2023
Sống thành thật
30.8
Thứ Tư trong tuần thứ Hai Mươi-Nhất Mùa Quanh Năm
St 2:9-13; Tv 139:7-8,9-10,11-12; Mt 23:27-32
Sống thành thật
Tin Mừng hôm nay trích trong một loạt các lời khiển trách hay còn gọi là lời nguyền rủa của Chúa Giêsu đối với các kinh sư và người Pharisêu thời đó. Chúa thường gọi họ là những người Pharisêu giả hình, vì họ nó một đàng lại làm một lối. Các kinh sư và người Pharisêu thời Chúa Giêsu họ là những người lãnh đạo dân Chúa. Họ là những người có học và tự hào là những người thầy của dân để chỉ bảo các luật lệ cho dân Chúa. Nhưng khi đến thế gian, Chúa đã bị những người này chê bai hạch sách. Trớ trêu hay họ lại dựa vào luật Chúa để chê trách Người – Đấng cứu thế.
Chúa so sánh họ với những mồ mả, họ chỉ lo cho tốt mã bên ngoài nhưng cái bên trong cần sống đạo đức thì họ lại che dấu những tính nết xấu như là: đầu óc hám danh, hám lợi, hám sắc, bất công, kiêu căng, nhỏ nhặt, ti tiện và ích kỷ. Họ làm bộ phàn nàn vì tổ tiên đã sát hại các Ngôn Sứ của Chúa, đàng khác họ lại có tâm địa tệ hại hơn tổ tiên của họ. Họ căm thù và tìm cách sát hại chính Đấng mà các Ngôn Sứ đã loan báo.
Đáng lẽ các kinh sư và những người Pharisêu phải là những người thông hiểu đúng luật Chúa hơn mà dẫn dắt dân Chúa. Họ cũng phải là người gương mẫu thực thi Lời Chúa, phải có đời sống nội tâm cũng như bên ngoài xứng với bậc thầy của dân. Họ đã không có được đời sống tốt đẹp ấy nên đã bị Chúa ghét cay ghét đắng. Nhân đọc đoạn Tin Mừng này, xin điểm lại mấy tội của họ mà Chúa đã nặng lời quở trách: “…Các ngươi đã khóa Nước Trời không cho thiên hạ vào… Các ngươi nuốt hết tài sản của các bà góa lại còn làm bộ cầu nguyện lâu giờ…Các ngươi rủ được một người theo đạo, nhưng khi họ theo rồi các ngươi lại làm cho họ đáng xuống hỏa ngục gấp đôi…Các ngươi lọc con muỗi nhưng lạ nuốt con lạc đà…Các ngươi nộp thuế thập phân, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong lề luật là công lý, lòng nhân và thành tín…” (Mt 23,13-26).
Các vị kinh sư và những người pharisêu đầy quyền lực, họ không muốn đồng bào của mình tin vào một ông Giêsu bị đóng đinh. Như thế họ đã khóa cửa Nước Trời để chẳng ai vào được, kể cả họ. Họ hăng say trong việc truyền giáo. Họ muốn làm cho dân ngoại trở thành Dân Chúa. Tiếc thay, sau khi đã vào đạo rồi, những người tân tòng này trở nên cứng nhắc vì nệ luật, và rơi vào thói giả hình.
Lối sống đạo đức giả của các Ký lục và Biệt phái giả hình còn đi tới mức độ một đàng tỏ ra phàn nàn phản đối chuyện tổ tiên mình đã sát hại các ngôn sứ của Chúa, cho nên họ đã xây mộ cho các vị này. Nhưng đàng khác thì “cha nào con nấy”, họ có tâm địa tệ hơn tổ tiên là căm thù chính Đấng các ngôn sứ đã loan báo – Chúa Giêsu tỏ ra hết sức bực bội sự đạo đức giả của nhóm này. Ngài dùng một câu vừa thách đố vừa nói trước về cái chết của mình : “Đổ thêm cho đầy đấu tội của tổ tiên” (Mt 23, 32). Người xưa chỉ giết các ngôn sứ, còn các Ký lục và Biệt phái giả hình thì giết chính Đấng Mêsia.
Thật là xác đáng Chúa đã dùng hình ảnh những mồ mả quét vôi ở nghiã địa để chỉ về họ: “Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngòai có vẻ đẹp nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ những thứ ô uế”. Những thứ dơ bẩn ấy thời đó họ ghê tởm, kiêng đụng vào. Ai vấp phải sẽ dơ bảy ngày không mừng lễ trọng được.
Chúa chê ghét gớm giếc các ông ấy vì họ đang mưu tính một việc rất giả hình và độc ác. Họ “xây mồ cho các ngôn sứ và tô mả cho các người công chính” và tỏ vẻ thương tiếc mà tự nhủ: “Nếu như chúng ta sống vào thời của tổ tiên, hẳn chúng ta đã không thông đồng với các ngài mà đổ máu các ngôn sứ”. Nhưng thực sự trong lòng họ đang mưu giết Người là Chúa các ngôn sứ.
Lời Chúa hôm nay thật đáng để cho chúng ta nhìn lại và làm mới mình. Nếu hôm nay Chúa đến gặp và nói với mỗi người chúng ta, liệu Chúa có gọi chúng ta là “đồ giả hình” không ? Lắm khi chúng ta ngại làm điều tốt nhưng nếu có anh chị em nào làm điều tốt thì chúng ta lại dèm pha. Lắm khi chúng ta làm những việc đạo đức nhưng chúng ta lại không làm vì yêu mến Chúa mà chúng ta làm vì tư lợi. Tệ hơn nữa chúng ta lại chủ động lôi kéo người khác đi theo con đường xấu mà mình đã đi.
Trong đời sống đạo hiện nay, cũng có nhiều khi chúng ta tìm mọi cách để che đậy những chuyện xấu xa, khuyết điểm, lỗi lầm để tự cho mình là người đạo đức hơn người. Điều khó hiểu là chúng ta an tâm để sẵn sàng lên án kẻ khác vì những thiếu xót của họ mà không hề suy nghĩ hay áy náy gì đến lỗi lầm của mình. Hơn nữa, nhiều khi quá giỏi che đậy, nên không ai biết đến những khuyết điểm của mình, vì vậy, chúng ta lại an tâm và “bình chân như vại” để tiếp tục lún sâu vào con đường tội lỗi tiếp theo.
Tuy nhiên, chúng ta có thể che dấu bằng những biện pháp tinh vi, xảo quyệt để che mắt người đời, nhưng với Chúa, Ngài biết hết và biết rõ ràng từng lỗi lầm của chúng ta. Chỉ có điều là Ngài muốn cho chúng ta có cơ hội để hối lỗi, sửa mình và được cứu độ mà thôi.
2023
Thân phận ngôn sứ
29.8 Lễ Thánh Gioan Tẩy Giả bị chém đầu
St 2:1-8; Tv 139:1-3,4-6; Mt 23:23-26
Thân phận ngôn sứ
Thánh Gioan tẩy giả là người anh họ của Chúa Chúa Giêsu. Thân mẫu ngài là thánh nữ Êlizabeth và thân phụ ngài là ông Zacaria. Chương đầu tiên của Tin mừng theo thánh Luca thuật lại biến cố sinh nhật tuyệt vời của thánh Gioan. Và Tin mừng theo thánh Marcô, nơi chương thứ 6, các câu 14-29, kể lại những chi tiết tàn bạo về cái chết của Gioan tẩy giả.
Tin Mừng hôm nay là một thảm kịch diễn ra trong một bữa tiệc, kết thúc thật là bi thảm với cái chết oan nghiệt của Gioan Tẩy Giả. Ông đã bị bỏ tù vì dám quở trách Hêrôđê Antipa về tội ngoại tình lộ liễu. Cuối cùng ông đã phải chết cách bi thảm vì sự thật.
Trình thuật này khiến ta nghĩ đến số phận đang chờ đón Chúa Giêsu, báo trước cho thấy cuộc khổ nạn, cái chết và cuộc an táng sau này của chính Ngài. Ông Gioan là chính hình ảnh phản ánh Chúa Giêsu, đến độ mới chỉ nghe danh tiếng Chúa Giêsu, vua Hêrôđê đã bị ám ảnh, mường tượng đó chính là hiện thân của Gioan Tẩy Giả trỗi dậy nên mới quyền năng như thế.
Cả cuộc đời và cả cái chết của ông Gioan đều báo trước cho sứ mạng Tiền Hô, tiền hô cả khi sống và cả lúc chết cho Đấng Cứu Thế. Cái chết của vị Ngôn sứ cuối cùng nói lên số phận của các Ngôn sứ là thế đó. Mở đầu và kết thúc đoạn Tin Mừng này đều nhắc tới Chúa Giêsu, cho thấy cái chết của ông Gioan như mối liên hệ, là báo trước cho cái chết của Chúa Giêsu. “Môn đệ ông đến lấy thi hài ông đem đi mai táng, rồi đi báo cho Chúa Giêsu.”
Hêrôđia đã giữ mối hận thù đối với Gioan. Và khi dịp thuận tiện xảy đến, bà đã ra tay sắp đặt để Gioan bị chém đầu. Gioan đã phải chấp nhận những hậu quả nghiệt ngã cho việc giảng dạy chân lý Phúc âm.
Thánh Gioan tẩy giả rao giảng phép rửa sám hối, chuẩn bị cho người ta đón nhận Đấng Mêsia. Ngài đã làm phép rửa cho Chúa Giêsu trong dòng sông Giođan và được hưởng kiến niềm vui vì sứ mệnh công khai của Chúa Giêsu đã khởi sự. Gioan tẩy giả đã khích lệ các môn đồ của mình đi theo Đức Chúa Giêsu. Ngài biết rằng danh Chúa phải tỏa sáng ra, còn danh mình phải lu mờ đi. Trong chương thứ nhất Tin Mừng theo thánh Gioan, thánh Gioan tẩy giả nhận mình chỉ là tiếng kêu trong hoang địa, chỉ thức tỉnh người ta hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng mà thôi! Thánh nhân mời gọi mọi người hãy sẵn sàng để chuẩn bị đón nhận Đấng Mêsia.
Gioan không phải là ánh sáng, nhưng Gioan tới để minh chứng về ánh sáng. Vì chứng minh cho Chúa Giêsu là sự thật, là ánh sáng. Gioan đã không bao giờ chịu khuất phục trước những việc chướng tai gai mắt của con người, của xã hội đương thời và của nhân loại. Gioan đã có lần nói: “Có Đấng đến sau ông và ông không xứng đáng cởi giây dép của Ngài”. Gioan quả thực đã tới trần gian để dọn đường cho Chúa Cứu Thế.
Làm công tác dọn đường, Gioan đã sống đích thực sứ mạng của vị tiên tri. Ngôn sứ phải nói lên sự thật và không bao giờ sợ nguy hiểm cho dù công tác của vị ngôn sứ luôn gặp sự hiểm nguy. Để làm chứng cho Đấng cứu thế, Ngài đã nói công khai với mọi người khi họ lầm tưởng Gioan là Đức Kitô: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại”. Gioan đã lớn lên trong sự minh chứng cho sự thật. Chống lại hành động loạn luân và dâm dật của đôi dâm phụ Hêrôđê và Hêrodias. Gioan Tẩy Giả đã phải chấp nhận cái bi đát nhất của cuộc đời ngôn sứ của mình: cái chết. Hêrôdias vì không chấp nhận sự thật, không chịu nổi lời quở trách của vị tiên tri. Nên đã căm thù tìm cơ hội khử trừ vị ngôn sứ đầy uy tín. Với sự nhảy múa cuồng nhiệt nhân ngày sinh nhật, Hêrodiađê đã làm ngây ngất vua Cha. Cái đầu, vẫn là sự căm tức ngông cuồng của Hêrôdias. Đầu của vị ngôn sứ Gioan Tẩy Giả đã nằm gọn trong chiếc dĩa trước mặt Hêrôđê.
Thánh Gioan Tẩy Giả đã sống hoàn toàn đúng nghĩa của một vị ngôn sứ chân chính, đích thực, Ngài đã hoàn toàn đáp trả lại lời mời gọi yêu thương của Thiên Chúa: “Ngài đã không sợ hãi, lớn tiếng trước mặt các Vua Chúa. Ngài đã hiến mạng sống cho công bình và chân lý”. Thánh Gioan Tẩy Giả đã vạch mặt chỉ tên mọi người sống bê tha, tội lỗi. Lời rao giảng sám hối và phép rửa cải tà qui chánh, cải hoá nội tâm của Ngài đã nói lên một sự thực muôn đời: “Tất cả đều phải sám hối và ăn năn”. Thánh nhân đã không chùn bước trước những thế lực mạnh nhất lúc đó là Hêrôđê. Ngài đã can đảm nói lên việc Hêrôđê cướp vợ của anh mình là Philíp, nàng Hêrôđia… Sự can đảm và cương quyết của Ngài đã bị cường bạo đè bẹp bằng lời hứa thật đê hèn và thô bạo. Nhưng cái chết của thánh Gioan Tẩy Giả đã minh chứng cho chân lý ngàn đời: “Sự thật sẽ giải phóng tất cả”.
Gioan Tẩy Giả đã chết đi để bảo vệ cho sự thật, minh chứng cho Chúa Giêsu: “Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14, 6).
Gioan Tẩy Giả chỉ là vị ngôn sứ dọn đường cho Chúa Cứu Thế: “Tôi chỉ là tiếng kêu trong hoang địa, để dọn đường cho Chúa đến” (Mc 1,23) và khi Đấng Thiên Sai đến, thánh nhân xác định rõ ràng: “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3, 30). Thánh Gioan Tẩy Giả đã trở nên chứng nhân tuyệt vời và hoàn hảo nhất nơi Đức Kitô Giêsu.
Dù biết rằng mình sẽ phải chấp nhận cái bi đát nhất của cuộc đời, Gioan Tẩy Giả vẫn nói lên tiếng nói bất khuất của vị ngôn sứ. Mọi tiên tri đều phải trả giá cho lời chứng của mình. Gioan Tẩy Giả đã sống anh dũng, can trường với lời nói của mình. Cái đầu phải trả là giá nặng nề và đáng nguyền rủa nhất của vị ngôn sứ sau cái chết chịu đóng đinh nơi thập giá đối với người Do Thái lúc đó. Gioan Tẩy Giả đã tự xóa nhòa mình để cho Đấng cứu độ lớn lên trong lịch sử nhân loại. Lời chứng và cái chết của Ngài, đã nói lên sự thật muôn đời là Gioan đã hoàn toàn đáp trả hoàn toàn lời mời gọi của Thiên Chúa: “Ngài không sợ hãi, lớn tiếng trước mặt các vua chúa. Ngài đã hiến mạng sống cho công bình và chân lý”.
Gioan Tẩy Giả đã lên tiếng tố cáo bất công và sẵn sàng chết cho công lý. Trong ý nghĩa ấy, ngài là vị tiền hô của Chúa Giêsu, ngài qua đi nhưng tinh thần ngài vẫn sống mãi trong các môn đệ của ngài, và một cách nào đó, ngài cũng sống trong chính con người Chúa Giêsu và nơi mỗi người Kitô hữu. Từ 2000 năm qua, Giáo Hội vẫn sống trong niềm xác tín đó. Chính tinh thần của Gioan Tẩy Giả, của các Tông Ðồ, của các Thánh Tử Ðạo, đã sống mãi trong Giáo Hội và trở thành giây liên kết mọi Kitô hữu.
Chúng ta cũng hãy hiên ngang nói lên niềm tin và lòng trung thành với Chúa Kitô. Cùng với thánh Phaolô, chúng ta cũng hãy thốt lên: “Không gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô”.
2023
Kết Án Tội Mù Quáng
28.8
Thánh Augustinô, Gmtsht
St 1:2-5,8-10; Tv 149:1-2,3-4,5-6,9; Mt 23:13-22
Kết Án Tội Mù Quáng
Augustinô chào đời năm 354 trên đất Phi Châu đầy sức sống. Xuất thân từ một gia đình trung lưu với những khuynh hướng tôn giáo hỗn hợp: Cha chàng là Patricius, một người ngoại đạo sống khá phóng túng, nuôi nhiều tham vọng cho cậu con trai đầy hứa hẹn này. Mẹ chàng là Monica, một Kitô hữu sốt sắng đã dành cho chàng một tình thương đặt biệt sáng suốt, đã phải khuyên răn và khóc lóc nhiều về hạnh kiểm của con mình nhưng cuối cùng đã được chứng kiến cuộc trở lại của Augustinô và đồng thời được Augustinô dẫn lên những đỉnh cao của chiêm niệm và lòng say mê Thiên Chúa.
Nói về thiếu thời của mình, Augustinô tự nhân: “Tôi chỉ ham chơi”. Cậu bé thần đồng ấy rất sợ đi học, nhưng khi đã bị đẩy đến trường thì cậu trở thành một học sinh ưu tú vượt hẳn các bạn đồng liêu.
Đặt nhiều hy vọng vào con đường học vấn của cậu, thân sinh đã gửi cậu đến Carthagô là một trong những trung tâm văn hóa trứ danh nhất thời đó. “Tôi đến thành Carthagô, tất cả chung quanh tôi vùng dậy những quay cuồng đam mê ngang trái”.
Augustinô học hành xuất sắc bao nhiêu thì ăn chơi cũng sành sỏi bấy nhiêu. Chàng đã yêu và yêu tha thiết với sức đam mê mãnh liệt của loài người với một trái tim nóng hổi, với tất cả giác quan nhạy bén. “Lao mình vào tình ái, tôi muốn bị kẹt trong đó luôn”.
Với tài hùng biện sẵn có, Augustinô tự rèn luyện khoa ăn nói và làm quen với các văn hào la tinh, với các triết gia Hy Lạp. Một hôm tình cờ chàng giở quyển Hortensius của Cicéron, và nhận được ánh sáng bừng chiếu qua những hàng chữ của tác giả.
“Quyển sách này đã đổi hẳn các tình cảm của lòng con, hướng con về với Chúa, các ước nguyện và ý muốn của con được xoay chiều. Tất cả những ước mộng viển vông trở thành phi lý. Với một sức mạnh phi thường, con thèm muốn đức khôn ngoan bất diệt. Con bắt đầu đứng dậy trở về với Ngài”.
Từ Carthagô, cuộc sống dần đưa chàng đi tìm kế sinh nhai tại Rôma, Milan. Augustinô nay đã 30 tuổi, với thời gian, nhiều mộng đẹp đã tan vỡ. Những khó nhọc của cuộc sống giúp chàng trưởng thành hơn.
Cho tới một ngày kia, ơn Chúa đã toàn thắng, như một cơn gió lốc cuốn đi tất cả những do dự, khắc khoải trong lòng Augustinô. Một hôm, ngồi ngoài vườn với một người bạn chí thân, Augustinô nghe tiếng trẻ nhỏ nhẩm câu:
“Hãy cầm lấy mà đọc”. Nghe vậy, Người mở thánh thư và câu đâu tiên Người đọc là: “Hãy mặc lấy Đức Kitô và đừng thỏa mãn với những đam mê xác thịt”.
Câu này quả dành riêng cho Augustinô đó. Đây chính là lời đáp của ơn trên. Augustinô chạy báo tin vui này cho mẹ. Bà điềm nhiên trả lời: “Mẹ đã biết mà, Mẹ ở đâu thì con cũng sẽ đến đó”. Sứ mệnh của bà đã chấm dứt, bà mừng rỡ thấy Augustinô bắt đầu cuộc sống mới. Từ nay, Augustinô sẽ rảo bước trên con đường của Luật Chúa.
“Dưới sự hướng dẫn của Ngài, Lạy Chúa, con đã bước vào chính thâm tâm con. Con đã làm được điều đó nhờ sức Chúa nâng đỡ.”
Sau khi khám phá Thiên Chúa là Đấng đáng để cho ta bán hết tất cả để đi theo, Augustinô quyết tâm rút vào sa mạc sống ẩn dật để được thưởng thức Chúa, nhưng Augustinô sẽ không bao giờ được sống ẩn dật lâu. Danh tiếng của ngài đã được truyền lan, dân chúng theo đuổi Augustinô xin ngài hướng dẫn họ, xin ngài cố vấn cho họ trong công ăn việc làm, chỉ dẫn cho họ đường ngay nẻo chính.
Một hôm, trong khi dự lễ tại Hippone, dân chúng nảy ra ý kiến: Augustinô sẽ làm Linh mục của họ, và hơn thế nữa sẽ là Giám Mục chăn dắt học. Ý dân là ý trời, ngay lúc đó Augustinô được tôn làm làm Linh mục và sau một thời gian Augustinô trở thành Giám Mục của dân.
Vì mến Chúa đi đôi với yêu người, Augustinô mang tất cả kinh nghiệm, kiến thức rộng lớn của mình để phục vụ anh em. Nhưng trên hết mọi sự, Augustinô là con người của tình yêu: Ngài dành trọn vẹn tất cả khả năng yêu đương cho Chúa và cho anh em, điểm nổi bật của Ngài là một trái tim nóng hổi.
Năm 430, sau một cơn hấp hối, Augustinô về với Chúa, Đấng mà Ngài đã tha thiết mến yêu.
Toàn chương 23 Phúc Âm thánh Mátthêu ghi lại những lời kết án của Chúa Giêsu đối với các Luật sĩ và Biệt phái. Nhưng trước khi công bố 7 lời kết án đó, tác giả Mátthêu ghi lại nhận định chung của Chúa Giêsu (c.1-12): Chúa Giêsu, Ngài đề ra luật sống mới cho tất cả những ai muốn theo Ngài, Ngài là vị thầy duy nhất thay thế Môsê và các vị thầy nhân loại khác, Ngài muốn cho các môn đệ đừng rơi vào thái độ của những Luật sĩ và Biệt phái: mù quáng, giả hình, vụ hình thức, chú trọng đến cái phụ thuộc mà bỏ quên giáo lý làm linh hồn cho những hình thức bên ngoài.
Ba lời lên án của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay có cùng một điểm chung là sự mù quáng. Vì mù quáng, các Luật sĩ và Biệt phái chẳng những không được vào Nước Trời, mà còn cản trở những ai muốn vào đó; vì mù quáng, họ chỉ muốn khoe khoang lòng nhiệt thành tông đồ của họ, chứ không thực sự nhằm đến ơn cứu rỗi của những người họ muốn đưa về cùng Chúa; vì mù quáng, họ thay đổi luật Chúa theo ý riêng để có lợi cho cá nhân, chứ không thực sự màng đến luật Chúa.
Ðó là ba lời kết án của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã tự ví mình như người chăn chiên nhân lành đi tìm chiên lạc, như thầy thuốc cần cho bệnh nhân, như một Vị Thiên Chúa quyền năng sẵn sàng tha thứ và giải phóng con người tội lỗi. Thế nhưng, Ngài đã không sợ đưa ra những lời kết án mạnh mẽ, thẳng thắn: “Khốn cho các ngươi”, không phải vì Ngài không còn lòng nhân từ và tha thứ, nhưng vì sự cứng lòng chai đá của con người đã đến mức tột cùng; không hoán cải khỏi thái độ giả hình, mù quáng, lạm dụng tôn giáo, con người không thể hưởng được tình yêu thương nhân từ của Thiên Chúa.
Ước gì Lời Chúa hôm nay thức tỉnh chúng ta khỏi thái độ mù quáng, khép kín, tư lợi, và cho chúng ta biết sống khiêm tốn, chân thành trước mặt Chúa và đối với anh em, để chúng ta xứng đáng hưởng chúc lành của Chúa.
2023
Yêu Chúa – Phục vụ anh em
25.8 Thứ Sáu trong tuần thứ Hai Mươi Mùa Quanh Năm
R 1:1,3-6,14-16,22; Tv 146:5-6,7,8-9,9,10; Mt 22:34-40
Yêu Chúa – Phục vụ anh em
Tin Mừng hôm nay thuật lại sự việc một người thông luật đến hỏi thử Chúa Giêsu rằng: “Thưa Thầy, trong sách luật Môi sê điều răn nào là điều răn lớn nhất?” Chúa Giê su liền trả lời: “ Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi, đó là điều răn lớn nhất và là điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai cũng giống điều răn ấy, là: Ngươi phải yêu thương người thân cận như chính mình.”
Tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa tạo dựng nên giống hình ảnh của Ngài. Và Ngài còn cho phép chúng ta được gọi Ngài bằng một danh từ rất thân yêu là: Cha; “ Abba” Cha ơi. Vậy thì với lòng biết ơn, với lòng kính trọng và hiếu thảo thì lẽ đương nhiên là chúng ta phải yêu mến, phụng sự Chúa mới là điều phải lẽ. Kế đến mọi người cùng được Ngài sinh ra thì chúng ta cùng là con một Cha vì thế, lẽ đương nhiên là chúng ta phải yêu thương nhau rồi. Lại nữa việc chúng ta thương yêu mọi người như chính mình cũng là lệnh truyền của Người Cha cho nên, để thể hiện là người con hiếu thảo với Đấng đã dựng nên, nuôi dưỡng và chăm sóc mình thì trách nhiệm và bổn phận của người con là phải thực hiện ý muốn của Cha mình.
Sau nhiều lần những người Pharisêu vì ghen ghét mà bới móc, chất vấn Chúa Giêsu và đã bị Người làm cho phải “câm miệng”. Hôm nay họ lại “họp nhau lại, rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Chúa Giêsu để thử Người: “Thưa Thầy, trong sách luật Môsê, điều răn nào là điều răn trọng nhất?”. Một cơ hội Chúa dạy cho họ và cũng làm cho họ phải “câm miệng” nữa, Người đã trích dẫn điều thứ nhất trong mười điều răn Thiên Chúa đã truyền cho ông Môsê trên núi Xinai, trước đó cả nghìn năm: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi”. Chúa Giêsu đã khẳng định: “Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất”. Nhưng chưa hết, Chúa Giêsu tiếp tục:“Còn điều răn thứ hai cũng giống điều răn ấy là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”. Thật là kỳ diệu và khôn ngoan, Chúa Giêsu đã nhấn mạnh và khẳng định diều răn một là “quan trọng nhất”, nhưng điều răn hai “cũng giống điều răn ấy”. Vậy là hai giới răn này đã nên một điều răn quan trọng nhất của đạo Chúa là: “Mến Chúa và Yêu Người”.
Con người phải kính mến Thiên Chúa mà Chúa Giêsu nhắc lại trên, thực ra đó là luật tự nhiên mà khi tạo dựng loài người Thiên Chúa đã khắc ghi vào tâm hồn họ. Vì thế giáo lý Công giáo đã dạy: “Con người có khả năng nhận biết Thiên Chúa… Họ nhìn xem trời đất muôn vật và trật tự lạ lùng trong vũ trụ, liền nhận biết có Thiên Chúa là Đấng tạo dựng và an bài mọi sự”. Điều ấy cũng có thể nói: người chưa nhận biết Thiên Chúa là họ chưa được hưởng dồi dào cái ơn huệ làm người đó. Từ nhận biết ấy con người biết tôn phục kính sợ Đấng Tạo Hóa là sức mạnh, là nguyên nhân của mọi hiện tượng, vật chất trong vũ trụ này mà họ đang phải nương nhờ. Từ niềm tin đến cậy nhờ rồi người ta kính mến và cả khao khát Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của họ nữa.
Dân tộc Việt Nam, khi chưa được biết đạo Chúa họ đã biết thờ Trời, đó là nhận xét của các nhà truyền giáo. Ngày nay còn để lại những câu ca dao, những phương ngôn đầy lòng tôn sợ, tin tưởng, cậy nhờ, kính mến Đấng Trời của họ cũng là Thiên Chúa của chúng ta hôm nay: “Trời sinh voi Trời sinh cỏ”, “không có Trời ai ở với ai”, “Khởi sự tại nhân, thành sự tại Thiên”, “Ơn Trời mưa nắng phải thì”, “Ông Trời có mắt”, “Khôn đâu có lọi với Trời”, “Lưới Trời lồng lộng tuy thưa mà khó thoát”…
Còn Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa đến cứu chuộc nhân loại, Người chỉ rõ cho ta cách thức yêu mến Thiên Chúa và yêu thương con người: Người dạy ta gọi Thiên Chúa là Cha khi cầu nguyện: “Lạy Cha chúng con ở trên trời”, chỉ cho ta thấy rõ nhất tình yêu của Thiên Chúa là người cha, người bố mẹ của nhân loại. Đồng thời chỉ cho ta bổn phận phải kính mến của những người con đối với người Cha ấy. Người còn dạy: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy… mà ai yêu mến Thầy sẽ được Cha của Thầy yêu mến… Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy.”(Ga 14 15-23).
Về yêu tha nhân: Chúa muốn ta yêu tất cả mọi người vì đều là tạo vật, là hình ảnh của Thiên Chúa, đều là những người con, những anh em đang cùng sống trong một ngôi nhà là trái đất này mà Thiên Chúa đã tạo dựng. Lẽ nào ta lại không phải yêu thương nhau? Lẽ nào không yêu thương mà chúng ta còn cùng tồn tại được chăng? Vậy hãy yêu thương nhau theo khuôn vàng thước ngọc Chúa đã dạy: “Những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em hãy làm cho người ta”. (Mt 7, 12), “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.”(Ga 15, 12-13), “đã hiến mạng sống vì anh em”.
Thánh Phanxicô Assisi, ngài được chọn là “con người của thiên niên kỷ thứ hai”, thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II đã chọn quê hương và ngày lễ kính Ngài để quy tụ các nhà lãnh đạo các tôn giáo. Vì ngài có lòng yêu thương phi thường. Lòng yêu thương không chỉ đối với con người mà còn đối với tất cả mọi loài thụ tạo. Ngài thường chuyện trò với những thú vật, gọi chúng là bạn và mời gọi hãy cùng ta ca tụng Chúa.
Qua bài Tin Mừng hôm nay, một lần nữa Thiên Chúa muốn nhắc nhở chúng ta trong cuộc đời trần thế này phải thực thi trọn vẹn hai điều răn quan trọng nhất. Nếu chúng ta chỉ kính mến Chúa mà ghét bỏ anh em mình thì như thánh Gioan nói: “Kẻ nào nói kính Chúa mà không yêu người thì đó là kẻ nói láo”. Vậy thì lòng kính mến Thiên Chúa và yêu người anh em phải luôn được thực thi cách song hành, có như thế chúng ta mới trở thành những người con có hiếu vì biết thực thi ý muốn của Người Cha.
