Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu giáo dục

Home / Giáo dục / Tài liệu giáo dục
13Tháng Bảy
2020

Lãnh đạo một tổ chức:

13/07/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Lãnh đạo một tổ chức:

Hiệu quả của tầm ảnh hưởng trên một cấp độ tổ chức rộng hơn của một nhà lãnh đạo phụ thuộc vào quan điểm được biến đổi, niềm tin, và tinh thần cộng đoàn được xây dựng trong ba phạm vi ảnh hưởng đầu tiên (bản thân, một người, một nhóm nhỏ). Lãnh đạo như Giêsu trong một tổ chức tạo nên một văn hóa mới tác động đến tất cả mọi mối tương quan và mọi thành quả. Một khi mọi người biết rằng nhà lãnh đạo quan tâm đến họ và muốn giúp họ thăng tiến, thì một văn hóa mới của niềm tin và tinh thần cộng đoàn được phát triển, từ đó đem lại hai kết quả cao về thành tích lẫn mức độ hài lòng.

Qua việc đề cao cả tương quan lẫn thành quả, Chúa Giêsu đã tạo nên một văn hóa cho một tổ chức hiệu quả. Trong cuộc đời mình, Ngài luôn hướng mình đến mục đích mà Chúa Cha đặt nơi Ngài. Và rồi trong lời dạy và lệnh truyền sứ mạng, Chúa Giêsu xác định rõ mục đích Ngài đặt ra cho các môn đệ của Ngài và các cộng đòan của họ. Ngài trang bị cho các môn đệ của Ngài để chuẩn bị cho sứ vụ tương lai trong ba phạm vi ảnh hưởng đầu tiên, và rồi sau đó Ngài gởi Thánh Thần đến hướng dẫn họ ở cấp độ lãnh đạo tổ chức, chúng ta nhận ra tiến trình này trong Sách Tông Đồ Công Vụ.

Khi Chúa Giêsu gọi các môn đệ, Ngài nói: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mt 4:19). Và cuối sứ vụ của mình, Ngài nói: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt: 28-18-19)

Chúa Giêsu đã chuyển giao sứ vụ cho chúng ta. Bất cứ nơi đâu chúng ta sống, làm việc, hay chúng ta đang ảnh hưởng trong gia đình, ở giáo xứ, hay trong một tổ chức, nhiệm vụ tối quan trọng của chúng ta trong vai trò lãnh đạo là xây dựng một nền văn hóa thể hiện giá trị cốt lõi của Chúa Giêsu: TÌNH YÊU. Tình yêu này sẽ biến đổi con người và tổ chức từ thực trạng họ đang là trở nên con người và tổ chức mà Thiên Chúa mong đợi họ là. – và tiến trình đó thường thì không dễ dàng!

Lãnh đạo như Giêsu đòi hỏi nhà lãnh đạo trở nên mục tử, và người phục vụ đề cao mỗi con người là một phần không thể thiếu của tổ chức. Các nhà lãnh đạo này áp dụng những nguyên tắc và cung cách của Chúa Giêsu vào giá trị cốt lõi của họ và đưa những giá trị đó vào những chương trình huấn luyện, chính sách và hệ thống của tổ chức. Khi đối điện với thách đố, nhà lãnh đạo nhìn lại việc lãnh đạo bản thân của họ trước khi phân tích những điểm yếu của tổ chức.

Một lời nhắc nhở: khi nghĩ về một tổ chức, chúng ta thường nghĩ bên ngoài gia đình. Thật ra, không có tổ chức nào quan trọng hơn gia đình bạn. Tương quan đời sống của chúng ta đặt trên nền tảng của sự trung thành, cam kết trọn đời. Chúng ta có thể rơi vào cạm bẫy của việc ỷ lại hoàn toàn vào cả sự bền vững của những mối tương quan này lẫn khả năng nhận lại được những nền tảng bị đánh mất, sự thân tình đã bị đánh mất, và tình yêu đã bị đánh mất. Tương quan đời sống đòi hỏi việc nuôi dưỡng và canh tân mỗi ngày; chúng ta không bao giờ biết được khi nào những mối tương quan đời sống đó mất đi. Những ai sống trong văn hóa của tinh thần lãnh đạo như Giêsu sẽ luôn làm mới những “I love you”.

Một trong những sai lầm quan trọng mà các nhà lãnh đạo ngày nay hay vấp phải khi được mời gọi lãnh đạo là dành hầu hết thời gian và nhiệt huyết để cố gắng cải tiến những gì ở cấp độ tổ chức trước khi đảm bảo rằng họ cần nhìn lại một cách sâu sắc tín nhiệm của họ ở cấp độ cá nhân, trong tương quan với một người, và nhiều người.

Read More
11Tháng Bảy
2020

Cha mẹ trẻ giáo dục con cái

11/07/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Mỗi nghề nghiệp là một ơn gọi dựa trên quá trình đào luyện mang tính chuyên biệt, nhằm mục đích đáp ứng những nhu cầu khách quan và phục vụ cho người khác, đổi lại được đền đáp cách tương xứng mà nghề khác không có được.[1] Giáo dục là việc đào luyện “nghề làm người”[2], “nhằm dạy dỗ có hệ thống nhằm phát triển trí tuệ, tinh thần và thể chất của con người”[3]. Với các cha mẹ Công giáo, họ còn có bổn phận đào luyện con cái nên con cái Thiên Chúa và Hội Thánh. “Gia đình là nơi cha mẹ trở thành những thầy dạy đầu tiên về đức tin cho con cái. Đó là một bổn phận “cha truyền con nối”[4] , từ con người đến con người”. Công việc có tính cách “thủ công”, “gia truyền” này được thực hiện trực tiếp theo trật tự từ thế hệ đi trước cho thế hệ đi sau. Trong phạm vi gia đình, cha mẹ có bổn phận đào luyện nghề làm người và làm con Chúa cho con cái của mình. Tay nghề của cha mẹ càng cao thì hoa trái càng dồi dào. Đương nhiên cha mẹ có nhiệm vụ đồng hành cùng con cái suốt hành trình làm người nhưng những năm tháng đầu đời của con cái thật quan trọng để cha mẹ chu toàn phận sự quan trọng hàng đầu và không một ai hay một cái gì có thể thay thế được. Bài viết này muốn lưu ý một số điểm quan trọng trong việc giáo dục con cái dành riêng cho các cha mẹ trẻ.

  1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO DỤC GIA ĐÌNH

Giáo dục là quá trình làm cho nhân cách được trưởng thành, mở rộng văn hóa và làm cho giá trị của con người được bồi bổ. Giáo dục gia đình là nền tảng cho mọi nền giáo dục và đào tạo con người. Bản chất và sứ mệnh giáo dục của gia đình, cách riêng vai trò của người mẹ không có gì có thể thay thế. Sứ mạng của cha mẹ bắt nguồn từ ơn gọi nguyên thủy khi tham gia vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Gia đình là một nơi giáo dục các giá trị cơ bản. Nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng của gia đình diễn ra chủ yếu qua việc giáo dục con em.[5]

Nhiệm vụ của giáo dục của cha mẹ Kitô giáo đến từ Bí Tích Hôn Phối và cách riêng từ chính quyền bính và tình yêu của Chúa Ba Ngôi.[6] Tự bản chất, cha mẹ thật sự là những nhà giáo dục đầu tiên và quan trọng nhất cho con cái họ về chiều kích đạo đức, và do đó trở thành cộng tác viên không thể thiếu của mọi lãnh vực giáo dục khác.[7] Thông qua giáo dục, các bậc cha mẹ giúp con cái của họ bước vào thế giới và gặp gỡ những người khác trong chân thiện mỹ.

Gia đình là không gian tự nhiên và văn hóa cho việc giáo dục con trẻ. Từ không gian này, con cái nhận được các quyền lợi, phẩm giá, ngôn ngữ, sự tôn trọng, cảm xúc, ý tưởng, óc phán đoán, năng khiếu, và nhiều loại kỹ năng sống từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Đối với các gia đình Công giáo, chiều kích thiết yếu của giáo dục là giáo dục đức tin vì nó là điều làm nên tất cả. Cha mẹ là những nhà giáo dục đức tin đầu tiên cho con cái[8], cách riêng là giáo dục cầu nguyện. Thật vậy, cầu nguyện vừa là sự biểu lộ đức tin, vừa là trường học đức tin. Thông qua lời cầu nguyện, đức tin được sống và truyền từ cha mẹ đến con cái. Điều quan trọng nhất là con cái thấy cha mẹ cầu nguyện.[9]

Khi nói về đức tin, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đưa ra một nhận định đáng lưu tâm: “Tình trạng đức tin và thực hành tôn giáo suy yếu trong một số xã hội đã ảnh hưởng đến các gia đình rất nhiều và càng đẩy các gia đình lâm vào tình trạng phải chơ vơ chống chọi với những khó khăn của mình. Cái nghèo lớn nhất trong số những cái nghèo của nền văn hóa hiện nay là sự cô đơn, kết quả của tình trạng vắng bóng Thiên Chúa trong đời sống con người và tình trạng mong manh của những mối quan hệ”[10].

Như đã nói ở phần mở đầu, nguyên tắc giáo dục đức tin được Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh như sau: “Gia đình là nơi cha mẹ trở thành những thầy dạy đầu tiên về đức tin cho con cái. Đó là một bổn phận “cha truyền con nối” , từ con người đến con người”. “Nghề làm người” của con cái phải được học cách thủ công, cách trực tiếp từ ông bà cha mẹ, từ đời nọ qua đời kia chứ không thể qua một trung gian nào. Cách thức ông bố Do thái dạy cho con mình về biến cố Vượt Qua là một bài học về cách giáo dục đức tin trong gia đình.[11]

Tông huấn giải thích bổn phận giáo dục đức tin của cha mẹ như sau: “Gia đình vẫn phải tiếp tục là nơi học biết những lí lẽ và vẻ đẹp của đức tin, để cầu nguyện và phục vụ tha nhân. Bắt đầu với Bí Tích Thánh Tẩy, việc nuôi dạy con cái của các bà mẹ là để “cộng tác vào sự sinh hạ thánh thiêng” … Cha mẹ là phương thế Thiên Chúa dùng để giúp cho đức tin của con cái được trưởng thành và phát triển”[12].

Thông truyền đức tin giả định rằng cha mẹ thực sự sống kinh nghiệm đức tin, tin tưởng vào Chúa, tìm kiếm Ngài, cần đến Ngài. Điều này đòi hỏi cha mẹ kêu xin Chúa hành động trong tâm hồn của con cái. Tuy không phải là chủ nhân của các tâm hồn nhưng nỗ lực sáng tạo của cha mẹ góp phần cộng tác với kế hoạch sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa. “Điều căn bản là con cái nhìn thấy tận mắt việc cầu nguyện thật sự quan trọng với cha mẹ của chúng. Vì thế, khi gia đình sum họp cầu nguyện và có những diễn tả lòng đạo đức bình dân có sức loan báo Tin mừng mạnh hơn bất kì việc dạy giáo lý và bài giảng đạo nào”. “Thực hành việc thông truyền đức tin cho con cái cho phép gia đình trở thành nhà rao giảng Tin mừng thông truyền đức tin cho mọi người xung quanh”, “loan báo Tin mừng cách minh nhiên, can đảm và liên tục qua các việc như: liên đới bằng cả tinh thần và vật chất với người nghèo và gia đình nghèo túng nhất, đón nhận những con người khác biệt, bảo vệ thiên nhiên, dấn thân cho công ích.”.[13]

Trong Tông huấn, Đức Thánh Cha Phanxicô lưu ý: “Nhiều lần chính ông bà đảm bảo việc truyền đạt các giá trị lớn lao cho các con cháu mình và nhiều người có thể nhận thấy chính ông bà đã khai tâm đời sống đức tin cho mình. Lời lẽ của các ngài, những sự âu yếm của các ngài hay chỉ với sự hiện diện của các ngài cũng đã giúp các em nhận ra rằng lịch sử không bắt đầu từ nơi chúng, và chúng là những người thừa kế của một cuộc hành trình dài và cần phải tôn trọng hậu cảnh là những gì đến trước chúng ta”.[14]

Tông huấn đưa ra một số thực hành trong việc giáo dục đức tin cho con cái: dạy con nhỏ hôn Chúa Giêsu hay Đức Mẹ, không ngừng cầu nguyện cho những người con đang lạc xa Chúa Kitô, đưa lịch sử đời mình vào cầu nguyện, cần biết chấp nhận chính mình, biết cách sống chung với những hạn chế của mình, biết tha thứ cho chính mình, cầu nguyện trong gia đình, lòng đạo đức bình dân. “Hành trình cầu nguyện chung của gia đình đạt tới đỉnh điểm trong việc tham dự Thánh lễ, nhất là trong khung cảnh ngày nghỉ lễ Chúa Nhật”. “Các đôi vợ chồng Kitô hữu là những cộng tác viên của ân sủng và là những chứng nhân đức tin cho nhau, cho con cái và cho các thành viên khác trong gia đình” . Thiên Chúa mời gọi họ thông truyền và chăm sóc sự sống. Đó là lí do tại sao gia đình “bao giờ cũng là ‘bệnh viện’ gần nhất”. “Chiêm ngắm từng người thân trong gia đình bằng đôi mắt của Thiên Chúa và nhận ra Đức Kitô nơi họ là một kinh nghiệm tâm linh sâu xa”.[15]

Việc giáo dục con cái của cha mẹ là nguồn gốc của sự thiện và sự ác trong gia đình và xã hội.[16] Không một ai có thể đạt được sự giáo dục luân lý cách tinh tế và hợp lý hơn cha mẹ, đặc biệt trong lãnh vực luân lý tính dục cho con cái mình. Sự sút kém về luân lý đạo đức nơi con trẻ có nguyên do sự sút kém trong việc giáo dục luân lý đạo đức của cha mẹ trong những năm đầu đời của trẻ.[17] Con cái phản ánh bộ mặt tốt hay xấu của cha mẹ một cách trung thực. Vì vậy, việc giáo dục lương tâm con cái là nhiệm vụ cha mẹ phải làm từ thời thơ ấu và đồng hành với con suốt đời.[18]

Là một cộng đoàn của sự sống và tình yêu, gia đình là một cộng đoàn giáo dục để giúp mỗi thành viên phát triển trong tình yêu.[19] Sự hiệp thông nhân vị là nhiệm vụ của việc giáo dục thường xuyên để có sự hiệp thông giữa những con người, điều mà Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đề xuất như là “nhiệm vụ đầu tiên”.[20]

Bổn phận giáo dục đã được đóng ấn trong ơn gọi làm cha và làm mẹ.[21] Đó là một ơn gọi cộng tác trực tiếp với Thiên Chúa sáng tạo.[22] Vì vậy, ơn gọi giáo dục của cha mẹ Kitô giáo, vừa là một đặc ân vừa là một trách nhiệm lớn lao, đã được Thiên Chúa trao ban. Tuy nhiên, khi cha mẹ dấn thân trong việc giáo dục con cái, họ luôn được Giáo Hội hỗ trợ và khuyến khích để họ thực hiện chức năng.[23]

Sự hiện diện của người cha trong việc giáo dục con cái thì thật quan trọng. Người cha vừa người bảo vệ, nhưng đồng thời hướng dẫn con cái đối diện với thực tại khắc nghiệt để tiến tới đời sống trưởng thành. Thiếu vắng người cha làm cho trẻ thiếu đi tính sáng tạo và lo sợ khi phải đối diện với sóng gió cuộc đời. Sự hiện diện của người cha giúp cân bằng tâm lý cho cả hai phái nam và nữ nơi con trẻ.

Vai trò của người mẹ thì rất quan trọng trong việc giáo dục con trẻ. Thông qua giao tiếp giữa mẹ và con, con trẻ có kinh nghiệm tình yêu và sự an toàn. Quan hệ giáo dục giữa mẹ và con có nguồn gốc của nó ngay cả trong giai đoạn đầu của thai kỳ. Sau khi chào đời, trẻ em hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc mẹ. Thông qua người mẹ, đứa trẻ khám phá thế giới xung quanh.

Vai trò của ông bà trong việc giáo dục bổ sung cho vai trò đó của cha mẹ khi họ ở gần gũi với cháu chắt của mình. Họ giúp cháu mình phát triển về mặt tình cảm và cảm xúc. Họ được coi là những người kể chuyện, bảo vệ và người nói về Thiên Chúa. Qua ông bà con trẻ cũng học được bài học của sự vâng phục.

Tóm lại, gia đình là nơi mà ơn cứu độ của Thiên Chúa ở cùng và đến lượt mình, qua giáo dục gia đình thực thi sứ mạng đem ơn cứu độ cho gia đình mình và cho thế giới.

  1. CỦNG CỐ VIỆC GIÁO DỤC CON CÁI
  2. Củng cố nền tảng việc giáo dục

Dù cách công khai hay kín đáo, cha mẹ luôn có ảnh hưởng trên việc hình thành nhân cách của con cái, “về điều tốt cũng như điều xấu”. Do mang tính ảnh hưởng trực tiếp, bữa ăn chung mang giá trị giáo dục và giá trị sống nhiều hơn là chỉ lo lắng cho tương lai mà đánh mất hiện tại, ấn định thời gian chất lượng cho đối thoại và lắng nghe là một nhu cầu để sống và để làm triển nở tình yêu.[24]

Tình yêu là một trong những bí quyết quan trọng nhất trong việc giáo dục con cái. “Sự phát triển tình cảm và đạo đức của một con người đòi hỏi một kinh nghiệm cơ bản: tin rằng cha mẹ của mình là đáng tin cậy. Đó là một trách nhiệm trong giáo dục: với tình thương và gương sáng cha mẹ tạo sự tin tưởng nơi con cái, truyền cho chúng một lòng kính trọng trong yêu thương”[25]. Tình yêu đó giúp cha mẹ dạy dỗ con cái nên người, giúp con cái thành công, là linh hồn của đời sống nhân bản, đạo đức, tâm lý và văn hóa. Tình yêu đó giúp con cái ổn định và an toàn. Linh mục Bruno Ferrero có một điều răn cho cha mẹ như sau: “Chính cha mẹ phải năng chăm sóc nhau nếu họ muốn chăm sóc con cái mình. Bổn phận đầu tiên của một người cha với con cái mình là yêu thương mẹ của chúng. Và ngược lại”.

Mỗi gia đình đều có lịch sử của riêng nó. Cha mẹ và con cái cần lưu ý về giá trị của lịch sử: Lịch sử là ông thầy dạy khôn, dạy xây dựng tương lai có ý nghĩa. Chuyện kể của ông bà rất tốt vì họ đặt trẻ em và người trẻ trong mối liên hệ với lịch sử của gia đình, thôn làng hay đất nước.

Có anh chị em, có họ hàng thân thuộc là môi trường quý báu để tạo tương quan huynh đệ, trường học lớn dạy sống tự do và hòa bình, học sống chung với nhau cuộc sống làm người. Việc chăm sóc, yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau là một kinh nghiệm mạnh mẽ, tuyệt vời và độc đáo về tình huynh đệ trong gia đình có nhiều hơn một đứa con.

Trường học gia đình cần có những thực hành xây dựng tình tương thân tương ái: “Mỗi ngày gia đình phải sáng tạo những cách thức mới để gia tăng sự nhận biết lẫn nhau”[26].

Để con cái lớn khôn, có một ngôi nhà thắm tình thân ái, cảm thấy thoải mái, có bầu khí ấm cúng và mang trạng thái an bình là nhu cầu, là mơ ước hàng đầu trong các nhu cầu của mỗi người cha người mẹ, mỗi gia đình. Một ngôi nhà bình yên, với cả gia đình cùng đang ngồi quanh bàn tiệc, có ông bà, cha mẹ và con cháu là hồng ân và là phúc lộc Chúa dành cho kẻ kính sợ Người.

  1. Củng cố mục tiêu giáo dục

Đức Hồng y Jean-Louis Bruguès cho biết tự do đích thực là “khả năng con người được thật sự là mình và đạt tới sự sung mãn của mình”. Dự tính của mỗi người con hay mỗi con người xuất phát từ sự “trung tâm tự do”[27] ấy. Đó là một sự tự do có trách nhiệm trong bổn phận làm người. Sự tự do chỉ có nơi người trưởng thành, những người đã được huấn luyện lương tâm cách kỹ lưỡng.

Để có hành động tốt, một hành động đòi hỏi cố gắng và hy sinh từ bỏ, người ta cần “phán đoán đúng”, biết rõ điều phải làm, có động lực thúc đẩy ngay lành và biết rõ sự thiện có thể đạt được.[28] Những hành động xấu xa sẽ là nguyên nhân cho những hậu quả xấu xa. Người gây ra hậu quả xấu phải chịu trách nhiệm vì điều xấu đã gây ra cho người khác: “Điều quan trọng là kiên quyết dạy cho trẻ biết xin lỗi và sửa chữa những thiệt hại gây ra cho người khác”.[29]

Giáo dục giới tính là một công việc quan trọng. Để cho trẻ em và thanh thiếu niên biết sống cho một tình yêu cao thượng và quảng đại, cần phải có một nền giáo dục giới tính tích cực, khôn ngoan và tiệm tiến theo những tiến bộ của tâm lí học, sư phạm và giáo dục.[30]“Đức khiết tịnh là điều kiện quý báu cho sự tăng trưởng đích thật của tình yêu liên vị”[31], “đức khiết tịnh trong bậc sống của mỗi người là có thể thực hiện được và nó chính là nhân tố đem lại niềm vui”[32]. “Giáo dục giới tính cung cấp thông tin, nhưng thông tin phải đến đúng thời điểm theo cách thức phù hợp với lứa tuổi. Sẽ không ích lợi nếu thông tin đó chỉ làm biến dạng khả năng yêu thương của chúng… Nền giáo dục giới tính canh giữ sự e thẹn lành mạnh có một giá trị lớn lao”.[33]

  1. Củng cố đường hướng giáo dục

Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh việc cha mẹ phải có định hướng cho cuộc đời của con cái. Giáo dục con cái là công việc của tình thương, nhưng đó là một loại tình thương có định hướng “giúp trưởng thành sự tự do”, “triển nở toàn diện”, có “sự tự lập đích thật” cho người con. “Những xác tín, mục tiêu, ước muốn, dự tính cuộc đời” của người con là điều mà cha mẹ có bổn phận quan tâm.[34]

Thanh thiếu niên thường xa lạ với việc quản lý thời gian và lên kế hoạch cho tương lai, vì thế tạo cho con cái một kế hoạch hay một mục tiêu cần vươn tới là bổn phận hướng nghiệp của cha mẹ. Kế hoạch cho tương lai sẽ là công cụ để con cái có thể tác động tới những biến cố xảy ra trong cuộc đời theo ý muốn, sẽ giảm thiểu những điều bất lợi.

Thói quen là một hoạt động tự động trong cuộc sống của mỗi cá nhân. Thói quen tốt và mang tính trung dung giúp con người tập trung tinh thần để làm những công việc cần thiết khác. Chính phẩm giá tự do nội tâm và trách nhiệm nên thánh đòi buộc người Kitô hữu phải có trách nhiệm trên thói quen của mình. Những tập quán nhân đức mà cha mẹ và con cái chuyển hóa thành nguyên tắc hành động thuộc nội tâm và bền vững sẽ gia tăng phẩm giá cho họ.[35]

Phạm lỗi là chuyện thường tình của con trẻ do sự bồng bột của tuổi thơ nhiều hơn là do cố ý. Tuy nhiên, không ít cha mẹ tỏ ra lúng túng trước lầm lỗi của con. Yêu con đến mức không sửa dạy những lỗi lầm dù rất nhỏ thì cũng không phải là yêu thương đích thực. Cha mẹ sửa lỗi làm sao để con cái cảm thấy chúng vẫn được quan tâm, yêu mến, tin tưởng và được đánh giá cao về những nỗ lực, tiềm năng và khả năng hướng thiện của chúng, để giải toả cảm tưởng bị đè nặng phải phục tùng ý muốn thống trị của người khác. Không sửa dạy những khiếm khuyết ngay khi còn thơ ấu của con cái, cha mẹ chỉ tạo thêm nhiều khó khăn không chỉ tương lai của con cái mà còn cho cả chính mình. Càng tạo nhiều sự dễ dãi, tạo lối sống không nguyên tắc cha mẹ càng tạo thêm những khó khăn và tập tính tắc trách trong tương lai. Sửa dạy nhưng cha mẹ phải luôn luôn nói “không” với bạo lực trong gia đình. Vì thế, cha mẹ cần khéo léo để giúp trẻ nhận ra “kỷ luật” cần thiết để đào luyện “phẩm giá” con người, là “một kích thích để luôn đi xa hơn”, là “một giới hạn có tính xây dựng của cuộc hành trình” hơn là “một bức tường cản trở”, “một lối giáo dục kiềm chế”, một “sự huỷ hoại ước muốn”.[36]

Một nguyên tắc mang tính sư phạm được phát biểu như sau: Giáo dục đạo đức phải tuân theo quy luật trong giới hạn và quy luật tiệm tiến: “Giáo dục đạo đức bao hàm việc chỉ đòi hỏi một đứa bé hay một người trẻ chỉ những điều đối với chúng không là một hi sinh quá mức chịu đựng, và chỉ đòi hỏi trong mức độ chúng phải nỗ lực mà không gây phẫn uất hoặc cảm thấy bị cưỡng bức. Hành trình thông thường là đề ra những bước nhỏ có thể được hiểu, được chấp nhận và được trân trọng, và bao gồm một sự từ bỏ hợp lí. Ngược lại, nếu đòi hỏi quá nhiều, thì sẽ không được điều gì cả. Con người ta ngay khi có thể được giải thoát khỏi quyền bính, có thể sẽ thôi không còn làm điều tốt nữa”.[37]

Trong đời sống gia đình không thể để bao trùm lối nghĩ thống trị lẫn nhau và sự cạnh tranh để xem ai là người thông minh hơn hay quyền lực hơn, vì như thế sẽ làm hủy diệt tình yêu. Lời khuyên cho gia đình sau đây cũng thật đáng giá: “Tất cả anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1 Pr 5,5).[38]

Cha mẹ có vai trò quyết định trong việc sống và truyền đạt khả năng chờ đợi trên con cái: “Giáo dục khả năng biết chờ đợi, biết trì hoãn không phải là khước từ ước muốn, nhưng là làm chậm lại sự thỏa mãn của mình”. Khả năng này đòi hỏi con người phải có “tinh thần hy sinh, một điều mà không có nó không một tình yêu nào có thể đứng vững dài lâu”, “quý mến và thực hành sự tự chủ và sự kiềm chế”, “vun xới thái độ nhẫn nhục”, “biết trì hoãn một số điều và học biết chờ đợi cho tới thời điểm phù hợp”, có “sự nhạy cảm với bệnh tật của con người”, “có chương trình giáo dục cảm xúc và bản năng”. “Khi trẻ em hoặc thanh thiếu niên không được giáo dục để chấp nhận rằng có những điều phải chờ đợi, chúng sẽ trở thành những kẻ kiêu căng độc tài, bắt mọi sự phục tùng để thỏa mãn nhu cầu trước mắt của chúng và chúng lớn lên cùng với thói hư muốn có “tất cả ngay lập tức” . Đó là một sự lừa dối kinh khủng vốn không giúp cho tự do triển nở, mà còn làm hại tự do”.[39]

Tóm lại, “nghề làm người” đòi hỏi phải có những nguyên tắc. Củng cố việc giáo dục con cái cũng chính là củng cố tình yêu giữa cha và mẹ. Việc giáo dục ở đây có phương pháp dựa trên tình yêu và trách nhiệm, có sự hỗ trợ của các môn khoa học nhân văn cũng như sự trợ giúp của Giáo Hội. Mức độ ý thức, hiểu biết, nhiệt tình, hợp lý và thích đáng trong việc giáo dục sẽ đo lường sự thành công của cha mẹ trong nhiệm vụ khó khăn và quan trọng này. Một nguyên tắc chủ đạo cho các cha mẹ Kitô hữu là có Chúa Giêsu trong cuộc sống gia đình mình. Như lời Người đã nói: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).

III. THỰC HÀNH VIỆC DẠY DỖ CON CÁI

Việc giáo dục thời nay có nhiều khó khăn do môi trường xã hội, do sự vắng mặt thường xuyên của cha, của mẹ hoặc của cả cha lẫn mẹ, do cha mẹ thiếu một phương pháp giáo dục đúng đắn. Vì vậy, điều tiên quyết là cha mẹ có bổn phận dành nhiều thời gian để ở với con cái, tìm yêu mến và hiểu biết con cái nhiều hơn nữa và biết dạy dỗ theo phương pháp đúng đắn, luôn bắt kịp với thời đại để có những chỉ dẫn thích hợp cho con cái.

Khoa học ngày nay chứng minh rằng việc tiếp xúc thân tình giữa cha mẹ với con cái từ khi còn nhỏ rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách và sức khỏe của trẻ. Thế nhưng, thật ngạc nhiên khi thống kê cho thấy rằng ở nhiều nơi, những người cha dành không quá một phút mỗi ngày để tiếp xúc cách gần gũi và thân thương với những đứa con của mình và không quá 5 phút để thực tình dạy dỗ con cái.

Cha mẹ nên thu xếp để cả gia đình có thể: Ăn uống chung với nhau, và lưu ý rằng truyền hình phải được tắt đi; Đọc cho nhau nghe: đem lại niềm vui, sự hiểu biết, mang lại niềm đam mê đọc sách, học hành; Gia đình sum họp cầu nguyện: giúp ích cho việc giữ gìn sự hợp nhất gia đình, làm phong phú về đời sống tâm linh; Tổ chức mừng những ngày bổn mạng, ngày sinh nhật, ngày kỷ niệm… của các thành viên trong gia đình.

Muốn giáo dục con cái, trước hết cha mẹ phải yêu mến và hiểu biết con cái. Họ phải biết sở thích của trẻ: Cuốn sách mà trẻ mới đọc sau cùng là gì? Món ăn khoái khẩu và ghét thậm tệ của trẻ? Món quà nào mà trẻ ao ước nhất? Trong số những cái mà trẻ có được, cái nào có tầm quan trọng nhất đối với chúng? Người bạn thân nhất của đứa trẻ là ai? Ca sĩ trẻ yêu thích? Trẻ thích thể loại âm nhạc nào? Môn thể thao nào giúp trẻ khuây khỏa hơn cả? Cha mẹ xét đến tương quan của con với tha nhân: Ở trường các bạn tặng cho trẻ biệt danh gì? Ngoại trừ thành viên trong gia đình, người nào có ảnh hưởng nhất đối với trẻ? Giáo viên nào được trẻ yêu thích nhất?

Cha mẹ phải hiểu biết tâm lý của trẻ: Trẻ có mặc cảm vì ngoại hình (mập, lùn, gầy…)? Trẻ cảm thấy thất vọng hay hài lòng về điểm số ở trường? Trẻ có hay vi phạm nội quy? Trong năm nay, điều nào đã làm trẻ thất vọng nhất? Trẻ có thường cảm thấy sợ hãi không? Trẻ có khả năng kiểm soát hành vi của mình không? Trẻ có ước vọng gì cho tương lai? Nhận thức có được về cái chết là gì?

Cha mẹ nên tự hỏi mình đã quan tâm con đến mức nào: Lần gần nhất tôi nói chuyện thân tình với con là khi nào? Đâu là những câu mà tôi thường nói nhiều nhất? Được bao nhiêu lần (và khi nào) tôi đã nói câu này: “Cha mẹ rất thương con”, “cha mẹ tự hào về con”? Tôi thường khuyến khích con? Tôi có biết thừa nhận những tiến bộ của con mình không? Tôi có sử dụng tiền bạc như một phương tiện để hứa hẹn với con cái và tự miễn thứ cho những hành vi quá độc đoán hoặc bù trừ sự “thiếu sót” trong tư cách làm cha mẹ? Con tôi có yêu căn nhà mình ở không? Tôi có coi căn nhà mình ở là nơi quan trọng nhất trong số những nơi mà tôi lui tới không? Máy truyền hình có choáng mất nhiều chỗ trong nhu cầu của trẻ và những giờ phút thân tình trong gia đình? Lần gần nhất tôi cùng cầu nguyện với con mình là khi nào?

  1. Môi trường giáo dục tại gia đình

Nguyên nhân chủ yếu gây căng thẳng xuất phát từ chính gia đình trước khi nó đến từ những nguyên nhân khác: bầu khí gia đình bị ô nhiễm nghiêm trọng do bố mẹ giận dữ, cãi vã và đánh lộn nhau. Khi trẻ quá lo âu có thể bị trầm cảm, rối loạn tiêu hóa, hoặc có cách ứng xử cứng cỏi: hay cãi, ngôn ngữ tục tĩu, tính khí thất thường, xấc láo bất cẩn, trộm cắp, quan tâm đến nội dung khiêu dâm… Khi gặp hiện tượng bên ngoài, cha mẹ thường khiển trách nặng lời mà ít khi chịu lội ngược dòng truy tìm nguyên nhân.

Các nhà tâm lý học đã cho biết rằng có đến khoảng 68% những gia đình mà cha mẹ không hòa thuận thì có con cái hư hỏng. “Tình yêu liên kết cha mẹ lại là đá tảng vững vàng trên đó con cái có thể xây dựng đời mình”. Dù còn bé, một đứa trẻ cũng cảm nhận được sự hiện diện của tình yêu chân thật và vị tha nơi gia đình. Đó là điều vô cùng quan trọng mà cha mẹ cần phải biết để chu toàn đối với hạnh phúc và tương lai của con cái mình. Bởi thế, các bậc cha mẹ cần phải dành thời giờ tâm sự với nhau, hòa giải các điểm bất đồng và “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.

Tạo bầu khí vui tươi, bình an trong gia đình mình phải là ưu tiên hàng đầu của cha mẹ. Gia đình phải là tổ ấm thân mật cho sự nghỉ ngơi cho thể lý và tinh thần, và đặc biệt là cung thánh của những tâm tình tôn giáo, nơi mà người ta được học biết về Thiên Chúa là Cha yêu thương, học biết tha thứ, hy sinh cho nhau… Muốn được như vậy, phải tạo nên “tinh thần gia đình” bằng cách mọi thành viên đều cùng tham gia để xây dựng gia đình mình, phải có khả năng để cùng nhau làm điều gì đó. Mỗi người đều được người khác đánh giá cao về bất cứ mặt tốt nào. Triết gia John Dewey nói: “Ham muốn lớn nhất của con người là ước muốn được người khác đánh giá cao, được người khác cho mình là quan trọng”. Khi gia đình có vấn đề, điều cần thiết là đừng ai hỏi “Lỗi tại ai?” nhưng bao giờ cũng là: “Chúng ta có thể giải quyết vấn đề bằng cách nào?” để không ai phải thua cuộc, phải mất mặt.

Các phương tiện truyền thông đại chúng ngày nay có ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách mỗi cá nhân và vì thế ảnh hưởng đến bầu khí gia đình. Về mặt luân lý đạo đức, những phim ảnh bạo lực và tình dục không chỉ làm chai cứng tâm trí của người lớn mà còn phá hủy sự an bình và trong trắng của trẻ thơ và thanh thiếu niên. Về mặt sinh học, việc trẻ xem ánh sáng xanh của màn hình quá sớm và quá nhiều có ảnh hưởng xấu đến cấu trúc của đại não do dòng âm cực sản sinh ra từ điện áp 20,000. “Tắt Tivi, bật ý tưởng” là châm ngôn truyền miệng của cha mẹ người Nhật.

  1. Biết lắng nghe và biết lựa lời mà nói với con

Lắng nghe con nói là việc không dễ dàng. Những người bị sang chấn tâm lý cho biết hồi nhỏ không tìm được sự an ủi của cha mẹ. Theo các chuyên gia tâm lý, nhiều cha mẹ đang mắc phải những sai lầm khó sửa trong việc nuôi dạy con đó là ít lắng nghe, hoặc lắng nghe con cái không đúng cách. Để rồi, khi con trẻ không phát biểu được ý kiến của mình, sẽ trở nên tự ti, mặc cảm, không dám khẳng định mình, và rồi dẫn đến nguy cơ tự đánh mất bản thân. Cha mẹ cần nắm một số quy tắc vàng của lắng nghe: Biết lắng nghe không chỉ với đôi tai, mà cả với đôi mắt cách ân cần. Có những lời gợi ý nhẹ nhàng như “Chà… Nó phải gây cho con khó khăn đấy… và rồi điều gì sẽ xảy ra nhỉ?”. Đừng vừa làm việc vừa nghe: nếu thấy việc quan trọng hơn điều trẻ cho là khẩn cấp, hãy sắp xếp với trẻ lúc nào cha mẹ có thể lắng nghe kỹ lưỡng. Đừng vội lấp đầy khoảng trống bằng những lời khuyên bảo, cảnh cáo, yêu cầu, hoặc lời nói tiêu cực: “Chỉ thằng ngốc mới làm điều đó”, “mày vụng về quá” “sao yếu đuối thế”, …

Nói lời yêu thương là thói quen hữu ích. Một cô bé thường mẹ bị mắng: “Con bé hàng xóm nó cũng ăn cơm mà sao nó học giỏi còn mày dốt thế”, “giá như tao đẻ được đứa con như nó”. Cô bé đã bị tổn thương nặng nề, và di chứng còn mãi về sau không thể xóa nhòa, ngay cả khi cô đã thành người lớn: “Nếu có phép màu, tôi ước sẽ xóa nhòa được những ký ức đau buồn về mẹ.” Một người thường xuyên bị phê bình, chỉ trích, và bị ngược đãi trong gia đình sẽ khó hay không thể có một nhân cách lành mạnh. Bởi thế, cha mẹ cần nhớ công thức: P: T = 1 : 5. Nghĩa là khi đứa trẻ bị trừng phạt (P) 1 lần trong một ngày, để bù vào sự trừng phạt đó, nó phải nhận được 5 lời khen ngợi hay phần thưởng (T).

Khả năng yêu thương được diễn tả qua phép lịch sự: “qua phép lịch sự, tôi chăm chú và tỏ ra lịch thiệp với tha nhân. Nó là hình thức sơ đẳng không thể thiếu được cho đức công bình và bác ái” (Jean-Louis Bruguès). Tông huấn Niềm vui yêu thương phát biểu rất tuyệt vời qua một định nghĩa ngắn gọn: “Yêu thương cũng có nghĩa là làm cho mình đáng yêu”. “Ai yêu thương thì có khả năng nói những lời động viên có sức vỗ về, trợ lực, an ủi, khích lệ”; Trong gia đình, chúng ta cần học cách ăn nói hòa nhã với nhau của Đức Giêsu: “Này con, cứ yên tâm!” (Mt 9,2); “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật!” (Mt 15,28); “Hãy trỗi dậy đi!” (Mc 5,41); “Chị hãy đi bình an” (Lc 7,50); “Anh em đừng sợ” (Mt 14,27). “Bạn muốn tôi làm gì cho bạn?” (Mc 10,51).[40]

Ba từ thiết yếu[41] cần được nói trong gia đình là từ “permesso = xin phép” thể hiện sự nhún nhường, hiếu hoà; “grazie = xin cám ơn” bộc lộ tính vị tha, khiêm nhường; “scusa = xin lỗi” cho thấy tính thành thật, khiêm tốn. Thái độ khiêm nhượng nuôi dưỡng tình yêu, gây tin tưởng, đem lại hy vọng, bình an và niềm vui cho tâm hồn và cho gia đình. Một nhân cách trưởng thành sẽ không ngần ngại để nói với tất cả sự khiêm tốn và quảng đại.[42]

Theo linh mục Bruno Ferrero, những câu đối thoại mang tính xây dựng giúp bầu khí gia đình biến đổi, gây ấn tượng tích cực cho bản thân, rất cần cho con cái phát triển quân bình và tin tưởng vào cha mẹ như: “Anh yêu em”, “Cha mẹ rất yêu thương con”, “Con rất xinh”, “Cha mẹ thật hạnh phúc khi có con trong đời”, “Hãy tin tưởng vào bố mẹ!”, “Con đang nghĩ gì vậy?”, “Con có thể khóc nếu con muốn”, “Ba mẹ muốn lắng nghe con. Hãy nói cho ba mẹ biết!”, “Tại sao con không muốn điều đó?”, “Ba má tin tưởng con”, “Thật tuyệt vời khi quây quần bên nhau”, “Ba mẹ rất tự hào về con” v.v…

  1. Những món quà mà cha mẹ có thể trao tặng cho con cái

Bí quyết mà Don Bosco truyền lại cho các nhà giáo dục là “Hãy cố gắng làm cho mình được yêu mến”. Cha mẹ cần dạy con biết yêu mến người khác, và chính cha mẹ cũng phải luôn tỏ cho con cái biết là chúng được yêu thương. Cha mẹ càng biểu lộ lòng yêu mến đối với con cái, thì khi về già càng nhận được sự yêu mến và lòng biết ơn của chúng.

Vun trồng cho con trái tim nhạy cảm và lòng trắc ẩn giữa một xã hội mà bạo lực học đường có khuynh hướng gia tăng. Trước nỗi đau đớn và thống khổ của người khác, cha mẹ cần dạy con cái biết lưu tâm đến tha nhân, giúp đỡ họ những nhu cầu cần thiết, dạy cho các em biết kính trọng và cảm thông với người khác cách sâu xa, đồng thời biết đọc ra sự cô đơn, thống khổ đang đè nặng trên người khác. Bởi vì theo triết gia Alfred Adler: “Kẻ nào không quan tâm đến người khác, chẳng những sẽ gặp nhiều sự khó khăn nhất trong đời, mà còn là người có hại nhất cho xã hội”.

Tập cho con sống khoan dung. Thật khó để tránh được một ngày mà không có ai làm ta bực mình. Vì thế học biết khoan dung tha thứ là một kỹ năng sống. Muốn tha thứ, trước hết cần phải cầu nguyện cho kẻ xúc phạm mình, ít nhất là đọc một kinh Kính Mừng cho họ, rồi mọi sự sẽ êm dịu nhanh chóng. Ngoài ra, nếu tận mắt thấy cha mẹ tha thứ cho nhau, trẻ sẽ dễ dàng biết cách tha thứ cho tha nhân.

Dạy con sống thành thật. Bí quyết lớn nhất của sự thành công là sự thành thật. Sự thành thật đúng nghĩa đòi hỏi phải biết cả điều dở lẫn điều hay của mình. Phải nhìn nhận các khuyết điểm của mình đồng thời phải cố gắng phục thiện. Thông thường, trẻ em có thói quen nói dối do yếu đuối và sợ hãi hình phạt từ cha mẹ. Bởi thế, cha mẹ nên dùng những lời có phép thần diệu sau: “Cảm ơn con đã cho cha mẹ hay biết sự việc. Cha mẹ thật sự tin tưởng con”. Và một điều thiết yếu, gương sáng còn hiệu quả hơn: chỉ những bậc cha mẹ biết tôn trọng người khác, sống đứng đắn và đáng kính nể mới có thể dạy bảo sự tôn trọng, lòng trung thực và chữ tín cho con cái mình.

Nhắc nhở con cái phải biết ơn Thiên Chúa và tha nhân. Don Bosco thường nói với các học sinh: “Chúng ta hãy khóc thương kẻ vô ơn, vì họ không được hạnh phúc”. Lòng biết ơn là một trong những biểu lộ cao đẹp của tình yêu. Bởi thế, cha mẹ không chỉ dạy con cám ơn bằng lời mà còn bằng ánh nhìn, cử chỉ và nụ cười. Ngoài ra, cha mẹ cũng cần dạy cho trẻ phải biết cầu nguyện cho người đã làm điều tốt cho mình, một cách đáp trả cao quý, tế nhị. Ngoài ra, trẻ cũng cần học biết cám ơn qua thư từ, và bằng quà biếu. Đặc biệt, cha mẹ cần dạy trẻ biết cảm tạ Thiên Chúa luôn, vì Người là nguồn mạch của mọi điều tốt lành.

Tập cho con sống khiêm nhường. Có hình ảnh nào đẹp hơn khi Chúa Giêsu vốn là thầy, là Chúa mà còn cúi xuống rửa chân cho các môn đệ? Cha mẹ hãy dạy con sống khiêm nhường ngay từ nhỏ, bởi vì “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1P 5,5). Cha mẹ nên dạy con không được chỉ trích người khác mà hãy nhìn vào những điểm mạnh của họ. Nếu con cái mình chăm ngoan học giỏi thì hãy nói với con rằng đừng khinh thường những bạn học yếu hơn, vì chưa chắc những lĩnh vực khác mình đã bằng họ. Đồng thời, nên khuyên bảo con kiến thức đó để giúp đỡ các bạn thay vì đi khoe khoang về sự thông minh của mình. Cha mẹ cũng cần cho trẻ biết việc thừa nhận sai sót của mình là rất cần thiết và điều đó lâu dần sẽ giúp bé trở thành người khiêm tốn. Cuối cùng và quan trọng nhất, cha mẹ cần chỉ cho con trẻ biết rằng những gì mình có đều là nhờ hồng ân của Thiên Chúa.

Dạy con sống tiết độ. Thánh sư Tôma Aquinô cho rằng đức tiết độ là gốc rễ sâu xa cho cả đời sống thiêng liêng lẫn đời sống cảm xúc. Sự tiết độ là vẻ đẹp của nhân cách: một cách tự nhiên, mọi người đều tỏ lòng khâm phục những ai biết tự kiềm chế và làm chủ được bản thân. Cha mẹ cần dạy con cách sử dụng tiền bạc, tránh xa cạm bẫy của chủ nghĩa tiêu dùng thái quá. Cha mẹ cần truyền sức mạnh để con cái không bị quảng cáo mê hoặc, cái bẫy của hàng “hiệu”, hàng “độc”, hàng “cầm tay”, hàng “đời mới”  Cha mẹ là những hướng dẫn viên cho con cái trong khu rừng rậm rạp của nạn khiêu dâm hiện nay. Ngoài ra, cha mẹ cần dạy con: “y phục xứng kỳ đức – ăn mặc hợp với phẩm giá”.

Giúp con sống dũng cảm. Lòng dũng cảm không được nhầm lẫn với sự liều lĩnh vô ý thức hoặc sự tàn bạo đến từ một số anh hùng trong phim ảnh. Ngày nay, dấu hiệu của lòng dũng cảm là khả năng bảo vệ những ý tưởng đặc thù của mình, không phải với tính bướng bỉnh. Đặc biệt, người can đảm phải dám “kiên trì và quyết tâm theo đuổi điều thiện”, bảo vệ công lý, cho dù gian nan thử thách cũng không khiếp sợ. Ngay từ nhỏ, con cái cần được cha mẹ khuyến khích để thực hành và tự đảm nhận những nhiệm vụ và công tác rõ ràng trong gia đình, nơi trường học và giáo xứ. Đồng thời, can đảm để trung thành với những điều đã cam kết.

Tập cho con sống lạc quan. Một gia đình đang vật lộn với khó khăn trầm trọng, người mẹ nói với các con: “Đừng khóc khi mặt trời mất, vì nước mắt sẽ ngăn cản ta chiêm ngưỡng những vì sao”. Bọn trẻ không bao giờ quên lời mẹ khi đã lớn khôn. Lạc quan, yêu đời trong cuộc sống đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe như giảm stress, chống trầm cảm, tăng cường miễn dịch, giúp sống thọ   Nếu trẻ

thường nghĩ tiêu cực rằng: “Mình là kẻ bất tài vô dụng” thì rồi nó cũng sẽ trở thành kẻ chẳng làm được gì. Vì vậy, cha mẹ cần tạo dựng lòng tin, niềm lạc quan, yêu đời cho trẻ, giúp trẻ chống lại khuynh hướng mặc cảm tự ti. Bởi vì, lạc quan không phải là đặc tính “bẩm sinh”, nhưng được tạo dựng từ sự tự tin của bản thân và sự hỗ trợ của cha mẹ.

Trong cặp sách học sinh của một bé gái có tấm thiệp: “Con gái cưng của mẹ, mẹ biết con buồn chán vì sổ học bạ có điểm kém. Con đừng lo lắng. Con có nhiều điểm xuất sắc mà chính mẹ và cha tin rằng chúng thật quan trọng trong cuộc sống! Con thật thà, trách nhiệm và tự chủ. Con thật sự là một người tuyệt vời!”. Chỉ có cha mẹ là những người có thể làm cho trẻ xác tín rằng: “Mình có thể làm được điều đó”. Bởi vậy, nên khuyến khích trẻ thường xuyên. Câu nói: “Cha mẹ thực sự tự hào về con” là một câu nói có phép kỳ diệu.

Giúp con chế ngự tính khí thất thường của tuổi mới lớn. Một ông bố răn dạy con mình: “Con có thể tức giận với chính mình hoặc với em gái, nhưng con sẽ không bao giờ được phép đánh đập em hay bất kỳ ai khác. Riêng việc đấm đá thì không bao giờ. Bây giờ, hãy lui vào phòng của con và nhắc nhở bản thân mình rằng không bao giờ đánh đập em hoặc bất cứ ai khác”. Tính khí thất thường hay ngự trị trong trẻ, đặc biệt trong những đứa trẻ ở độ tuổi “khủng hoảng” (dậy thì) , nó “thúc ép” trẻ làm điều sai trái khiến chúng phải hối tiếc. Cha mẹ phải thường xuyên nhắc nhở con cái để chúng ý thức kiểm soát tính khí của mình.

  1. Giáo dục về đời sống tâm linh, điều không thể thiếu

Gia đình phải là cái nôi của tâm tình tôn giáo. Một lần khi còn bé, Gioan Bosco và anh trai cùng ngước nhìn bầu trời sao lấp lánh, thốt lên: “Mẹ ơi, đẹp quá!”. Mẹ Margherita nói: “Các con coi, trời chúng ta đẹp như thế, thì Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên còn đẹp đẽ hơn biết chừng nào”. Gia đình là cái nôi, nơi bắt nguồn đời sống tâm linh: Trẻ em khám phá ra Thiên Chúa nơi cha mẹ chúng vì “không ai thấy Thiên Chúa bao giờ” (Ga 6, 46). Nhờ vậy, chúng tìm ra ý nghĩa của các ngôn từ như: tiếp đón, trung thành, hy sinh,… Việc cầu nguyện cùng với cha mẹ là một trong những kinh nghiệm gây ấn tượng khó phai trong tâm trí trẻ. Cha mẹ hãy tìm cách giúp con nuôi dưỡng tương quan thân tình với Thiên Chúa. Cha mẹ cần tạo ra các nghi thức, chẳng hạn: đọc những đoạn Thánh Kinh và cầu nguyện với một ngọn nến thắp sáng; tổ chức cầu nguyện ngày mừng sinh nhật, bổn mạng, ngày giỗ, kỷ niệm ngày cưới và những ngày đặc biệt khác…

Cha mẹ cũng cần giáo dục về đau khổ, sự chết, và việc dọn mình chết lành cho con cái. Cha thánh Bosco luôn muốn thanh thiếu niên của ngài nghĩ về cái chết của chính mình để loại bỏ những gì gây lo lắng và sợ sệt. Trước hết và trên hết, là việc loại bỏ tội lỗi. Trẻ nhỏ thường có cảm giác về bản thân như siêu nhân, như “cái rốn của vũ trụ”. Nếu không được chuẩn bị kỹ lưỡng trước, chúng có thể bị chấn thương tâm lý khi tiếp xúc với thực tế phũ phàng. Bởi thế, hãy cho trẻ biết rằng: nỗi đau thương gắn liền với đời người như hình với bóng, đời người vắng bóng đau khổ cũng được hiểu là đời người vắng bóng niềm vui. Cha mẹ cũng cần học hỏi để biết cách trả lời cho những câu hỏi của trẻ em đặt ra về sự chết, tránh làm chúng khiếp sợ. Bởi lẽ, theo đức tin Công giáo, sự chết chỉ là cửa ngõ đi vào cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu mai sau. Cha mẹ cũng cần dạy con “Dọn mình chết lành”, bao gồm việc xưng tội và rước lễ vào đầu mỗi tháng như thể đó là lần cuối cùng trong đời. Nhờ đó trẻ sẽ sống có trách nhiệm hơn, yêu đời hơn. Cha mẹ cũng cần dạy con cầu nguyện cho người đã khuất. Hãy dạy trẻ em đọc câu: “Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ…”, “Giêsu – Maria – Giuse, con mến yêu, xin cứu rỗi các linh hồn”, khi gặp đám tang hay đi qua nghĩa địa. Việc dự lễ, xin lễ và rước lễ để cầu nguyện cho người quá cố cũng giúp cho họ rất nhiều, vừa xoa dịu được nỗi đau đớn và rút ngắn được thời gian phải họ phải chịu thanh luyện trong luyện ngục.

  1. Một số điều lưu ý cha mẹ khi sửa dạy con

Đừng để “mất bò mới lo làm chuồng”. Chị đầu bếp nói với Don Bosco: “Chúng con mua được một số táo tươi ngon dành cho bữa ăn trưa và bọn trẻ đã ăn cắp hết!”. Don Bosco nói với chị: “Điều sai trước hết không phải là do bọn trẻ, mà là do các con”. Sau đó, ngài nhờ người làm cái rào chắn gắn bên cửa sổ để không bao giờ tạo cơ hội phạm tội cho bọn trẻ. Đa số các tình huống được các học giả phân chia thành ba giai đoạn: giai đoạn trước khi xảy ra sự kiện, giai hành xử của con cái, giai đoạn xảy ra hậu quả. Thông thường, hầu hết các bậc cha mẹ ứng xử khi sự việc đã đến giai đoạn 3 mà ít lưu ý đến việc phòng ngừa từ giai đoạn đầu.

Đừng áp đặt nhưng hãy đối thoại. Người mẹ nói với con: “Công việc của mẹ quá nhiều làm sao mẹ còn thời gian để dọn dẹp căn phòng của con, ít ra con cũng phải dọn dẹp căn phòng của mình cho sạch sẽ vào những ngày con nghỉ học chứ?”. Cả hai mẹ con đã tìm ra một giải pháp mà không phải bực dọc ra lệnh, kèm với thái độ bất mãn phản ứng lại. Các cha mẹ thường sai lầm khi dùng quyền hành để áp đặt ý muốn của mình trên con cái. Khi bị áp đặt, chúng thường có những phản ứng: bất mãn, căm ghét, nổi loạn và bỏ nhà ra đi; hoặc khi chúng không nghe, cha mẹ sẽ phải tủi nhục và khổ tâm. Cha mẹ cần tìm cách khuyến khích con cái thi hành quyết định để tập cho chúng suy nghĩ và xử lý vấn đề thì tốt hơn là áp đặt quyền bính hay đe dọa, vì trẻ sẽ tự hào vui vẻ nghe theo bởi được coi là “bình đẳng”, là “người lớn”. Hình phạt và lời la mắng chỉ nên dùng ở mức tối thiểu.

Đừng lạm dụng hình phạt. Don Bosco khuyên rằng những nhà giáo dục đừng lạm dụng hình phạt, và đặc biệt, hãy tránh hạ nhục trẻ em. Một nhà giáo dục danh tiếng khác cũng nói: “Những trẻ em ở nhà bị đánh đòn, chúng thường hay đánh bạn ở trường và rồi chúng sẽ đánh vợ, đánh chồng nó sau này”. Khi sửa dạy trẻ, cha mẹ cần tránh hai thái độ sau: (1) Cho rằng các nết xấu của con cái là chuyện vặt vãnh; hoặc dễ dãi nhượng bộ, vô tình làm cho trẻ hiểu rằng: “À, cứ làm rùm beng lên rồi sẽ được điều mình muốn”. (2) Can thiệp cách tàn nhẫn, kèm theo lời lăng mạ và chửi bới. Tốt nhất, cha mẹ cần tỏ rõ thái độ không chấp nhận những hành vi xấu của trẻ nhưng cũng tỏ cho trẻ biết rằng cha mẹ luôn muốn điều tốt cho chúng. Bởi thế, chẳng có gì là mâu thuẫn khi một người cha ôm hôn con cái và nói rằng ông muốn điều tốt cho em sau khi đã khiển trách vì em đã cư xử không tốt.

Vài lưu ý khi sửa dạy trẻ: vì trẻ thường quên ngay lỗi lầm đã phạm nên phải sửa ngay lập tức; con cái bị trách mắng cách đúng đắn khi đó là lỗi của chúng chứ không do sự bực dọc hay mệt nhọc của cha mẹ; vì trẻ nhỏ rất nhạy cảm nên cần phải giơ cao đánh khẽ, sửa dạy với mức độ vừa phải.

  1. Cần đồng hành và quan tâm đến việc học hành của con cái

Phụ huynh quan tâm nhiều đến việc trường lớp, thì con cái sẽ học hành khá hơn. Theo một vài nghiên cứu, trẻ em có phụ huynh quan tâm đến những hoạt động ở trường lớp như: tham gia hội phụ huynh học sinh, hỏi con về trường lớp, các bạn bè của trẻ, giúp trẻ làm bài tập, thời khóa biểu, các môn học ở lớp, sách vở được giao cho đọc, sinh hoạt ngoại khóa… thì con cái sẽ đạt được kết quả học hành mỹ mãn hơn những trẻ mà phụ huynh chẳng màng ngó ngàng gì. Cha mẹ có bổn phận tìm ra những lý do để khen ngợi và khuyến khích con cái, những lý do thường có rất nhiều nơi trường lớp, và tuyệt đối nên tránh những lời sỉ vả và chế giễu. Ngoài ra, cha mẹ cần giúp con nhớ nguyên tắc: “Chưa học xong bài chưa đi ngủ, chưa làm bài đủ chưa đi chơi”.

Giúp trẻ phát triển óc sáng tạo. Khả năng sáng tạo cần cho cuộc sống rất nhiều máy móc ngày nay. Cha mẹ Việt Nam thường thích con trẻ vâng lời hơn là sáng tạo; thích trẻ làm theo sự chỉ dẫn của mình hơn là có ý tưởng riêng; thích áp đặt cách làm của mình hơn là để trẻ được tự do thể hiện ý tưởng. Lối giáo dục đó chỉ làm chúng ta càng ngày càng tụt hậu. Mỗi trẻ em đều tiềm ẩn năng lực sáng tạo, vấn đề là người lớn biết cách để khơi dậy nguồn sáng tạo hay là ngăn cản. Cha mẹ hãy trao ban cho trẻ quyền có một không gian riêng để: đọc sách báo, sắp xếp các bộ sưu tập, suy nghĩ. Hãy khuyến khích trẻ ham hiểu biết, đừng đưa ra những câu giải đáp quá đơn giản trước các câu hỏi liên tục của trẻ, và cố gắng đừng bực mình trước cái ước muốn khám phá không ngừng của chúng. Hãy nói cho trẻ về sự hùng vĩ của thiên nhiên, về sự tốt lành, công lý, thế giới mộng tưởng và những tư tưởng lớn.

Giúp con vượt qua lứa tuổi khủng hoảng. Khoảng từ mười hai đến mười lăm tuổi, trẻ em trải qua một giai đoạn bão táp. Tình bạn trong giai đoạn này rất là quan trọng. Ở trường trẻ khó dạy hơn, ở nhà thì dường như trở thành kẻ xa lạ. Trẻ thường nghe theo bạn bè hơn là cha mẹ, và có những biểu hiện “nổi loạn” như đi chơi về muộn, thích chưng diện hay sao nhãng việc học hành… Các nhà tâm lí cho rằng đó là những biểu hiện bình thường mà hầu hết ai cũng phải đối mặt. Và hơn lúc nào hết, đây là thời điểm mà các bậc cha mẹ cần bình tĩnh, bao dung, chia sẻ và lắng nghe để các em cảm nhận được sự quan tâm, từ đó chủ động gần gũi với cha mẹ thay vì tự cô lập bản thân. Cha mẹ phải đóng vai trò như người dẫn đường của con để tuổi dậy thì trôi qua nhẹ nhàng và an toàn.

Giúp con tránh những băng nhóm xấu. Một nhà phân tâm học đã nghiên cứu về nhiều băng nhóm trẻ gây nhiều tội ác và thấy rằng hầu hết các thành viên đều có một điểm chung: thuộc những đứa trẻ mồ côi, những gia đình rạn nứt đổ vỡ hoặc cha mẹ dửng dưng hoặc ít quan tâm đến việc dạy dỗ. Thời nào cũng có các băng nhóm thanh thiếu niên. Khoảng từ 8 tuổi, trẻ em đã có thể rủ nhau kéo bè, hợp thành băng nhóm với những tên gọi tùy hứng và thường xuyên tranh cãi, đánh lộn với các băng nhóm khác. Đây là một hình thức mô phỏng theo các hiệp hội của người lớn và nhiều khi để chống lại người lớn. Cha mẹ cần bảo vệ con cái, và khuyên răn chúng tránh những băng nhóm xấu.

Giúp con tránh khỏi những kẻ bắt nạt ở trường. Một phụ huynh ở Hà Nội chỉ biết con bị bắt nạt suốt một thời gian dài ở trường cho đến khi có người gọi điện thông báo. Nguy hơn, bố mẹ cô nữ sinh cấp III này lúc ấy mới biết con gái mình từng cố gắng tự tử nhiều lần bằng thuốc ngủ. Cô bé chỉ đồng ý kể lại sự việc khi đã trải qua rất nhiều lần tư vấn với chuyên gia tư vấn học đường. Đa phần các học sinh bị bắt nạt tại trường không dám kể lại mọi việc với cha mẹ, bởi vì sợ bị bạn trả thù, tẩy chay hoặc bản thân các em chưa tin tưởng vào bố mẹ, thầy cô có thể giúp đỡ mình vượt qua khó khăn. Cha mẹ có thể nhận biết những dấu hiệu trẻ đang bị bắt nạt tại trường như sau: có các vết bầm tím, biểu hiện mệt mỏi, đau đầu, khó ngủ, hay gặp ác mộng, quần áo nhem nhuốc, xộc xệch, sách vở bị mất hoặc phá hỏng, tính cách thay đổi biểu hiện ít nói hơn, lo lắng hơn, căng thẳng, hay cáu gắt. Nếu trẻ bị bắt nạt kéo dài, ở mức độ nghiêm trọng có thể còn biểu hiện triệu chứng tuyệt vọng, không dám đi học, sợ trường học, ám sợ xã hội, bị sang chấn hoặc có xu hướng tự tử. Khi nhận thấy bất cứ dấu hiệu cảnh báo nào cho thấy con có thể đang bị bắt nạt tại trường học, cha mẹ đừng bỏ qua và tặc lưỡi “Chuyện trẻ con ấy mà!”. Hoặc ngược lại, nhiều bậc cha mẹ không chỉ giận kẻ đã bắt nạt mà họ còn bực vì con mình không kể lại sự việc sớm hơn. Nhưng “tiên trách kỉ, hậu trách nhân”, cha mẹ hãy xem lại liệu mình đã đủ gần gũi với con cái chưa?

  1. Hãy để trẻ vui chơi trong thiên nhiên, một người mẹ tuyệt vời

Người Nhật để con trẻ tiếp xúc với môi trường thiên nhiên ngay từ nhỏ nhằm giúp tăng sức đề kháng và giúp con phát triển toàn diện. Bởi thế, khi trẻ mới 2 tháng tuổi đã được cha mẹ bế đi dạo để cảm nhận khí trời vào buổi sáng sớm. Trong chương trình học hằng ngày, hằng tuần của học sinh luôn có những buổi dạo chơi công viên, ra vườn, trồng cây, thu hoạch hay chỉ đơn giản là ngắm nhìn thời tiết, cảnh vật thay đổi. Một chìa khóa của trí thông minh mà nhiều bậc cha mẹ quên cung cấp cho con cái: đồng hành với con cái mình trong ngôi trường học của thiên nhiên. Khi cùng hòa mình vào thiên nhiên, trẻ dễ dàng có những câu chuyện tương tác với các bạn cùng lứa tuổi, từ đó khuyến khích sự phát triển về ngôn ngữ của trẻ. Cha Luigi Cocco, Dòng Salêdiêng, đã diễn tả như sau: “Thanh thiếu niên giống như những con chim sẻ: ở trong lồng chúng sẽ chết”.

Trò chơi có tầm quan trọng đặc biệt. Các nhà tâm lý cho biết: “khi còn trẻ, ai càng được chơi nhiều và chơi đúng đắn, thì sau này sẽ tỏ ra mình là người hơn”. Nhà văn Pháp Montaigne thì viết: “Trò chơi phải được coi là hoạt động hệ trọng nhất của tuổi thơ ấu”. Thời nay, trẻ em không còn chơi đùa nhiều: chúng ngồi xem tivi, điện thoại, những trò chơi điện tử, vốn dĩ chỉ đáp ứng một phần nho nhỏ nhu cầu của một trò chơi thật sự. Có lẽ bài học quan trọng nhất mà trẻ học được từ trò chơi: “Khi bị thua cuộc thì thế giới cũng không sụp đổ”, “thua keo này bày keo khác”. Ngoài ra, việc chạy nhảy, vận động ngoài trời giúp trẻ phát triển tối đa các kỹ năng vận động, giúp trẻ cứng cáp và dẻo dai hơn. Những cú ngã bất ngờ trong những lần chơi đùa sẽ giúp trẻ học cách tự đứng lên và làm chúng mạnh mẽ hơn.

  1. THAY LỜI KẾT

Người mẹ có tên là Nancy do nỗ lực của mình đã dạy dỗ, khích lệ cậu bé Thomas Edison học hành nên người và thành một thiên tài thực sự như bà tin tưởng. Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đã từng viết thư cho cha mẹ: “Chúa đã thương ban cho con nhiều chức vụ trong Hội thánh, đi nhiều nơi, học nhiều sách, nhưng không trường nào dạy dỗ con, làm ích cho con hơn hồi con được ngồi bên chân cha mẹ”. Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của việc giáo dục nơi gia đình.

Tuy thế, ngày nay, nhiều bậc cha mẹ quá thiên về kinh tế hơn việc quan tâm giáo dục con cái vì nghĩ rằng đời sống sung túc sẽ mua được hạnh phúc cho con cái. Ắt hẳn, sự lệch lạc trong định hướng giá trị của cha mẹ sẽ đẩy đưa con cái tới ngõ cụt của thất bại vì thiếu trưởng thành.

Bởi thế, việc giáo dục con cái trong gia đình phải luôn là ưu tiên hàng đầu và phải được thực hiện với sự cẩn trọng và lòng nhiệt tâm. Trong công cuộc giáo dục này, cha mẹ vừa là người thầy hướng dẫn, người bạn đồng hành, đồng thời cũng là “một tấm gương soi” cho con cái. Cho nên, các bậc cha mẹ cũng phải luôn tự giáo dục mình, uốn nắn bản thân mỗi ngày để trở nên tốt hơn. Chúng tôi xin mượn một trích đoạn trong bài suy niệm của Linh mục Mi Trầm để thay cho lời kết: “Cây tốt sinh trái tốt, xem quả biết cây”. “Cha mẹ kiêu căng, thích nổ, hay khoe khoang, làm sao dạy được con sống khiêm tốn? Cha mẹ sống coi thường mọi người làm sao dạy con biết tôn trọng ai? Cha mẹ sống tham lam ích kỷ làm sao dạy con sống rộng rãi quảng đại yêu thương giúp đỡ mọi người? Cha mẹ sống dâm dục buông thả theo xác thịt, ngoại tình làm sao dạy con cái sống tiết độ chung thủy? Cha mẹ sống dối gian lừa lọc làm sao dạy con sống trung thực? Cha mẹ sống ăn miếng trả miếng hơn thua với mọi người làm sao dạy con sống nhẫn nhịn, bao dung? Cha mẹ bất hiếu không chăm sóc phụ mẫu mình làm sao dạy con sống có hiếu với mình? Cha mẹ lười biếng không siêng năng việc đạo nghĩa làm sao dạy con biết siêng năng thờ phượng Chúa? Cha mẹ sống vô cảm không biết yêu thương làm sao dạy con biết sống yêu thương?”

Ước gì các bậc cha mẹ luôn biết để tâm dạy dỗ con cái, và đặc biệt biết dạy con bằng đời sống đạo đức và gương sáng của mình để có những “hoa trái tốt lành” cho xã hội và Giáo hội.

SÁCH THAM KHẢO CHÍNH

  • Bộ Giáo Dục Công Giáo,Những định hướng cho việc giáo dục về tình yêu nhân bản – Đề cương cho việc giáo dục giới tính, 01/11/1983.
  • Bruno Ferrero, SDB,Cha mẹ hạnh phúc với phương pháp giáo dục của Don Bosco, Lm. Giuse Đinh Quang Vinh chuyển ngữ, NXB Hồng Đức – 2016.
  • Carlo Ambrôgiô,SDB.,Giáo dục theo gương Don Bosco,NXB Phương Đông, TP.HCM – 2015.
  • Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế mục vụGaudium et Spes (GS) – Về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay, 21/11/1964.
  • Công Đồng Vaticanô II, Tuyên ngônGravissimum Educationis – Về Giáo dục Kitô Giáo, 28/10/1965.
  • Gioan Phaolô II, Tông huấnFamiliaris Consortio (FC)- Về những bổn phận của gia đình Kitô hữu, 22/11/1981, bản dịch của linh mục Augustinô Nguyễn Văn Dụ, Rôma – 2001.
  • Gioan Phaolô II, Lá thư gửi các gia đìnhGratissimam Sane – Lời chào thăm hết sức ưu ái, 02/02/1994.
  • Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin,Catechismus Catholicae Ecclesiae – Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo (SGLC), Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội – 2011.
  • Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin,Công Đồng Vaticanô II, Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội – 2012.
  • Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin,Từ điển Công giáo,Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội – 2016.
  • Hội Đồng Tòa Thánh về Gia Đình,Enchiridion della Famiglia (EDF), Documenti Magisteriali e Pastorali su Familia e Vita 1965-2004 – Tuyển tập về Gia đình, Các tài liệu Huấn quyền và Mục vụ liên quan đến Gia đình và sự sống, Edizioni Dehoniane Bologna, Bologna 2004.
  • Hội Đồng Tòa Thánh về Gia Đình,Sự thật và ý nghĩa về tính dục con người, những định hướng để giáo dục trong gia đình, bản dịch của UBMVGĐ/HĐGMVN, Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội – 2018.
  • Jean-Louis Bruguès, O.P.,Từ điển Luân lý Công giáo, C.L.D.
  • Nguyễn Thị Oanh,Gia đình Việt Nam thời mở cửa, Tp. HCM: Trẻ, 1998.
  • Phanxicô, Tông huấnAmoris Laetitia – Niềm vui của Tình yêu, 19/03/2016, bản dịch của Văn phòng HĐGMVN,Nhà xuất bản Tôn Giáo, Tp. HCM – 2016.
  • Vũ Hòa Đức,“Giáo dục trẻ em.” Tài liệu mục vụ, Văn phòng Nghĩa binh Vĩnh Long, 1963.

Soạn xong ngày 31/01/2018, lễ thánh Gioan Boscô.
Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 105 (tháng 3 & 4 năm 2018)

[1] Xem từ “profession” trên trang https://en.wikipedia.org/wiki/Profession

[2] Jean-Louis Bruguès, mục “Tương đối”.

[3] Từ điển Công Giáo, mục “Giáo dục”, tr. 336.

[4] Nguyên văn tiếng Ý Tông Huấn Amoris Laetitia số 16 viết: “La famiglia è il luogo dove i genitori diventano i primi maestri della fede per i loro figli. È un compito “artigianale”, da persona a persona”. Danh từ compito = phần việc, nhiệm vụ, phận sự, bổn phận. Tính từ artigianale = thủ công, truyền thống, theo truyền thống, gia truyền.

[5] Evangelium vitae số 92

[6] x. FC 38

[7] Gratissimam sane, số 6.

[8] FC 50 – 52; 39.

[9] FC 60.

[10] AL 43.

[11] AL 16.

[12] AL số 287

[13] 2 x. AL các số 11, 77, 287, 288, 289, 290.

[14] AL 192.

[15] x. AL các số 287, 288, 107, 318, 321, 323.

[16] FC 81.

[17] Hội Đồng Tòa Thánh về Gia Đình, Toàn cầu hóa, kinh tế và gia đình, cfr. EDF, n. 3178, p. 1172.

[18] SGLC số 1784.

[19] Hội Đồng Tòa Thánh về Gia Đình, “Gia đình và các quyền con người” n. 16, in EDF, n. 3450, p. 1317.

[20] FC 18.

[21] Gratissimam sane, số 7

[22] FC 36.

[23] Sự thật và ý nghĩa về tính dục con người, các số 37-40, 29-30.

[24] X. AL các số 259, 50, 136.

[25] AL số 263.

[26] AL số 276.

[27] AL 262.

[28] AL 265, x. SGLC 1806.

[29] AL 268.

[30] x. AL 280 – 286.

[31] AL 206.

[32] Sự thật và ý nghĩa về tính dục con người, số 73.

[33] AL 281-182.

[34] AL 261.

[35] x. GS 17; AL 267, 266.

[36] x. AL các số 104, 269, 270.

[37] x. AL các số 269, 270.

[38] AL số 98.

[39] x. AL các số 275, 92, 277, 148.

[40] x. AL các số 99, 100, 323.

[41] Ba từ tiếng Anh: Please = làm ơn; thank you = cảm ơn; sorry = xin lỗi; May I? = Tôi có thể?     

[42] x. AL số 133.

 

 

Lm. Giuse Đinh Quang Vinh và
Tu sĩ Carôlô Nguyễn Đình Thiện, OP.

Read More
11Tháng Bảy
2020

Tóm Lược Đạo Công Giáo

11/07/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

Tóm Lược Đạo Công Giáo

TÓM LƯỢC VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO (Dựa theo lối trình bày mới nhất của Sách Giáo lý Công giáo và Sách Youcat để thắp sáng đức tin ) Linh mục Antôn Nguyễn Mạnh Đồng

A – CHỦ ĐÍCH KHI VIẾT BÀI TÓM LƯỢC VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO

  1. CƠ HỘI.

Dịp trước tết, sau tuần tĩnh tâm năm 2014, cha phụ trách trong Ban Mục vụ giáo phận đến nhờ tôi viết cho “ba bài ngắn gọn cụ thể” về:

1 – Giáo lý Công giáo: 4 diều (Giữ Xin Tin Chịu).

2 – Hôn nhân Công giáo: 4 câu hỏi.

3 – Gia đình Công giáo: 4 đề tài.

để in vào Phần Phụ lục cuốn Sổ Gia đình Công giáo sắp được ban hành trong giáo phận, trong Năm về Gia đình. Tôi đề nghị cho tôi viết: một Bài Tóm lược về Đạo Công giáo, dựa theo Sách Giáo lý giáo hội Công giáo (1992) và sách Giáo lý cho người trẻ Youcat (2011), một bài Tóm lược về Hôn nhân và Gia đình dựa theo Tông huấn về gia đình (1981) là tài liệu độc nhất từ xưa tới nay của giáo hội về Hôn nhân và Gia đình,Tông huấn luôn liên kết hôn nhân đi đôi với gia đình. Hẹn đầu tháng 3 sẽ hoàn thành. Mồng 5 tháng 3, tôi đưa bài nhờ Cha sở An Thạnh đánh vào vi tính gửi cho cha phụ trách, và nhờ cha nói thêm là Bài Tóm lược về Đạo Công giáo tôi soạn rất công phu, nhằm giới thiệu ngắn gọn, cụ thể những gì cốt lõi và độc đáo nhất của đạo, vừa cần thiết, vừa hữu ích cho mọi người trong việc Tân Phúc âm hóa mà cả giáo hội đang quan tâm. Tôi cũng đề nghị nếu có thể phổ biến rộng rãi trong dịp lễ giỗ cha Phanxicô Diệp cho nhiều người cả lương lẫn giáo biết rõ đạo công giáo là gì. Khi quí cha trong ban họp, cha sở có nhắc đến  ước mong và đề nghị của tôi, nhưng không ai có ý kiến gì. Đang khi đó, tôi có gửi email bài đó cho Đức cha Phanxicô Sang, giám mục Thái bình đã về hưu. Ba hôm sau, đức cha hồi âm: “đã nhận được Bài Tóm lược về Đạo Công giáo, bài hay và dễ hiểu, sẽ lấy in thành tập nhỏ phát cho mọi người lương giáo. Tôi cũng gởi bài đó cho một cha giáo ở Cần Thơ, và nhận được hồi âm: “con đang tìm giờ để đọc thật kỹ bài này vì con thoáng thấy bài này đem lại nhiều lợi ích cho công việc truyền giáo, huấn giáo, mục vụ của chúng con. Rõ được các chính phụ trong việc Tân Phúc âm hóa.”

Thế rồi bất ngờ, 4 giờ chiều ngày 11-3 cha phụ trách đến gặp tôi cho biết: quí cha trong ban nhờ ngài nói với tôi là muốn phổ biến Bài Tóm lược rộng rãi cho nhiều người. Tôi sửng sốt và nghĩ ngay  đến ngày mai là lễ giỗ cha Phanxicô Diệp và trưa mai thì bế mạc, thế là không kịp phổ biến trong dịp tập họp rất đông người lương giáo rồi. Tôi trả lời cha là tôi rất vui mừng vì chỉ mong được nhiều người hiểu biết đạo công giáo là gì. Nhưng muộn còn hơn không. Mặc dầu tôi chưa phổ biến bài, nhưng một vài người đã thoáng thấy có cái gì hay và ích lợi, vì thế tôi muốn trình bày rõ ràng đầy đủ hơn chủ đích của tôi khi viết bài tóm lược như vậy.

II. CHỦ ĐÍCH KHI TÓM LƯỢC VỀ ĐẠO CÔNG GIÁO.

Tôi biết rõ tóm lược Đạo Công giáo không phải chuyện dễ, vì liên quan đến Thiên Chúa, vũ trụ, con người, đến lịch sử quá khứ, hiện tại, tương lai, đến đời này và cả đời sau…do đó cần xác định trong giới hạn mình có thể, nên tôi chọn bốn chủ đích:

1/- Nêu bật Đức Giêsu Kitô là trung tâm của đạo. Tôi đã nói với cha phụ trách là soạn bài tóm lược dựa vào 2 sách giáo lý hiện đại nhất của giáo hội. Sách giáo lý giáo hội công giáo thì nêu bật ngay từ đầu, trong Tông hiến giới thiệu sách, là: đặt Đức Giêsu Kitô ở vị trí trung tâm của giáo lý công giáo. Rồi trong suốt bốn phần của sách, Đức Giêsu luôn nắm vai trò chủ chốt, trong vấn đề đức tin, trong việc cử hành các bí tích đức tin, trong đời sống theo đức tin, và cầu nguyện theo đức tin. Còn sách giáo lý cho người trẻ cũng vậy, trong 527 câu chủ đề thì có 217 câu nói trực tiếp đến Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu Kitô là trung tâm của chương trình cứu rỗi, vì Người là Đấng mặc khải Phúc âm cứu rỗi, là Đấng thực hiện việc cứu chuộc, là Đấng thiết lập giáo hội để quy tụ và phục hồi mọi người trong Nước của Thiên Chúa.

2/- Chọn cụm từ Phúc âm hóa để trình bày cuộc cứu chuộc của Đức Giêsu Kitô. Dịp tháng 10 năm 2013 tôi đã gửi lên mạng Cần Thơ bài “Tìm hiểu tại saoTân Phúc âm hóa” trong đó có bàn về cụm từ Tân Phúc âm hóa. Cụm từ này mới được dùng trong giáo hội vào thế kỷ XX, còn trong các thế kỷ trước không dùng, nhưng cụm này lại có ý nghĩa rất phong phú, sâu sắc, ngắn gọn, không những để chỉ việc loan báo truyền dạy Phúc âm, việc huấn luyện cho có đức tin, mà còn hàm chứa cả việc biến đổi và phục hồi con người từ bên trong, để trở nên mới, nghĩa là từ tình trạng con người không biết không vâng phục Thiên Chúa trở về tình trạng làm con cái Thiên Chúa. Và cả hai sách giáo lý của giáo hội cũng đã trình bày trong câu số 1 của sách, đó là để con người nhận biết, yêu mến vâng phúc Thiên Chúa, làm việc lành theo ý Thiên Chúa để được thông phần hạnh phúc với Thiên Chúa. Do đó mà cụm từ Phúc âm hóa được áp dụng cho toàn bộ cuộc cứu chuộc của Đức Giêsu Kitô từ khi xuống thế làm người, qua thời gian giáo hội nối tiếp công cuộc của Người cho tới khi Người lại đến vào ngày tận thế.

3/- Nhắc nhớ tới đầy đủ các nhân tố và hoạt động cốt yếu trong cuộc Phúc âm hóa. Tất cả các nhân tố và hoạt động trong cuộc Phúc âm hóa, liên hệ đến đạo công giáo đều được nhắc tới: Từ Chúa Cha, Chúa Giêsu Kitô, Chúa Thánh Thần, Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, các thánh Tông Đồ, các giáo phụ, các giáo sĩ tu sĩ giáo dân; đến Kinh Thánh Cựu ước và Tân ước; đến giáo hội và các hoạt động loan báo Phúc âm (truyền giáo), huấn luyện đức tin (huấn giáo), hướng dẫn sống đức tin (mục vụ), cùng với các tài liệu là sách giáo lý công giáo cho người lớn và cho người trẻ. Nhắc tới để có thể thấy nhân tố và hoạt động nào là chính là phụ, và có quan hệ mật thiết với nhau như thế nào trong đạo công giáo,đồng thời biết cái gì là cốt lõi nhất phải luôn đề cao.

4/- Nêu bật đạo công giáo là đạo vì hạnh phúc con người. Chủ đích thứ nhất đã nêu bật Đức Giêsu Kitô là trung tâm của đạo công giáo, vì Người là Thiên Chúa đã vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta người đã từ trời xuống thế. Chủ đích thứ hai đề cao vai trò của Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa xuống thế để mặc khải Phúc âm cho con người. Phúc Âm này chính là chương trình yêu thương của Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ và sáng tạo con người giống hình ảnh người để con người hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa; để thực hiện việc cứu chuộc con người sau khi con người không vâng phục Thiên Chúa; để quy tụ con người trong giáo hội của Người và giúp họ được Phúc âm hóa.

Đạo công giáo muốn Phúc âm hóa con người bằng cách:

– Giúp con người biến đổi và phục hồi con người một cách cụ thể thiết thực, từ tình trạng không biết và không vâng phục Thiên Chúa, sống với nhau theo luật rừng, gây chết chóc khổ đau; sang tình trạng lại được làm con cái Thiên Chúa, tôn thờ Thiên Chúa như cha, trở thành anh chị với nhau con một cha, cùng chung hưởng hạnh phúc với nhau.

– Giúp con người noi gương Đức Giêsu Kitô sống yêu thương hiền hòa, công bình, phục vụ chia sẻ cho nhau.

Nhờ thế con người dẹp bỏ được thói quen cổ hủ chỉ biết đạo cách thuộc lòng, quen làm mấy việc bề ngoài, như “giữ xin tin chịu”, mà đời sống trong gia đình và xã hội thì không khác gì nhiều người không đạo, chưa chấm dứt lối sống cờ bạc, rượu chè, thụ động vô cảm, thờ hai ba chủ, sống nước đôi hai mặt… chưa loại trừ được những thành kiến cho rằng theo đạo là bỏ ông bà tổ tiên, là theo đạo ngoại lai bên tây phương, là mê tín dị đoan, đạo đức giả…

Ngày nay toàn giáo hội đang quan tâm để Tân Phúc âm hóa mọi người, nếu Phúc âm hóa mà không đổi mới hay không phục hồi gì cho đúng Phúc âm để đem lại hạnh phúc, lại xa rời Phúc âm và xa rời lối sống của Đức Giêsu Kitô, thì có nguy cơ đi vào vết xe cũ của thời xưa, chắc chắn sẽ thất bại như lịch sử giáo hội đã minh chứng.

  1. TÓM LƯỢC VỀ  ĐẠO CÔNG GIÁO

(Dựa theo lối trình bày mới nhất của Sách Giáo lý Công giáo

và Sách Youcat để thắp sáng đức tin )

* * *

  1. Đạo Công giáo là gì?

    Đạo Công giáo là tổ chức tôn giáo đem tin vui hay Phúc âm của Đức Giêsu Kitô cho mọi người, để biến đổi mọi người theo Phúc âm của Đức Giêsu Kitô nghĩa là để Phúc âm hóa mọi người.

Phúc âm này cho biết rằng: Thiên Chúa vì yêu thương đã sáng tạo vũ trụ vạn vật và con người, để chia sẻ hạnh phúc cho họ. Nhưng con người nghe theo qủi dữ cám dỗ, không muốn vâng phục Thiên Chúa rồi sa ngã trong tội lỗi, phải đau khổ và chết. Tuy nhiên Thiên Chúa vẫn  yêu thương đã cử Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa đến trần gian, không những báo tin vui cho mọi người biết dù loài người đã không vâng phục Thiên Chúa, Thiên Chúa muốn cứu họ; mà còn đích thân thực hiện việc cứu chuộc loài người khỏi tội lỗi, khỏi chết; đồng thời Đức Giêsu Kitô còn thiết lập Giáo hội Công giáo để sau khi Người hoàn tất việc cứu chuộc rồi về trời, Giáo Hội Công Giáo nối tiếp công việc của Người ở trần gian, loan báo Phúc âm của Người cho mọi người, quy tụ họ vào Giáo hội để họ lại có thể chia sẻ hạnh phúc với Thiên Chúa.

Thời gian đầu, những người theo Đức Kitô thường được gọi là Kitô hữu. (xem Cv11,26). Đầu thế kỷ II đạo của Đức Kitô được gọi là Kitô giáo.Về sau để phân biệt với các đạo khác như Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo… người ta quen gọi là đạo Công giáo.

Tất cả những công việc vừa tóm tắt trên, như:

– Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ và con người, chọn các tổ phụ, các tiên tri và chọn dân riêng của Thiên Chúa, được ghi chép cẩn thận trong các sách Cựu Ước (46 sách).

– Thiên Chúa cử Đức Giêsu Kitô xuống thế làm người, loan báo Phúc âm và thực hiện việc Phúc âm hóa, được ghi chép trong sách Tân Ước (27 sách).

Đạo Công giáo múc lấy đạo lý, sức sống và sức mạnh của mình từ Thiên Chúa, từ Sách Thánh (Cựu ước và Tân ước) và từ Thánh Truyền (là những thói quen trong lối sống nếp nghĩ của dân được truyền lại).

II. Đức Giêsu Kitô có vai trò nào trong Đạo Công giáo?

Đức Giêsu Kitô có vai trò trung tâm và quan trọng tuyệt đối trong (Đạo Công giáo), như Thánh Phêrô có nói: “Dưới gầm trời này không có một danh nào khác đã được ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu rỗi” (Cv 4,12). Đức Giêsu Kitô có vai trò tuyệt đối, bởi vì:

– Thứ nhất Đức Giêsu Kitô là “Con Một Thiên Chúa” (Ga 3,16). Con Một của Thiên Chúa nghĩa là chỉ một mình Đức Giêsu Kitô đích thực là Con trên hết mọi người là con. Vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, Người đã từ trời xuống thế, sinh sống ở đất Do Thái. Đồng thời Đức Giêsu Kitô cũng là Thiên Chúa thật như Người đã mặc khải cho biết: Người với Chúa Cha là một (Ga 10, 30), nghĩa là Người cũng là Thiên Chúa. Do đó Đức Giêsu Kitô vừa là Thiên Chúa vừa là người. Đây thật là một mầu nhiệm. Mầu nhiệm này làm cho Đạo Công giáo thật sự là đạo xuất phát từ trời, từ Thiên Chúa là Đấng làm chủ trời đất.

– Thứ hai, Đức Giêsu Kitô là Con một Thiên Chúa và cũng là Thiên Chúa, đã xuống thế làm người để cứu chuộc, nên Người có ba nhiệm vụ cốt yếu đối với loài người là: mặc khải, cứu chuộc, qui tụ và phục hồi (SGLGHCG số 516, 517, 518).

+ Mặc khải. Chính Đức Giêsu Kitô là Đấng duy nhất mặc khải về Thiên Chúa là tình yêu và về chương trình cứu rỗi loài người: “ Không ai biết rõ Chúa Cha trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho”(Mt 11, 27). Đức Giêsu Kitô biết rõ Thiên Chúa cũng như biết rõ con người, biết rõ ngôn ngữ hình ảnh nào diễn tả Thiên Chúa đúng nhất và dễ hiểu nhất cho con người để mặc khải. Người không chỉ dùng lời nói mà còn dùng toàn bộ đời sống Người, từ giáng sinh, sống âm thầm ở Nadarét, đi giảng dạy Phúc Âm, cho đến việc chết trên thập giá, sống lại,về trời, tất cả đều góp phần làm cho việc mặc khải của Người về Thiên Chúa và về con người được đầy đủ, trọn vẹn.

+ C ứu chuộc. Không những mặc khải, Đức Giêsu Kitô còn đích thân thực hiện chương trình cứu rỗi và cứu chuộc loài người, nghĩa là Phúc Âm Hóa họ, biến đổi họ từ thù nghịch với Thiên Chúa trở thành con cái nghĩa thiết với Thiên Chúa. Để chuộc lại tội không vâng phục Thiên Chúa, Người đã dâng cả cuộc đời để vâng phục thánh ý Thiên Chúa (Dt 10, 7).  Ngay từ 12 tuổi Người đã lo sống hiếu thảo với Cha trên trời (Lc 2, 49), ở Nadarét Người vâng phục cha mẹ là thánh Giuse và Đức Maria (Lc 2, 51). Người cùng với dân tộc Người tuân giữ việc thờ phượng, cảm tạ, cầu nguyện Thiên Chúa. Khi đi giảng đạo, Nguời tìm gặp gỡ mọi người, kêu gọi họ từ bỏ tội lỗi; dạy cho họ Tám mối Phúc để biết sống khó nghèo, yêu thương, công bằng, khiết tịnh, tha thứ; Người chữa bệnh, trừ quỉ, giúp con người thoát khổ; và để tỏ tình yêu thương đến cùng, Người vui lòng chết trên thập giá như một hiến tế chuộc tội cho mọi người, hòa giải con người với Thiên Chúa để họ lại có thể hưởng hạnh phúc vĩnh hằng với Thiên Chúa.

+ Qui tụ và phục hồi – Trong khi loan báo Phúc Âm để mặc khải cho mọi người biết chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa, cũng như trong khi thực hiện việc cứu chuộc bằng cuộc sống vâng phục đến chết trên thập giá, Đức Giêsu Kitô đã biến đổi và phục hồi được một số đông người Do thái tin theo Người, và qui tụ họ thành nhóm 12 tông đồ để làm nền móng cho Giáo Hội Công giáo. Người cũng đã thiết lập Bí tích Thánh Thể và Bí tích Truyền chức thánh để ban ơn thiêng cho Giáo hội đủ khả năng nối tiếp công việc của Người. Trước khi về trời, Đức Giêsu Kitô đã sai giáo hội đi khắp trần gian “làm cho mọi dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Người đã truyền. Và Người hứa ở cùng giáo hội mọi ngày cho đến tận thế”(Mt. 28, 19-20). Sau khi về trời, Đức Giêsu Kitô đã cử Thánh Thần đến giúp Giáo hội.

Như vậy Đức Giêsu Kitô có vai trò độc đáo duy nhất trong đạo của Người, Người vừa là Thiên Chúa, vừa là Con một Thiên Chúa xuống thế làm người. Nói theo kiểu mới bây giờ, Người vừa là Đấng loan báo Phúc Âm, vừa là Đấng sống Phúc Âm một cách toàn hảo, vừa Phúc Âm Hóa mọi người, để biến đổi họ từ thù nghịch với Thiên Chúa trở thành bạn hữu của Thiên Chúa, qui tụ họ trong giáo hội của Người để hưởng hạnh phúc trong Nước Thiên Chúa. Việc Phúc Âm Hóa của Người là nền tảng mẫu mực cho việc Phúc Âm Hóa của giáo hội ở mọi thời mọi nơi. Người đã Phúc Âm Hóa vừa bằng lời nói vừa bằng cả đời sống luôn gắn bó nghĩa thiết với Thiên Chúa và hòa nhập với mọi người, nổi bật là đời sống cầu nguyện, hiền lành, nghèo khó, khiêm nhường, phục vụ. Việc Phúc Âm Hóa và cách Phúc Âm Hóa của Người đã được ghi chép trong bốn sách Phúc Âm.

III. Giáo hội Công giáo thi hành sứ vụ Phúc Âm Hóa :

Đức Giêsu Kitô khi ở trần gian đã Phúc Âm Hóa trong 33 năm trên đất Do Thái, đã biến đổi Giêrusalem thành trung tâm của giáo hội Người. Sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, nhờ năng động của Phúc Âm là sức mạnh sống động do Đức Giêsu Kitô liên hợp với Chúa Thánh Thần, giống như ánh sáng và muối men có khả năng làm biến đổi , nhân văn hóa và siêu nhiên hóa cả cá nhân cũng như xã hội, các tông đồ và môn đệ của Đức Giêsu Kitô đã tiếp tục Phúc Âm Hóa trong đất Do Thái rồi mở rộng khắp đế quốc Rôma, trong thế  kỷ I.

Từ thế kỷ II, giáo hội Phúc Âm Hóa trong suốt hơn 20 thế kỷ trên khắp thế giới cho đến nay. Giáo hội theo truyền thống các tông đồ đã tiếp tục Phúc Âm Hóa, được “Sách Chỉ dẫn tổng quát về Huấn giáo”(1997) tóm lược trong ba hoạt động chính : truyền giáo, huấn  giáo và mục vụ.

– Truyền giáo là loan báo Phúc âm lần đầu cho những người chưa biết Đức Chúa Giêsu (quen gọi là kerygma) gồm 4 điểm: Đức Giêsu Kitô bị giết chết, Thiên Chúa phục sinh Người, Người tha tội cho mọi người, chúng tôi làm chứng về các điều trên. Đây chính là tóm lược trung tâm của mầu nhiệm Kitô giáo mà Giáo Hội loan báo cho người Do thái (xem Cv3, 12 – 26) còn cho người ngoài Do thái giáo thì nhấn mạnh đến Thiên Chúa sáng tạo và làm chủ lịch sử (xem Cv 17, 24 – 31).

– Huấn giáo là truyền đạt cho người đã tin toàn bộ Giáo lý Công giáo, giúp họ hiểu biết gặp gỡ Đức Giêsu Kitô. Từ mầu nhiệm Kitô giáo, giáo hội khai triển thành bốn thái độ và bốn nhiệm vụ của Kitô hữu là: tuyên xưng đức tin, cử hành bí tích  đức tin, sống theo đức tin trong Đức Giêsu Kitô và cầu nguyện theo Đức Giêsu Kitô. Đây là bốn cột trụ của Sách Giáo lý Công giáo, có tương quan rất chặt chẽ, để giúp Kitô hữu / Phúc âm hóa chính mình và Phúc âm hóa mọi người.

– Mục vụ là tổ chức giúp Kitô hữu sống đúng căn tính của mình, đó là sống hiệp thông với Đức Giêsu Kitô, sống như con cái Thiên Chúa Ba Ngôi, phục hồi lại địa vị con người đã đánh mất vì tội lỗi, qua việc thường xuyên giáo dục đức tin (lớp giáo lý, giảng trong lễ, sinh hoạt…), qua việc cử hành các bí tích, qua việc sống theo đức tin và các Điều răn của Thiên Chúa hay của giáo hội, trong gia đình cũng như trong xã hội. Tất cả để Kitô hữu sống Phúc âm như Đức Giêsu Kitô là người mẫu sống Phúc âm, và cũng là người mẫu trong việc Phúc âm hóa.

Theo lịch sử giáo hội, các hoạt động Phúc âm hóa có khi gặp hoàn cảnh thuận lợi đã phát triển rất mạnh như thời các  tông đồ và các giáo phụ, giáo hội phát triển thành thế giới Kitô giáo (thời Trung cổ); có khi khó khăn do phong trào tục hóa, do lối  sống giáo sĩ trị, việc Phúc âm hóa sa lầy, khiến nhiều Kitô hữu bỏ giáo hội. Giáo hội phải họp Công đồng Trentô (1545) để cải tổ, nhờ đó mới có Sách giáo lý Rôma lần đầu tiên để sử dụng (1566). Nhưng sau hơn 400 năm, hoàn cảnh giáo hội và thế giới lại đổi thay, phong trào tục hóa, duy vật vô thần, chống đối giáo hội phát triển, giáo hội không theo kịp đà tiến của xã hội, Kitô hữu lại bỏ giáo hội nhiều hơn, nên giáo hội phải họp Công đồng Vatican II để cập nhật hóa với thế giới (1963-1965), soạn Sách Giáo lý Công giáo theo Vatican II (1992) và Sách Giáo lý cho người trẻ (Youcat 2011), nhất là ngày nay đang tập trung lo Tân Phúc Âm hóa để thông truyền đức tin Kitô, giúp mọi người được Phúc âm hóa đúng nghĩa nhất.

Tóm lại, giáo hội đã đón nhận năng động của Đức Giêsu và Chúa Thánh thần để tiếp tục cuộc Phúc âm hóa của Đức Giêsu Kitô và các tông đồ qua việc tổ chức ba hoạt động là truyền giáo, huấn giáo, mục vụ. Đặc biệt là đã soạn sách giáo lý Rôma, sách giáo lý công giáo theo Vatican II, sách giáo lý cho người trẻ (Youcat) để làm tài liệu cần thiết và hữu hiệu nhằm phục vụ việc Phúc âm hóa.

IV. Giáo Hội Công Giáo khi thi hành sứ vụ Phúc âm hóa đã nhắm tới điều gì cốt lõi nhất ?

Để trả lời cho đúng , phải trở về nguồn là Phúc âm mà Đức Giêsu Kitô và các tông đồ của Người đã loan báo. Phúc âm cho biết Thiên Chúa muốn cứu rỗi, cứu chuộc loài người, nghĩa là muốn Phúc âm hóa, muốn biến đổi phục hồi con người từ tình trạng tội lỗi không biết Thiên Chúa, trở về tình trạng như Thiên Chúa đã sáng tạo ban đầu, đó là con người nhận biết và yêu mến vâng phục Thiên Chúa  để làm việc lành theo ý Thiên Chúa, và để thông phần sự sống hạnh phúc với Người (số 1 của Sách Giáo lý công giáo cũng như Sách Youcat). Loan báo truyền giảng Phúc âm là để mọi người nghe và tin. Ta cần hiểu tin cho chính xác và đầy đủ. Tin không phải chỉ là chấp nhận cho là đúng là thật là đáng hy vọng mà thôi. Kitô hữu tin Phúc âm, tin Đức Giêsu Kitô không phải chỉ là chấp nhận là đúng và thuộc lòng những điều phải tin trong Kinh Tin Kính, không phải là giữ một số thói quen làm dấu thánh giá, đọc kinh xem lễ, chịu một số bí tích, thực hành các Điều răn… Ngoài ra vẫn sống theo thói thường của người đời, ham hưởng thụ, ham giàu sang, nhậu nhẹt, bất công, gian dối, thờ hai ba chủ, sống nước đôi hai mặt…Đối với Kitô hữu, tin hay đúng hơn đức tin phải là ơn Thiên Chúa ban, là sức mạnh thiêng liêng Thiên Chúa soi sáng giúp ta hiểu biết, chọn lựa đi vào mối tương quan mật thiết và tình nghĩa với Đức Giêsu Kitô, đón nhận tất cả những gì Người mặc khải, sống theo Lời Người dạy, sống như Đức Giêsu Kitô sống trong mình (Gl 2,20), sống luôn hiệp thông với Chúa Cha, hiệp thông trong tâm tình cũng như trong hành động, sống thánh thiện như Đức Giêsu Kitô, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Như vậy khi giáo hội Phúc âm hóa, giáo hội nhằm biến đổi và phục hồi con người thành một Kitô hữu là bạn thân tình của Đức Giêsu Kitô, luôn sống hiệp thông với Đức Giêsu Kitô trong suốt cuộc đời mình, trong khi sốt sắng tuyên xưng đức tin, sốt sắng cử hành các bí tích, trung thành tuân giữ các Điều răn, ở trong gia đình cũng như xã hội (xem Tài liệu Tân Phúc âm hóa để thông truyền đức tin số 18). Ngày nay giáo hội phải dùng toàn tâm toàn lực để lo Phúc âm hóa con người trở thành bạn hữu của Đức Giêsu Kitô và bạn hữu của nhau. Còn Kitô hữu Việt Nam ngày nay phải Phúc âm hóa thế nào để mọi người công nhận rằng Kitô hữu Việt Nam đã sống đạo thật chứ không phải chỉ giữ đạo bề ngoài; làm sao để cũng như các vị truyền giáo đầu thế kỷ XVIII ở Đàng Ngoài,đã ghi nhận: “Người lương dân gọi bổn đạo là những người theo đạo yêu nhau. (xem linh mục Đỗ Quang Chính sj ). Vì thế mọi người phải lấy Phúc âm của Đức Giêsu Kitô và cách Phúc âm hóa của Đức Giêsu Kitô làm mẫu mực. Tân Phúc Âm Hóa mà xa rời tinh thần Phúc âm và phương cách Phúc Âm Hóa của Đức Giêsu Kitô và các tông đồ, là đi theo vết xe cũ của thời xưa, chắc chắn gặp thất bại như lịch sử giáo hội đã chứng minh.

ĐỂ KẾT:

Toàn thể Giáo hội Công giáo đứng đầu là đức giáo hoàng Phanxicô đang bắt tay vào việc Tân Phúc Âm hóa. Mỗi người mang danh là Kitô hữu phải trở thành bạn hữu chân tình của Đức Giêsu Kitô. Giáo dân và tu sĩ đã được xức dầu Kitô khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội và Thêm sức, giám mục và linh mục còn được xức dầu Kitô thêm lần nữa khi lãnh nhận bí tích Truyền chức thánh. Lãnh nhận có chút xíu dầu Kitô rồi sau đó bị chùi sạch ngay; nhưng cái mà dầu Kitô biểu tượng lại là ơn Chúa Thánh Thần, là sự thánh thiện của Đức Giêsu Kitô, là sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi và hiệp thông với moi người, được thể hiện trong nếp sống yêu thương, công bình, khó nghèo, khiêm tốn, phục vụ… những gì vừa được kể ra đây phải được nâng niu gìn giữ mãi mãi trong mình, không được để cho thế tục chùi sạch mất hết.

Lạy Chúa Giêsu Kitô, Chúa đã thiết lập Giáo hội Công giáo trên tảng đá Phêrô mà quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Khi sai giáo hội đi Phúc âm hóa muôn dân, Chúa vẫn luôn ở cùng giáo hội mọi ngày cho đến tận thế. Xin cho giáo hội luôn có những Kitô hữu mang trong mình dầu thánh thiện của Chúa, sống nghĩa thiết như bạn thân tình của Chúa, Phúc âm hóa theo đúng cách Phúc âm hóa của Chúa, chỉ có thế giáo hội mới có thể Phúc âm hóa được cả thế giới. Amen

Linh mục Antôn Nguyễn Mạnh Đồng

Read More
26Tháng Sáu
2020

Paul Tillich, như một “Shaman” trong sự đối thoại với thế giới đương đại

26/06/2020
Anmai
Giáo dục, Tài liệu giáo dục
0

DẪN NHẬP

Suốt đời nhà thần học Paul Tillich xuất hiện như một Shaman3 của “thị tộc” đương đại, với một lòng kiên nhẫn hiếm có và một xác tín tri thức không gì lay chuyển nổi trong việc ông xác định chiến lược mà ông cho là thích hợp với địa hạt mới này, như là Kitô hữu làm sao tôi sống mà không lạc điệu với thế giới đương đại? Một địa hạt mà Công giáo Rôma chỉ xác nhận chính thức trong Công đồng Vatican II bằng một Hiến chế thứ tư Gaudium et Spes: Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay.

Thật vậy, tuy một cách nào đó, các sử gia thần học cho rằng Paul Tillich bước vào lối đi của Bultmann (1884-1976),4 trong việc chia sẻ mối bận tâm của nhà thần học đàn anh về việc Kitô giáo phải có bổn phận rao giảng sứ điệp Kitô cho con người thời nay, chúng ta phải nhìn nhận rằng, cách tiếp cận của Tillich thì hoàn toàn khác với Bultmann, được đào luyện sâu sắc trong khoa chú giải, còn ông thì nghiêng chiều về khoa học xã hội hơn: triết học và văn hóa. Chính vì thế, Tillich có một cách độc đáo trong thần học của ông để chấp nhận thách thức mà mọi nền văn hóa đương đại trần tục đang đặt ra cho Kitô giáo ở vào thế kỷ XX thời của ông,5 và hiển nhiên chúng ta cũng hưởng được lợi từ những đóng góp của ông cho thế kỷ toàn cầu hóa và đô thị hóa của chúng ta đang tiến sâu vào sự tục hóa.

  1. CON NGƯỜI CỦA THẾ KỶ

Paul Johannes Tillich (sinh 20.8.1886 – mất 22.10.1965) là một triết gia và nhà thần học hiện sinh-tương liên người Mỹ gốc Đức, được nhìn như là một trong những nhà thần học có nhiều ảnh hưởng nhất vào thế kỷ XX.6

Với công chúng cách chung, ông được biết nhiều qua các tác phẩm The Courage to Be (1952) và Dynamics of Faith (1957).7 Hai cuốn sách này dẫn độc giả vào những chuyên đề thần học và văn hóa. Còn đối với giới thần học, thì người ta biết đến nhiều hơn bộ ba cuốn “Thần Học Hệ Thống” (Systematic Theology, 1951–1963), trong đó ông phát triển phương pháp thần học tương liên8 của ông, được nhìn như một cách tiếp cận khảo cứu những biểu tượng của mạc khải Kitô giáo để tìm lời giải đáp cho các vấn nạn nhân sinh mà sự phân tích triết học hiện sinh đương đại đặt ra.

Ông sinh tại mạn Đông nước Phổ (năm 1886) thuộc Brandenburg,9 trong một gia đình theo Giáo Hội Luther bảo thủ. Cha ông là một mục sư đã rèn luyện ông trong một đường lối giáo dục vững vàng nhưng nghiêm khắc, mẹ thì có khuynh hướng tự do hơn. Dầu sao, khuynh hướng tự do của thế kỷ XX phát triển rất mạnh bên ngoài cũng ảnh hưởng lớn trong nền giáo dục và đào tạo của ông.10

Có hai biến cố lớn mang tính quyết định cho đời ông: (i) Năm 1914, ông làm tuyên úy ở mặt trận Verdun (Pháp) trong cuộc chiến giữa nước Pháp và nước Phổ. Trực diện với cảnh chết chóc kinh khiếp do sự tương tàn giữa đồng loại, ông nhận ra rằng “có một sự đoạn tuyệt sâu sắc giữa những người đang chiến đấu ở tuyến đầu ngoài mặt trận và ngôn ngữ tôn giáo mà ông đang sử dụng”; (ii) Sau chiến tranh, ông giảng dạy triết học, xã hội học, lịch sử các tôn giáo cho đến khi Đảng Đức Quốc Xã của Hitler lên nắm chính quyền, năm 1933, ông phải bỏ nước ra đi do bị tình nghi chống chính thể mới. Tillich di cư sang Hoa Kỳ, và ở đó, ông tiếp tục nỗ lực suy tư thần học của mình cho đến cuối đời (năm 1965).11

Paul Tillich, người của tuần báo Time (16.3.1959)12

  1. MỘT ƠN GỌI THẦN HỌC: TẠO MỐI TƯƠNG QUAN LIÊN ĐỚI13GIỮA TÔN GIÁO VÀ VĂN HÓA
  2. Ý tưởng về một thứ thần học như thế đã có nơi Tillich từ những ngày sau Thế chiến I (1919). Vừa là triết gia vừa là thần học gia, ông khám phá ra cho mình ơn gọi làm trung gian giữa tôn giáo, hiểu theo nghĩa rộng như là “sự kiện bị nỗi quan tâm cùng đích14nắm bắt,” và văn hóa,một lãnh vực bao trùm tất cả mọi sinh hoạt con người, từ những cái tâm linh nhất như văn chương, triết học, nghệ thuật, luân lý, khoa học, chính trị… đến cái thường nhật nhất như ngôn ngữ, sư phạm, kỹ thuật…15

Ông mơ tới một thứ thần học biết tôn trọng việc hoàn trả lại tự do trọn vẹn cho những sinh hoạt con người.

Vai trò của thần học không phải là thêm vào những sinh hoạt đó một ý nghĩa mà chúng đang thiếu, nhưng là phát hiện cái “ý nghĩa tối hậu” vẫn tàng ẩn trong những thực tại đó. Ý nghĩa đó đã hiện diện ở đó rồi. Vấn đề không phải là nhập nó vào, song là vạch rõ nó ra bằng cách tìm gặp cái tuyệt đối trong cái tương đối, cái vô hạn trong cái hữu hạn, Thiên Chúa trong thế giới, tôn giáo trong văn hóa.16

  1. Tillich trình bày một phương pháp mang tính thách đố cho những nền thần học:làm sao để có thể đối thoại với thế giới đương đại. Ông quan niệm phương pháp là một công cụ, đặt ra để trở nên thích ứng với vấn đề. Sự thích ứng này không phải là tiên thiên nhưng là luôn luôn để đưa đến lời giải đáp thích hợp và bị phê phán bởi chúng.

Vì thế, trong thần học hệ thống của ông, Tillich sử dụng các mối tương quan qua lại17 cách này hay cách khác, trong đó phương pháp tương liên là một. Ngắn gọn, tương liên (correlation) có nghĩa (1) sự tương ứng với các data khác nhau; (2) Sự tương tùy logic giữa các khái niệm xuất hiện như những cực tương quan (ví dụ: Cực thần linh và nhân linh); và (3) Sự tương tùy đích thực giữa các sự vật hay biến cố trên các biến cố tổng thể. Thần học hệ thống tiến hành từ các cội nguồn, nhờ qua trung gian, và đặt mình dưới chuẩn mực của mạc khải Kitô giáo. Những giải đáp không chỉ xuất phát từ cuộc sống con người hay từ chủ nghĩa duy tục hóa.

  1. Phương pháp tương liên cố gắng đưa Kitô giáo đi vào đối thoại với thế giới đương đại. Tillich khẳng định rằng hệ thống thần học của ông tiến hành từ một quan điểm hộ giáo của Kitô giáo và chuyên chở nó trong một mối tương liên không ngơi với triết học.

Trong cung cách trình bày các vấn đề thần học của ông, Tillich yêu thích suy tư qua lối các lưỡng cực thường thì được hiểu như là phân cách với nhau. Biện chứng là một chuyển động phân tích, tiến và lùi của cái “yes” và cái “no.” Tuy thế, trong khi phương pháp biện chứng thì có cái “yes và no” phân cách, ông không đem cái phản đề vào trong phương pháp của ông. Trái lại, thay vì trình bày hai mặt của cùng đồng tiền, ông thích nhìn chúng như hai cực trong cùng một trường. Cực này cần cực kia và bổ sung cho nhau. Trong cùng một lúc, con người là tư tưởng và kinh nghiệm, tự do và định mệnh, hữu hạn và vô hạn, hiện sinh và yếu tính.

  1. BA TÁC PHẨM ĐẶC BIỆT CỦA THẦN HỌC HỆ THỐNG

Trong khoảng hơn mười hai năm Tillich thai nghén ba tác phẩm vĩ đại của ông mang đề tựa Thần Học hệ Thống trải dài từ 1951-1963: Tập I (1951) có tựa đề: Lý Trí và Mạc Khải. Hữu Thể và Thiên Chúa; tập II (1957): “Hiện Sinh và Đức Kitô; tập III (1963): Đời Sống và Thánh Linh. Lịch Sử và Nước Thiên Chúa.

Nhà thần học người Mỹ H. Richard Niebuhr khi nói về ba tuyển tập này nhìn nhận rằng việc đọc “Thần Học Hệ Thống” của Tillich có thể là một du hành lớn trong sự khám phá vào viễn tượng phong phú và sâu sắc, vừa bao gồm nhiều chủ đề vừa triển khai, đồng thời cơ bản chạm đến cuộc sống con người trước sự hiện diện của Thiên Chúa-Ba Ngôi.18

  • Tập Iđược nhìn nhận như là một trong những phát biểu sâu sắc nhất của sứ điệp Kitô giáo chưa từng soạn thảo và là tổng kết cùng trình bày dứt khoát một nền thần học của một tác giả nhiều ảnh hưởng và sáng tạo của thế kỷ XX. Trong tác phẩm này, Tillich trình bày phương pháp nền tảng và sự phát biểu của hệ thống của ông, phương pháp thần học tương liên thời danh, nối kết những vấn nạn sâu sắc nhất với các lời giải đáp.19
  • Tập IInày đi đến nắm bắt tư tưởng trung tâm của hệ thống thần học của ông: Kitô học. Phạm trù con người được mô tả như là ở trong tình trạng” tách rời”20hay xa lạ với bản thân mình, thế giới của con người, và từ nền tảng thần linh của bản ngã con người đến thế giới của mình. Tình trạng này kéo con người đi đến sự truy tìm đến một tình trạng mới của sự vật, trong đó sự hòa giải và sự đoàn tụ chiếm lấy cái “xa lạ.” Đó là sự truy tìm Đức Kitô.21
  • Tập IIItrình bày về ý nghĩa nhân sinh, giáo lý về Thánh Linh và Giáo Hội, tuyên xưng Thiên Chúa-Ba Ngôi, mối tương quan của lịch sử với Nước Thiên Chúa, và các biểu tượng của cánh chung. Tillich nắm chắc các vấn đề trình bày với một sự khéo léo đáng kinh ngạc và một sự duyên dáng trí thức… Ông diễn giải đức tin Kitô giáo của tâm thức con người của thế kỷ XX với một sự sâu sắc đến mức độ sự tự nhận thức của cả nền văn hóa và GH Kitô giáo được đào sâu hơn và làm sáng sủa ra.22

TƯ TƯỞNG

  1. THẾ GIỚI QUANH TÔI CÓ VAI TRÒ QUAN TRỌNG GÌ?
  2. PHƯƠNG PHÁP TƯƠNG LIÊN NHƯ LÀ VÙNG ĐỆM CHO MẠC KHẢI VÀ VĂN HÓA
  3. Thế giới chúng ta ngày nay là thế giới toàn cầu hóa và đặc thù như một thế giới đô thị hóa. Thế giới đó được gọi là thế giới “tục hóa” với một nền văn hóa tục hóa, trong đó ta biết nhiều lãnh vực quan trọng của đời sống không còn lệ thuộc vào uy quyền của Giáo Hội hay tuân thủ theo những nguyên lý tôn giáo minh nhiên. Những phát triển đương đại như cuộc cách mạng công nghệ, sự đô thị hóa và sự vươn lên của các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, tất cả đều được khoa học và kỹ thuật hỗ trợ, đã hình thành nênmột nền văn hóa đã hoạt động độc lập tùy theo cái logic nội tại của nó. Và như thế, triết học hoạt động độc lập với thần học. Khoa học hoạt động tự theo phương pháp duy nghiệm của nó. Chính trị hành xử trên việc phân ly giữa Giáo Hội và Nhà nước. Kinh tế vận hành theo mục tiêu của nó mà không cần minh nhiên những giá trị tôn giáo. Ngành trị liệu, được cuộc cách mạng của Freud hướng dẫn, phản ánh một thiên kiến chống tôn giáo. Và giáo dục nhà nước không nhận trách nhiệm để thông truyền di sản tôn giáo cho chúng ta.23
  4. Để làm một thứ “tư tế”, một “shaman”, người nối kết trời đất, cho thế giới và tôn giáo, Tillich đưa đến một phương pháp hiện sinh như một công cụ ta đã nói qua ở trên: Tương Liên:24Đó là một cách tiếp cận đặt mối tương liên giữa những minh kiến từ mạc khải Kitô giáo với các vấn đề được đặt ra nhờ sự phân tích hiện sinh, tâm lý và triết học.25

Ông phát biểu trong phần dẫn nhập tuyệt tác Thần Học Hệ Thống: Triết học tổng kết những vấn nạn ẩn chứa trong đời sống con người, và thần học tổng kết những giải đáp ẩn chứa trong sự tự-biểu-lộ của Thiên Chúa từ những vấn nạn trên. Đây là một vòng tròn đưa con người đến một điểm mà vấn nạn và giải đáp không tách rời nhau. Điểm này, tuy nhiên, không phải là một thời điểm trong thời gian.26

Thông điệp Kitô giáo cung cấp lời giải đáp cho các câu hỏi được hàm chứa trong hiện sinh nhân bản. Những lời giải đáp này được chất chứa trong những biến cố mạc khải mà trên đó Kitô giáo dựa lên và được thần học hệ thống hiện thực từ các cội nguồn khác nhau, thông qua phương tiện, theo một qui chuẩn. Nội dung của chúng không thể xuất phát từ những vấn nạn đã được phân tích từ hiện sinh nhân bản. Theo một nghĩa nào đó, chúng được nói cho hiện sinh nhân bản từ các vượt trào. Nếu không, họ sẽ không có câu trả lời, cho câu hỏi là sự tồn tại của con người chính nó.27

Đối với Tillich, những vấn đề hiện sinh về sự tồn tại của con người có liên quan đến các lĩnh vực triết học, và đặc biệt hơn, với hữu thể học. Theo Tillich, việc theo đuổi suốt đời triết học cho ta nhận thấy rằng, các vấn nạn trung tâm liên quan đến truy vấn triết học luôn quay lại với câu hỏi hữu thể, hoặc hiện hữu cũng như tồn tại, hoặc để tồn tại như một con người hữu hạn có nghĩa là gì.28

  1. Tương liên với những câu hỏi này là câu giải đáp thần học, bắt nguồn từ mạc khải Kitô giáo.Nhiệm vụ của các nhà triết họcchủ yếu liên quan đến việc phát triển các câu hỏi, trong khi nhiệm vụ của các nhà thần học chủ yếu liên quan đến việc phát triển các câu trả lời cho những câu hỏi này.

Tuy nhiên, điều ta cần nhớ rằng hai nhiệm vụ triết học và thần học chồng chéo lên nhau và bao gồm lẫn nhau. Thật vậy, nhà thần học ở một mức độ nào đó là triết gia và ngược lại. Theo Tillich, đức tin nếu được hiểu như là “mối quan tâm cùng đích” thì đòi hỏi rằng câu trả lời thần học phải có mối tương liên với, tương thích với, và để đáp ứng với, các câu hỏi hữu thể học chung chung mà phải được phát triển một cách độc lập từ các câu trả lời.29

Nói tóm lại, mọi tiếp cận thần học đều có mục tiêu làm trung gian giữa nền văn hoá đương đại và Kitô giáo lịch sử.

(i) Vì thế, nó cho thấy đức tin không nhất thiết bị nền văn hoá loại trừ và ngược lại; (ii) Vai trò trung gian chính thực là một mối tương liên giữa văn hoá và tôn giáo. Mối tương liên tựa như mối quan hệ giữa một bên “đặt câu hỏi” (questioning) và bên kia là “trả lời” (answering); giữa “hình thức” và “nội dung” (hay bản chất) trong một công trình nghệ thuật; (iii) Trong thực tại cụ thể, mối tương quan giữa tôn giáo và văn hoá là hiện sinh vì chúng là hai mặt của một đồng tiền. Văn hoá là “hình thái” (form) của tôn giáo và tôn giáo là bản chất (substance) của văn hoá; (iv) Vì thế Tương liên có nghĩa: (1) Sự tương ứng giữa các dữ liệu khác biệt (vd: giữa hỏi – đáp; hình thức – nội dung); (2) Sự tương tùy logic giữa những khái niệm tựa như giữa những cực tương liên (vd: các cực thần linh và nhân bản); và (3) Sự tương tùy đích thực giữa các sự vật hay biến cố trong một cấu trúc toàn thể (vd: tương quan giữa hai tu sĩ nhưng trong một cộng đoàn hay dòng tu).30

  1.     NHỮNG MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO
  2. Làm thế nào các Kitô hữu đi đến sự hiểu biết và nhận định xu hướng của nền văn hóa của chúng ta đang muốn đẩy tôn giáo ra biên bờ? Vậy vai trò nào các tôn giáo truyền thống còn hiện thực được trong nền văn hóa tục hóa này? Làm thế nào tôn giáo Kinh Thánh và nền văn hóa đương đại có thể tương tác với nhau một các lành mạnh và hài hòa?
  3. Đó chính lànhững vấn nạnmà Tillich đã tìm cách để giải quyết trong nền thần học của ông. Bằng cách dõi theo phương cách của ông chúng ta có thể thấy được ba chiều hướng suy tư của ông gắn liền với ba loại văn hóa mà chúng ta gặp phải ngày nay. Ông sử dụng phương pháp Tương liên để đi đến một sự phân tích mối tương quan tôn giáo và văn hóa dưới ba dạng.

     III. MỘT NỀN VĂN HÓA DỊ TRỊ NHƯ NHỮNG “KHUYNH HƯỚNG QUỈ MỊ”31

  1. Tillich kịch liệt phê phán nền văn hóa dị trị này, trong đó cám dỗ của tôn giáo muốnchế ngựvà kiểm soát văn hóa hoàn toàn bằng cách cắt đứt văn hóa khỏi tính tự trị của nó.32

Ông chuyển hóa cảm xúc mạnh mẽ này bằng cách tinh lọc và áp dụng “nguyên lý phản kháng”33 kêu gọi đến một sự phản kháng chống lại sự bóp méo sứ điệp Tin Mừng. Theo lối sống này, ông loại bỏ mọi cố gắng để gán giá trị tuyệt đối cho Giáo Hội.

  1. Đặc biệt, ông rất sáng suốt để vạch ra những khuynh hướng mà ông gọi là “khuynh hướng quỉ mị”34biết rút tỉa năng lượng tích cực từ tôn giáo, nhưng lại sinh ra những kết quả phá hoại. Chẳng hạn, ông phê phán những cung cách con người rơi vào cám dỗ kiểu ma quỉ, sử dụng những điều thánh thiêng như bí tích nhưng chính là để “thao tác Thiên Chúa”.35

Việc phê phán những sai lầm trong tôn giáo của Tillich bao quát nhiều Giáo Hội Kitô giáo. Ông cay nghiệt phê phán cho rằng, cả Giáo Hội Công giáo về tính độc đoán,36 lẫn Giáo Hội Tin Lành trong sự vắng bóng tinh thần tự phê.37 Đối với Kitô giáo cách chung, ông phản ứng mạnh mẽ chống lại những khuynh hướng bài Do Thái, lạm dụng quyền lực, và thất bại trong việc đáp ứng những nhu cầu của thế giới tục hóa.38

  1. Tillich có một cái nhìn sắc bén vềtầm tác hại to lớn do một tôn giáo độc đoán muốn chế ngự văn hóagây ra: là hữu hạn mà tham vọng dám tự xưng mình đang hành động “nhân danh cái vô hạn”.39 Vì theo ông, trong một nền văn hóa hoàn toàn ở dưới sự kiểm soát của tôn giáo, thì tất cả phải phục tùng các tiêu chuẩn độc đoán của một tôn giáo nặng tính tổ chức Giáo Hội (hay chính trị kiểu độc tài chuyên chính). Văn hóa phải máy móc tuân thủ các qui luật và tín điều do tôn giáo đề ra.40
  2. Hệ quả của một nền văn hóa bị chế ngự như thế thìtrì trệ, mất đi những năng lực sáng tạo, bị rơi vào sự đồng dạng thạch hóa,41hành xử đạo đức theo chuẩn của chủ nghĩa duy lề luật, hay tuân thủ một thứ “chủ nghĩa sabbat” khô cần, ngoại tại, vì vắng bóng sự năng động và đa nguyên tính, không xuất phát từ nội tâm.42
  3.     MỘT NỀN VĂN HÓA TỰ TRỊ NHƯ “MỘT SỰ TRỐNG VẮNG THIÊNG LIÊNG”43
  4. Với kinh nghiệm cá nhân của thời gian làm mục sư tuyên úy trong quân đội Phổ thời Thế chiến I (1914-1918),44phải trực diện với cảnh chết chóc thương tâm do sự nhẫn tâm của con người trong việc sử dụng vũ khí hủy diệt, nhân danh những mục tiêu quốc gia, cùng với khả năng sâu sắc trong sự phân tích tình trạng xã hội theo quan điểm Kitô giáo, Tillich cung cấp cho chúng ta cái nhìn về “những xu hướng bạo tàn được xây dựng trên nền văn hóa tự trị thế tục.45
  5. Hòa bình lập lại, Tillich lại nhận thức được về một sự đứt đoạn giữa một Giáo Hội độc đoán46tách rời khỏi văn hoá đương đại và một xã hội tục hoá, trong thực tế đã loại bỏ việc giảng huấn của Kitô giáo. Việc ông tham gia xây dựng một phong trào có tên “Kairos Circle”47có tiêu chí xã hội tôn giáo nhằm lấp hố ngăn cách giữa tôn giáo và văn hoá, không kéo dài được lâu, khi Hitler và đảng Đức Quốc Xã (ĐQX) lên ngôi năm 1933.48

Thảm kịch mà Tillich là chứng nhân tại Đức, đặc biệt với những gì đảng ĐQX đang gây ra trong nước, cho ông thêm một xác tín về hậu quả khôn lường của một nền văn hoá tự trị, vì theo ông, căn nguyên của mọi vấn nạn xã hội thì mang tính tôn giáo. Trong tiến trình để tự giải thoát mình khỏi sự độc đoán của tôn giáo,49 nền văn hoá đương đại lại tạo ra một khoảng trống để cho những thực tại trần thế tự hành xử như kẻ tuyệt đối tuôn vào và chiếm lĩnh. Khoa học và kỹ thuật cách nào đã hỗ trợ hình thành nên vấn nạn này, do những đóng góp kỳ diệu của chúng trong việc giúp con người chế ngự thiên nhiên và cho họ sản sinh ra những sản phẩm vật chất kêu gọi tiêu thụ. Trong nhiều trường hợp, khoa học trở thành thần tượng, đặc biệt trong bàn tay của chế độ chính trị độc tài, giả dạng như một giá trị tuyệt đối và tạo ra một cảm thức giả tạo tự mãn.50

  1. Một nềnvăn hóa tự mãn51trở thành miếng mồi ngon của tục hóa.52 Nó không cần biết đến tôn giáo vì nó cho tôn giáo là không cần thiết, hoặc nó loại trừ tôn giáo một cách hệ thống vì đánh giá tôn giáo ngăn cản sự tiến bộ.53

Khi điều này xảy ra, văn hóa nhìn tổng thể, không còn khả năng đem lại một cảm thức chiều sâu hay một bối cảnh ý nghĩa mang tính cùng đích. Những vấn nạn tôn giáo liên quan căn tính và mục tiêu thì bị đè bẹp, làm cho sự khôn ngoan truyền thống của quá khứ gần như không còn thích đáng.

Nói tóm lại, một nền văn hóa tự trị, theo Tillich, đã đánh mất đi điểm tham chiếu cùng đích, trung tâm ý nghĩa, bản chất thiêng liêng của nó.54

  1. Sựtrống vắng thiêng liêngtrong nền văn hóa tục hóa làm gia tăng sự khắc khoải âu lo mà theo Tillich, đó chính là một “sự ý thức hiện sinh về sự đe dọa của vô thể”.55 Trong khi mối âu lo về cái chết vẫn luôn tồn tại và âu lo về lỗi tội, một đặc thù kiểu các xã hội Âu Mỹ chịu ảnh hưởng bởi Thanh giáo, vẫn còn phảng phất, thì con người thời nay rõ ràng vẫn rơi vào mối âu lo của sự trống vắng và vô nghĩa. Cảm thức trống vắng, hậu quả của một sự tổn thương tinh thần,56 tựa như khi con người đánh mất đi một niềm tin quan trọng của mình; còn sự mất ý nghĩa tất yếu xuất phát ngay từ tính hời hợt của một nền văn hóa trống vắng một trung tâm hỗ trợ thiêng liêng.

Nền văn hóa như thế vẫn thường thấy trong thời đại ngày nay, nhằm phản ứng chống lại một thứ tôn giáo ngoại tại. Tillich nêu điển hình, hai mô hình văn hóa tự trị kiểu đó: chủ nghĩa Marxit cực đoan57 và chủ nghĩa hiện sinh. Ở đây, con người trở thành thước đo mọi sự: Không cần quy chiếu về bất cứ điều gì tuyệt đối, vô điều kiện. Cuối cùng người ta đi đến một thứ chủ nghĩa duy lý gay gắt.

  1. Hệ quả xảy ra là, tính linh thánh được chuyển dời qua con người, với tất cảsự cám dỗđến mức độ con người có thể tự xem mình như thần thánh, và mọi khả năng có thể đưa đến “sùng bái ngẫu tượng”58  chứa đựng trong sự chuyển dịch như thế. Một cách nào đó trong nền văn hóa tự trị, cái vô hạn bị chiếm đoạt bởi cái hữu hạn.59 Trong khi ở nền văn hóa dị trị, cuối cùng cái thực thể hữu hạn chiếm đoạt cái vô hạn, thì ở đây, thực thể hữu hạn được tôn phong lên vô hạn.
  2.     MỘT NỀN VĂN HÓA THẦN TRỊ HAY MỘT TÔN GIÁO NỘI TÂM60

Tiếp nối sự phê phán sắc sảo về hai nền văn hóa dị trị và tự trị, Tillich trình bày một nền văn hóa lý tưởng: Văn hóa Thần trị, trong đó tôn giáo và văn hóa cả hai tương tác lên nhau trong một phương cách hài hòa.61

  1. Trong minh kiến độc đáo của mình, Tillich nhận ra giữatôn giáo và văn hóa có một sợi dây nối kết nội tại: Trong mối tương quan này, tôn giáo không tìm cách lấn áp văn hóa cũng như không muốn tách rời ra khỏi đó, nhưng đóng vai trò chuyên biệt trong việc chuyên trách về “mảng ý nghĩa, sự nghiêm túc, và chiều sâu” cho mọi dạng văn hóa. Chính vì thế ông tổng kết sự nhận thức căn bản của ông trong “tiên đề” thời danh “bản thể của mọi nền văn hóa là tôn giáo” và rằng “hình thái của tôn giáo, chính là văn hóa”.62
  2. Ông tự hỏi, một nền văn hóa là gì nếu không phải là nỗ lực mang lại chothực tại hiện sinh của con người ý nghĩa và tính cố kếtcủa nó?

Một nền văn hóa là “thần trị” hoặc “tôn giáo” khi nó có khả năng biểu lộ được ý nghĩa tối hậu hoặc “ít nữa nó được khai mở về hướng đó.” Một nền văn hóa thần trị là nền văn hóa trong đó “ý nghĩa tối hậu của thực tại hiện sinh được biểu lộ và được nhận ra nơi tất cả mọi hình thái hữu hạn của tư tưởng và hành động”.63

Một nền văn hóa như thế vẫn đang còn trên tiến trình cố gắng để xây dựng lên. Tillich rất lạc quan cho rằng đó là khả thể: Cho dù con người có thể đè nén được tiếng gọi của thực thể cùng đích,64 nhưng một cách thầm kín, con người vẫn hướng về đó và không thể hoàn toàn giam hãm mình trong thái độ chối bỏ này.

  1. Tillichkhông tinvào một nền văn hóa hoàn toàn vô thần. Ông cho rằng nó vẫn có một thái độ khẳng định nào đó về Thiên Chúa. Nên Tillich tự coi mình như là người làm biện hộ cho nền văn hóa mới này, có khả năng tập hợp những yếu tố hiện nay đang còn rời rạc phân tán. Chính nơi đây ông sử dụng một phương pháp mới, phương pháp tương liên, tức là liên kết những vấn nạn mà con người đặt ra cho mình với lời của Đức Kitô: “Mạc khải là lời giải đáp cho vấn nạn do thân phận con người đặt ra”.65

Theo Tillich chìa khóa để hiểu mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa chính là cần biết phân định giữa tôn giáo của nội tâm,66 đòi hỏi mối quan tâm cùng đích và tôn giáo công khai67 hiển hiện trong quần chúng cần có những yếu tố thiết chế.

Tôn giáo nội tâm đòi hỏi gắn kết hoàn toàn và dấn thân hết tình.68 Đó là trạng thái hữu thể được nắm bắt bởi một mối quan tâm cùng đích, được lời mời gọi dấn thân vô điều kiện, được giác ngộ bởi sự gặp gỡ với Đấng Thánh.

Nhìn theo viễn tượng này, tôn giáo không chỉ là một khía cạnh của cuộc sống, nhưng là “bản thể, nền tảng và chiều sâu” trải rộng toàn thể đời sống ta.

Mối quan tâm cùng đích của tôn giáo xuất hiện trong những đòi hỏi luân lý vô điều kiện, trong ước vọng “đam mê” tìm đến chân lý, và trong ước muốn vô tận để diễn tả ý nghĩa.

  1. MỘT NỀN THẦN HỌC DÁM HÒA NHẬP VỚI THẾ GIỚI

Thay vì để Kitô giáo lạc điệu với thế giới Tillich cung cấp một viễn tượng thần học dám hoà nhập với thế giới, với lòng cuộc sống thấm đẫm âu lo thường nhật và cung cấp câu trả lời qua các biểu tượng tôn giáo.

Tổng quan thần học hệ thống (I,II,III) tổng kết ra ba dạng viễn tượng sau: (I) Bản Chất Yếu Tính; (II) Sự Đứt Đoạn Hiện Sinh; (III) Tính Hiện Tại69 để trả lời cho năm vấn nạn của tình trạng con người ngày nay:70

(1) Tương quan giữa biểu tượng “Logos” với nền văn hoá đương đại dưới dạng vấn nạn: làm sao chúng ta biết cách chắc chắn (certainty) mọi chân lý quan trọng của con người?

(2) Tương quan giữa biểu tượng “Thiên Chúa Đấng tạo dựng” với những diễn tả của nền văn hoá dưới dạng vấn nạn “hữu hạn tính.” Làm sao chúng ta đứng vững trước các lực hủy diệt đe doạ làm tan rã cuộc sống chúng ta ?

(3) Tương quan giữa biểu tượng “Đức Giêsu như Kitô” với những diễn tả thế tục của vấn nạn tha hoá (estrangement). Làm sao chúng ta có thể chữa lành sự tha hoá mà chúng ta kinh nghiệm từ chúng ta và từ tha nhân ?

(4) Tương quan giữa “Thần khí” với những diễn tả của nền văn hoá liên quan vấn nạn “hàm hồ.” Làm sao sự sống của chúng ta là chân thực, khi đạo đức, thực hành tôn giáo và những sự tự diễn tả văn hóa thì hàm hồ đến thế?

(5) Tương quan giữa biểu tượng “nước Thiên Chúa” với câu hỏi: Lịch sử có ý nghĩa gì không?71

  1. BẢN CHẤT YẾU TÍNH72

Phân đoạn đầu tiên này sẽ giúp chúng ta để trả lời cho phần đầu [phần (1) và (2)] của hệ thống.73

  1. Yếu tính liên quan đến cái gì nền tảng nhất: cái “là.”74Theo Tillich, cái gì là “hiện tại” (actual) đối nghịch với “ý thể” (ideal) xuất hiện dưới 3 đặc tính lớn:

(i) Nó tự thân là một thể toàn nguyên75 (một hệ thống); (ii) Nhưng lại là một thành phần76 của một tổng thể toàn nguyên bao quát hơn trong đó mỗi thành viên đi vào những giao dịch77 đa dạng với các thành viên khác; (iii) Nó “hữu hạn”78 theo nghĩa tự thân nó vẫn dễ dàng bị ảnh hưởng bởi sự tự hủy79 và tách rời với tổng thể.

  1. Mục đích để trả lời cho hai vấn nạn: Vấn nạn “Biểu tượng Logos” và Vấn nạn “Biểu tượng “Thiên Chúa–Đấng Tạo Thành.”
  2.      VẤN NẠN I80: BIỂU TƯỢNG “LOGOS”

Biểu tượng “Logos” và câu hỏi hoài nghi của nền văn hoá đương đại “làm sao tôi có thể biết chắc một chân lý nào, về phương diện cá nhân là quan trọng”?

         1.1. Yếu Tính Của Chúng Ta Như Là “Chủ Thể Tri Thức”81

  1. Chúng ta giao dịch với thế giới qua tri thức.82Là con người chúng ta đồng thờinắm bắt83 và tạo dạng84 cho tri thức.

Nhờ tri thức, trước tiên ta được giải phóng khỏi vấn nạn hoài nghi85 được nêu lên bởi những dạng hoành đoạt86 vẫn luôn tồn tại, bằng cách làm sao cố gắng đi đến biết được chân lý quan trọng.

  1. Để làm điều đó Tillich nhờ đến khái niệm rất phong phú về tri thức.87Theo Tillich, “biết”88bao trùm mọi dạng giao dịch (transaction) với thế giới trong đó chúng ta vừa nắm bắt vừa tạo dạng nó. Chính tinh thần nhân bản như là cấu trúc của tâm thức cho chúng ta khả năng tạo dạng cho thế giới. Khả năng của tinh thần này, Tillich gọi là lý lẽ hữu thể học.89 Nó phong phú hơn cái thường được hiểu là đơn thuần như là “lý lẽ kỹ thuật,”90 hay khả năng giải quyết vấn đề.91

         1.2. Khả Năng Tinh Thần Nhân Bản Này Rất Cần Thiết Tại Sao?

  1. Vì chúng ta luôn phải cố gắng để nắm bắt và tạo dạng cho đời sống, trong đóthực tại cuộc sống luôn bị đe doạ bởi cái vô nghĩa hoặc cái bất định. Vấn nạn vẫn là làm thế nào để biết rằng ta đã khuất phục được sự đe dọa? Câu trả lời chính là được cung cấp bởi biểu tượng Kitô giáo: “Logos.”

Ta cần đặt câu hỏi tại sao những cố gắng của chúng ta để hiểu biết lại bị đe dọa trước khi chúng ta có thể làm rõ tại sao như thế. Nghĩa là, là làm thế nào biểu tượng Logos có thể giúp giải quyết được sự hoài nghi của chúng ta. Vì chúng ta cũng biết, những cố gắng thuần lý của chúng ta thì không phải lúc nào cũng vững vàng, đơn giản vì tri thức của chúng ta ngang qua các lý lẽ hữu thể học thì hữu hạn.

  1. Theo Tillich có ba cặp lưỡng cực phải được duy trì quân bìnhtrong việc nắm bắt và tạo dạng cho thực tại, vì nếu không có thể xảy ra sự xung đột.

(i) Nắm bắt thực tại cách hợp lý đòi buộc hai chiều kích hình thức(formal) và xúc cảm (emotional). Tuy thế, vai trò hình thức và xúc cảm của giao dịch nhận thức92 với thế giới có thể đưa đến xung đột và cái mà chúng ta chờ đợi làm sao có được một hiểu biết nào đó để thống nhất chúng.

(ii) Nắm bắt thực tại cách hợp lý thì cũng cần nắm bắt khía cạnh tĩnh và động cách quân bình, vì chúng dễ đưa đến xung đột.

Vì quá nhấn mạnh trên tĩnh dễ đưa đến bảo thủ cực đoan; ngược lại, nhấn mạnh trên động có thể đưa đến một thứ tương đối chủ nghĩa thiếu căn cơ. Ta thấy sự căng thẳng thường xuyên xảy ra giữa bảo thủ cực đoan và tương đối chủ nghĩa.

(iii) Sự căng thẳng thứ ba là giữa sự tự do ý chí hay sự tự quyết,93 dựa trên bản thân ta như là một quyền uy muốn có tiếng nói cuối cùng trong nhận thức được phát biểu tựa như là luật (Hy Lạp, nomos) và quyền uy từ ngoài dựa trên đối tượng khác,94 có thể là truyền thống hay một quyền lực được thiết lập như là luật. Sự xung đột có nguồn gốc trong lưỡng cực giữa bản thân lý trí của ta và cơ cấu xung quanh.

         1.3. Hệ Luận Quan Trọng: Vai Trò Của Cấu Trúc Của Lý Trí Con Người

  1. Hệ Luận của cấu trúc của lý trí95làm cho chúng ta có thểnắm bắt và tạo dạng thực tại. Nhưng nắm bắt và tạo dạng luôn đòi buộc phải phán đoán của lý trí để thấy cái gì tự thân là chân, thiện, mỹ (ba chuẩn mực siêu nghiệm và cùng đích). Còn chiều sâu của lý lẽ thì quy chiếu vào sự kiện rằng chúng ta dấn thân vào sự giao dịch hợp lý dưới ánh sáng của những chuẩn mực đó cho dù chúng ta không ý thức để làm như thế.

Sự hiện diện của ba chuẩn mực siêu nghiệm96 này (chân-tự thân, thiện-tự thân, mỹ-tự thân)97 đối với lý lẽ, đó là sự hiện diện của uy lực hữu thể (hữu thể-tự thân) đối với tâm thức.

  1. Nói tóm tắt, khả năng đích thực của cái ý nghĩa khả dĩ xảy ra trong cuộc sống của ta, và đồng thời có được quân bình động giữa cáihình thức và xúccảm, tuyệt đối và cụ thể, và trong đó cơ cấu (quyền lực truyền thống luật pháp) và chiều sâu của lý lẽ (chủ quan) được thống nhất.
  2. Nhưng làm thế nào để ta biết được sự quân bình này?

(i) Tillich trả lời, đó là nhờ mạc khải có được tương liên với biểu tượng Kitô giáo, chính Đức Giêsu là Logos.98 Vấn đề là mạc khải, vì đó là vấn đề liên quan đến sự biểu lộ của mối âu lo cùng đích: Nó đặt nền cho ý nghĩa trong cuộc sống. Sự biểu lộ là một biến cố mạc khải với hai biên bờ:99

(1) Biên bờ “đón nhận”100 đó là một nhóm con người hoàn toàn bị biến cố, xúc cảm, và tâm trí nắm bắt, được thống nhất trong một toàn thể tính uyên nguyên. Tillich gọi đó là “đức Tin,” hoặc có khi lại gọi là “ngất ngây” (ectasy).101 Đó là tình trạng trong đó lý lẽ tự-siêu-việt trong một sự nắm bắt tự-ý-thức đến chiều sâu của lý lẽ, nền tảng của ý nghĩa.

(2) Biên bờ “trao ban”102 của biến cố mạc khải, Tillich gọi là “phép lạ”. Chính xác nó là vài đối tượng cụ thể riêng biệt, biến cố hay con người hoạt động như là một biến cố-dấu chỉ, hay biểu tượng tôn giáo qua đó nền tảng ý nghĩa trong đời sống xuất hiện trước con người.

(ii) Trong các tôn giáo thế giới nhiều sự việc khác biệt đã đóng vai trò trung gian. Đối với các môn đệ của Đức Giêsu, chính bản thân Ngài là “phép lạ” hay biểu tượng đóng vai trò trung gian cho nền tảng ý nghĩa cho các môn đệ, những con người đón nhận nó trong sự ngất ngây.

Chính đó cái mà Tillich gọi là một “biến cố mạc khải “độc đáo”.103

(iii) Các môn đệ diễn tả sự kiện rằng điều đó đã xảy ra bằng cách bằng cách sử dụng một chuỗi đa dạng các câu chuyện và hình ảnh ngôn ngữ của Đức Giêsu được lưu giữ trong các bản văn Tân Ước. Hình ảnh “Đức Giêsu là Logos” (Lời, Lý lẽ) diễn tả vai trò của Ngài như là sự khoảnh khắc hóa cụ thể của sự hiện diện như là nền tảng ý nghĩa của sự sống.

  1. Nhưng vấn đề là ta có thể biết được điều gì trong biến cố mạc khải?104

(i) Sự phân tích hữu thể học của lý lẽ hữu hạn thì cho chúng ta nhận thức cách độc lập rằng nền tảng của ý nghĩa thì luôn hiện diện trong lý lẽ con người như là “chiều sâu” của nó. Tựa như nền tảng của hữu thể thì luôn hiện diện ở mọi chiều kích của cuộc sống chúng ta dưới khía cạnh “uy quyền của hữu thể.”

(ii) Thật vậy, cũng tựa như nền tảng của hữu thể không đơn thuần chỉ là một đề mục nào đó thêm vào cho thế giới mà nó là nền, hay nói cách khác, nền tảng ý nghĩa của mọi sự vật thì không phải là một chỉ mục ta cần biết mà thôi, vì thật ra nó siêu việt cấu trúc của lý lẽ hữu hạn.

(iii) Tự thân nó là một “mầu nhiệm” và không ngơi cho dù đang ở trong mạc khải. Vấn đề là nhờ Đức Giêsu chúng ta biết được gì?

  1. Tillich trả lời rằng trong khi nền tảng mọi ý nghĩa có thể luôn hiện diện đối với lý trí, thực tế chúng ta không ý thức về sự phân mảnh của nó khỏi mạc khải. Tính cụ thể của vai trò trung gian (đối với người Kitô hữu, chính là con người Giêsu) làm cho chúng ta tự-ý-thức về sự hiện diện của tuyệt đối hay nền tảng vô điều kiện của ý nghĩa.

(i) Điều tối quan trọng trong mối tương quan của ta với mầu nhiệm, đó là không được lầm lẫn cái trung gian hữu hạn với chính cái trung gian của mầu nhiệm. Lầm lẫn theo Tillich chính là thờ bụt thần, nghĩa là biến hữu hạn thành tột cùng. Chính vì thế mà theo Tillich, ta có thể xếp hạng những biểu tượng trung tâm của đa dạng tôn giáo đối với khả năng phân biệt rõ ràng này. Ở trên nấc thang “phân giải” này, theo ông, Đức Giêsu ở tội cùng của mạc khải. Nói cách khác, Ngài là chuẩn mực mà mọi độ ”phân giải” khác phải so với. Vì Ngài là sự minh bạch tuyệt đối và vô điều kiện trong vai trò làm trung gian đối với nền tảng ý nghĩa.105

(ii) Thật vậy, sự tự hóa mình ra không trên thập giá của Ngài là sự minh bạch vô điều kiện đối với Chúa Cha mà còn đối với thế giới. Vì qua Ngài, ta ý thức rõ đâu là nền tảng mọi ý nghĩa, đâu chỉ là trung gian hữu hạn chóng qua.

Vì thế, Đức Giêsu chính là Logos, là sự nhận thức tuyệt đối, cái “biết”106 vô điều kiện, là Lời Giải Đáp cho mọi hoài nghi làm chúng ta bị tha hóa. Ngài là sự thống nhất giữa cái cơ cấu và chiều sâu giúp giải phóng cái căng thẳng giữa quyền uy tự trị107 và quyền uy dị trị.108

(iii) Đối với biên bờ “đón nhận” là “đức tin” của nhân loại, Ngài cũng làm tan biến sự căng thẳng cố hữu của hình thức109 và xúc cảm.110 Còn đối với biên bờ “ban cho” là “phép lạ”111 Logos giúp cho ta biện phân giữa cái cụ thể112 và cái tuyệt đối,113 và giải phóng sự căng thẳng giữa tương đối114 và cái độc đoán.115 116

  1.     VẤN NẠN II: BIỂU TƯỢNG “THIÊN CHÚA – ĐẤNG TẠO THÀNH”

Biểu Tượng “Thiên Chúa – Đấng Tạo Thành” và câu hỏi của nền văn hoá đương đại liên quan hữu hạn tính của con người. làm sao chúng ta trụ lại được trước những lục huỷ diệt đe doạ làm tan rã đời sống chúng ta?117

Khi đi đến bàn cãi những vấn đề nhân sinh con người phải trực diện, Tillich cho chúng ta cảm giác là ông vận dụng khá kỹ hai triết gia hiện sinh Kierkegaard và Nietzsche:

         2.1. Con Người Luôn Bị Đe Dọa Bởi Vô Thể118

  1. Yếu tính củacon người như là “tạo thành”cho chúng ta cảm giác, thật sự có những khoảnh khắc trong đời sống, chúng ta phải đi vào một trải nghiệm sâu sắc, tột cùng đến mức độ như là mình ở biên bờ bị tràn ngập bởi những đe dọa của tính vô nghĩa,119 lầm lỗi120 và sự chết.121

Nói một cách trừu tượng, “hữu thể thì bị đe dọa bởi vô thể.”122 Điều cùng quan trọng đối với Tillich, đó là chúng ta đồng thời cũng có trải nghiệm bản thân liên tục chống lại mối đe dọa này, với sự hiện diện và trợ giúp của uy lực của hữu thể.123

Từ đó, nổi lên câu hỏi: Từ đâu xuất phát uy lực chống lại mối đe dọa của vô thể? Lời giải đáp, theo Tillich, được cung cấp bởi biểu tượng Kitô giáo: “Thiên Chúa như là Đấng Tạo Thành”.

  1. Tillich có cách đặt vấn đề rất hay: chúng ta cần hỏi,chúng ta là sao mà lại dễ dàng bị tổn thương bởi đe dọa bởi “vô-thể”?

Ở đây, ta gặp hữu thể học thời danh của Tillich. Hữu thể học chủ yếu bàn về “hiện hữu” (to be) là gì124 Khác với nhiều triết gia, Tillich tập trung sự phân tích hữu thể học vào hữu hạn tính125 của con người, được hiểu như là tự thân chúng ta bị đe dọa bởi vô thể và cá nhân hữu hạn vì cơ bản cá nhân không phải là cội nguồn của uy lực hữu thể có thể chống lại sự đe dọa.

         2.2. Thế Quân Bình Với Ba Lưỡng Cực

Tillich gợi ý rằng mọi sự tương tác của chúng ta với thế giới đều biểu lộ cùng cơ cấu căn bản, được xây từ nền tảng ở ba khía cạnh lưỡng cực và chúng ta cần phải giữ cho được mối quân bình giữa chúng.

  1. Với lưỡng cực“cá nhânhóa126 và “tham gia”,127 đó là lưỡng cực một bên là cá nhân – biệt vị và bên kia là cộng đoàn.

Với cá nhân tính liên quan đến tự do tuyệt đối mà ta cần nuôi dưỡng và gìn giữ, và cộng đoàn cần chia sẻ và hiệp thông, làm sao giữ được quân bình giữa cái căn tính và cộng đoàn tính?

Chính vì thế sự xung đột với các mâu thuẫn trầm trọng giữa lưỡng cực tất yếu đưa dẫn đến nhiều vấn nạn tâm lý và xã hội.

  1. Với lưỡng cực“dạng hình” (form) và “động lực” (Dynamics):

Dạng hình liên quan đến hình thức qua lề luật, sự chuẩn mực. Không có nó sẽ xảy ra sự tương tác hỗn loạn và không đưa đến một kết quả tích cực nào. Nhưng nếu không có động lực từ bên trong, sẽ không có sáng tạo và đổi mới. Tất cả hệ thống sẽ trở nên xơ cứng.

Nhiều cuộc cách mạng chính trị nổ ra có thể hiểu được nguyên do có sự xung đột giữa lưỡng cực bảo thủ (hình thức) và tiến bộ (đổi mới).

  1. Với lưỡng cực“tự do” và “định mạng”

Ta phải nhận thấy rằng khi giao dịch với thế giới chúng ta cảm thấy mình bị điều kiện hóa rất nhiều bới hoàn cảnh trực tiếp (immediat) và bởi cả dòng lịch sử của cái chúng ta đã làm hay đã hoàn tất ở thời điểm đó.

Còn định mạng xác định chúng ta là ai ở vào khoảnh khắc đó và đặt chúng ta vào quĩ đạo nào đó để đi vào tương lai. Nhưng chúng ta phải thi hành sự tự do để quyết định phải làm gì và lãnh trách nhiệm. Trên sự phân tích đó: “là”(To be) đương nhiên “hữu hạn”128

Nó là tự thân chớ không phải là phụ thể129 dễ bị tổn thương trong giao dịch với thế giới trong đó sự cá nhân hóa phân ly khỏi sự tham dự, tính động lực phân cách khỏi dạng hình, định mạng tách khỏi tự do.

  1. Nhưng không phải chúng ta hoàn toàn bị đứt đoạn. Đâu là “uy lực hữu thể” giúp ta chống lại lực vô thể ? Tillich nêu lên ngay cái “Ultimate concern” (mối quan tâm cùng đích), một biểu tượng Kitô giáo: “Thiên Chúa–Đấng Tạo Thành.”

(i) Sáng tạo ở đây không nói đến nguồn gốc tạo dựng. Trái lại, nói Thiên Chúa–Tạo Dựng đó là nói đến trải nghiệm một tình trạng tương tác: Uy lực hữu thể đang hiện diện130 tích cực, và liên tục không ngơi gìn giữ,131 nền tảng cho hữu thể của con người ngay giữa những đe doạ của vô thể:132 “Thiên Chúa tạo dựng từ hỗn mang.”

(ii) Cùng lúc biểu tượng Thiên Chúa, sáng tạo mang sắc thái một kinh nghiệm khác: sự hiện diện của uy lực hữu thể được cảm nghiệm như là “vô phương thấu đạt”133 và “thánh thiêng.”134 Theo Tillich, qua sự phân tích hữu thể135 uy lực này không là yếu tố nằm trong cơ cấu của hữu thể. Nó cũng không phải là một tên khác của cơ cấu hữu thể136 nhìn cách tổng thể: Tillich phủ định điều đó như là một dạng đa thần giáo hay phủ định đó như là “hữu thể siêu việt”.137 Vì theo định nghĩa mọi hữu thể thì đã là hữu hạn.

(iii) Vì thế, Tillich không muốn sử dụng diễn ngữ “sự hiện hữu” của Thiên Chúa. Vì uy lực hữu thể hay nền tảng của hữu thể138 chính là Ngài, đấng tạo thành mọi sự, hữu thể của các hữu thể, và Ngài chính là hữu thể tự thân139 hoàn toàn không bị chi phối bởi tất cả điều gì khác nhưng lại hiện diện trong tất cả: Ngài là Đức Chúa.140

  1.   SỰ ĐỔ VỠ HIỆN SINH141

Sau khi nói đến bản chất yếu tính cái gì là nền tảng nhất và cái gì đe dọa cuộc sống, thì bây giờ ta nói đến sự đổ vỡ (đứt đoạn hiện sinh). Phần này bàn đến Vấn Nạn Thứ Ba.142

  1.     YẾU TÍNH VÀ HIỆN SINH
  2. Đối với Tillich, “vô thể” là yếu tính của chúng ta, là cáitiềm thể143trở thành khả năng144 khi được hiện thực, i.e., khi ta đi vào tương tác với thế giới xung quanh.

Còn hiện hữu145 là tách biệt ra khỏi yếu tính của chúng ta.146 Vì thế, theo Tillich, hiện hữu (existence)147 và hiện sinh (existential) mang ý nghĩa xa rời khỏi yếu tính,148 ra khỏi vô-thể.

Tình trạng hiện sinh149 là tình trạng xa rời, tách biệt khỏi bản thân ta, tha nhân, và uy lực hữu thể.

  1. Khiphân tích hữu thể học150bản chất yếu tính của chúng ta, ta đã thấy tại sao tự thân chúng ta bị de doạ bởi vô thể. Khi mô tả tình trạng hiện sinh của con người, chúng ta thấy sự đe dọa đang xảy ra và được hiện thực hoá trong từng con người và cả trong những cộng đồng.

Thật vậy, khi “xa lạ” với uy lực hữu thể, chúng ta trong thực tế không thể nắm chắc các lưỡng cực cách quân bình như cá nhân hoá và sự tham dự, hình dạng và động lực, tự do và định mạng trong tương quan với thế giới của chúng ta.

  1. Hệ quả: Các mối quan hệ hay giao dịch với tha nhân bị đứt đoạn hay đổ vỡ và “thế giới” của chúng ta từ từ trở nên hỗn loạn.151Cùng lúc, mối quan hệ của bản thân ta với chính mình bị xáo trộn152và lần hồi đi đến tan rã.153
  2.     BIỂU TƯỢNG KITÔ GIÁO: SA NGÃ VÀ TỘI NHÂN
  3. Mỗi con người chúng ta đều trải nghiệm trong bản thân mình, những đứt đoạn, những xung đột, những tan rã này, được biểu hiện quacảm thức tội lỗi sâu xa, cô độc, sự vô nghĩa.

Biểu tượng cổ điển của Kitô giáo cho tình trạng này: “Sa Ngã” và “Tội”. Câu chuyện sa ngã của Ađam và Eva không phải là câu chuyện thần thoại dạy đạo đức bình dân, cũng không chỉ là một bản báo cáo về quá khứ.

  1. Thật ra, nó diễn tả tiến trình chuyển tiếp xảy ra như thế nào từbản chất yếu tínhđến sự đổ vỡ hiện sinh như là hệ luận của lưỡng cực tự do và định mạng mà chúng ta không giữ được quân bình động trong tương quan giữa chúng.

Một đàng, ta nhận thấy sự chuyển tiếp154 không như là một sự phát triển tự nhiên hay hợp lý, nhưng lại là một sự bất liên tục phi lý, một bước nhảy không giải thích được có nguyên nhân là sự tự do tạo ra. Nó được hiện thực hóa bởi mỗi cá nhân biệt vị. “Tội” là biểu tượng tôn giáo diễn tả trách nhiệm cá nhân cho sự tha hóa155 này.

Đàng khác, mỗi cá nhân làm những điều trên như là một thành viên của xã hội loài người đã trở nên tha hóa.156 Sa ngã157 là định mạng của chúng ta. Từ đó nổi lên vấn nạn: Ta phải tìm kiếm ở đâu năng lực cho một hữu thể mới?

  1.     BIỂU TƯỢNG KITÔ GIÁO: ĐỨC GIÊSU KITÔ NHƯ LÀ UY LỰC MỚI GIẢI PHÓNG
  2. Đấng Mêsiah hay Kitô, chính là “Người Được Xức Dầu,” được Thánh Thần Hiến Thánh lúc Ngài chịu phép rửa tại sông Yorđan (Lc 3, 22; Is 61,1-2) và sai đi như là “Người Mạnh” đến giữa những người với bản chất yếu tính hữu hạn, “bị tha hóa”.158

1Thần Khí của Đức Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân, 2công bố một năm hồng ân của Đức Chúa. (Is 61,1-2)

  1. Đức Giêsu xuất hiện như thế, như là Uy lực của Hữu thể mới.159Giải thích Ngài là ai không khác giải thích Ngài đã làm gì để “cứu độ” chúng ta.160Nhưng ta biết, “cứu độ” và “mạc khải” đều nói lên hai khía cạnh của cùng một thực tại.161

Thật vậy, cứu độ có nghĩa là “chữa lành”.162 Và chữa lành, đó là giải thoát ta khỏi sự tha hóa hiện sinh163 nhờ vào sự hòa giải với tha nhân. Tha nhân (Năng lực Hữu thể) và với chính bản thân ta. Chính xác, hành động này xảy ra trong tình trạng mạc khải.

  1. Ta đã biết ở trên,uy lực đem lại ý nghĩachính là Đức Giêsu như là Logos. Vì thế, Đức Giêsu Kitô là biểu tượng của “Năng lực Hữu thể mới”.164 Đón nhận Ngài vào cuộc đời của mình trong lòng tin, ta được trải nghiệm với Ngài với nội kiến sâu sắc để thấy được đời mình từng bước đi đến thống nhất và mang ý nghĩa. Hành động này cần lập đi lập lại không ngơi.

Thật vậy, một cách nào đó Ngài đưa ta vào mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi khôn dò, khôn thấu, “vô phương thấu đạt”, nền tảng của hữu thể và ý nghĩa đời ta. Tựa như trong phân tâm học, vào giây phút đạt minh kiến trong trị liệu, ta được chữa lành165 khỏi sự tan rã hữu thể học. Tuy nhiên, đó chỉ là một biến cố xảy ra trong khoảnh khắc, rời rạc phân mảnh, và hàm hồ, vì thật ra nó không loại bỏ tình trạng tan rã hiện sinh.166

Chính ngang qua sự trung gian của Đức Giêsu Kitô như là Uy lực Hữu thể mới hoạt động giữa tình trạng tha hóa của nhân loại, và khi ta tham dự vào quyền năng hữu thể này, i.e., đi vào tương quan với Ngài, rộng mở đến Ngài, ta được tái sinh,167 tuy chúng ta vẫn còn trải nghiệm sự đứt đoạn hiện vẫn còn đó.168

  1.     UY LỰC HỮU THỂ TRONG SỰ CÔNG CHÍNH HÓA VÀ PHẠT TẠ
  2. Sự công chính hóa, hay sự thánh hóa,169đó là một cách diễn tả rằng chúng ta đã được biến đổi nhờ vào uy lực hữu thể.

Cụ thể hơn đó là kết quả của sự hòa giải của chúng ta với Thiên Chúa. Phaolô cũng đã khuyên nhủ các Kitô hữu: “Anh em hãy làm hòa với Thiên Chúa của anh em”.

Làm hòa với Thiên Chúa , i.e., là Atonement = At-One- Ment, là hiệp nhất170 hay trong ngôn ngữ lòng đạo bình dân; “phạt tạ” hay “đền tội”.

  1. Nhờ sự phân tích hữu thể học, ta biết được sự hiện diện của uy lực Hữu thể mới giữa sự tha hóa của chúng ta không phải là dễ dàng. Đó chính làquà tặng nhưng không, là“ân sủng”.171

Thật vậy, Thiên Chúa đã tham gia vào tình trạng hiện sinh đổ vỡ của chúng ta. Phaolô trong thư gởi giáo đoàn Rôma cũng nói đến sự dấn thân đi bước trước của Thiên Chúa ngay đang lúc ta còn là tội nhân.

Rom 3,23-24:

23Thật vậy, mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa,24 nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. Thiên Chúa đã đặt Người làm nơi xá tội nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin.

Rom 5, 6-10. 15:

6Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Kitô đã chết vì chúng ta.7 Hầu như không ai chết vì người công chính, họa may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. 8Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.

9Phương chi bây giờ chúng ta đã được nên công chính nhờ máu Đức Kitô đổ ra, hẳn chúng ta sẽ được Người cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. 10Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Ngài phải chết mà cho chúng ta được hoà giải với Ngài, phương chi bây giờ chúng ta đã được hoà giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy.

  1. Như vậy, cái chết của Đức Giêsu, Con Một của Chúa Cha không phải là một sự trừng phạt để thay thế cho chúng ta, nhưng làsự biểu lộ tình yêu Thiên Chúa cứu độ(Rom 5, 8), và đem lại sự hòa giải với Chúa Cha (Rom 5, 10). Sự giải phóng chúng ta khỏi lầm lỗi và trừng phạt không phải do hành động Ngài nhìn thoáng qua chiều sâu chúng nhưng vì tình yêu Ngài đã đi vào tận chiều sâu của vô thể của chúng để phục hồi và biến đổi chúng ta khỏi sự tha hóa. Thư Philip (2, 6-11) đã khẳng định như thế: “Ngài đã hóa mình ra không, “làm kenosis”172 vì chúng ta. Qua chính hành vi chấp nhận đi vào đau khổ, cái vô nghĩa để giải phóng chúng ta khỏi cái vô nghĩa tột cùng. Sự bất vâng phục của Ađam tại vườn Eđen đưa đến sự tha hóa tột cùng và vô nghĩa của đời sống con người. Sự vâng phục của Đức Giêsu, phận là Thiên Chúa “đã tự hạ mình vâng phục cho đến chết, chết trên thập tự.” (Pl 2, 8) đã trả lại cho chúng ta thân phận làm con Thiên Chúa, đó là “những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Ngài thì Ngài cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.” (Gioan 1, 12). Tin vào “danh Ngài” đó là tin vào Ngài, Lời của Ngài.173
  2. Khi ta nói Đức Giêsu làm “người,” thì điều gì ta nói và phân tích về toàn bộ “bản chất yếu tính” cũng được áp dụng cho Ngài. Điều đó có nghĩa rằng Ngài cũng dễ bị tổn thương trong thân phận nhân tính đưa đến sự tan rã (tột cùng là cái chết) và cái tha hóa ẩn tàng ”Ngài giống ta mọi đàng ngoại trừ tội lỗi”:

Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Ngài đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. (Do Thái 4, 15).

  1. Và khi ta nói Đức Giêsu là Thiên Chúa, thì ta nhìn nhận Ngài là Uy lực của Hữu thể mới giữa sự tha hóa của nhân loại. Và vì thế, tất cả “bởi Ngài và nhờ Ngài” mà ta được tồn tại và chia sẻ uy lực hữu thể hiện hữu không ngơi nơi bản thân mình.174

Vì Ngài là năng lực tuyệt đỉnh của hữu thể nến Ngài đưa nhân loại đến sự phục sinh, một sự tái sinh mà Ngài nói với ông biệt phái Nicôđêmô. 

   III. SỰ HIỆN TẠI HÓA

Hai vấn đề cuối của hệ thống được bàn vào phần này “Hiện tại hóa”.175

Tillich sử dụng khái niệm kỹ thuật hữu thể học để nói đến hiện tại tính176 như là sự sống cụ thể, cái hiện tại của hữu thể. “Yếu tính” là một phẩm chất chính của hữu thể, nhìn một cách trừu tượng từ mọi dạng cuộc sống cụ thể. “Hiện sinh” một phẩm chất chính khác của hữu thể, cũng được nhìn một cách trừu tượng. Còn Hiện tại tính liên quan đến đời sống cụ thể của chúng ta như là sự thống nhất cụ thể của yếu tính và hiện sinh.177

  1.     HIỆN TẠI HÓA NHƯ LÀ SỰ THỐNG NHẤT YẾU TÍNH VÀ HIỆN SINH
  2. Cuộc sống chúng ta mangtính biện chứng. Chúng ta vừa phải bảo toànyếu tính của bản thân như là căn tính, nhưng đồng thời phải sống đời sống mình “hic et nunc,”i.e., hiện sinh, một cách tự do (cá nhân tính), như là chủ thể trách nhiệm (chủ thể tính), và ý thức sự hữu hạn (hữu hạn tính) của bản thân trong không gian và thời gian. Vấn đề là rất trung tâm.

Tính biện chứng là vì chúng ta một đàng, phải nhận thức được rằng cần “thống nhất” cuộc sống như là một tiến trình hiện tại hóa cái tiềm ẩn (potentiality) hay cái bản chất yếu tính.178 Nói một cách khác ta cần thống nhất đời sống để giữ lại được căn tính của bản thân. Đàng khác, sự thống nhất không chỉ là bảo toàn, nhưng còn là tiến trình đặc thù năng động của “hiện tại tính” làm cho sự sống bản thân của chúng ta sống động, phong phú, i.e., phải phát triển. Adrian van Kaam, người sáng lập khoa linh đạo huấn luyện179 giải thích tương tự cặp phạm trù “thống nhất và phát triển” này bằng cặp “biệt phân”180 và “hội nhập” (hay tích hợp).181

  1. Làm người, chúng ta ý thức bản thân chúng ta trước tiên, không những dừng ở cácchiều kích vô cơ vàhữu cơ của sự sống, nhưng còn được mời gọi vượt quá chúng để đi đến chiều kích “tinh thần” (spirit).182 Tinh thần biểu thị “sự thống nhất giữa uy lực đời sống và đời sống mang ý nghĩa”.183

Mỗi cá nhân chúng ta trải nghiệm sâu sắc trong đời sống con người rằng chúng ta đơn thuần không chỉ có chiều kích “sinh thái”184 hay “uy lực-sống”.185 Đời sống nhân bản của chúng ta còn bao gồm những khả năng của tinh thần để chúng ta tự điều chỉnh bản thân theo tư tưởng, mục tiêu và dự tính, i.e., những gì liên quan đến “ý nghĩa”186 mà chúng ta yêu thích mãnh liệt và hoàn toàn tự do chọn lựa cho chính chúng ta. Chiều kích thiêng liêng187 của hiện tại tính của con người bao gồm không những lý trí (reason) nhưng còn: eros, đam mê, tưởng tượng.188

  1.     CHIỀU KÍCH TINH THẦN HAY THIÊNG LIÊNG

Với chuỗi các quan sát tại chỗ, Tillich có thể cống hiến một sự phân tích hữu thể học về tiến trình vốn dĩ hình thành nên đời sống với một chiều kích thiêng liêng. Một đời sống tinh thần như thế có ba chức năng:

         2.1 Chức Năng Tự-Tích-Hợp

  1. Chức năng Tự-Tích-Hợp189hay Tự-Hội-Nhập đó là mộtchuyển động vòng bắt đầu đi từ những kinh nghiệm mới mẻ và quay trở lại để tích hợp hay hội nhập chúng vào trung tâm bản ngã (self).190
  2. Lấy ví dụ ta áp dụng tiến trình tự-tích-hợp vào đời sống đạo đức: Không phải vì chúng ta tự nhiên đã hoàn toàn trọn lành, tinh tuyền, nhưng vì trong cuộc sống thường nhật, ta nghiệm ra đồng thời hai chuyển động quyện tròn đến nhau:

(i) Một đàng, chúng ta hành xử như bản thân là “trung tâm,” nơi xuất phát tiến trình tích-hợp, với tất cả ý thức và tự do;

(ii) Đàng khác, như là chủ thể, ta có trách nhiệm để chọn lựa những chuẩn mực và mục tiêu để hướng dẫn những tương tác của chúng ta với tha nhân;

(iii) Nhưng ta biết đồng thời đời sống đạo đức thì ít nhiều hàm hồ, theo nghĩa, ta có thể được phong phú bằng hành động đạo đức nào đó cho bản thân nhờ vào sự tự-tích-hợp nhưng nó cũng có thể gây sự mất mát hay sự hy sinh nào đó nơi tha nhân.

Vấn đề đặt ra cuối cùng, ta có thể nào hoàn thành bản thân mình một cách đạo đức mà không gây hàm hồ không?

         2.2 Chức Năng Tự-Sáng-Tạo

  1. Chức năng Tự-Sáng-Tạo191xảy ra trong cuộc sống như là mộtchuyển động ngang trong đó con người qua dòng chảy của thời gian, luôn thăng tiến và biến đổi sâu sắc.

Ta dấn thân vào tiến trình “tự-sáng-tạo” này khi qua những công việc, ta sản sinh được những đồ tạo tác, những biểu tượng và phong cách có ý nghĩa, liên quan đến vừa nghệ thuật vừa hành vi cử chỉ, i.e., bao gồm một văn hóa và chất chứa ý nghĩa trong cuộc sống mà ta tham gia.

  1. Nhưng đồng thời khi tham gia vào đời sống, ta kinh nghiệmsự hàm hồ trong các yếu tố của nền văn hóa, ngay từ những tạo tác của cá nhân theo phương cách mà xã hội được tổ chức và hướng dẫn: ta nhận thấy chúng vừa nuôi dưỡng đời sống mới nhưng đồng thời cũng áp bức nó, cách này hay cách nọ.

Nhưng bởi vì đời sống chúng ta vốn đã hướng về tự-sáng-tạo, chúng ta tự hỏi có cách nào có thể hoàn thành nó qua một nền văn hóa không hàm hồ không?

         2.3 Chức Năng Tự-Hướng-Đến-Siêu-Việt192

  1. Chức năng tự-hướng-đến-siêu-việt xảy ra trong cuộc sống như là mộtchuyển động thẳng đứngtrong đó con người hướng đến cái siêu phàm (sublime).

Tillich cho rằng ta dấn thân vào sự tự-hướng-đến-siêu-việt trong hoạt động tôn giáo. Chức năng này giao diện và thống nhất cả hai tiến trình nói trên. Nó luôn luôn là những sự sống sáng tạo đầy chất luân lý và văn hóa.

  1. Chính vì thế luôn có chiều kích tôn giáo vốn dĩ trong những hành động luân lý và văn hóa. Tuy thế, những phương cách mà trong đó xu hướng vươn đến tiến trình tự- hướng-đến-siêu-việt được diễn tả trong nghi lễ, huyền thoại và những cơ cấu thiết chế thì vốn dĩ hàm hồ. Tất cả chúng đều là những sự vật hữu hạn hoạt động cách tôn giáo để diễn tả cái vô điều kiện, mà qua đó ta siêu việt chính mình.
  2. Cùng lúc, chúng mời gọi cho chính mìnhmối quan tâm cùng đích chỉ thích hợp với cái vô điều kiện. Vì thế, chúng trở thành “quỉ mị,” rất hủy diệt cho đời sống muốn cố gắng tự mình siêu việt.

Bởi vì cuộc sống của chúng ta vốn dĩ hướng đến tự-hướng-đến-siêu-việt, chúng ta tự hỏi có cách nào không để hoàn thành nó qua chính một tôn giáo phi hàm hồ.

  1. NHỮNG BIỂU TƯỢNG KITÔ GIÁO GIÚP GIẢI PHÓNG KHỎI NHỮNG HÀM HỒ TRONG LUÂN LÝ, VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO

         3.1 Biểu Tượng “Hiện Diện Thiêng Liêng”193

  1. “Hiện Diện Thiêng Liêng”194đó là biểu tượng Kitô giáo được diễn tả qua kinh nghiệm mạc khải của “Thiên Chúa hiện diện”195chính xác trong đời sống thiêng liêng (hay nhân bản).

(i) Thần Khí (chữ hoa Spirit) đó là biểu tượng hoàn toàn thích hợp nhất cho cái vô điều kiện, bởi vì nó diễn tả rằng cái vô điều kiện thì đang sống; (ii) Thiên Chúa Cha như là “Đấng Tạo Thành” diễn tả sự hiện diện của uy lực hữu thể cho chúng ta đối với sự hữu hạn thiết yếu của chúng ta, và Đức Giêsu Kitô như là Uy lực của Hữu thể mới diễn tả sự hiện diện của Ngài cho chúng ta ngay trong sự tha hóa của chúng ta; (iii) Nhưng còn Thần khí thì diễn tả sự hiện diện của Ngài cho chúng ta chính xác ngay trong thực tại cụ thể của chúng ta như là những đời sống thiêng liêng196 đang hiện thực sự tiềm ẩn của chúng ta.

  1. Trongsự hướng-đến-siêu-việt, chúng ta chạm đến sựhiện diện này của Thiên Chúa-Ba Ngôi. Nhưng chúng ta không thể nắm bắt nó, mà trái lại chính chúng ta trước tiên bị hiện diện này nắm bắt.

(i) Khi sự hiện diện của Thiên Chúa-Ba Ngôi nắm bắt chúng ta, chúng ta bị lôi kéo vào sự hiệp nhất siêu việt với đời sống không hàm hồ của các Ngài, và sự hiện diện này lại tạo nên cuộc sống không còn hàm hồ vào nội tại chúng ta.197

(ii) Qua kinh nghiệm của sự hiệp nhất của hữu thể yếu tính và hiện sinh, thì đời sống hàm hồ vẫn còn nổi lên trên chính nó để đi đến sự siêu việt mà nó không thể hoàn thành bởi uy lực của chính nó.198

(iii) Tillich nhấn mạnh rằng kinh nghiệm như thế luôn là có tính xã hội và phân mảnh. Để chắc chắn, chúng đã có một chiều kích chủ quan mà Tillich gọi là “thần bí”.199

  1. Như là tình trạng hữu thể đượcnắm bắtbởi sự hiệp nhất siêu việt của một đời sống hàm hồ, nó được gọi là tình trạng “đức tin”. Còn như là tình trạng hữu thể được đưa vào trong sự hiệp nhất siêu việt đó, thì nó được gọi là tình trạng “yêu thương”.
  2. Dù thế nào đi nữa, điều này luôn xảy ra trong một sự sắp đặt cộng đồng, tạo nên điều mà Tillich gọi là“Cộng Đồng Thiêng Liêng”.200Cộng đồng này không đồng nhất với những Giáo Hội địa phương Kitô giáo, và cũng không phải là một nhóm bên cạnh những nhóm khác. Nhưng nó là “một tiềm lực và một cấu trúc”, mà một khi gắn kết nội tại vào nhóm nào đó, thì làm cho chúng trở thành những nhóm tôn giáo.201
  3. Cộng Đồng Thiêng Liêngthì xác thực nhưng tiềm ẩn trong nhiều cộng đồng “thế tục” ở ngoài Giáo Hội và chỉ thỉnh thoảng xuất hiện trong các Giáo Hội.202

(i) Với sự phân tích hữu thể học về đời sống, điều đó có nghĩa rằng khi Cộng Đồng Thiêng Liêng hiện diện thì sự hàm hồ trong những ban hành lề luật tôn giáo về sự tự-hướng-đến-siêu-việt được khắc phục;

(ii) Thật vậy, bởi vì sự hàm hồ của tự-tích-hợp và tự- sáng-tạo đi tiếp theo sự hàm hồ của tự-hướng-đến-siêu-việt, điều này có nghĩa rằng kinh nghiệm được biểu trưng bởi sự Hiện Diện Thiêng Liêng thì cũng là một khoảnh khắc của nền văn hóa tự-sáng-tạo phi hàm hồ, và một sự tích hợp luân lý cũng phi hàm hồ;203

(iii) Vào giây phút này, hoạt động văn hóa và luân lý tự thân trở thành tự-hướng-đến-siêu-việt, đó là tôn giáo.

  1. Ở đây nềnthần học của Tillich về văn hóa có trung tâm và bối cảnh thần học của nó.Tillich gọi những khoảnh khắc như thế là “thần trị” (theonomous),204 những giây phút xã hội sống động có chuẩn mực không xuất phát từ chúng ta, cũng không phải từ tha nhân, nhưng từ sự thống nhất của đời sống không hàm hồ (theos) mà chính xác trong sự siêu việt của nó thì ít nhiều nó cũng hiện diện trực tiếp đối với chúng ta.
  2. Sự “Hiện Diện Thiêng Liêng” diễn tả những khoảnh khắc này khi những vấn nạn của chúng ta về khả năng tôn giáo, văn hóa, và luân lý không hàm hồ được giải đáp.

Tillich nhấn mạnh rằng những khoảnh khắc như thế trong đời sống xã hội thì phân mảnh và nghịch lý, nhưng ngày nay lại xuất hiện trong mọi xã hội.

         3.2 Biểu Tượng “Nước Trời” Như Là Giải Đáp Cho Vấn Nạn Ý Nghĩa Của Lịch Sử

Vấn nạn của chúng ta đó là sự diễn giải lịch sử theo hướng của câu hỏi: Đâu là tầm quan trọng của lịch sử đối với ý nghĩa của hiện hữu cách chung? Lịch sử ảnh hưởng lên mối âu lo cùng đích của chúng ta theo phương cách nào?

Lời giải đáp cho câu hỏi phải được nối kết với tính hàm hồ được hàm ý trong các tiến trình sự sống dưới những chiều kích của lịch sử, mà tất cả là những diễn tả của cái xung đột nền tảng xảy ra trong thời gian lịch sử.205

  1. Biểu Tượng “Nước Trời” là biểu tượng tôn giáo được diễn tả như là những giải đáp cho vấn nạnvề khả năng có một đời sống không hàm hồtrong chiều kích lịch sử hơn là những chiều kích xã hội: Có ý nghĩa nào cho lịch sử?206

Trong cái nhìn của Tillich, chính nhóm,207 không phải là cá nhân, là những con người cưu mang lịch sử,208 và mục tiêu của lịch sử có thể được diễn tả qua ba tiến trình của sự sống và sự thống nhất của chúng: (i) Lịch sử, trong chức năng tự-tích-hợp của sự sống, thì hướng đến trung tâm của mọi nhóm và thành viên cá nhân của chúng trong một sự hòa điệu không hàm hồ giữa công bằng và quyền lực; (ii) Lịch sử, trong chức năng tự-tạo-dựng của sự sống, thì hướng đến sự hình thành một tình trạng mới, không hàm hồ cho các sự vật; và (iii) Lịch sử, trong chức năng tự-siêu-việt của sự sống, thì hướng đến sự hoàn thành phổ quát, không hàm hồ của tiềm năng của hữu thể.209

  1. “Nước Trời” diễn tả thực tại lịch sử trong hai cách: như cái gì đómang tính nội-lịch sửvà cái gì đó siêu-lịch-sử.210

Thật vậy, trong một cách nào đó, “Nước Trời” diễn tả sự cố xảy ra cho bất kỳ một nhóm nào và chính nó là khoảnh khắc quyết định và chuẩn mực của “Sự Hiện Diện Thiêng Liêng” trong lịch sử của nhóm.

(i) Đó là biến cố vốn dĩ phục vụ nhóm như là “trung tâm của lịch sử,”cũng lại là điểm đặc biệt trong lịch sử mang ý nghĩa phổ quát cho mọi nhóm ở mọi thời, bởi vì đó là cái chiến thắng sự hàm hồ thỏa đáng và thuyết mục nhất của nhân sinh.211

(ii) Tillich gọi thời điểm như thế là “Kairos.”212 Trong những thời điểm tương tự, kinh nghiệm của một nhóm về sự tự-tích-hợp, tự-tạo-dựng và tự-siêu-việt không hàm hồ vào thời Kairos, là kinh nghiệm của nó về ý nghĩa, điểm quy chiếu của lịch sử.

  1. “Nước Thiên Chúa” còn diễn tả một sựhiện tại hóa siêu lịch sử về đời sống lịch sử không hàm hồ. Ở đây nó tương liên với vấn nạn “Có cái gì tựa như giá trị trường tồn hay ý nghĩa của trong dòng chảy của lịch sử?”Đó cũng lại là vấn đề thường được diễn tả cách biệt vị như là vấn nạn về sự bất tử: “Có cái gì của tôi sẽ tồn tại trong đời này?” Một cách hữu thể học, đó chính là vấn nạn về thời gian so với vĩnh cửu.213
  2. “Nước Thiên Chúa” diễn tả cách nào mà “mục tiêu nội tại” của thời gian thế tục214là sự nâng cao của cái hữu hạn thành vĩnh cửu?215

(i) Đối với tạo thành, điều này có ý nghĩa rằng không có gì đã được tạo dựng trong lịch sử mà lại mất đi, nhưng nó được giải thoát khỏi yếu tố tiêu cực mà nó đang bị vướng vào ở trong cuộc sống hiện sinh.216

(ii) Bước theo triết gia duy tâm Schelling,217 Tillich gọi điều đó là sự “yếu tính hóa.”218 Tựu trung, đó là một sự tham dự không hàm hồ và thường xuyên của một nếp sống hữu hạn vào ngay trong đời sống đích thực của Chúa Thánh Linh, mà đối với nó, biểu tượng Kitô giáo chính là “Đời Sống Vĩnh Cửu.”219 Đối với Tillich, đó không chỉ là một biến cố chóng qua nhưng trái lại lâu dài qua mọi thời.220

(iii) Đàng khác, nếu nhìn từ viễn tượng của Thiên Chúa, đó là một tiến trình vũ trụ. Tillich gọi tiến trình đó là thuyết bán phiếm thần cánh chung.221 Trong đó, Đời Sống Thần Linh hiện thực bản thân, nhờ một động thái đi từ sự tự tha hóa và dấn thân vào một sự đổ vỡ hiện sinh cách tạo dựng, rồi quay trở lại đến sự tự-giao hòa,222 đem lãnh vực tạo thành với nó để mà, khi hoàn toàn được giải hòa, lãnh vực tạo thành cuối cùng (cánh chung tính) hoàn toàn nằm bên trong Đời Sống Thần Linh.223

  1. ẢNH HƯỞNG CỦA TILLICH
  2. Paul Tillich được xem như là một nhà thần học đứng ở biên bờ giữa chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa chính thống,lý tưởng và hiện thực,Tin Lành và thần học Công giáo La Mã. Về văn hóa, ông còn chịu ảnh hưởng của phong trào lãng mạn trong thế kỷ XIX làm cho thần học của ông mang tất cả dáng dấp của một nền thần học triết học. Đối với Tillich, thần học được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của Giáo Hội; cụ thể là, để làm cho «các tuyên bố về chân lý của sứ điệp Kitô giáo và việc diễn giải chân lý đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau.”224
  3. Cho đến cùng, Tillichsử dụng sứ điệp Kitô giáo ngang qua Lời Chúa, đểgiải đáp những vấn nạn triết học lớn được đặt ra trong lĩnh vực văn hóa.

Chính xác, đây chính là cái được gọi là phương pháp “tương liên” để xây dựng thần học hệ thống của Tillich. Phương pháp đã được nhìn nhận như là một trong những đóng góp lớn của Tillich cho các nhà thần học đương đại.225

Theo nhà thần học M. Neusch, “tư tưởng của P. Tillich không tránh được những hàm hồ”. Lý do là, “các khái niệm Kitô giáo mất đi tính sắc bén”. Giải thích chúng theo phương cách biểu tượng như ông đã làm, đôi khi khiến cho người ta nghĩ là chúng sẽ tiêu tán. Song chắc hẳn phải lưu ý đến nghĩa rất mạnh của từ biểu tượng nơi Tillich, theo đó biểu tượng đưa ta trở về với thực tại, trước tiên là đưa con người về với chính mình, để họ tự phải trả lời cho chính Thiên Chúa đã đến với họ và mời gọi họ, như Ngài đã đến với Abraham, Môsê, Giêrêmia,…226

  1. Vớiphương pháp tương liênông muốn giúp con người có một công cụ “đối thoại có khả năng tôn trọng cả văn hóa lẫn tôn giáo”.

Nhìn chung, nói đến Paul Tillich, theo M. Neusch, ít nhất chúng ta vẫn có thể giữ lại đôi điều tuyệt diệu:

Nếu như Mạc Khải của Thiên Chúa đã chấm dứt, thì tiến trình mạc khải vẫn tiếp tục đến vô hạn bao lâu còn có những con người sống và những nền văn hóa ra đời.227

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 96 (tháng 9 & 10 năm 2016)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Bacik, Jame J.Paul Tillich.Dublin: The Mercier Press, 1992.
  • Bowker, John, ed. “Tillich, Paul Johannes Oskar.”The Concise Oxford Dictionary of World Religion. Oxford Reference Online, Oxford University Press, 2000.
  • Fiorenza, F. Schussler. “The Method of Correlation.”Systematic Theology.Eds. F. Schussler Fiorenza & John P. Gabin. Minneapolis: Fortress Press, 2011.
  • Ford, David, ed.The Modern Theologians.vol. I. Massachusetts: Blacwell.
  • Kegley, Charles, W. & Robert W Bretall, eds.The Theology of Paul Tillich. New York: The Macmillan Company,1964.
  • Kelsey, David H.The Fabric of Paul Tillich’s Theology. New Haven and London: Yale University Press,1967.
  • Neusch, Marcel & Bruno Chenu.Au Pays de la Théologie, eds.B. Dịch. Nguyễn Hồng Giáo. Tham Quan Xứ Sở Thần Học. Hà Nội NXB Hồng Đức, 2015.
  • Otto, Randall E. “The Doctrine of God in the Theology of Paul Tillich.”Westminster Theological Journal52 (2): 303–323. 1990.
  • Pauck, William & Marion.Paul Tillich: His Life and Thought. Vol. 1,Life. New York: Harper & Row Publishers, 1967.
  • Randall, John Hermann, Jr.The Philosophical Legacy of Paul Tillich The Intellectual Legacy of Paul Tillich. James R. Lyons, ed., Detroit: Wayne State University Press, 1969.
  • Ratzinger, Joseph. “Christ, Faith, and the Challenge of Cultures”. Documentation Catholique.16.7.1995.B. Dịch. “Niềm Tin vào Ðức Kitô, Trước Sự Thách Ðố Của Các Nền Văn Hoá.”VietCatholic. Web. 1993 (Bài nói chuyện với Hội đồng Giám mục Á châu họp tại Hong Kong từ ngày 3 đến ngày 5.3.1993).<https://www.vatican.va/roman_curia/congregations/cfaith/incontri/rc_con_cfaith_19930303_hong-kong-ratzinger_en.html>.
  • Tavard, George.Paul Tillich and the Christian Message. New York: Charles Scribner’s Sons, 1962.
  • Taylor, Kline, ed.Paul Tillich: Theologian of the Boundaries. Minneapolis: Fortress Press, 1987.
  • Ted Braaten, Peters & Carl E, eds.A map of twentieth-century theology: Readings from Karl Barth to Radical Pluralism (review). Fortress Press, 1995.
  • Tillich, Paul.The Protestant Era. Ed. James Luther Adams. Chicago: University of Chicago Press, 1948.
  • Tillich, Paul.Systematic Theology. 3 vols. Chicago: University of Chicago Press,1951, 1957, 1963. [Volume 1: Reason and Revelation: Being and God (1951);Volume 2: Existence and the Christ (1957); Volume 3: Life and the Spirit: History and the Kingdom of God (1963)].
  • Tillich, Paul.Courage to Be. New Haven and London: Yale University Press, 1952.
  • Tillich, Paul.The New Being.Charles Scribner’s Sons, a sermon collection, 2006. Bison Press edition with introduction by Mary Ann Stenger. 1955.
  • Tillich, Paul.The Dynamics of Faith. New York: Harper & Row, Publishers, 1957.
  • Tillich, Paul.Theology of Culture. Oxford University Press, 1959.
  • Tillich, Paul.Christianity and the Encounter of the World Religions.Columbia University Press, 1963.
  • Tillich, Paul.Ultimate Concern: Tillich in DialogueEd. D. Mackenzie Brown, Harper & Row, 1965.
  • Tillich, Paul.The Essential Tillich(anthology). Ed. F. Forrester Church. 1987.
  • V.L. N H Quang.Linh Đạo Huấn Luyện: Chương I.Sài Gòn: Signum Fidei Tu Thư, 2011–2012.
  • Nhân Học Triết Học: Chương III.Signum Fidei Tu Thư, 2015–2016.
  • Nhân Học Thần Học: Chương VIII.Signum Fidei Tu Thư, 2015–2016.

___________

1 Cf. V-L NHQuang. Nhân Học Thần Học, Ch VIII. Sài Gòn: Signum Fidei Tu Thư.

2 M. Neusch. “Paul Tillich.” Tham Quan Xứ Sở Thần Học. Eds. M. Neusch & B. Chenu.B. Dịch. Nguyễn Hồng Giáo. Hà Nội: NXB Hồng Đức, 2015. tr. 165. Marcel Neusch (1935–2015), Dòng Assomptionnist, nhà thần học thời danh người Pháp. Giáo sư Thần học căn bản tại Institut Catholique de Paris. Tác giả nhiều tác phẩm thần học như Aux Sources de L’athéisme Contemporain: Cent Ans De Débats sur Dieu. Paris: Le Centurion, 1980; Với Bruno Chenu. Au pays de la théologie. Paris: Le Centurion, 1992. Cộng tác viên thần học của báo La Croix.

3 Ở một vài nước trên thế giới như ở Mông Cổ, Hàn Quốc, Nga, … có một tôn giáo kỳ lạ và đầy bí ẩn mang tên là Shaman giáo (Shamanism). Đây là một kiểu tôn giáo phổ biến vào cuối chế độ thị tộc, với sự xuất hiện của những Shaman (hay còn gọi là pháp sư) trong xã hội, họ có nhiệm vụ “kết nối” con người với các thế lực siêu nhiên. Shaman là những người trung gian, có thể tiếp cận với thế giới tâm linh hữu hình nào đó mà đa số thành viên khác không tiếp cận được (chúng ta thường gọi là có khả năng ngoại cảm). Họ có thể biểu hiện được cuộc tiếp xúc đó thông qua các hình thái diễn xướng (múa hát, thơ ca…) hay tạo hình trong những nghi lễ đặc thù. Ngoài ra, Shaman không chỉ là người kết nối của hai thế giới mà còn là những thầy thuốc giỏi và nhân ái. Họ giỏi nhận biết được các loại thảo dược, bài thuốc hay, vì vậy biết cứu được nhiều người trong vùng. Bất chấp các thay đổi của xã hội loài người và nhiều nhận định về mê tín dị đoan, Shaman giáo vẫn tồn tại và phát triển tích cực. Thậm chí, hàng năm có rất nhiều người trên thế giới chấp nhận di chuyển những đoạn đường dài để được gặp các Shaman cao tay. “Shaman.” Kenh14.vn. Web. 28.7.2015. <http://kenh14.vn/kham-pha/shaman-nhung-vi-phap-su-cuoi-cung-tren-trai-dat-20121126055211632.chn>.

4 Rudolf Bultmann là giáo sư Kinh Thánh, thần học và sử học suốt hơn ba mươi năm ở đại học Marburgh (Đức). Ông đã “gieo một luồng gió hốt hoảng khi tung ra mấy tiếng ‘giải trừ huyền thoại’” trong Tân Ước. Ông đã khởi điểm như thế với một bài viết, năm 1941, “Thế giới Tân Ước là huyền thoại”. Thật ra đằng sau dáng vẻ khiêu khích, ông là “hiện thân của nỗ lực bền bỉ và kiên trì để mở Kitô giáo ra cho công cuộc đối thoại mà không làm suy giảm nó. Ông cùng thời với Teilhard de Chardin (1881, Pháp), K. Barth (1886), Tillich (1886), những con người cùng có mối quan tâm như nhau: “làm sao rao giảng Tin Mừng cho người thời đại ta”. Cf. M. Neusch. “Rudolf Bultmann”. 2015, tr. 81. Tham Quan Xứ Sở Thần Học.

5 Cf M. Neusch. “Paul Tillich.” 2015. tr. 159–167. Theo viễn tượng của ông, giữa tôn giáo và văn hóa có một sợi dây nối kết nội tại mà Tillich diễn tả khi xác tín rằng “bản thể của tất cả mọi thứ văn hóa chính là tôn giáo” và rằng “hình thái của tôn giáo, chính là văn hóa.” Một nền văn hóa là gì nếu không phải là nỗ lực mang lại cho thực tại hiện sinh của con người ý nghĩa và trạng thái mạch lạc? Cf. “Paul Tillich” LamHong.org. Web. 26.7.2015. <http://lamhong.org/2012/02/27/paul-tillich-1886-1965- m%E1%BB%99t-n%E1%BB%81n-th%E1%BA%A7n-h%E1%BB%8Dc-v%E1%BB%81-van-hoa/>.

6 Peters, Ted Braaten & Carl E, (Ed.). A map of twentieth-century theology: readings from Karl Barth to radical pluralism (review). Fortress Press, 1995. Web. 1.1.2011. Thế hệ các sinh viên hiện nay chỉ nghe qua các tên như Barth, Brunner, Bultmann, Bonhoeffer, Tillich, và hai anh em Niebuhrs.

7 Cần Dũng Cảm và những Năng Động của Đức Tin.

8 Method of correlation.

9 Nhà có ba anh chị em. Tillich là con cả với hai em gái.

10 Tillich tham dự nhiều trường Đại Học một phần do sự di chuyển nghề nghiệp của cha ông: Lần lượt là các trường ĐH Berlin (1904), ĐH Tübingen (1905,) và Halle-Wittenberg (1905–1907). Ông đậu bằng TS Triết học tạo ĐH Breslau năm 1911 và cử nhân Thần học tại ĐH Halle-Wittenberg năm 1912. Cùng năm, Tillich được chuẩn nhận làm mục sư Luther tại Brandenburg và năm 1914 làm tuyên úy quân đội cho Đạo Binh Hoàng Gia Đức. Sau Thế chiến I, ông làm Privatdozent thần học tại ĐH Berlin (1919–1924), rồi GS Thần học Hệ thống tại ĐH Marburg (1924–1925), rồi ĐH Kỹ Thuật Dresden (1925–1929), rồi ĐH Leipzig, Frankfurt (1929– 1933). Cf. “Paul Tillich”. BKTĐ Wikipedia. Web. 22.7.2015. <https://en.wikipedia.org/wiki/Paul_Tillich>

11 Cf. M. Neusch. “Paul Tillich”. 2004. tr. 147.

12 http://img.timeinc.net/time/magazine/archive/covers/1959/1101590316_400.jpg

13 Hay ngắn gọn Tương Liên.

14 Ultimate concern.

15 Ibid. tr. 148.

16 M. Neuschl. “Paul Tillich”. 2004. tr. 148.

17 Interrelation.

18 Cf. Union Seminary Quarterly Review.

19 Charles W. Kegley. Bìa Tập Systematic Theology, II. Chicago: The University of Chicago Press, 1951.

20 Từ chuyên môn của Tillich “estrangement.”

21 Cf. Daniel D. William. “Review of Religion.” Bìa tập Systematic Theology, I, 1975 (1957).

22 Cf. Daniel D. William. “Review of Religion.” Bìa tập Systematic Theology, III, 1976 (1963).

23 Cf. J.J. Bacik. Paul Tillich. Dublin: The Mercier Press, 1992. tr. 102.

24 Method of correlation. Phương pháp này được phát triển trong suốt ba tập Thần Học hệ Thống của ông (1951–1963). Nhìn chung một cách ngắn gọn, đó là một cách tiếp cận để khám phá những biểu tượng của mạc khải Kitô giáo, được nhìn như những giải đáp cho các vấn nạn nhân sinh mà sự phân tích của nền triết học hiện sinh đặt ra.

25 Cf. John Bowker (ed.) “Tillich, Paul Johannes Oskar”. The Concise Oxford Dictionary of World Religion. Oxford Reference Online, Oxford University Press,2000.

26 Tillich. Systematic Theology I, 1951. tr. 61.

27 Tillich, 1951. tr. 64.

28 Tillich, 1955. tr. 11.

29 “Paul Tillich.” BKTĐ Wikipedia. Web. 28/7/2015: Cf. < https://en.wikipedia.org/wiki/Paul_Tillich>.

30 Ibid. < https://en.wikipedia.org/wiki/Paul_Tillich>.

31 Une culture hétéronome (A Cultural Hétéronomy as The Demonic Tendencies). Cf. J.J. Bacik. Paul Tillich, 1992. tr. 104; Cf. M. Neusch. Paul Tillich, 2004. tr. 150.

32 Người ta giải thích lý do Tillich phản ứng mạnh mẽ trong kiểu nền văn hóa này từ ngay lối sống của gia đình ông: một người mẹ rất tôn trọng con cái, nghiêng về sự dân chủ, và một lối sống thoải mái; nhưng một người cha mục sư Luther lại nghiêm khắc, bảo thủ, không ngơi giáo dục con cái theo lối sống uy quyền quân đội của người Phổ, kỹ lưỡng và cảm thấy lúc nào cũng là tội nhân. Cf. J.J. Bacik. Paul Tillich, 1992. tr. 104.

33 The Protestant principle.

34 The demonic tendencies.

35 Tựa như phù thủy xấu vận dụng các câu thần chú để chế ngự thần thánh; cũng là kiểu ma quỷ cám dỗ ba lần Đức Giêsu, vận dụng Lời Thiên Chúa để làm cho Ngài rơi vào thử thách đánh mất lòng tin vào Đức Chúa.

36 The authoritarianism.

37 The self-critical spirit.

38 The secular world, theo nghĩa lành mạnh, như tác giả đã nói ở chương I nói trên, về tính tục hóa của thế giới đô thị hóa.

39 Ibid.

40 Cf. M. Neusch.“Paul Tillich”. 2015, tr. 162; J.J. Bacik. “Paul Tillich: Religion of the Heart”. Contemporary Theologians.1992. tr. 104-105.

41 A monolithic uniformity.

42 Trong nền văn hóa như thế, ông cho rằng triết học thì bị thần học chế ngự, còn nghệ thuật đơn thuần chỉ là mang tính chức năng phục vụ một ý thức hệ hơn là con người. Cf. J.J. Bacik. tr. 105.

43 Une culture autonome (A cultural autonomy as a spiritual void). Cf. J.J. Bacik, 1992. tr. 106-107.M. Neusch. 2004. tr. 162.

44 Cf. V-L NH Quang. Nhân Học Triết Học: Thế Chiến I (1914– 1918). Sài Gòn: Signum Fidei Tu Thư, 2014–2015. tr. 413–417.

45 Cf. J.J. Bacik. A Spiritual Void,1992. tr. 106.

46 Tillich rất quan tâm đến thứ tôn giáo không bị hướng dẫn bởi Tin Mừng, nên hành xử trong thực tế như kẻ độc đoán trong nhiều lãnh vực.

47 “Nhóm Thuận Tiện.”

48 Vào năm này 1933, Tillich bị cấm giảng dạy tại đại học Frankfurt, ngay sau khi ông viết tác phẩm The Socialist Decision (Sự Quyết Định Xã Hội Chủ Nghĩa) tấn công Chủ nghĩa Đức Quốc Xã. Nhiều giáo sư khác cũng bị cấm đoán như thế trong đó có Martin Buber, triết gia hiện sinh vì là gốc Do Thái. Ông đã di cư qua Mỹ sau đó. Cf. J.J. Bacik. A Spiritual Void,1992. tr. 106.

49 Tillich rất để ý đến thứ tôn giáo không bị hướng dẫn bới Tin Mừng, nên hành xử trong thực tế như kẻ độc đoán trong nhiều lãnh vực.

50 Cf. J.J. Bacik. A Spiritual Void,1992, tr. 106.

51 A self-sufficient culture.

52 Sự tục hóa (secularised) trong ý tưởng của Tillich vào thời của ông thì mang tính tiêu cực. Vào thời nay, nó được thay bằng hạn từ chủ nghĩa duy thế tục (secularism). Cf. Chương Thế Giới Đô Thị Hóa, phần Tục Hóa.

53 Những đa dạng của chú nghĩa vô thần từ hung hăng bạo lực đến ôn hòa.

54 Cf. Joseph Ratzinger. Niềm Tin vào Ðức Kitô, Trước Sự Thách Ðố Của Các Nền Văn Hoá,1993. Trong bài nói chuyện với Hội đồng Giám mục Á châu họp tại Hong Kong từ ngày 3 đến ngày 5/3/1993 (đăng trong báo DC, số ra ngày 16.7.1995), Ðức Hồng Y Joseph Ratzinger, (Bộ trưởng Bộ Giáo lý Ðức tin), nhìn nhận: “Trong tất cả các nền văn hoá mà ta biết được trong lịch sử, tôn giáo luôn luôn là một yếu tố căn bản của văn hoá, thậm chí là linh hồn của văn hoá. Chính tôn giáo ấn định cấu trúc của các giá trị và do đó hình thành nên lý lẽ nội tại của cấu trúc ấy. (Bản văn gốc là “Christ, Faith, and the Challenge of Cultures.” Web. 1993. Cf. VietCatholic. <https://www.vatican.va/roman_curia/congregations/cfaith/incontri/rc_con_cfaith_19930303_hong-kong-ratzinger_en.html>.

55 The non-being.

56 The trauma.

57 Hoàn toàn khác với kiểu Marxist mà ta gọi là Tân-Marxist của triết gia Habermas. Cf. V-L NH Quang. Nhân Học Triết Học, Tân- Marxist.

58 Cf. M. Neusch. Paul Tillich, 2015. tr. 163.

59 Dân Do Thái dưới thời vua Hy Lạp Antiochus Epiphane IV (175– 164, tCN), bị bắt bỏ đạo để thờ các thần Hy Lạp, cuộc bách hại diễn ra khắc nghiệt: luật Môsê bị huỷ bỏ, Đền thờ Giêrusalem bị cướp phá, nhất là tế lễ cho Đức Chúa bị cấm nhưng lại phải dâng hiến và dâng hương cho tượng thần Zeus của Hy Lạp được đặt trên bàn thờ đã làm ô uế nơi thánh (năm 167). Cái vô thể lên ngôi thay thế cho Đấng Vĩnh Cửu. Ta lại gặp sự tương tự vào thời các Hoàng đế Rôma, khi người Kitô hữu bị ép buộc cũng dâng hiến thờ lạy các Cesar, được xem như thần. Là hữu hạn con người muốn trở thành vô hạn! Ngày nay con người cũng biến những vật chất thành những thần thánh và tôn thờ chúng. Phaolô trong thư Rôma đã cảnh báo như thế khi con người quỳ mọp thờ những sức mạnh vật chất do Thiên Chúa tạo dựng thay vì phải thờ lạy Ngài.

60 Une culture théonome (A cultural theonomy), một hạn từ do Tillich tạo ra. Cf. M. Neusch. Paul Tillich, 2015. tr. 163; J.J. Bacik. “Paul Tillich. Religion of the Heart”, 1992. tr. 108.

61 Cũng như nhiều minh kiến của ông, khái niệm về một nền văn hóa thần trị được phát triển lên từ trải nghiệm của ông trong Thế chiến I, như là một mục sư tuyên úy cho quân đội. Ông đã bị suy sụp tinh thần nặng nề khi mục kích sự chết chóc quá dễ dàng từ những cuộc tàn sát lẫn nhau giữa hai phe tham chiến cho một mục tiêu chính trị không chính đáng. Như một phần tâm lý trị liệu ông được khuyên đến thăm các viện bảo tàng nghệ thuật tranh ảnh. Tại Berlin, ông đã gặp bức tranh Đức Madonna của Boticelli và bức ảnh nghệ thuật đã phát khởi nơi ông một sự cảm thấu trực giác về một cung cách chữa lành đầy uy lực của tôn giáo được biểu lộ qua và trong những dạng văn hóa đặc biệt nào đó. Sau chiến tranh ông tiếp tục việc trị liệu nhiều tháng cũng bằng cung cách đến viếng các viện bảo tàng. Từ kinh nghiệm này ông nhận thức được nhiều khái niệm thiết yếu cho một nền văn hóa thần trị. Cf. J.J. Bacik. 1992, tr. 108.

62 Cf. M. Neusch.“Paul Tillich”, 2015. tr. 163; J.J. Bacik. Paul Tillich. Religion of the Heart, 1992, tr. 108. J. Ratzinger, thời hồng y trong bài giảng cho FABC năm 1993, cũng có tư tưởng tương tự khi ngài nhận định tôn giáo ẩn tàng ở chiều sâu của mọi nền văn minh cổ xưa truyền thống.

63 Trong tiến trình được chữa lành tâm lý bằng nghệ thuật hội họa qua các bức tranh, Tillich phát triển được một sự thấu hiểu và lĩnh hội thế giới nghệ thuật tạo hình đặc biệt hội họa. Dần dà ông đi đến nhận ra mối quan hệ giữa tôn giáo và nghệ thuật, và các style nghệ thuật khác biệt thì phản ánh những kinh nghiệm tôn giáo khác nhau. Đối với ông, trải nghiệm mỹ thuật đã trở thành một khuôn mẫu cho trải nghiệm tôn giáo. Cf. J.J. Bacik. 1992, tr. 108.

64 The ultimate matter.

65 Cf. M. Neusch. Paul Tillich,2004. tr. 151.

66 Theo kiểu nhìn của các ngôn sứ Giêrêmia và Êzêkiel.

67 Public religion.

68 It demands total involvement and wholehearted commitment.

69 Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” The Modern Theologians. vol I. Ed. David F. Ford. Massachusetts: Blackwell, 1994. tr. 137.

70 Tillich đã trả lời cho các vấn nạn đã nói ở trên dưới ba phân đoạn lớn sau: I) Bản Chất Yếu Tính; II) Sự Đổ Vỡ Hiện Sinh; III) Tính Hiện Tại (hay Sự Hiện Tại Hóa).

71 Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” 1994. tr. 137.

72 Essential Nature.

73 Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” 1994. tr. 137–142.

74 Ibid.

75 Hay uyên nguyên (integral whole).

76 Part.

77 Transactions.

78 Finite.

79 Dis-integration.

80 Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” 1994. tr. 139–142.

81 The knowers.

82 Cognition.

83 Grasp.

84 Shape or giving form.

85 Skeptical question.

86 Frustrations. Theo nghĩa tâm lý chiều sâu của S. Freud: Sự làm thất vọng, sự làm vỡ mộng; tâm trạng thất vọng, tâm trạng vỡ mộng. Điều ta chờ đợi hợp lý hay không nhưng không được đáp ứng.

87 Knowledge. Cf. P. Tillich. Systematic I. tr. 71–100.

88 Knowing.

89 Ontological reason.

90 Technical reason.

91 Problem-solving capacities.

92 Cognitive.

93 Autonomy: self (Hy Lạp autos).

94 Heteronomy, heteros: khác ví dụ các người nắm quyền hành do luật định (tự nhiên hay thiết định).

95 Hay lý lẽ (reason). Được nhìn xem như là khả năng tư duy logic.

96 Hay cùng đích.

97 Truth-itself, goodness-itself; beauty-itself.

98 Tillich. Systematic I. tr. 106-159.

99 Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” 1994. tr. 140–141.

100 The receiving side.

101 Cf. P. Tillich. Dynamics of Faith. N.Y.: Harper & Row, 1957.

102 The giving side.

103 An original revelatory event.

104 Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” tr. 141.

105 Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” tr. 141.

106 Knowing.

107 Autonomy.

108 Heretonomy.

109 Formal.

110 Emotional.

111 Miracle.

112 Concrete.

113 Absolute.

114 Rativism.

115 Absolutism.

116 Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” tr. 140–141.

117 Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” tr. 137–139.

118 The non-being.

119 Meaninglessness.

120 Guilt.

121 Một trong motip của nhân học con người theo K. Rahner:”Con người như là Hữu Thể triệt để bị đe dọa bởi lầm lỗi.”(Man as a Being Threatened Radically by Guilt) Đó là tiêu đề chương III của tuyệt tác Foundations of Christian Faith. New York: Crossroad, 1998. tr. 90-115.

122 Cf. P. Tillich. Systematic Theology, Vol. I. Chicago: Chicago Press, 1951, tr. 163-168 (“Being and the Question of God”); David H. Kelsey. “Paul Tillich.” tr. 137: “Being” is threatened by “non-being.”

123 Power of being.

124 Đối tượng chất liệu (material object) của của siêu hình học hay hữu thể học là hữu thể xét như hữu thể (being as being) hay hữu thể xét nguyên nó là thế (being as such).

What it is to be (Hữu thể học: Anh, Ontology; Hy Lạp ὀntwn, ὀntoV + logoV).

Á tài này cũng thường được các triết gia bàn cãi. Tillich vay mượn tư tưởng từ nhiều triết gia này, đặc biệt Heidegger. Nhìn chung các triết gia khi nói đến hữu thể học, thì thường đi đến bàn luận Thực Tại Thiên Chúa.

125 Finitude.

126 Individualization.

127 Participation.

128 To be is necessarily to be finite.

129 Accident.

130 God lives.

131 God sustains.

132 Non–being.

133 Inexplicable.

134 Uncanny, God is holy.

135 Ontological analysis.

136 Structure of being.

137 Supreme Being.

138 Ground of being.

139 Being-itself

140 God is Lord.

141 Existiential disruption.

142 David H. Kelsey. “Paul Tillich.” tr. 142–155.

143 Potentiality.

144 Possibility.

145 To exist, existence.

146 To be distanced, standing out from our essence.

147 Hiện sinh (Existense = Ex + Sistere. Động từ Hy Lạp, ἐξ-ίστημι: to standing out, to put out of its place; to astonish, amaze.

148 “Estranged from essence.” P. Tillich. Systematic Theology, Vol. II. Chicago: Chicago Press, 1975 (1957). tr. 19-96.

149 Existential situation.

150 Ontological analysis.

151 Chaotic.

152 Disrupted.

153 Dis-integrated.

154 Transition.

155 Estrangement.

156 Estranged.

157 Fallenness.

158 Những người không sống được như vai trò con người giống hình ảnh Thiên Chúa: nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột. Cách chung bị “tha hóa,” trở nên xa lạ với chức năng làm người.

159 Ở đây Tillich đã phát triển theo Kitô học của mình. Cf. Systematic Theology, II. tr. 97–180; Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” tr. 143.

160 Systematic Theology, II. tr. 150.

161 Systematic Theology, II. tr. 166; I. tr. 144–146; Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” tr. 143.

162 Salvation means healing.

163 The existential estrangement.

164 The Power of New Being.

165 Tillich đang nói đến “kinh nghiệm được chữa lành khỏi tình trạng trầm cảm với mọi khắc khoải âu lo của ông.”

166 A momentary event, fragmentary and ambiguous.

167 Rebirth. Trường hợp của Nicôđêmô trong đêm tối gặp gỡ Đức Giêsu. Ngài đã cho ông thấy điều kiện tái sinh là làm sao.

168 Thiên Chúa Cha không cất đi “dấu vết bàn tay, bàn chân và cạnh nương long của Con Một Ngài” cho dù Ngài đã cho Con Ngài phục sinh. Vết thương hữu thể học do lầm lỗi và tội lỗi gây ra vẫn còn hiện diện trong ta. Những yếu đuối của bản thân ta do nguyên tội vẫn còn hiện diện. Với Phaolô xin Đức Chúa cất đi những yếu đuối đó, Ngài trả lời: “Ơn ta đủ cho con.”

169 The justification and the sanctification.

170 Reunion.

171 Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” tr. 143.

172 Thật ra thư Philipphê dùng động từ Hy Lạp: “ἐkenwsen” ở thì aorist. ἡ κένωσις, kénōsis, lit. emptiness) đó là sự tự hóa ra không (‘self-emptying’) khỏi ý muốn của ta để trở thành hòa toàn đón nhận ý muốn của Thiên Chúa. Tân Ước không sử dụng danh từ “ἡ κένωσις” nhưng dưới dạng động từ κένoω năm lần (Rom 4,14; 1Cor1, 17, 9.15, 2Cor 9, 3; Phil 2, 7). Chỉ có Phil 2, 7 nói Đức Giêsu đã tự mình hóa ra không và đó là khởi điểm cho tư tưởng Kitô giáo về “kenosis.” Web. 24.12.2015. <https://en.wikipedia.org/wiki/Kenosis#cite_note-2>.

173 Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” tr. 143–144.

174 Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” tr. 144.

175 Actualization.

176 Actuality.

177 P. Tillich. Systematic Theology, III. Chicago: Chicago Press, 1963. tr. 11-12; Systematic Theology, II. tr. 28: Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” tr. 144.

178 Ở đây Tillich vay mượn của Aristote.

179 The Formative Spirituality. Van Kaam (1920–2007), CSSp, PhD.

Khi tiếp cận với con người, Adrian van Kaam, người sáng lập ngành khoa học huấn luyện/linh đạo huấn luyện, bị đánh động bởi hình ảnh và ý niệm về con người được các truyền thống linh đạo và tôn giáo trình bày như là mang tính thiêng liêng. Ông mơ đến xây dựng một ngành tựa như tâm lý có thể hội nhập một lúc những nền tâm lý và khoa học nhân văn khác với mọi đóng góp phong phú của chúng, để hiểu bản chất nhân loại cùng những viễn tượng tôn giáo. Công trình này là một cố gắng nghiên cứu và phân tích có hệ thống môn linh đạo huấn luyện, trong nền nhân chủng huấn luyện siêu việt ẩn tàng (hạ tầng cơ sở) và lý thuyết nhân cách siêu việt như là những xây dựng trên nền nhân chủng đó. Van Kaam đã viết hơn ba mươi quyển sách và hàng trăm bài liên quan đến khoa học huấn luyện. Đặc biệt từ năm 1983, ông đã cho ra đời bộ Formative Spirituality. Cho đến nay cuốn thứ bảy (1995) đã được xuất bản. Hướng đến của ông là hoàn tất bộ “Summa Psychologiae” này liên quan đến Thần Học Huấn Luyện. Cf. V-L NH Quang. Linh Đạo Huấn Luyện, Ch I. Sài Gòn: Signum Fidei Tu Thư, nk 2011–2012.

180 Biệt phân (differentiation) là một tiến trình trong cuộc sống tiếp nhận data, thông tin,… làm cho ta phong phú lên, nhưng đồng thời nó cũng làm cho ta mất quân bình, vì nếu chỉ tiếp nhân thông tin mới mẻ mà không tiêu hóa (assimilation).

181 Hội nhập hay tích hợp là tiến trình ngược với tiến trình biệt phân. Nó giả dụ ta đã có khả năng tiêu hóa đủ những thông tin mới lạ đến với ta. Lúc đó ta lại có được một sự quân bình mới. Cf.VL NH Quang. Linh Đạo Huấn Luyện, Ch I.

182 Hay tinh thần nhân bản (human spirit). Cf. Linh Đạo Huấn Luyện (formative spirituality). Tinh thần nhân bản như là khả năng tạo dạng và nhận dạng của con người, và cho phép con người rộng mở đến siêu việt.

183 Life in meanings. Cf. Tillich. Systematic Theology, III, tr. 22.

184 Vital dimension. Chiều kích liên quan đến di truyền, giáo dục, truyền thống, những gì chúng ta sẵn có khi hiện diện ở trong môi trường nào đó. Cf. V.L. N H Quang. Linh Đạo Huấn Luyện: Chương I. Tillich sử dụng hạn từ vitality as life-power.

185 Life-power.

186 Khoa Linh Đạo Huấn Luyện gọi “linh đạo” đó là con đường, cố gắng, cung cách, cởi mở truy tìm ý nghĩa siêu việt của cuộc sống, hướng đến sự hoàn thành bản thân.

187 The spiritual dimension: chiều kích của tinh thần.

188 Tillich. Systematic Theology, III. tr. 24.

189 Self-integration. Cf. Tillich. “The Self-Integration of Life and Its Ambiguities.” Systematic Theology, III, 1963. tr. 32–50.

190 Một kiểu nội tâm hóa.

191 Self-creativity. Cf. Tillich. “The Self-Creativity of Life and Its Ambiguities.” Systematic Theology, III. 1963. tr. 50–86.

192 Self-transcendence. Tillich. Systematic Theology, III. tr. 31; 86– 106. Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” tr. 145.

193 Tillich. Systematic Theology, III. tr. 111; Tác giả trình bày sự biểu lộ của Hiện Diện Thiêng Liêng trong Tinh Thần Nhân Bản. Phần trình bày rất dài chạy từ trang 111–161. Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” tr. 146.

194 Spiritual Presence.

195 Tillich. Systematic Theology, III. tr. 111.

196 Chữ thường: spiritual life.

197 Tillich. Systematic Theology, III. tr. 112.

198 Ibid. tr. 129.

199 Ibid. tr. 242.

200 Ibid. tr. 149tt.

201 Tillich. Systematic Theology, III. tr. 162.

202 Ibid. tr. 152tt.

203 Ibid. tr. 157.

204 Ibid. tr. 266.

205 Tillich. Systematic Theology, III. tr. 349.

206 Cf. Tillich. Systematic Theology, III. tr. 349.

207 Hay tập thể.

208 Ibid. tr. 312.

209 Ibid. tr. 332.

210 As something inner-historical and as something trans-historical. Ibid. tr. 357. Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” tr. 147.

211 Cf. Tillich. Systematic Theology, III. tr. 367. Khi Kitô giáo tuyên xưng biến cố mà trên đó nó đặt nền tảng như là trung tâm của lịch sử cứu độ và mạc khải, nó vẫn nhìn nhận sự kiện là có rất nhiều diễn giải lịch sử khác cũng tuyên bố như thế nhưng đặt nền trên một biến cố khác.

212 Hy Lạp “Kairo V”: Sự hoàn tất thời gian, hay thời gian thuận tiện nhất… Cf. Tillich. Systematic Theology, III. tr. 369–372; Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” tr. 147.

213 Tillich. Systematic Theology, III. tr. 397.

214 Created time.

215 Tillich. Systematic Theology, III. tr. 399.

216 Tillich. Systematic Theology, III. tr. 397.

217 Cf. Nhân Học Triết Học. Chủ nghĩa Duy Tâm hậu Kant.

218 Essentialization. Cf. Ibid. tr. 400.

219 Cf. Ibid.tr. 401.

220 Cf. Ibid. tr. 399–400.

221 Eschatological panentheism ((pan, mọi sự; en Theos, bên trong Chúa).

222 Self-reconciliation.

223 Cf. David H. Kelsey. “Paul Tillich.” tr. 148.

224 Cf. Systematic Theology I. 1951.tr.3.

225 Cf. F. Schussler Fiorenza. “The Method of Correlation.” Systematic Theology.Eds. F. Schussler Fiorenza & John P. Gabin.

F. Vital-Luca Nguyễn Hữu Quang, F.S.C.

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 50
  • Page 51
  • Page 52
  • …
  • Page 67
  • Next page
Bài viết mới nhất
TRONG HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI, “DẤU CHỈ THỜI ĐẠI” KHÔNG HỀ BỊ BỎ QUA
01/06/2026
ĐẼO CÀY GIỮA ĐƯỜNG - MỖI TUẦN MỘT THÀNH NGỮ
01/06/2026
TỔNG GIÁM MỤC HICKS CỦA NEW YORK: ‘MAGNIFICA HUMANITAS’ SẼ ĐỊNH HÌNH CÁC THẾ HỆ TƯƠNG LAI
01/06/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.