ngài vẫn còn nguyên vẹn, được tôn kính nơi Đền thờ thánh Phêrô ở Vatican
Chúa đã ban cho thánh Piô X được tràn đầy sự khôn ngoan thần linh và đức can đảm tông đồ (lời nguyện trong ngày). Ngài biểu lộ rõ rệt các đức tính đó trong suốt triều đại giáo hoàng của mình. Trước hết Ngài bãi bỏ luật Veto (phủ quyết) mà một số quốc gia vẫn còn giữ về vấn đề bầu chọn giáo hoàng, tiếp theo Ngài giải tán Opera dei Congressi, đồng thời các phong trào mà sau này, dưới đời Đức Piô XI sẽ lấy tên là công giáo tiến hành. Tại Pháp, Ngài lên án chính sách bài giáo sỹ của Combes và phản đối luật tách biệt Giáo hội khỏi Quốc gia. Cuối cùng là vụ kết án thuyết duy tân, ban đầu bằng sắc lệnh Lamentabili, sau là thông điệp Pascendi (1907).
Lời nguyện trên lễ vật thúc đẩy chúng ta học “theo các bài học của thánh Piô X hầu hết các mầu nhiệm thần linh với lòng kính cẩn, thông hiệp với chúng bằng đức tin”. Trong công cuộc của vị thánh giáo hoàng này, cải tổ phụng vụ là trọng tâm. Chính Ngài tuyên bố: “Từ nguồn suối duy nhất không thể thiếu đó tức là việc tham dự các mầu nhiệm thần linh, chúng ta có thể múc được tinh thần Kitô hữu đích thực” (Motu propio ngày 22-11-1903). Một cách nào đó, Ngài đã mở đường cho việc canh tân phụng vụ của Vatican II khi nhấn mạnh việc tham gia tích cực của giáo dân vào thánh lễ, việc canh tân âm nhạc thánh và cổ võ việc hát bình ca truyền thống. Ngài cũng thực hiện việc sửa đổi sách thần vụ bằng cách đặt ưu tiên cho việc đọc toàn bộ thánh vịnh (Hiến chế Divino Afflatu 1911) như trong phụng vụ bài đọc có nhắc lại. Trên lãnh vực thánh kinh, Đức Piô X đã có một số biện pháp như thành lập Ủy ban giáo hoàng nghiên cứu Thánh kinh (1907), lập viện kinh thánh (1909), rà soát lại bản phổ thông.
Lời nguyện tạ lễ khẩn cầu Chúa, nhân ngày lễ thánh Piô X, cho chúng ta “kiên vững trong đức tin”. Vào một giai đoạn nhiễu nhương khi các Kitô hữu cần được bảo vệ trong đức tin, thánh Piô X đã chứng tỏ sự vững chắc trong lãnh vực giáo lý công giáo, ý thức trách nhiệm chủ chăn tối cao của mình. Nhưng vị bảo vệ chính thống nồng nhiệt đó trước hết là một con người “nghèo khó, hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Phản ứng chống lại các luồng do phái Jansenius, quá khắc khổ và duy lý của thời đại, Ngài dần nổ lực để minh chứng Chúa là yêu thương. Chính vì thế Ngài đã cho tái lập việc thường xuyên đến với các bí tích, việc cử hành thánh lễ có sự tham gia tích cực của giáo dân và việc rước lễ thường xuyên. Đặc biệt, qua sắc lệnh Quam singulari (1910). Người cho phép trẻ đến tuổi có lý trí được rước lễ.
Đức Piô X khi chấp nhận làm giáo hoàng, đã thốt lên: “In crucem = đến với thánh giá”. Quả thế, các khó khăn đã chỉ gia tăng trên bước đường của Ngài, nhưng lại trở thành nguồn gốc cho tính khiêm nhu, thậm chí hiền lành trong công việc mục vụ của Ngài. Mộ chí Đức Piô X tóm tắt sâu sắc sự thánh thiện cao cả của vị thánh giáo hoàng này: “nghèo nhưng phong phú, hiền lành và khiêm nhường trong lòng, bảo vệ nhiệt thành chân lý công giáo, Người đã hiến trọn nổ lực để cải tạo lại tất cả trong Chúa Kitô”.
Tin Mừng hôm nay ghi lại cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và người thanh niên giàu có. Người thanh niên đến gặp và xin Chúa Giêsu chỉ con đường dẫn đến sự sống đời đời, đó là một ý nghĩ khôn ngoan. Tuy nhiên, thái độ của anh đáp ứng Lời Chúa Giêsu chứng tỏ anh mới chỉ có ý nghĩ một chút về sự khôn ngoan. Anh thoáng thấy của cải không phải là hạnh phúc đích thực, vì thế, anh đến với Chúa để tìm sự khôn ngoan. Khốn nỗi, con đường khôn ngoan mới vạch ra đã bị của cải cản lối khiến anh không nhận ra được rằng sự sống đời đời mới là của cải quí giá nhất mà anh phải tìm kiếm.
Người thanh niên tìm đến với Chúa Giêsu, vì nhận thấy Ngài là một tôn sư có gì khôn ngoan hơn những bậc thầy trong dân Israel mà anh thường gặp. Anh chưa nhận ra Chúa Giêsu chẳng những là tôn sư dạy sự khôn ngoan, mà còn là chính sự khôn ngoan; Ngài không chỉ đưa ra một lời dạy khôn, mà còn là lời ban sự sống đời đời; ai đón nhận và thực hiện lời Ngài sẽ được sống đời đời. Chính vì thế, anh đã sầm nét mặt, buồn sầu bỏ đi khi Chúa Giêsu bảo anh: Hãy về bán hết của cải, rồi đến theo Ngài. Anh yêu của cải hơn sự sống và hạnh phúc đời đời. Anh tưởng Lời Chúa chỉ là một trong những lời chỉ giáo muôn mặt của các bậc thầy trong Israel, có theo hay không cũng chẳng sao, cứ nắm giữ lề luật cha ông truyền lại đã đủ chiếm được Nước Trời. Do đó, anh làm sao hiểu được lời này: “Anh chỉ còn thiếu một điều”.
Anh đã thực hiện những gì ghi trong lề luật, nhưng anh còn thiếu một điều, mà thiếu điều đó, những gì anh đã nắm giữ mới chỉ là thứ công chính của Biệt phái không thể vào Nước Trời được. Ðiều anh còn thiếu chính là tin nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là liên kết với Ngài và thực hiện Lời Ngài. Vì Lời Ngài là lời thần linh làm cho việc tuân giữ giới răn trở thành sức sống trong tâm hồn con người.
Thật ra, tự nó, của cải không cản trở người ta vào Nước Trời, nhưng thái độ ham mê của cải cản trở người ta yêu mến Thiên Chúa và Chúa Kitô. Cần phải có tinh thần sẵn sàng từ bỏ mọi của cải, mọi đam mê, để được tự do nghe tiếng Chúa dạy dỗ trong tâm hồn. Thái độ từ bỏ của cải và đam mê, không nhất thiết bắt người ta trở thành nghèo mạt, bởi vì từ bỏ mọi sự vì Chúa và vì Tin Mừng, chẳng những không làm người ta bị thiệt thòi, mà còn mở rộng tương giao xã hội của họ, vì họ sẽ được đại gia đình nhân loại, và rồi với những thử thách đã vượt qua, họ sẽ được hưởng sự sống đời đời.
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy chàng thanh niên đã đạt được hầu như mọi thứ trong cuộc sống như tiền bạc, danh vọng cùng với việc chu toàn lề luật. Tuy nhiên, anh vẫn cảm thấy một sự trống vắng nơi sâu thẳm trong tâm hồn. Anh đã tìm đến Đức Giêsu mong nhận được một giải đáp cho nỗi khắc khoải đó. Người mở lối cho anh là hãy thoát khỏi và từ bỏ những của cải đang có mà hướng đến một giá trị bền vững, đó chính là Nước Trời.
Nguyện xin Chúa kiện toàn nơi chúng ta những gì Ngài đã khởi sự, và cho chúng ta đạt tới lý tưởng là sống theo Chúa, Ðấng là đường, là sự thật và là sự sống đời đời.
