2020
Giáo dục sinh thái trong Laudato Si’
Laudato Si’, thông điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô về chăm sóc ngôi nhà chung, được chào đón như là một tài liệu tiên phong. Trong thông điệp này, Đức thánh cha Phanxicô đã thúc giục Giáo hội Công giáo, các cộng đoàn Kitô giáo khắp thế giới, thành viên các truyền thống tôn giáo khác, và tất cả những người thiện chí, hãy ngay lập tức chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta đã bắt đầu vỡ nát. Một trong những đóng góp có ý nghĩa của thông điệp là lời mời gọi của Giáo hoàng Phanxicô về một nền giáo dục hướng đến trách nhiệm sinh thái của công dân. Theo Đức thánh cha, việc chăm sóc ngôi nhà hành tinh chung hư hoại của chúng ta đòi hỏi một sự thay đổi lối sống. Ngài viết: “Thách đố lớn về văn hóa, thiêng liêng và giáo dục vẫn đang ở phía trước và đòi hỏi chúng ta một con đường canh tân dài lâu” (202).[1] Đức thánh cha đề nghị một nền giáo dục công dân hướng về sinh thái để làm tái sinh và sống có trách nhiệm hơn trong ngôi nhà của chúng ta.
Trong bài viết này, chúng ta sẽ thảo luận về nền giáo dục công dân hướng về sinh thái trong Laudato Si’. Trong thông điệp, Đức thánh cha Phanxicô mời gọi suy nghĩ lại về giáo dục môi trường để tạo ra một giao ước mới giữa nhân loại với thế giới tự nhiên. Giáo dục sinh thái bao gồm việc phê bình tận căn mô hình văn hóa thống trị đang dẫn dắt xã hội đương thời của chúng ta, cụ thể là cá nhân chủ nghĩa và nhãn quan cơ giới thuyết về thế giới tự nhiên (xem thiên nhiên như một bộ máy). Chúng ta cần một nền giáo dục tổng thể có thể tái lập sự hài hòa với thiên nhiên, con người chúng ta và Đấng Siêu Việt. Đức thánh cha cũng nói về những hệ thống khác nhau trong nền giáo dục sinh thái: trường học, gia đình, truyền thông, giáo lý, cơ sở đào tạo tôn giáo, v.v… Chúng ta sẽ kết luận với một ghi chú về tầm quan trọng của giáo dục công dân về sinh thái trong thời điểm khẩn cấp này.
- Thách thức của lối sống mới chống lại chủ nghĩa tiêu thụ đang cao trào.
Đức thánh cha Phanxicô khẳng định trong thông điệp rằng: “Tình trạng bấp bênh của ngôi nhà chung của chúng ta đòi hỏi ta phải can đảm lựa chọn lối sống “chống lại văn hóa”(108). Xét vì tính nghiêm trọng của cơn khủng hoảng, những giải pháp đơn giản như tái chế hay đạp xe đạp tùy hứng thì không hề hấn gì. Như Mark Dowd đã viết: “Chúng ta không nên khờ khạo nghĩ rằng những hoạt động kém hiệu quả như từ bỏ bao bì plastic và thay bóng đèn đủ để đưa con tàu suy thoái môi trường ra khỏi dòng nước cuốn”.[2] Chúng ta không cần gì cả ngoại trừ một lối sống mới tận căn nếu muốn cứu ngôi nhà hành tinh chung của chúng ta cho chính chúng ta và các thế hệ tương lai.
Để cứu ngôi nhà chung, đặc biệt cần phải thắng vượt thói nghiện tiêu thụ hoang phí, phổ biến ở các xã hội phát triển kinh tế và lan rộng như đám cháy rừng đến phần còn lại của thế giới với sự toàn cầu hóa của mô hình kinh tế tân tự do hiện hành. Lối sống tiêu thụ thái quá, đặc biệt nơi người giàu và những bộ phận có ảnh hưởng của xã hội, đang hút cạn những tài nguyên thiên nhiên của ngôi nhà chung của chúng ta. Như Đức thánh cha lưu ý trong thông điệp, chúng ta là những nạn nhân của chủ nghĩa tiêu thụ không cưỡng lại được, là nguồn gốc chính của sự bất an cho nhân loại hậu hiện đại. Ngài viết:
Vì thị trường có xu hướng cổ võ tiêu thụ cực độ để bán sản phẩm, nên người ta dễ bị cuốn vào cơn lốc mua sắm và tiêu xài không cần thiết. Kiểu tiêu thụ không cưỡng lại được là một trong những ví dụ về ảnh hưởng của mô hình kinh tế – kĩ thuật lên các cá nhân. Romano Guardini đã thấy trước điều này: “Công chúng dễ dàng chấp nhận những điều tầm thường và hình thức sống do máy móc kĩ thuật áp đặt, họ cho rằng sự tương đồng vừa hợp lý vừa công bằng”. Mô hình này làm cho người ta tin rằng họ thực sự tự do bao lâu họ được tự do tiêu thụ, nhưng thực tế cho thấy điều này chỉ có nơi một số ít người đang nắm giữ quyền lực kinh tế và tài chính. Ngay khi rối loạn như thế, nhân loại hậu hiện đại vẫn chưa đạt được nhận thức mới về bản thân, một nhận thức có khả năng hướng dẫn và định hướng, và sự thiếu căn tính này gây ra tình trạng bất an. Chúng ta có quá nhiều phương tiện nhưng mục đích lại quá hạn chế và còi cọc. (203)
Những mức độ tiêu thụ tiêu thụ tham lam của chúng ta quả thực đã tàn phá ngôi nhà hành tinh chung. Sự tiêu thụ những nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng rõ ràng đã vượt xa mức độ phục hồi của chúng. Những nguồn tài nguyên thiên nhiên như ngư trường, rừng, đa dạng sinh học, và đặc biệt là nước ngọt, chúng ta đang tiến đến ngưỡng cuối cùng. Trong thế toàn tân (epoch of the Holocene, một thời kỳ địa chất) và trong suốt 6.000 năm qua từ khi nền văn minh bắt đầu, chúng ta sống nhờ vào sản lượng bền vững của các hệ thống tự nhiên của Trái đất. Nhưng trong những thập niên gần đây, dường như chúng ta đi quá xa khả năng những nguồn tài nguyên thiên nhiên của hành tinh nhà chúng ta. Đây là điều rõ ràng trong “phân tích dấu chân sinh thái” (Ecological Footprint Analysis, EFA), một phương pháp tính toán được sử dụng rộng rãi và phổ biến. Dấu chân sinh thái là một chỉ số dự báo về áp lực của con người trên thế giới vật lý trong giới hạn tiêu thụ các nguồn tài nguyên thiên nhiên của con người, sử dụng sinh thái, tạo ra ô nhiễm và chất thải. Phân tích dấu chân sinh thái rõ ràng đã nói đến khuynh hướng tiêu thụ quá mức. Hiện thời, toàn thể nhân loại đã tiêu thụ hay tiêu thụ quá mức ở tỷ lệ 1.5 hằng năm và tình trạng được cho là ngày càng tệ hơi khi nhìn vào mức độ tiêu thụ và thải ra hiện nay.[3]
Ngày nay, hình mẫu tiêu thụ của chúng ta đã đạt tới những mức độ không kiểm soát được, ra ngoài mức độ bền vững. Đồng thời, chúng ta cũng bị dụ dỗ bởi truyền thông quảng cáo – nhân vật đại diện chính cho chủ nghĩa tiêu thụ hiện đại. Khoản chi cho quảng cáo đã chạm mức 643 tỷ đô vào năm 2008, và trong những quốc gia như Trung Quốc và Ấn Độ thì hằng năm tăng thêm 10 phần trăm hay hơn nữa.[4] Giống như cơn sóng thần, chủ nghĩa tiêu thụ đang nhận chìm các nền văn hóa nhân loại và những hệ sinh thái của Quả đất. Lối sống tiêu thụ hiện đại của thế giới phát triển, ngày càng ảnh hưởng đến dân số tầng lớp cao và trung của các quốc gia đang phát triển, là một lối sống hoang phí đến điên cuồng. Số lượng rác thải do nền kinh tế hiện đại và lối sống tiêu thụ của chúng ta đáng báo động. Như Đức Phanxicô đã nói đến trong Laudato Si’, nếu chúng ta không can thiệp, “mô hình của chủ nghĩa tiêu thụ sẽ tiếp tục lấn át với sự hỗ trợ của truyền thông và những cơ chế hữu hiệu của thị trường.” (215)
Sự cạn kiệt nhanh chóng những nguồn tài nguyên của hành tinh nhà chúng ta bất kể bối cảnh sinh thái sẽ là công thức chế biến cho thảm toàn cầu. Như Seán McDonagh ghi chú: “Cuốn sổ cái của Trái đất nói với chúng ta rằng Trái đất là có hạn và đang bị tổn thương, và các hệ thống tự nhiên sẽ suy yếu nghiêm trọng cũng như có thể sụp đổ trừ phi nhân loại bắt đầu hình thành lối sống của mình trong ánh sáng của thực tại tính toán về sinh thái”.[5] Không thế hệ nào trước đây sống còn vì đã phá hủy liên tục những nguồn hỗ trợ tự nhiên của mình. Thế hệ chúng ta cũng không.
Như Đức Phanxicô đã chỉ ra trong thông điệp, trích dẫn vị tiền nhiệm của mình là Đức Gioan Phaolô II, tình trạng toàn cầu như thế có thể thúc đẩy “tình trạng ích kỷ tập thể”[6] (204). Căn nguyên của việc tiêu thụ ham hố và đổ rác hoang phí có thể được tìm thấy trong chủ nghĩa lấy con người làm trung tâm (anthropocentrism) và cá nhân chủ nghĩa đang thịnh hành. Trong nhãn quan tự quy hoàn toàn này, bất kỳ sự xem xét nào về những giới hạn bền vững của hành tinh hoặc công ích đều bị xem như không thích đáng. Tiêu thụ quá mức về phía thiểu số giàu có có thể dẫn đến sự bất ổn và bạo lực xã hội vì khả năng có hạn của hành tinh giới hạn của chúng ta. Có thể trích ra đây chẩn đoán của Đức Phanxicô về nguồn gốc của những mô hình tiêu thụ thiếu thận trọng của chúng ta:
Khi con người tự cô lập và khép kín, lòng tham của họ sẽ gia tăng. Tâm hồn của con người càng trống rỗng bao nhiêu thì họ càng cần nhiều thứ để mua, sở hữu và tiêu thụ bấy nhiêu. Họ dường như không thể chấp nhận những giới hạn do thực tại áp đặt. Theo hướng này, cảm thức đích thực về thiện ích chung cũng sẽ biến mất. Khi những thái độ như thế lan rộng thì các chuẩn mực xã hội sẽ chỉ được tôn trọng khi chúng không mâu thuẫn với nhu cầu cá nhân. Vì thế mối bận tâm của chúng ta không thể chỉ giới hạn ở những biến cố thời tiết khắc nghiệt, nhưng phải mở rộng đến những hậu quả tàn khốc của tình trạng mất trật tự xã hội. Ám ảnh với lối sống tiêu thụ, nhất là khi chỉ có một số ít người có khả năng duy trì lối sống ấy, sẽ dẫn tới bạo lực và hủy diệt lẫn nhau. (204)
Chống lại những hình mẫu tiêu thụ không lành mạnh đang làm sụp đổ những cột chống xã hội và tự nhiên của ngôi nhà chung chúng ta, Đức Phanxicô mời gọi “sự thay đổi lối sống tận căn”, điều này “có thể gây áp lực lành mạnh trên những người đang nắm giữ quyền lực chính trị, kinh tế và xã hội” (206). Ngài nhắc lại những mẫu gương của các phong trào người tiêu dùng đã tẩy chay những sản phẩm nào đó hầu buộc các doanh nghiệp phải “thay đổi cách vận hành, xem lại những dấu ấn trên môi trường và khuôn mẫu sản xuất” (206). Theo Đức thánh cha, “có nhu cầu lớn về cảm thức trách nhiệm xã hội của người tiêu dùng” (206). Đức Phanxicô nhắc lại một khẳng định quan trọng của Đức Bênêđictô: “Việc mua sắm luôn luôn là một hành vi luân lý – chứ không thuần tuý là hành vi kinh tế”.[7] Vẫn trích dẫn Đức Bênêđictô, ngài kết luận rằng “vấn đề suy thoái môi trường đang thách đố chúng ta suy xét lại lối sống của chúng ta”[8] (206). Một sự thay đổi lối sống tận căn như thế quả thật cần thiết để chăm sóc ngôi nhà hành tinh của chúng ta cũng như những anh chị em ít có vận may của chúng ta. Đức Phanxicô viết:
“Nhất thiết phải có sự quan tâm vô vị lợi dành cho người khác, loại trừ mọi hình thức quy ngã và cô lập nếu chúng ta thực sự mong muốn chăm sóc anh chị em và môi trường thiên nhiên. Nó làm nảy sinh phản ứng luân lý buộc chúng ta xem xét những hành vi và chọn lựa cá nhân tác động ra sao đến môi trường xung quanh. Nếu chúng ta vượt thắng được chủ nghĩa cá nhân, chúng ta có thể thực sự phát huy một lối sống khác và đem lại những thay đổi ý nghĩa trong xã hội.” (208)
Làm thế nào để chúng ta vượt thắng chủ nghĩa cá nhân và phát triển một lối sống khác để đem lại những thay đổi có ý nghĩa trong xã hội và cứu ngôi nhà hành tinh chúng ta? Trong Laudato Si’, Đức Phanxicô đề nghị giáo dục đóng vai trò chủ đạo trong nhiệm vụ quan trọng này. Chúng ta hướng đến vai trò của giáo dục đưa đến mối tương quan mới mẻ và hài hòa với ngôi nhà chung chúng ta.
2. Suy nghĩ lại về giáo dục sinh thái hướng đến một giao ước mới với ngôi nhà hành tinh chúng ta.
Theo Đức Phanxicô, trong bối cảnh sự sụp đổ sắp xảy ra của ngôi nhà chung và sự xuống cấp của những tương quan xã hội. “Chúng ta đang phải đối diện với một thách đố về giáo dục” (209). Giáo dục là con đường đồng hành với mọi người, đặc biệt là những người trẻ, để trở thành những người quản lý có trách nhiệm ngôi nhà chung của chúng ta. Với niềm hy vọng, Đức Phanxicô viết về các thế hệ trẻ và sự thay đổi về giáo dục mà họ đối mặt. Trong thời điểm quan trọng này của nền văn minh hành tinh chúng ta, tia chớp trong đám mây là những người trẻ đang trở nên những người bênh vực thật sự cho những nỗ lực bảo vệ và bảo tồn ngôi nhà hành tinh chung. Tuy nhiên, vì họ sống trong một môi trường tiêu thụ quá mức nên họ cần được giúp đỡ để sống một lối sống bền vững. Đức thánh cha viết:
“Trong những quốc gia cần thay đổi thói quen tiêu dùng, các bạn trẻ có một sự nhạy cảm sinh thái mới và một tinh thần quảng đại, một số bạn trẻ đang thực hiện những nỗ lực đáng nể phục để bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, họ đã trưởng thành trong một bối cảnh xã hội tiêu thụ cực độ và sung túc làm cho họ khó phát huy những thói quen khác biệt. Chúng ta đang phải đối diện với một thách đố về giáo dục.” (209)
Người trẻ dễ tổn thương nhất trước nền văn hóa tiêu thụ hiện đại, nhưng họ cũng có thể được hướng dẫn để lựa chọn một lối sống sinh thái có trách nhiệm. Vì thế, chúng ta đối mặt với thách thức cũng như cơ hội trong lãnh vực giáo dục về sinh thái. Đức Phanxicô ghi nhận: “Giáo dục môi trường đã mở rộng các mục tiêu” (210). Ngài đề cập đến vài khuynh hướng mới trong giáo dục môi trường: “ban đầu tập trung chủ yếu vào các thông tin khoa học, nâng cao ý thức và phòng ngừa rủi ro môi trường, còn bây giờ nó bao gồm cả việc phê bình về “những huyền thoại” của cái hiện đại dựa trên não trạng thực dụng (chủ nghĩa cá nhân, sự tiến bộ vô hạn, sự cạnh tranh, chủ nghĩa tiêu thụ, thị trường bất quy tắc)” (210).
Cội nguồn sâu xa của tâm thức vị lợi mang đặc tính cá nhân chủ nghĩa và chủ nghĩa tiêu thụ là chủ trương lấy con người làm trung tâm và nhãn quan cơ giới của thế giới tự nhiên. Đức Phanxicô đã xác định những điều này trong chương ba của thông điệp như là những cội rễ do con người của cơn khủng hoảng sinh thái hiện nay. Chủ trương lấy con người làm trung tâm đã đưa đến sự đề cao của chủ nghĩa cá nhân trong khi nhận thức cơ giới về thế giới tự nhiên chỉ như là một nhà kho các nguồn tài nguyên đã đưa đến chủ nghĩa tiêu thụ quá đáng là thương hiệu của nền kinh tế thị trường tự do. Thật đáng suy tư ngắn gọn về điều này trong bối cảnh giáo dục sinh thái.
Các nhà giáo dục nổi tiếng như C.A. Bowers, David Orr, và những người khác đã chỉ ra rằng hầu hết những hệ thống giáo dục của chúng ta đều dựa trên những giả định thừa hưởng từ tinh thần Hiện đại, chủ trương lấy con người làm trung tâm và đặc biệt là quan niệm cơ giới về thiên nhiên. Nhân trung thuyết hiện đại (Modern anthropocentrism) thấm nhập cách tinh tế vào chương trình giáo dục trong hầu hết các phần của thế giới.[9] Theo Bowers, sứ điệp văn hóa chính yếu được hệ thống giáo dục hiện đại quảng bá là huyền thoại của phương Tây gán cho con người tình trạng độc lập và tính trung tâm tuyệt đối trong tương quan với các hình thức sống khác trong cộng đồng sự sống. Ông viết: “Trong tất cả nền giáo dục công, học sinh gặp thấy trong sách giáo khoa một hình ảnh về cá nhân như là một tác nhân độc lập trong các hoạt động xã hội và kỹ thuật. Đại từ “bạn” (you) hiện diện khắp từ lớp 1 cho đến lớp 12”.[10] Một phần lớn chương trình giảng dạy trung và đại học tiếp tục gợi ý cách gian xảo rằng sự độc lập của chính mình được xem như là lý tưởng hoàn hảo và được gán cho vai trò trung tâm trong cơ bản nhận thức của chương trình giảng dạy. Những hình thức hiện đại và đương đại của các lý thuyết và thực tiễn giáo dục được tập trung chung quanh nhận thức giản lược của cái tôi được thừa hưởng từ tính Hiện đại.
Chương trình giảng dạy hiện đại cũng tiếp tục truyền bá quan niệm cơ giới về thế giới tự nhiên thừa hưởng từ tinh thần hiện đại và gián tiếp phục vụ cho tính hợp lý của nền kinh tế hiện đại. Trong hầu hết các sách giáo khoa, Trái đất được trình bày là một nguồn tài nguyên thiên nhiên để con người tiêu thụ hơn là một ngôi nhà tiếp đón và dung dưỡng nhân loại cùng với vô số những hình thức sự sống khác. Chương trình và hệ thống giảng dạy hầu như tiếp tục hoạt động trong Weltbild (thế giới quan) hay cái khung sườn của sự phát triển kinh tế không giới hạn dựa trên huyền thoại về một sự phong phú đến vô hạn của các nguồn tài nguyên thiên nhiên và con người như là những người tiêu thụ.[11] Vài trung tâm giáo dục cao tiếp tục sản sinh ra những kỹ sư, kỹ thuật viên và nhà quản lý đong đo sự nghiệp của họ dưới dạng sản lượng kinh tế tăng trưởng, dù phải hy sinh phúc lợi của hành tinh, và lạm dụng số lượng dự trữ, ngay cả khi điều đó có nghĩa là làm suy yếu đi những nguồn tài nguyên duy trì sự sống của ngôi nhà hành tinh chúng ta cũng như các hệ sinh thái chung. Như David W. Orr đã chỉ ra rằng cơn khủng hoảng sinh thái xảy ra chủ yếu không phải do những người dân kém hiểu biết mà là những người có học thức (những người với các bằng cấp BA, BS, LLB, MBA và PhD), những người trí thức cao trong xã hội.[12]
Theo Orr, trọng tâm chính của chương trình giảng dạy hiện hành dường như chỉ là chuẩn bị cho sinh viên cạnh tranh trong nền kinh tế thế giới khi sự tăng trưởng kinh tế được trình bày như là mục tiêu cao nhất.[13] Cái nhìn như thế cũng cổ vũ cho mantra (câu thần chú) của quyền làm chủ hành tinh về kỹ thuật hơn là kinh tin kính của sự sống bền vững trên Trái đất. Điều đáng nói là, ngay cả những chương trình giáo dục “sinh thái” trong chương trình giảng dạy cũng lẩn quẩn trong cái nhìn cơ giới về thế giới tự nhiên và giấc mơ làm chủ hành tinh và các nguồn tài nguyên của nó về kỹ thuật. Giả định của hầu hết chương trình giảng dạy về môi trường chỉ là một chút tái chế rác thải, nông trại hữu cơ, sử dụng thi thoảng các hình thức năng lượng tái tạo, etc. đó là tất cả điều phải làm để tránh cơn khủng hoảng sinh thái, mà không đặt vấn đề về tư duy hiện hành của chúng ta và thay đổi tận căn lối sống tiêu thụ hoang phí. Như John Hilcoat và Eureta Janse van Rensburg đã nói, “có một sự thinh lặng đáng chú ý về sự tiêu thụ lệch lạc trong giáo dục môi trường”.[14]
Theo Đức Phanxicô, nền văn hóa sinh thái mới cần để chăm sóc ngôi nhà chung chúng ta “không thể bị đúc kết vào một chuỗi giải đáp khẩn cấp và manh mún cho các vấn đề nổi cộm như hủy hoại môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và gây ô nhiễm”. (111) Những thay đổi thiết yếu phải rộng và xa hơn. “Chúng ta cần triển khai một tổng đề mới có thể lướt thắng những lý luận sai lệch của các thế kỷ gần đây” (121). “Chúng ta cần phải có một thuyết nhân bản có thể hội tụ nhiều lãnh vực kiến thức khác nhau” (141). Điều cần thiết là một nhãn quan mới về thực tại, một cách nhận thức mới mối liên hệ của chúng ta với ngôi nhà chung. Những phương chữa trị về kỹ thuật sẽ không tác dụng gì.
“Phải tạo một cái nhìn khác thôi, một suy tư, một chính trị, một chương trình giáo dục, một cách sống và một tinh thần chống lại sự tấn công của thực dụng kỹ thuật. Nói một cách khác, ngay cả những ý tưởng tốt đẹp về môi sinh cũng có thể chấm dứt qua việc đóng kín mình trong lý luận toàn cầu. Chỉ tìm phương cách kỹ thuật cho mỗi vấn đề môi trường mới xuất hiện, thì chỉ là tách biệt các sự vật, trong thực tế các sự vật này phải nối kết với tất cả thực tại, và che đậy những vấn đề sâu xa của hệ thống toàn cầu.”(111)
Mục tiêu tối thượng của giáo dục sinh thái phải là “đem lại sự thay đổi sâu xa” khi “phải biết rằng não trạng thực sự ảnh hưởng đến hành vi của chúng ta” (215). Theo Đức Phanxicô, “Những nỗ lực giáo dục của chúng ta vẫn không đủ và không hiệu quả nếu chúng ta không cổ võ một cách nghĩ mới về con người, sự sống, xã hội và mối tương quan của chúng ta với thiên nhiên” (215). Chúng ta cần một tiếp cận toàn diện về giáo dục chăm sóc ngôi nhà và người nhà chung của chúng ta.
3. Sự hiểu biết toàn diện về giáo dục sinh thái
Trong Laudato Si’, Đức Phanxicô đề nghị một hình mẫu toàn diện của giáo dục sinh thái, có thể tái lập sự hài hòa với thiên nhiên, với tha nhân và với Thiên Chúa. Ngài viết: “(Giáo dục sinh thái) tìm cách khôi phục các cấp độ khác nhau của sự cân bằng sinh thái: trong nội tâm với chính mình, liên đới với người khác, với thiên nhiên và các loài sinh vật khác, và ở mức độ tâm linh là với Thiên Chúa” (210).
Thật quan trọng để suy tư về hình mẫu giáo dục toàn diện được Đức Phanxicô đề nghị trong Laudato Si’, đi đôi với sinh thái học toàn diện của thông điệp. Theo Đức Phanxicô, giáo dục toàn diện dẫn đưa đến sự chung sống hòa bình với thế giới tự nhiên, với bạn bè nhân loại của chúng ta, và trên hết là với Đấng Tạo Dựng của chúng ta. Hãy suy tư ngắn gọn về từng chiều kích này trong nền giáo dục sinh thái.
Trước hết, giáo dục sinh thái có thể giúp thiết lập một mối dây liên kết mật thiết với thế giới tự nhiên, ngôi nhà chung chúng ta. Rủi thay, đào tạo giáo dục trong các trường trung cấp và đại học thường tiếp tục cổ xúy cho mối tương quan nhị nguyên giữa nhân loại và phần còn lại của thế giới. Sự phân chia nhị nguyên này bắt nguồn trong sự phân tách nhận thức luận giữa cái tôi và đối tượng được thừa hưởng từ tinh thần Hiện đại. Bowers nói rằng hầu hết các sách giáo khoa đều duy trì nhận thức luận nhị nguyên này:
Giới từ “on” (“Trái đất mà bạn sống trên đó” trong chương dẫn nhập) diễn tả hình thức liên hệ phù hợp với động từ “see” (thấy) như là cách hiểu biết về những mối liên hệ. Khi nhắc đến cái nhìn, điều có liên quan đến mối liên hệ người nhìn, nơi mà thế giới “outside” (bên ngoài) được nhìn như một bức hình, càng củng cố thêm ý nghĩa của cái tôi như là một cái gì đó tách biệt và độc lập.[15]
Như vậy, chương trình giảng dạy sinh thái càng làm mạnh thêm quan điểm thế giới hiện đại rằng nhân loại hoàn toàn tách biệt khỏi thế giới tự nhiên và không tùy thuộc vào mạng lưới của các hệ thống sinh học và sinh thái duy trì mọi sự sống trên Trái đất, bao gồm cả con người. Như F. Berkes và những người khác đã ghi chú rằng, sự vong thân của chúng ta khỏi thiên nhiên là yếu tố quyết định cho sự phá hủy môi trường.[16] Giáo dục hướng về tính bền vững đòi hỏi một sự sửa sai tận căn của “hệ nhị phân ‘nhân loại đối chọi với thiên nhiên’ có vấn đề và dai dẳng như vậy”,[17] nếu chúng ta muốn vượt thắng mối nguy hiểm sinh thái hiện thời của chúng ta.[18]
Chương trình giảng dạy toàn diện giáo dục cho sinh viên trở thành những thành viên của cộng đồng nhân loại rộng lớn hơn và là công dân của một cộng đồng sinh thái. Như Đức Phanxicô viết: “Có một sự cao quý trong nghĩa vụ chăm sóc công trình tạo dựng thông qua những việc nhỏ hằng ngày, và thật tuyệt vời biết bao khi việc giáo dục có thể mang lại những thay đổi thực sự trong lối sống” (211). Giáo dục sinh thái đòi phải có những biện pháp cụ thể và đơn giản để chăm sóc thế giới tự nhiên. Một lần nữa Đức Phanxicô viết:
“Giáo dục tinh thần trách nhiệm đối với môi trường có thể khích lệ những hành động ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng đến thế giới xung quanh, như tránh sử dụng nhựa và giấy, giảm bớt sử dụng nước, phân loại rác, chỉ nấu những gì thực sự cần thiết, quan tâm đến những sinh vật khác, sử dụng phương tiện giao thông công cộng hay đi xe chung, trồng cây, tắt đèn khi không cần thiết, và vô số hành động khác.” (211)
Thứ đến, giáo dục sinh thái toàn diện cũng đưa đến ý thức đoàn kết rộng lớn hơn trong gia đình nhân loại, đặc biệt với những thành viên dễ tổn thương hơn trong số những thành viên của gia đình chung chúng ta. Đức Phanxicô viết: “Cần những nhà giáo dục có khả năng phát triển nền đạo đức sinh thái, giúp mọi người trưởng thành trong tình liên đới, tinh thần trách nhiệm và sự quan tâm đầy lòng trắc ẩn” (210).
Cơn khủng hoảng sinh thái đương thời không chỉ hướng vào tình trạng vật lý không bền vững của ngôi nhà chung mà còn những con người trong gia đình đó. Nhiều thế kỷ thuộc địa hóa và thế lực tư bản chủ nghĩa tân tự do trong vài thập kỷ gần đây đã đưa đến sự thống trị tàn độc và khai thác quá mức các hệ sinh thái và những cộng đồng nhân loại khắp thế giới. Giáo dục hướng đến tính bền vững cần phải in sâu các nhân đức tử tế và liên đới trong các học sinh trẻ nếu chúng ta muốn gầy dựng một thế giới công bằng và bình đẳng hơn. Kịch bản giáo dục hiện hành dường như bị dẫn dắt bởi chương trình hành động tân tự do của thị trường tự do, điều đang gây thiệt hại cho các cộng đồng nhân loại và các hệ sinh thái. Để chống lại tình trạng này, chúng ta cần tạo nên một nền văn minh tình yêu và tử tế, hằng ngày thực hiện những hành động liên đới nhỏ, trong một thế giới mà quyền lực và của cải có khuynh hướng ngự trị và giữ độc quyền.[19] Tính liên đới có thể là thuốc giải độc hoàn hảo cho chủ nghĩa đế quốc về kinh tế đang tàn phá ngôi nhà hành tinh chúng ta. Lòng thương cảm và tính liên đới thật sự cần cho tương lai của hành tinh và những ai sống trong đó.
Thứ ba, giáo dục sinh thái toàn diện “phải chuẩn bị cho chúng ta một bước tiến vào mầu nhiệm, từ đó đạt được ý nghĩa sâu xa của luân lý môi sinh” (210), như Đức Phanxicô đã nói trong thông điệp. Giáo dục chỉ hoàn tất khi nó tiếp nối công việc in sâu một nhận thức về sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế giới tự nhiên và trong đời sống của con người.
Như chúng tôi đã nói về nhãn quan thần học của Laudato Si’, cơn khủng hoảng sinh thái đương thời hướng đến sự quên lãng một chân lý thâm sâu, cụ thể là thế giới vật lý này là sự sáng tạo của Thiên Chúa và thấm đẫm sự hiện diện của Thiên Chúa. Thật sự, cơn khủng hoảng sinh thái là triệu chứng của cơn khủng hoảng tôn giáo và tinh thần.[20] Tình trạng không bền vững của ngôi nhà chung chúng ta, và của cả những người trong gia đình đó, có nguyên do là sự đổ vỡ sâu xa trong tương quan của chúng ta với Đấng Tạo Hóa, nền tảng của mọi hiện hữu, Đấng đã làm hiện hữu toàn thể vũ trụ vật chất và duy trì nó cách yêu thương cùng với mọi hình thức của sự sống. Nhân loại không thể sống hài hòa với thụ tạo nếu không ở trong hòa bình của Đấng Tạo Hóa. Đức Bênêđictô XVI đã suy tư sâu sắc về điều này:
Sự tiêu thụ thô bạo của thụ tạo bắt đầu ở nơi Thiên Chúa bị quên lãng, nơi mà vật chất chỉ trở thành vật chất đối với chúng ta, nơi mà chính chúng ta là thước đo tối thượng, nơi mà mọi sự đơn giản chỉ là tài sản của chúng ta… Sự phung phí thụ tạo bắt đầu ở nơi chúng ta không còn nhận ra bất kỳ tuyên bố chủ quyền nào ngoài chúng ta, khi chỉ nhìn thấy có mỗi chúng ta.[21]
Cơn khủng hoảng sinh thái cho thấy rằng các thần thánh của lý trí thế tục, kỹ năng kỹ thuật và lợi nhuận kinh tế đã thay thế cho đức tin vào Thiên Chúa Tạo Hóa và sự tôn trọng thánh thiêng dành cho trật tự của thụ tạo. Như Michael S. Northcott đã viết: “Khí nhà kính phát sinh do tư bản kỹ nghệ là sản phẩm của lòng sùng kính hiện đại dành cho các thánh thần của lý trí thế tục, quyền năng kỹ thuật và tích lũy tiền tệ, và gạt bỏ sự hiểu biết truyền thống của cộng đồng, công bình và sự thánh thiêng”.[22] Khủng hoảng sinh thái phát sinh chính xác từ sự thiếu khả năng nhận thức của chúng ta về thế giới vật chất như là thụ tạo của Thiên Chúa, không tôn trọng tính toàn thể của nó cũng như không đánh giá cao sự tốt lành và vẻ đẹp nội tại của nó mà chỉ có sử dụng và tiêu thụ. Giáo dục hướng đến tính bền vững cần phải được neo đậu trong cảm thức tôn giáo sâu xa về lòng tốt của Thiên Chúa và sự hiện diện yêu thương của Ngài trong thế giới tự nhiên và trong lịch sử loài người.
Laudato Si’ nhằm đến chiều hướng của giáo dục sinh thái ngày nay như là sự hài hòa được tái lập với thế giới tự nhiên, con người và Đấng Tạo Hóa. Một hướng tiếp cận giáo dục toàn diện như thế thật sự là điều sống còn để bảo vệ ngôi nhà hành tinh chung của chúng ta trong bối cảnh khủng hoảng sinh thái đương thời.
4. Bối cảnh cho giáo dục sinh thái
Trong thông điệp, Đức Phanxicô nói về những môi trường khác nhau cho việc giáo dục sinh thái: trường học, gia đình, phương tiện truyền thông, lớp giáo lý, cơ sở đào tạo tôn giáo, etc. Ngài nhấn mạnh đến việc phổ biến một nền giáo dục như thế ngay từ tuổi nhỏ. Ngài viết: “Nền giáo dục tốt khi còn trẻ sẽ gieo những hạt giống và tiếp tục sinh hoa trái trong suốt cuộc đời”. (213) Vì thế, giáo dục sinh thái sẽ bao phủ toàn đời sống chúng ta.
Đức Phanxicô nhấn mạnh đến vai trò của gia đình trong lãnh vực giáo dục sinh thái. Ngài chỉ ra rằng cái nôi gia đình là nơi một người nhận lãnh sự giáo dục toàn vẹn. Đây là những suy tư hay của Đức Phanxicô về vấn đề này:
“Tôi muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng lớn lao của gia đình, là “nơi sự sống – quà tặng của Thiên Chúa – được đón nhận trọn vẹn, được bảo vệ chống lại mọi cuộc tấn công, và có thể phát triển phù hợp với sự trưởng thành đích thực của con người. Trái ngược với cái gọi là nền văn hoá sự chết, gia đình là trái tim của nền văn hoá sự sống”.[23] Trong gia đình, trước hết chúng ta học cách thể hiện tình yêu và tôn trọng sự sống; chúng ta học biết sử dụng đúng mọi thứ, ngăn nắp và sạch sẽ, tôn trọng hệ sinh thái địa phương và chăm sóc mọi loài thụ tạo. Trong gia đình, chúng ta lãnh nhận nền giáo dục toàn diện, giúp chúng ta lớn lên cách hài hòa với sự trưởng thành cá nhân. Trong gia đình, chúng ta học cách xin mà không đòi hỏi, biết nói “cảm ơn” để diễn tả lòng biết ơn đích thực vì những điều chúng ta được lãnh nhận, biết tự chủ tính nóng giận và lòng tham, biết xin lỗi khi làm điều sai trái. Những nghĩa cử đơn giản của phép lịch sự chân thành tạo nên văn hoá của đời sống chung và tôn trọng môi trường xung quanh.” (213)
Theo Đức Phanxicô, “Các thể chế chính trị và nhiều nhóm xã hội khác nhau được uỷ thác nhiệm vụ gia tăng ý thức của người dân” (214) về sự cần thiết phải chăm sóc và bảo vệ ngôi nhà hành tinh chung của chúng ta. Vì tầm quan trọng của vấn đề, Đức thánh cha đề nghị các thể chế chính trị phải mạnh mẽ “xử phạt những vụ tấn công vào môi trường” (214). Ngài biết rằng những biện pháp này không đủ mạnh. Cuối cùng, “chúng ta cũng cần những phẩm tính cá nhân như tự kiểm soát và sự sẵn lòng học hỏi lẫn nhau” (214).
Đức Phanxicô chú trọng đến tầm quan trọng của giáo dục hướng đến việc quản lý có trách nhiệm công trình sáng tạo trong Giáo hội Công giáo và các cộng đồng Kitô giáo. Ngài viết: “Tất cả các cộng đồng Kitô giáo đều có vai trò quan trọng trong việc giáo dục sinh thái” (214). Đối với Giáo hội Công giáo, lời mời gọi của Đức Phanxicô về giáo dục sinh thái thật rõ ràng và thách thức các thành viên trong giáo hội. Chúng tôi trích dẫn lời Ban biên tập tạp chí “The Tablet” nhân dịp phát hành Laudato Si’:
Giáo hội hoàn vũ sẽ đáp ứng như thế nào trước hành động lãnh đạo đúng lúc và gây tiếng vang này của Đức thánh cha đã chạm tới mọi cấp độ sự sống, từ tắt đèn và tái chế giấy cho đến những quyết định lớn lao hơn liên quan đến đầu tư quốc tế, vận động hành lang các chính trị gia và quyết định bỏ phiếu như thế nào? Các giáo hội quốc gia và địa phương cần nhìn vào lối sống của mình, các giám mục nhìn vào chương trình nghị sự, các linh mục nhìn vào bài giảng hàng tuần, các trường học nhìn vào sách giáo khoa, các gia đình nhìn vào việc họ tiêu pha như thế nào và tận hưởng những gì.[24]
Đáng chú ý là Đức thánh cha rõ ràng đã nâng tầm quan trọng của các chủng viện và các cơ sở đào tạo tôn giáo trong việc giáo dục sinh thái.[25] Cần phải biết rằng những vấn đề sinh thái không nhận được sự quan tâm đúng mực trong việc đào tạo hàng giáo sĩ và các lãnh đạo tôn giáo khắp thế giới với những hệ quả bất lợi trong công việc mục vụ khi chạm đến vấn đề quản lý công trình sáng tạo. Một nghiên cứu của Viện nghiên cứu tôn giáo công (Public Religion Research Institute) và Hàn lâm viện tôn giáo Hoa Kỳ (American Academy of Religion) khẳng định: “Hầu hết người Mỹ tham dự các lễ nghi tôn giáo ít nhất một hai lần mỗi tháng ít khi nghe hàng giáo sĩ của mình nói về vấn đề biến đổi khí hậu. Chỉ trên một phần ba người Mỹ nói rằng hàng giáo sĩ của mình thường nói (11%) hay đôi khi nói (25%). Hơn 6 trên 10 người Mỹ nói rằng giáo sĩ lãnh đạo của mình hiếm khi (29%) hay không bao giờ (33%) đề cập đến thay đổi khí hậu”.[26] Những khám phá này dường như có ích cho hàng giáo sĩ và tu sĩ hầu hết các quốc gia và vùng miền khác. Trước bối cảnh này, Đức Phanxicô viết trong Laudato Si’:
Tôi hy vọng các chủng viện và các nhà đào luyện của chúng ta sẽ giáo dục một đời sống giản dị đầy trách nhiệm, sự chiêm niệm với lòng biết ơn về thế giới Chúa tặng ban, quan tâm đến nhu cầu của người nghèo và bảo vệ môi trường. (214)
Nới rộng tầm nhìn của giáo dục sinh thái, Đức Phanxicô nói về tầm quan trọng của giáo dục mỹ học, ngài trích dẫn Đức Gioan Phaolô II: “Không thể bỏ qua mối liên hệ giữa giáo dục mỹ học và duy trì môi trường khỏe mạnh”.[27] Đức Phanxicô sáng suốt nhận xét: “Nếu một người không biết dừng lại và thán phục cái đẹp, thì sẽ không có gì là ngạc nhiên nếu người ấy đối xử với mọi thứ như thể đối tượng để sử dụng và lạm dụng không chút đắn đo” (215). Theo ngài: “Học biết nhận ra và trân trọng vẻ đẹp, chúng ta sẽ thoát ra khỏi chủ nghĩa thực dụng tiện ích cá nhân” (215). Chúng ta nhớ lại câu thường được trích dẫn của Fëdor Dostoevskij rằng “chỉ có cái đẹp mới cứu được thế giới”. Chúng ta cần phải tự đào tạo để đánh giá cao vẻ đẹp của thế giới thiên nhiên quanh ta nếu muốn cứu nó cho chúng ta và các thế hệ mai sau.
Trong thông điệp, Đức Phanxicô khuyến khích chúng ta nên có những đóng góp dù nhỏ nhưng quý giá trong những bối cảnh vụ thể của chúng ta để bảo vệ ngôi nhà chung. Ngài viết:
Chúng ta không được nghĩ rằng những nỗ lực này không thể thay đổi thế giới. Chúng đang sinh lợi ích cho xã hội, dù chúng ta không biết, vì những điều tốt đẹp chắc chắn có xu hướng lan rộng, ngay cả khi chúng ta không thấy. Hơn nữa, những hành động như thế có thể khôi phục cảm thức về lòng tự trọng của chúng ta; dẫn chúng ta đến bản chất sâu xa của hữu thể, sống trọn vẹn hơn và cảm nhận sự sống trên trái đất có giá trị. (212)
5. Tầm quan trọng của giáo dục công dân sinh thái.
Cơn khủng hoảng sinh thái đương thời đã đặt nhân loại ở ngã tư đường trước tương lai của chính mình trong ngôi nhà chung, Trái đất. Những năm tháng sắp đến sẽ rất quan trọng khi chúng ta còn lại ít thời gian quý giá để cùng nhau thu góp lại những nguồn tài nguyên và năng lượng để bảo vệ và cứu chữa ngôi nhà chúng ta. Giáo dục tính bền vững quả thật là một trong những nhu cầu khẩn cấp nhất trong thời chúng ta. Như Stephen Mulkey cảnh báo:
Chừng như chúng ta chỉ có khoảng một thập kỷ để lấy lại tính bền vững hoặc sẽ mất cơ hội cứu hành tinh đáng sống này dành cho con cháu chúng ta. Nhân loại đối diện với sự lựa chọn căn cơ: sống cách bền vững hơn trên hành tinh này, hoặc đối mặt với những hệ quả không thích hợp với nền văn minh. Sự lựa chọn thật khắc nghiệt.[28]
Tính bền vững chắc hẳn đã trở nên mối bận tâm lớn hơn trong lãnh vực giáo dục ngày nay. Giáo dục về sự phát triển bền vững đã di chuyển từ ngoại vi vào cốt lõi của giáo dục chất lượng và khích động những tiếp cận mới với khoa sư phạm.[29] Tuy nhiên, tình trạng báo động hiện nay là chúng ta đang xa cách với việc sống bền vững trên Trái đất và thật sự ta có một quãng đường dài để đi về hướng này. Như Prithi Nambiar đã viết trong Journal of Education for Sustainable Development, “Giáo dục chưa được nhìn nhận như là tác nhân mạnh mẽ nhất của tính bền vững”.[30] Giáo dục bền vững tính vẫn còn bị mắc kẹt và theo khuôn mẫu môi trường xưa cũ, và vẫn còn bị xem như là “môn phụ thêm”, một thứ phụ lục, và như vậy không thể nào dẫn đưa đến một xã hội bền vững hơn.[31] Một tường trình mới đây về giáo dục bền vững tính trong các trung tâm cao học đã thừa nhận:
… hệ thống giáo dục cao vẫn thiếu thích ứng với các điều kiện mà chúng ta đối mặt … ngay từ Hội nghị về Môi trường Con người của Liên hiệp quốc năm 1972, giáo dục được quyết định là tác nhân thay đổi chính trong các tuyên bố và thỏa thuận cấp cao … nhưng nay vẫn còn là một phần lớn của vấn đề.[32]
Một trong những đáp ứng sớm nhất với thông điệp Laudato Si’ là việc ký kết một bản tuyên bố của các lãnh đạo giáo dục cao Công giáo, gồm gần một trăm Hiệu trưởng đại học của Mỹ và những người khác có vị trí quan trọng trong các viện hàn lâm trên thế giới. Bản tuyên bố của các Lãnh đạo giáo dục cao Công giáo đã ca ngợi thông điệp là văn bản “đúng lúc, dễ hiểu và truyền cảm hứng”, đồng thời hân hoan chào đón “lời kêu gọi khẩn thiết phải hành động để giải quyết các cơn khủng hoảng khí hậu và công bằng đang đe dọa hành tinh”.[33] Bản văn cũng cám ơn Đức Phanxicô “vì sự lãnh đạo mạnh mẽ và can đảm của ngài trong việc giải quyết những cơn khủng hoảng có liên quan với nhau và những lối sống đang đe dọa Trái đất trong thời đại chúng ta”.[34] Chúng tôi trích dẫn một ít đoạn trong Lời nói đầu của Bản tuyên bố nói trên, đặc biệt liên quan đến giáo dục sinh thái.
Các học viện giáo dục phải tìm kiếm để cung cấp sự lãnh đạo có ảnh hưởng trong việc khám phá những con đường mới và đem lại sự sống để giải quyết tình trạng cấp thiết của thay đổi khí hậu, loại trừ xã hội và sự nghèo đói cùng cực cũng như tìm con đường mới để đạt đến hoàn bình, công bình và môi trường bền vững cho toàn gia đình nhân loại và toàn thể gia đình thụ tạo.
Là các lãnh đạo của Giáo dục Công giáo cao cấp, chúng tôi cam kết cùng nhau làm việc theo miền và toàn cầu, qua tất cả các phương tiện sẵn có và thích hợp cho các trường và đại học, cũng như các học viện cao cấp của chúng tôi, để nghiên cứu, cổ vũ và hành động về cách đối xử cũng như tầm nhìn sinh thái của Đức Phanxicô.
Đặc biệt hơn nữa, là các lãnh đạo của Giáo dục Công giáo cao cấp, chúng tôi cam kết hợp tác để chăm sóc hành tinh, phát triển con người toàn diện, và quan tâm đến người nghèo trong các dự án nghiên cứu của chúng tôi, các chương trình giảng dạy, các hoạt động liên quan đến xã hội và chính trị như là các trường cao đẳng và đại học của chúng tôi.[35]
Thật phấn khởi khi thấy rằng lời kêu gọi giáo dục sinh thái của Đức Phanxicô trong Laudato Si’ đang nhận được sự xác nhận nhiệt tình ở cấp cao như vậy giống như bản văn mà chúng tôi trích dẫn ở trên. Chúng tôi tiên đoán sẽ có nhiều đáp ứng như vậy từ các viện hàn lâm, các giáo hội và các tôn giáo, cũng như xã hội dân sự rộng lớn hơn khắp thế giới trong lãnh vực giáo dục sinh thái. Trong việc chăm sóc ngôi nhà chung đang lâm nguy ở mức độ gia tăng, vai trò giáo dục thật sống còn và cần thiết. Trong những năm sắp tới, các nhà giáo dục người trẻ khắp thế giới không chỉ phải vạch ra một chương trình dạy thích hợp để phổ biến giáo dục sinh thái nhưng còn phải cách mạng hóa toàn tiến trình giáo dục để chăm sóc có trách nhiệm ngôi nhà chung của chúng ta. Giáo dục hướng về trách nhiệm sinh thái của công dân quả thật là điều cần thiết vào lúc này.
__________
[1] Các số trong ngoặc là số đoạn trong Thông điệp Laudato si.
[2] M. Dowd, For Every Living Creature on Earth, The Tablet (13 June 2015), tr. 4.
[3] Xem Global Footprint Network, Living Planet Report 2014: Species and Spaces, People and Places (Gland: WWF, 2014), tr. 9.
[4] Xem E. Assadourian, “The Rise and Fall of Consumer Cultures”, trong The World Watch Institute, State of the World 2010: Transforming Cultures. From Consumerism to Sustainability, W.W. Norton, New York – London 2010, tr. 11.
[5] S. McDonagh, To Care for the Earth: A Call to a New Theology, Geoffrey Chapman, London 1986, tr. 45.
[6] John Paul II, “Peace with God the Creator, Peace with All of Creation”. Message for the World Day of Peace (1 January 1990), số 1.
[7] Benedict XVI, Encyclical Letter “Caritas in Veritate” (29 June 2009), số 66.
[8] Benedict XVI, “If You Want to Cultivate Peace, Protect Creation”. Message for the 2010 World Day of Peace (1 January 2010), no. 11.
[9] C.A. Bowers đã cung cấp một cái nhìn về nhân trung thuyết thấm nhập trong chương trình giảng dạy trong trường hợp sách giáo khoa học đường. Xem C.A. Bowers, Education, Cultural Myths and the Ecological Crisis: Toward Deep Changes, State University of New York Press, Albany, N.Y. 1993, p. 117-153.
[10] Ibidem, tr. 125.
[11] ibidem, tr. 3, 127-30.
[12] Xem D.W. Orr, Earth in Mind: On Education, Environment and the Human Prospect, Island Press, Washington, DC 1994, tr. 7. Orr có một sự so sánh đáng suy ngẫm, được gợi ý từ Elie Wiesel, so sánh giữa cơn khủng hoảng sinh thái với Holocaust (lò hỏa thiêu người Do Thái của Đức quốc xã) mà những người thiết kế và thực hiện nó là những người kế thừa của Kant và Goethe, thường được cho là những người có giáo dục nhất trên quả đất. Xem ibidem, tr. 7, 18-20.
[13] Xem ibidem, tr. 16
[14] J. Hilcoat, E. Janse van Rensburg, Consuming Passions: Educating the Empty Self, Australian Journal of Environmental Education 30(2014)1, tr. 88.
[15] C.A. Bowers, Education, Cultural Myths and the Ecological Crisis, tr. 126.
[16] Xem F. Berkes, Sacred Ecology: Traditional Ecological Knowledge and Resource Management, Taylor & Francis, Philadelphia 1999.
[17] G. Di Chiro, Response: Reengaging Environmental Education in the Anthropocene, Australian Journal of Environmental Education 30(2014)1, tr. 17.
[18] Xem vấn đề này trong A. Cachelin, J. Rose, D. Dustin, Sustainability in Outdoor Education: Rethinking Root Metaphors, Journal of Sustainability Education 2(2011). Cũng xem W. Cronon, Uncommon Ground: Rethinking the Human Place in Nature, .W. Norton & Company, New York 1996.
[19] Xem Đức Phanxicô, Tông huấn “Evangelii Gaudium” (24 November 2013), số 188
[20] Xem A. Cohen-Kiener, Claiming Earth as A Common Ground: The Ecological Crisis through the Lens of Faith, Skylight Paths Publishing, Woodstock, Vermont 2009, tr. 2; D. Bookless, Planet Wise: Dare to Care for God’s World, Inter-Varsity Press, Nottingham 2008, tr. 41.
[21] Benedict XVI, Meeting with Priests, Deacons, and Seminarians of the Diocese of Bolzano Bressanone (6 August 2008).
[22] M. S. Northcott, A Moral Climate: The Ethics of Global Warming, Darton, Longman, and Todd/Christian Aid, London 2007, tr. 14.
[23] Gioan Phaolô II, Tông thư “Centesimus Annus” (1 May 1991), số 39.
[24] Editorial: “Laudato Si’: World’s Eyes are Opened to Creation”, The Tablet (20 June 2015), tr. 2.
[25] Xem Y. Neril, J. Auciello, Report on Faith and Ecology Courses in North American Seminaries, The Interfaith Centre for Sustainable Development, Jerusalem 2015, tr. 3.
[26] R. P. Jones, D. Cox, J. Navarro-Rivera, Believers, Sympathizers, & Skeptics: Why Americans are Conflicted about Climate Change, Environmental Policy, and Science. Findings from the PRRI/AAR Religion, Values, and Climate Change Survey, Public Religion Research Institute, Washington, DC 2014, tr. 4.
[27] John Paul II, Peace with God the Creator, Peace with All of Creation, số 14.
[28] S. Mulkey, Sustainability Science as a Foundation for Higher Education in the Environmental Century, Sustainability (December 2012), DOI: 10.1089/sus.2012.9918.
[29] Xem Ch. Hopkins, Scope and Impact of Global Actions under UNDESD, Journal of Education for Sustainable Development 8(2014), tr. 113-19; F. Lenglet, Can ESD Reach the Year 2020?, Journal of Education for Sustainable Development 8(2014), tr. 121-25; D. Tilbury, Are We Learning to Change? Mapping Global Progress in Education for Sustainable Development in the Lead Up to ‘Rio Plus 20’, Global Environmental Research 14(2010), tr. 102.
[30] P. Nambiar, Developing Learning Opportunities for Sustainability, Journal of Education for Sustainable Development 8(2014), tr. 87.
[31] Xem S. Strife, Reflecting on Environmental Education: Where Is Our Place in the Green Movement, The Journal of Environmental Education 41(2010), tr. 179-80.
[32] The Sustainable University: Progress and Prospects, eds. S. Sterling, L. Maxey, H. Luna, Routledge Taylor & Francis Group, Abingdon, Oxon – New York 2012, tr. xxii.
[33] Laudato Si’: On Care for Our Common Home. Statement of Leaders in Catholic Higher Education Globally. For the statement and list of signatories, xem http://ignatiansolidarity.net/catholichigher-ed-encyclical-sign-on/.
[34] Ibidem.
[35] Ibidem.
Lm. Joshtrom Isaac Kureethadam, SDB
Giáo sư Triết học các khoa học tại Giáo hoàng Đại học Salesian và Giám đốc Viện các khoa học xã hội và chính trị. Các lãnh vực nghiên cứu: Vũ trụ học, Sinh thái học, Triết học môi trường, Giáo dục sinh thái và Thần học sáng tạo.
Seminare, vol. 37, 2016, no. 4, tr. 83-96
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ
2020
Bốn phạm trù lãnh đạo như Giê-su
Bốn phạm trù lãnh đạo như Giê-su:
“…để họ được phấn khởi trong tâm hồn, và nhờ được liên kết chặt chẽ với nhau trong tình thương, họ đạt tới sự thông hiểu phong phú và đầy đủ, khiến họ nhận biết mầu nhiệm của Thiên Chúa, tức là Đức Ki-tô, trong Người có cất giấu mọi kho tàng của sự khôn ngoan và hiểu biết.”
Col 2: 2-3
Khía cạnh đầu tiên của Lãnh Đạo Như Giêsu là hiểu rằng lãnh đạo là một hành trình biến đổi. Khía cạnh thứ hai của Lãnh Đạo Như Giêsu là sự kết hợp hài hòa giữa: con tim (heart), tư duy (head), hành động (hands) và thói quen (habits) của chúng ta. Khi mà những phạm trù lãnh đạo này được kết hợp hài hòa, thì cái nhìn của chúng ta thay đổi, chúng ta tạo được niềm tin nơi người khác, các cộng đoàn/cộng đồng được phát triển, và văn hóa của tổ chức được biến đổi. Khi những phạm trù này không kết hợp hài hòa với nhau thì công việc của chúng ta thiếu định hướng, tương quan đổ vỡ, cộng đoàn/cộng đồng tan rã, và văn hóa của tổ chức trở nên không lành mạnh và kém năng suất. Tất cả các sách Phúc Âm Matthêu, Marcô, Luca, Gioan và Công Vụ Tông Đồ đều chia sẻ những ví dụ đậm nét về việc Chúa Giêsu đã sống và nêu gương về sự kết hợp hài hòa bốn phạm trù này.
CON TIM (HEART)
Lãnh đạo trước hết là vấn đề tinh thần thuộc con tim. Bất cứ khi nào bạn có một cơ hội để ảnh hưởng đến suy nghĩ và hàng vi của những người khác, thì trước hết bạn cần quyết định là sẽ hành động vì lợi ích bản thân hay vì quyền lợi của những người bạn đang lãnh đạo. Một cách đơn giản, câu hỏi về con tim cần đặt ra là: Bạn là nhà lãnh đạo phục vụ hay là nhà lãnh đạo phục vụ bản thân?
Cho dù Ngài dạy bằng lời nói (mời gọi các môn đệ phục vụ như trong Mt 20: 25-28) hay qua hành động (rữa chân cho các môn đệ như trong Ga 13:3-5), thì Chúa Giêsu luôn nêu gương vai trò lãnh đạo phục vụ. Việc xác định sự nhạy bén nơi con tim và sự biện minh cho những động cơ lãnh đạo phục vụ bản thân đã bị che đậy đòi hỏi tính trung thực rất cao.
TƯ DUY (HEAD)
Hành trình Lãnh Đạo Như Giêsu khởi đầu từ con tim khi bạn xem xét động cơ. Sau đó ý định này sẽ được chuyển đến phạm trù nội tâm khác là tư duy, nơi mà bạn sẽ kiểm chứng niềm tin và những lý thuyết về việc lãnh đạo và động viên người khác. Tất cả các nhà lãnh đạo tầm cỡ đều có một triết lý lãnh đạo cụ thể, triết lý đó xác định việc họ nhìn nhận không chỉ vai trò của họ mà còn tương quan của họ với những người họ mưu cầu ảnh hưởng đến như thế nào nữa. Trong suốt quá trình lãnh đạo nơi trần thế, Chúa Giê-su luôn dạy và nhấn mạnh quan điểm của Ngài. “Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến dâng mạnh sống làm giá chuộc muôn người”. (Mc 10:45).
HÀNH ĐỘNG (HAND)
Bạn thể hiện những gì nơi con tim và tư duy ra bên ngoài bằng những gì bạn làm qua hành động: động cơ và niềm tin về vai trò lãnh đạo tác động đến hành động của bạn. Nếu bạn có một con tim phục vụ thì bạn sẽ giúp người khác phát huy tối đa tiềm năng của họ qua việc thiết lập các mục tiêu rõ ràng, quan sát quá trình họ làm việc, và đồng hành qua việc tán dương những tiến triển tốt và điều chỉnh những hành vi chưa phù hợp. Chúa Giê-su đã mặc khải chính Ngài cho các môn đệ trong ba năm để khi Ngài hoàn tất sứ vụ nơi trần thế và về trời thì họ có đủ khả năng tiếp tục thực thi viễn cảnh của Ngài. Nguyên lý thiết lập mục tiêu rõ ràng, đo lường kết quả là những khái niệm bình thường của tất cả các tổ chức – và cũng liên quan và hiệu quả trong tương quan lãnh đạo trong đời sống. Trong gia đình, những nguyên lý này cũng được ứng dụng trong mọi khía cạnh từ việc thiết lập các giá trị và xác định những chỉ dẫn cho hành vi đến việc mô tả cho con nhỏ trước tuổi thành niên thế nào là một căn phòng ngăn nắp.
THÓI QUEN (HABIT)
Thói quen là những gì bạn làm để giữ mình đi đúng hướng trong tương quan với Chúa và tha nhân. Chúa Giêsu nêu gương hai loại thói quen cho chúng ta: Thói Quen Sống và Thói Quen Hành Động. Là nhà lãnh đạo cam kết Lãnh Đạo Như Giêsu, bạn cần phải dành thời gian để kiến múc nơi quyền năng của Thiêng Chúa và tái định hướng quan điểm của mình. Chúa Giêsu đã thực hiện điều này qua năm Thói Quen Sống: Lắng Động, Cầu Nguyện, Học Hỏi Lời Chúa, Ứng Dụng Kinh Thánh Trong Đời Sống và Duy Trì Tương Quna Hỗ Trợ – tất cả những thói quen này đều bám rễ và được thêm sức bởi việc đón nhận và sống trong Tình Yêu của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã thể hiện sự vâng phục Thiên Chúa Cha và chia sẻ tình yêu của Chúa Cha cho các môn đệ của mình qua những Thói Quen Hành Động, đó là Trao Tặng, Tha Thứ, Khích Lệ và Xây Dựng Cộng Đoàn.
2020
3 cách để dâng mình cho Chúa
3 cách để dâng mình cho Chúa
Những lời của Thánh Phaolô trong sách Phúc âm có nghĩa là gì?
Thánh Phaolô mạnh mẽ thúc dục chúng ta : “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12,1).
Nhưng ý nghĩa dâng hiến bản thân như như một hy lễ thực sự là gì?
Trong tiếng Do thái từ “hy lễ” là korbán, nó có nghĩa là “tiến lại gần hơn”. Mục đích của hy lễ là đến gần Chúa hơn; đó là một lời mời gọi sống trong sự hiệp thông mãnh liệt với Chúa. Vì vậy, cần phải thực hiện “teshuvá”, nghĩa là hoán cải. “Teshuvá” bao gồm việc đổi mới cách nhìn và suy nghĩ về thực tại “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2). Điều đó có nghĩa là xem xét cuộc sống và thế giới của chúng ta “từ trên cao” qua cặp mắt xót thương của Thiên Chúa. Dưới đây là ba chiều kích của hành động dâng hiến.
Thánh Gioan Tẩy giả de la Salle đã nói: “Hãy hiến dâng chính mình và tất cả những gì thuộc về chúng ta đều dâng cho Chúa, nghĩa là dâng lên Ngài mọi tư tưởng, lời nói và việc làm, tất cả mọi tài sản của chúng ta, dù đó là thiêng liêng hay trần tục, tắt một lời, dâng tất cả những gì chúng ta đang sở hữu trên thế gian này”.
- DÂNG HIẾN BẢN THÂN
Phạm vi cuộc sống của chúng ta đã là một “món quà” đến từ Thiên Chúa, chúng ta cần phải xem lại tất cả những gì là tốt đẹp nơi hữu thể và sự hiện hữu của mình: linh hồn, thể xác, tài năng, di sản văn hóa, gia đình của chúng ta…. như thánh Phaolô đã viết : “Thật vậy, nào có ai coi bạn hơn kẻ khác đâu? Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh?” (1Cor 4,7). Thực hiện teshuvá nghĩa là nhận biết Thiên Chúa là nguồn gốc của mọi điều thiện hảo. Và do đó, điều đòi hỏi nơi chúng ta là cần phải thích ứng cuộc sống của mình với Lời Chân Lý của Chúa.
Dâng hiến bản thân được thực hiện bằng cách tạ ơn và ca ngợi vì những ân huệ mà bạn đã lãnh nhận. Nó được thể hiện qua việc luôn mong muốn phục vụ Thiên Chúa và đồng loại của mình; hoàn toàn đặt mình tuân theo ý Chúa, phù hợp với từng giai đoạn của cuộc đời, để xây dựng Nước Trời; đặt mọi tư tưởng của chúng ta, lời nói và hành động của chúng ta trong sự gắn kết với cuộc sống.
- DÂNG CHÚA MỌI TỘI LỖI CỦA CHÚNG TA
Dưới đây là một giai thoại về cuộc đời của thánh Jerome. Một ngày kia Chúa hỏi Jerome: “Hôm nay con có gì cho Ta không?”. Thánh nhân trả lời: “Lạy Chúa, con dâng cho Chúa lời cầu nguyện của con” – “Tốt, nhưng còn gì nữa không”, Chúa nói. Và thánh Jerome đã kể ra hàng loạt những kỷ luật bản thân, nào là sự tỉnh thức, tình yêu dành cho những ai đến thăm mình… Rồi Chúa lại hỏi Jerome: “Còn gì nữa không?”. Jerome thưa : “Con không biết có còn gì để dâng Chúa nữa!”. Cuối cùng Chúa nói với thánh nhân : “Có một điều mà con chưa dâng cho Ta đó là tội lỗi của con!”.
- DÂNG CHÚA NỖI KHỔ CỦA CHÚNG TA
Và sau cùng, có những điều chúng ta phải “chịu đựng” : đó là những thử thách lớn lao của cuộc sống, cũng như những điều nhỏ nhặt thường ngày làm chúng ta khó chịu. Chúng ta dâng lên Chúa những khoảnh khắc đau khổ này để “lồng chúng vào bên trong lòng trắc ẩn vô biên của Chúa Kitô”, để những khổ đau “trở thành một phần trong kho tàng thương xót mà con người đang cần” để sống yêu thương, để lãnh nhận và rao truyền ơn cứu rỗi (Benedict XVI).
Mẹ Têrêsa đã cầu nguyện:
Lạy Cha nhân từ, xin giúp chúng con,
để chúng con biết chấp nhận mọi điều Cha ban cho chúng con,
và biết cho đi mọi thứ mà Cha đòi hỏi chúng con với một nụ cười thật to.
Nụ cười bên trong và bên ngoài là dấu chỉ của việc dâng hiến một cách tự do trong mọi hoàn cảnh. Nụ cười đó chống lại mọi nỗi buồn vì đã từ bỏ, hay giận giữ sau những lời phàn nàn của chúng ta.
Nicolas Buttet/Aleteia
Võ Tá Hoàng chuyển ngữ
2020
Truyền Giáo trong Truyền Thông Xã Hội – những thách đố cho Giáo Hội tại Á Châu
Nhìn vào tiêu đề của bài viết này, người ta có thể nghĩ rằng, nó nên được đảo lại thành: Truyền Thông Xã Hội trong Truyền Giáo. Thật vậy, có nhiều những chỉ dẫn về phạm vi này trong lịch sử của Giáo Hội. Nhưng, ngày nay và đặc biệt dưới góc độ thần học truyền thông, có lẽ chúng ta phải dần dần thay đổi cách suy nghĩ của chúng ta.
Bài viết này bắt đầu với vấn đề sử dụng các phương tiện truyền thông trong truyền giáo và những phát triển, sau đó, đến những thay đổi diễn ra từ cách tiếp cận truyền thông xã hội của Công Đồng Vatican II đối với nền “văn hóa mới” với các ngôn ngữ mới, tâm lý mới và các công nghệ mới từ Thông Điệp Redemptoris Missio (Sứ vụ Đấng Cứu Thế), sẽ được phản ánh trong thực tế truyền thông Châu Á của chúng ta.
Truyền Thông cho Truyền Giáo
Hồng Y Francesco Ingoli là Bộ trưởng đầu tiên của Hội Truyền Bá Đức Tin được thành lập năm 1622 (nay là Bộ Rao Giảng Tin Mừng Cho Các Dân Tộc), một nhà in riêng của cơ quan mới đã được ra đời bốn năm sau đó, tức, vào năm 1626. Trong một thời gian ngắn, các ấn phẩm báo chí của nhà in này đã được in với hơn 20 ngôn ngữ, trong đó có tiếng Malayalam của Ấn Độ. Đức Hồng Y đã biện hộ sự cần thiết cho công cụ hiện đại này trong thời gian đó, với các lý do sau:
– Các nhà truyền giáo ở Rome cần sách cho việc nghiên cứu ngôn ngữ của họ, trước khi đi đến vùng truyền giáo.
– Chi phí sản xuất của một nhà in riêng, thì thấp hơn một phần ba so với những ấn phẩm được xuất bản bởi các nhà in khác.
– Chỉ có nhà in của Hội là đủ chuyên môn trong các nhu cầu ngôn ngữ khác nhau.
– Nếu người Tin Lành đã in và phân phát nhiều cuốn Kinh Thánh, thì người Công giáo cũng nên làm theo.
– Sứ vụ của Chúa Giêsu bắt buộc chúng ta phải sử dụng sách báo cho công việc truyền giáo: các nhà truyền giáo ngày nay không thể hoàn thành sứ vụ mà không cần đến sách báo; và sách báo cũng vươn đến những nơi mà các nhà truyền giáo không thể đi.
– Đối với việc truyền bá Lời Chúa, không có khoản đầu tư nào có thể coi là quá mắc.
Hồng Y Ingoli thấy rằng, nhu cầu quan trọng nhất cho việc truyền giáo ngày đó, là chăm sóc cho các nhân viên truyền giáo, trường học, giáo sĩ địa phương và ấn phẩm báo chí.[1]
Trong hầu hết các thông điệp gần đây về truyền giáo (Đức Piô XI, Piô XII, Gioan Phaolô II), có nhiều câu hoặc nhiều phần theo cùng một lối suy nghĩ.
Do đó, chẳng hạn, Đức Giáo Hoàng Piô XII nói “việc phân phối các ấn phẩm kịp thời là một việc phục vụ hữu ích” trong Thông Điệp Về Truyền Giáo Evangelii Praecones (1951) và nói thêm: “một điều rất cần thiết để chúng ta phải chăm chú kỹ ở điểm này, sao cho mọi người biết sử dụng hiệu quả báo chí, tạp chí, và các chuyên đề.” Thật ra, thánh Arnold Janssen đã chỉ ra điều này khi ngài mở một ấn phẩm của riêng hội dòng ngay trong năm đầu tiên thành lập (Dòng Ngôi Lời) ở Steyl 1875: “Đấng Cứu Thế đã kêu gọi sự ân cần của các tông đồ đến Lời khi Ngài nói: hãy loan báo Tin Mừng cho tất cả mọi loài thụ tạo! Vào thời của Ngài, chữ in chưa được biết đến, nhưng ngày nay nó được biết đến và ma quỷ sử dụng nó cho mục đích xấu xa. Do đó, các môn đệ của Chúa Giêsu cũng phải sử dụng nó để tạo ra điều tốt. Thật tuyệt vời như thế nào, khi mà một ấn phẩm có thể được in cả hàng ngàn bản chỉ trong vài giờ!”[2]
Sắc lệnh Inter Mirifica (Giữa Những Điều Kỳ Diệu) về các phương tiện truyền thông xã hội của Công Đồng Vatican II, đã mở rộng quan điểm về truyền thông vượt xa hơn truyền thông xã hội hiện đại, khi cho rằng, việc diễn đạt về truyền thông xã hội có liên hệ đến tất cả các cách và các phương tiện của việc giao tiếp trong xã hội con người. Điều này mang một ý nghĩa đặc biệt trong truyền giáo, bao gồm cả các phương tiện văn hóa và truyền thống về truyền thông.
Tất cả những lý do này thì xem truyền thông xã hội là một công cụ cho truyền giáo. Tuy nhiên, trong thực tế của thời đại chúng ta, chúng ta ngày càng nhận thức được rằng, từ một điểm thần học và các điểm khác của cái nhìn đó, có một yếu tố truyền giáo mạnh mẽ trong chính Truyền Thông Xã Hội. Sự thay đổi về lối suy nghĩ này được chỉ dẫn trong Thông điệp Redemptoris Missio (Sứ vụ Đấng Cứu Thế) của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (1990) về truyền giáo. Ngài vẫn khẳng định rằng “cần phải truyền bá thông tin qua các ấn phẩm truyền giáo và các phương tiện nghe nhìn” (Tông Huấn Giáo Hội tại Châu Á, số 48.).
Nhưng trong cùng thông điệp đó, có một sự thay đổi trong suy nghĩ về truyền thông xã hội, trong quan điểm truyền giáo. Nó không còn chỉ là một công cụ cho Giáo Hội, nhưng hơn nữa là một trạng huống của con người, cần một cách tiếp cận và câu trả lời sâu sắc hơn. Thế giới hiện đại được so sánh với nơi họp chợ của Athens, Hội đồng Areopagus, nơi tất cả các ý tưởng và kinh nghiệm đến với nhau và đã được bày tỏ và được chia sẻ. “Phương tiện truyền thông xã hội đã trở nên quan trọng đến nỗi, đối với nhiều người, là phương tiện chính để trao đổi tin tức và giáo dục, để hướng dẫn và tác động hành vi cử chỉ nơi cá nhân, gia đình và trong xã hội nói chung. Nhất là đối với thế hệ trẻ trung đang lớn lên trong một thế giới được môi trường truyền thông vây bủa” (Redemptoris Missio, số 37).
Đức Giáo Hoàng thừa nhận: “có lẽ Hội Đồng Areopagus này đã bị bỏ bê ở một mức độ nào đó,” nhưng khẳng định rằng vì sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội, “thế nhưng, việc dấn thân vào môi trường truyền thông không phải chỉ để làm tăng cường thêm cho việc rao giảng Phúc Âm thôi. Còn có một thực tại sâu xa hơn chất chứa ở đó nữa: vì chính việc truyền bá phúc âm hóa cho văn hóa tân tiến ngày nay một phần lớn tùy thuộc vào ảnh hưởng của truyền thông, nên chỉ sử dụng truyền thông để quảng bá sứ điệp Kitô giáo và giáo huấn chân thực của Giáo Hội mà thôi chưa đủ. Cũng cần phải đưa sứ điệp vào nền “văn hóa mới” do các phương tiện truyền thông tân tiến tạo nên nữa. Đây là một vấn đề phức tạp, vì nền “văn hóa mới” này bắt nguồn chẳng những từ bất cứ những gì được tỏ hiện ra dần dần, mà còn ở chính những cách truyền đạt mới, với ngôn từ mới, với kỹ thuật mới và với một thứ tâm lý mới”(Redemptoris Missio, số 37).
Những cách mới này không chỉ là kỹ năng và đào tạo cho việc sử dụng truyền thông hay đơn giản là sử dụng những phương tiện truyền thông hiện đại. Chúng chỉ ra một thực tế sâu sắc hơn, đó là sự thay đổi trong suy nghĩ và cách tiếp cận. Chúng chỉ ra một thực tế nơi truyền thông xã hội, chính nó trở thành một nền tảng cho việc truyền giáo của Giáo Hội.
Giáo Hội là Truyền Thông
Một trong những tuyên bố quan trọng của Công Đồng Vatican II trong Sắc Lệnh Về Hoạt Động Truyền Giáo Ad Gentes (Đến Với Muôn Dân) (1965) đó là: “Giáo Hội lữ hành tự bản chất là truyền giáo. Vì theo ý định của Chúa Cha, Giáo Hội bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Theo cách tương tự, người ta cũng phải nói rằng Giáo Hội bởi bản chất của mình là truyền thông. Giáo Hội tồn tại để truyền thông và do đó “Giáo Hội là Truyền Thông”, như Avery Dulles nói với các Giám mục Mỹ Châu năm 1971.
Tất cả cuộc sống và hoạt động của Giáo Hội truyền giáo là để truyền thông tình yêu này của Thiên Chúa Ba Ngôi đến mọi người. Ở đây, trong một cách nào đó truyền giáo và sự truyền thông trở nên giống hệt nhau. Trên thực tế, từ “truyền giáo” (mittere – misio) có nghĩa là “sai đi” và chỉ hành động của việc sai đi. Tuy nhiên, nếu chúng ta sử dụng từ “rao giảng Tin Mừng” (evangelisare), một từ được sử dụng đặc biệt là sau Công Đồng Vatican II, thì mọi thứ có thể trở nên rõ ràng hơn. Rao giảng Tin Mừng có nghĩa là chia sẻ Tin Mừng trong tất cả các chiều kích của nó với mọi người. Truyền thông xã hội được định nghĩa là công cụ chia sẻ qua các tín hiệu[3] và Huấn Thị về Mục Vụ Truyền Thông Communio et Progressio, điều đã được Công Đồng Vatican II nói trong Sắc lệnh Inter Mirifica, thậm chí còn gọi đó là “tự hiến trong tình yêu.”
Điều này không phải là những gì chúng ta làm bất cứ khi nào chúng ta truyền giáo hay sao? Theo cách hiểu này, truyền thông không phải là thứ chỉ dành cho các chuyên gia, mà là cho mọi Kitô hữu và chắc chắn cho bất kỳ hoạt động tông đồ nào. Như Tổng hội Dòng Tên 1995, trong một tài liệu quan trọng về truyền thông, Tổng hội ấy đã trình bày: “truyền thông trong xã hội thường được coi là một lĩnh vực hoạt động tông đồ, một chuyên ngành dành riêng cho một số chuyên gia, người mà thường cảm thấy bị cô lập hoặc bên lề của việc tông đồ. Xã hội cần nhận thức rằng, truyền thông không phải là một lĩnh vực chỉ giới hạn cho một số chuyên gia Dòng Tên, mà là một khía cạnh tông đồ chính, cho tất cả các việc tông đồ của chúng ta, mỗi tu sĩ Dòng Tên, để có hiệu quả, phải nhận thức và thành thạo trong ngôn ngữ, các biểu tượng và điểm mạnh và điểm yếu của văn hóa truyền thông hiện đại. Đây là một cách để tạo ra sự thay đổi, để nhận ra rằng môi trường truyền thông mới này, là một môi trường, mà trong đó phần đông dân chúng có thể được tiếp cận và làm phong phú thêm, trong đó văn hóa, kiến thức và sự đoàn kết có thể được củng cố.”[4]
Do đó, truyền giáo là truyền thông, đó là sự truyền thông và chia sẻ đức tin với người khác, đặc biệt là những người chưa đạt được sứ điệp này. Nó có nghĩa là, việc huấn luyện truyền thông của chúng ta không chỉ là đào tạo truyền thông cho các chuyên gia, nhưng cũng là cho một yếu tố thiết yếu của đức tin chúng ta. Không phải là sách Công Vụ Tông Đồ nhắc nhở chúng ta rằng, mọi Kitô hữu tiên khởi đã đang truyền thông đức tin của họ đó sao? Hoàn cảnh của cuộc sống được coi là những thách đố đối với hoạt động truyền giáo, trong việc chia sẻ kinh nghiệm đức tin với mọi người xung quanh.
Thần Học Truyền Thông làm cơ sở cho Truyền Giáo
Có những phát triển trong thần học hiện đại, hướng đến một viễn cảnh mới mẻ trong cùng một hướng, bằng cách phát triển từ một nền “Thần Học về Truyền Thông” (Theology of Communication) đến “Thần Học Truyền Thông” (Communication Theology).
Trước đây, chúng ta thường cố gắng phát triển một nền “Thần Học về Truyền Thông”, bằng cách nào đó muốn “rửa tội” truyền thông, và đặc biệt là truyền thông đại chúng và đưa nó vào trong gia đình của Giáo Hội.
Tuy nhiên, còn có sự xem xét về một nền “Thần Học Truyền Thông”, điều mà được quan tâm về các diễn đạt truyền thông của thần học, trong đó thần học diễn đạt chính nó theo cách mà nó có thể dễ hiểu hơn.
Tuy nhiên, “Thần Học Truyền Thông”, coi truyền thông như một nguyên tắc thần học. Tính toàn thể của thần học được xem xét và nghiên cứu dưới góc độ truyền thông[5]:
- a) Thiên Chúa Ba Ngôi truyền thông trong chính mình. Tức là có một cuộc truyền thông nội tại đang diễn ra nơi Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần truyền thông với nhau. Và chúng ta là hữu thể nhân linh có khả năng truyền thông, vì chúng ta được tạo nên “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa” (St 1,27). Đây là lý do thần học về khả năng truyền thông của chính chúng ta.
- b) Thiên Chúa Ba Ngôi, tuy nhiên, cũng mặc khải chính mình trong sự truyền thông với các thụ tạo. Thiên Chúa sử dụng tất cả các cách và phương tiện truyền thông của con người. Thiên Chúa truyền thông cách vô ngôn và hữu ngôn, Ngài truyền thông qua các dấu chỉ và hành động. Toàn bộ Cựu Ước là một lịch sử về sự truyền thông của Thiên Chúa với dân của Ngài.
- c) Tuy nhiên, điểm cao nhất của sự mặc khải này là sự Nhập Thể của Chúa Giêsu Kitô. Chúa Cha đã truyền thông với các thụ tạo của mình, thông qua Người Con duy nhất là Đức Giêsu Kitô. Như thư Do Thái đã khẳng định: “thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật. Sau khi đã tẩy trừ tội lỗi, Người lên ngự bên hữu Đấng Cao Cả trên trời”(Dt 1,1-3).
Và rồi, Đức Giêsu Kitô cũng đã truyền thông bằng lời nói và hành động, Ngài dùng các dấu chỉ và biểu tượng, điều mà vượt ra khỏi lời nói hoặc giúp diễn đạt lời nói của Ngài. Ngài truyền thông qua toàn bộ lối sống của mình (Huấn thị Mục Vụ Communio et Progressio – Hiệp thông và Tiến bộ, số 11).
- Từ tất cả những điều này, Giáo Hội nhận ra việc sai đi của mình để truyền thông. Giáo Hội là để tiếp tục việc truyền thông của Thiên Chúa trong mặc khải và nhập thể, ở đây và bây giờ. Như vậy, Giáo Hội là sự hiện diện của Thiên Chúa đang truyền thông giữa mọi người, Giáo Hội thì bởi bản chất của mình và được kêu gọi truyền thông. Do đó, truyền thông xã hội không chỉ là một nghề cho các chuyên gia, thậm chí chuyên gia Giáo Hội, nhưng là một chiều kích cho mỗi Kitô hữu, với tư cách là thành viên của Giáo Hội và được phản ánh trong cuộc sống hàng ngày.
Đó là việc sai đi của Giáo Hội để tiếp tục việc truyền thông của Thiên Chúa ở đây và bây giờ, mọi lúc, mọi nơi. Sự hội nhập văn hóa của sứ điệp này, chính xác là tất cả những gì là truyền giáo và những suy tư truyền giáo. Tiến trình bắt đầu với Lễ Hiện Xuống, dưới lời hứa và sức mạnh của Thánh Linh, là động lực dẫn dắt cho truyền thông và truyền giáo của Giáo Hội từ đó cho đến ngày tận thế.
Từ đây, nó cũng trở nên rõ ràng hơn, bằng cách nào những nhà truyền giáo – như thánh Arnold Janssen – đã phát triển sự quan tâm của các ngài và thăng tiến nhân học và nghiên cứu các nền văn hóa. Truyền thông Kitô giáo phải bắt đầu và được gắn liền với cuộc sống của dân chúng, điều được phản ánh trong nền văn hóa của họ. Do đó, lĩnh vực đang mở rộng của truyền thông đa văn hóa, trở thành một yếu tố quan trọng trong nghiên cứu truyền giáo và công việc truyền giáo.[6]
Trong thời đại của chúng ta, nền “văn hóa mới” của một thế giới truyền thông toàn cầu hóa đặt ra một thách thức riêng biệt và đặc thù, bởi vì có một cách mới để truyền thông, với những khả năng và quan điểm mới.
Một nền “văn hóa mới” là một thách đố truyền giáo
Vượt lên trên mối quan tâm chung về sự hội nhập văn hóa, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đòi hỏi thông điệp Kitô giáo phải được hòa nhập vào nền “văn hóa mới” của truyền thông xã hội hiện đại. Trên thực tế, ngài kêu gọi thế giới của truyền thông hiện đại “công hội Areopagus đầu tiên” là tiêu biểu cho trung tâm văn hóa của xã hội chúng ta và ngày nay nó có thể được coi như một biểu hiệu cho các lãnh vực mới cần phải được loan báo Phúc Âm.
Ngài nói, “nền văn hóa mới này không chỉ bắt nguồn từ bất kỳ nội dung nào được thể hiện, mà còn từ thực tế, nơi đó tồn tại những cách truyền thông mới, với ngôn ngữ mới, kỹ thuật mới và tâm lý mới.” Điều này được nói trong Thông Điệp về truyền giáo Redemptoris Missio, và do đó, hàm chứa một yêu cầu truyền giáo đặc biệt. Thách thức này vượt ra ngoài việc sử dụng đơn giản phương tiện truyền thông cho truyền giáo! Làm thế nào mà nền văn hóa mới này được rao giảng Tin Mừng và phản ứng truyền giáo của chúng ta như thế nào?
Mặc dù Redemptoris Missio đã được ra đời từ năm 1990, nhưng vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về điều này và lĩnh vực này vẫn còn bị bỏ ngỏ. Các liên quan sau đây có thể giúp làm rõ thêm:
- Nền “văn hóa mới,” và thực tế của truyền thông hiện đại được quyết định bởi cảm xúcnhiều hơn lý trí, là con tim hơn là cái đầu. Hầu hết các chương trình TV và các chương trình tương tự như MTV đang nhắm đến cảm xúc của dân chúng, chứ không phải lý trí. Chúng ít được thể chế hóa và trôi nổi tự do để đạt được nhu cầu và mong đợi xúc cảm. Sự phổ biến của ‘telenovelas’ (phim truyền hình nhiều tập) và các chương trình tương tự, là một bằng chứng cho cái gọi là “Reality Shows” (truyền hình thực tế), giống như “Big Brother”, như đã có phiên bản ở một số quốc gia. Số lượng ngày càng tăng của phim ảnh có nội dung khiêu dâm ngấm ngầm hoặc rõ ràng, là một ví dụ khác. (Quản lý của SM Megamall ở Manila gần đây đã quyết định chọn phim để chiếu tại rạp của họ thực sự phục vụ cho các gia đình.)[7]
Ngay cả việc lựa chọn và trình bày tin tức theo một cách đánh giá bởi cảm xúc hơn là sự thật ngày càng tăng. Nếu cảm xúc của dân chúng được phấn khích và thỏa mãn thì bảng xếp hạng sẽ tăng lên, vì các khán thính giả cảm thấy thỏa mãn nhu cầu cảm xúc của họ. Việc sử dụng các hình ảnh, mà cả âm nhạc và ngôn từ, cũng xây dựng và hướng đến cảm xúc nhiều hơn là suy nghĩ. Jacque Ellul đã công khai chỉ trích trong cuốn sách “humiliation of the Word” của ông, vì đã thấy trên truyền hình “một tác nhân tiêu chuẩn hóa và phù hợp với thế giới, vì nó đưa chúng ta đến những giấc mơ và kỹ xảo tâm lý của sự bù trừ.”[8] Nhà sản xuất truyền hình và truyền thanh tiếng Anh nổi tiếng Malcom Muggeridge, một hoán nhân Công giáo, đã đặt tựa đề là một trong những bài giảng của ông trên chương trình “Chúa Kitô và truyền thông” là “cám dỗ thứ tư” (fourth temptation): Satan trao tặng cho Chúa Giêsu một kênh truyền hình trên toàn thế giới đang diễn ra, nhưng Chúa Giêsu từ chối, vì Ngài quan tâm đến sự thật và thực tại, trong khi ma quỷ thì với trí tưởng tượng và hình ảnh.[9]
- Thế giới của truyền thông hiện đại là không biên giới.Điều đang xảy ra và các văn hóa phẩm từ khắp nơi trên thế giới, có thể truy cập được cho mọi người, trong một thế giới truyền thông toàn cầu hóa.
Bối cảnh truyền thông ở Ấn Độ đã phát triển trong vòng vài năm, chỉ từ một kênh truyền hình tivi, đã tăng lên đến 196 kênh vào giữa năm 2004; và tới hôm nay thì không biết đã là bao nhiêu, xu hướng: ngày càng phát triển!
Sự xuất hiện của DTH (truyền hình kỹ thuật số qua vệ tinh) ngày càng làm cho nhiều quốc gia ở châu Á, mang truyền thông mới này đến mọi hang cùng ngõ hẻm của các đất nước chúng ta. Điều này có ý nghĩa gì cho việc bảo tồn các nền văn hóa địa phương và đặc biệt là cho những người trẻ trong những khu vực này? Đó cũng không phải là một yêu cầu truyền giáo để bảo vệ các nền văn hóa và bảo vệ phẩm giá của dân chúng hay sao?
- Nền “văn hóa mới” tiếp tục sống trên các nghi lễ mới,thách thức sự tác động của các nghi lễ tôn giáo truyền thống cách đặc biệt. Gregory Goethals đã phản ánh nhiều năm trước đây về hiện tượng này và gọi nó là “Con Bò Vàng,” đề cập đến lịch sử của Israel khi bà viết rằng: “nghi lễ Tivi: sự tôn thờ trên bàn thờ video.”[10]
Việc khai mạc và kết thúc Thế vận hội Olympic, các sự kiện thể thao nói chung, cũng như có các quốc tang như cái chết của công nương Diana, Mẹ Têrêsa là những nghi lễ cũng như việc trình chiếu nghi lễ của riêng chúng ta đối với các chương trình truyền thông, chút ít mang tính đời tư. Những nghi lễ này dường như cũng thay thế các nghi lễ của đời sống tôn giáo một cách ngày càng hơn.
Các nghi lễ, theo James Carey là để duy trì và phát triển văn hóa và xã hội. Chúng được “liên kết với hiệu suất hơn là phong trào, tham gia hơn là sự tiêu dùng, ý nghĩa hay vẻ đẹp hơn là chiến lược và kết quả, sự khơi lên hoặc kêu gọi hơn là ảnh hưởng và hiệu quả. Một nghi lễ không phải là thứ mà người ta chỉ là khán giả, nhưng hơn thế, là điều mà người đó tham gia vào.”[11] Truyền thông nghi lễ như vậy thì quan tâm đến các cách thức và phương tiện truyền thông, duy trì sự nối kết của xã hội, để chia sẻ, tham gia, liên kết, tạo mối tương giao và có được niềm tin và sự tin tưởng chung.
Những kinh nghiệm như vậy thường đến một cách đặc biệt từ tôn giáo. Nhưng bây giờ, điều này dường như được chuyển qua bởi các phương tiện truyền thông hiện đại, điều mà nó quyết định và chi phối cuộc sống của dân chúng, hơn bất kỳ cam kết tôn giáo nào. Sự quan tâm đã chia sẻ của dân chúng ngày càng lớn hơn không còn là nghi lễ tôn giáo và kinh nghiệm nữa, nhưng hơn thế là các lễ nghi thế tục thay thế tôn giáo. Ví dụ cho điều này là các nghi lễ đám cưới và đám tang đã thế tục hóa, cũng như những chương trình giải trí, điều đang được nghi lễ hóa trong nhiều cách (sùng bái ngôi sao!)
- Văn hóa truyền thông hiện đại là được định hướng giải trí.Nó không có quá nhiều kiếnthức, mà mọi người tìm kiếm khi họ xem Tivi, theo dõi một bộ phim hoặc thậm chí đọc một bài báo và các ấn phẩm định kỳ. Họ ưa thích muốn được giải trí bởi báo lá cải và các ngôi sao và cuối cùng, thường chỉ muốn giết thời gian. Thậm chí thông tin ngày càng trở thành một phương tiện giải trí trong mục “thông tin – giải trí”, nơi thông tin được trình bày một cách giải trí. Không có nhu cầu để khán thính giả nỗ lực để hiểu, nhưng thay vào đó anh ta hoặc chị ta đưa mình đến thế giới của các chính trị gia, các ngôi sao và diễn viên đang lên hoặc các hình thức khác của chương trình, cái mà dẫn đến nhu cầu về giải trí hoặc sự tò mò của người tiếp nhận.
- Thế giới ngày nay của truyền thông xã hội, được xác định mạnh mẽ hơn bằng thương mại hóa.Ngay cả ở hầu hết các quốc gia ở Châu Âu nơi có hệ thống dịch vụ công cộng cho việc phát sóng thường là một đơn vị duy nhất, nhưng bây giờ, các đài phát thanh và truyền hình quảng cáo và tư nhân thì rất nhiều. Trong hệ thống của Mỹ ngay từ đầu, toàn bộ hệ thống truyền thông là tư nhân, nhưng không nhất thiết phải thương mại hóa hoàn toàn. Bây giờ hơn bao giờ hết, truyền thông trước hết là phải kiếm tiền và điều này dường như rất thường xuyên là mục đích duy nhất.
Các chương trình được sản xuất và được trình chiếu theo ‘bảng xếp hạng’ và nếu chúng không phù hợp với mong đợi, chúng đơn giản là bị rớt đài. Chủ nghĩa tiêu dùng được thúc đẩy thông qua quảng cáo rầm rộ và các giá trị được trình bày trong các chương trình và quảng cáo không còn là những giá trị truyền thống của đời sống Kitô hữu. William F. Fore nhìn thấy các giá trị được thúc đẩy trong thế giới truyền thông hiện đại theo cách sau: “sức mạnh đứng đầu danh sách: sức mạnh hơn người khác; sức mạnh hơn thiên nhiên… Đóng góp cho sức mạnh là các giá trị của cải và tài sản, ý tưởng rằng mọi thứ đều có thể được mua và mức tiêu thụ đó là một cái tốt nội tại. Các giá trị của chứng tự yêu mình, sự hài lòng ngay lập tức của mong muốn và sự thoải mái theo ngay sau đó. Do đó, thế giới truyền thông đại chúng nói với chúng ta rằng, chúng ta cơ bản là tốt, rằng hạnh phúc là mục đích chính của cuộc đời, và hạnh phúc đó bao gồm việc có được của cải vật chất. Các phương tiện truyền thông biến giá trị của tính dục thành quyến rũ tình dục, giá trị của lòng tự trọng thành sự tự cao, giá trị của ý chí sống thành ý chí quyền lực. Chúng làm trầm trọng thêm tính hám lợi thành tham lam, chúng đối phó với sự bất an bằng cách tạo ra nhiều bất an hơn và lo lắng bằng cách tạo ra lo lắng nhiều hơn. Sự thay đổi giá trị của giải trí thành cạnh tranh và giá trị của thư giãn thành sự thoát ly thực tế. Và có lẽ tệ nhất trong tất cả, các phương tiện truyền thông hạn chế kinh nghiệm của chúng ta và thay thế thế giới truyền thông cho thế giới thực, để chúng ta trở thành càng ngày càng kém hơn trong khả năng đưa ra những đánh giá về giá trị tốt, điều mà sống trong một thế giới phức tạp như vậy đòi hỏi phải có.”[12]
Quảng cáo rất thường được xây dựng trên và góp phần vào một nền văn hóa truyền thông như vậy. Trong một cách phát triển các biểu tượng và nghi lễ tôn giáo cũng được sử dụng cho việc buôn bán và mục đích thương mại. Do đó, một chuỗi của hàng quần áo ở Hà Lan gọi bản thân chúng là G-sus sử dụng các biểu tượng và ngôn ngữ tôn giáo như G-sus comes (Jesus đến), hoặc G- sus saves (Jesus cứu độ). Công ty thực phẩm Hà Lan Unilever đã quảng bá bảy loại kem mới với tên của bảy mối tội đầu; một công ty bia của Bỉ đã quảng cáo bia của mình liên quan đến Giờ Thứ Mười Một: bạn sẽ vào làm chứ; một miếng phô mai được quảng cáo bởi các thiên thần.[13]
- Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) mới,mang đến một đóng góp vào nền văn hóa mới, nơi không chỉ mở rộng khả năng truyền thông của chúng ta vượt thời gian và không gian. Chúng cũng mở ra những chiều kích và thách thức mới, cho cách tiếp cận truyền giáo đối với truyền thông. Nó là không đủ để chỉ có “online tôn giáo,” mà không có ít nhất một số tính tương tác. Có một con số đang gia tăng về những người trẻ cách đặc biệt, người mà cố gắng thể hiện và sống “tôn giáo online.”
Làm thế nào thế giới ảo thay đổi con người, hay trả lời với những nhu cầu sâu xa hơn và cho chúng một cơ hội để diễn đạt mong muốn tôn giáo của chúng? Mặc dù, nói chung, có một số tài liệu đang định hướng về chủ đề này, thì chúng ta vẫn thiếu sự học hỏi và nghiên cứu nghiêm túc về chiều kích truyền giáo và loan báo Tin Mừng ngoài ra ngoài việc nói về “e-vangelism” (truyền giáo điện tử) các “cybermissionaries” (các nhà truyền giáo mạng.)
Tất cả các chiều kích này của nền “văn hóa mới,” phải được coi là các lĩnh vực của truyền giáo. Chúng ta đáp trả với những tình huống như vậy như thế nào và quyền năng cứu chuộc của Tin Mừng đến từ đâu? Chúng ta không thể phủ nhận rằng, chúng ta đang sống trong một nền văn hóa truyền thông ngày càng phát triển và các lĩnh vực truyền giáo của chúng ta không còn được xác định theo địa lý nữa, mà là bởi những thách thức mới này.
Các xu thế thời đại (Megatrends) là những chỉ dẫn cho truyền giáo
Nền “văn hóa mới” của truyền thông xã hội, cũng phải được nhìn nhận trong bối cảnh Châu Á của chúng ta, nơi chiều kích truyền giáo xuất hiện trong một ánh sáng còn chưa rõ.
Trước thềm thiên niên kỷ mới vào tháng 11 năm 1999, các Giám mục phụ trách truyền thông của Châu Á đã dành sự quan tâm đến các vấn đề này, tại cuộc họp Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC-OSC) hàng năm ở Bangkok, bằng cách nhìn vào John Naisbitts “Xu thế thời đại Châu Á” theo quan điểm này. Một cách tiếp cận truyền giáo thực tế cho truyền thông xã hội phải đối mặt với những xu hướng này và những thách thức của chúng, để mang lại tinh thần truyền giáo của Chúa Kitô vào một nền văn hóa mới và đang nổi.
John Naisbitt mô tả các xu thế sau đây cho Châu Á. Chúng đòi hỏi theo cách riêng của chúng một cách tiếp cận truyền thông đặc biệt, mà các giám mục FABC đã cố gắng diễn đạt chi tiết hơn. Những xu thế đó là:
- Từ quốc gia đến mạng lưới toàn cầu
- Từ xuất khẩu đến tiêu thụ văn hóa
- Từ phong cách Phương Tây đến phong cách Châu Á
- Từ kinh tế do nhà nước chỉ huy đến thị trường tự do
- Từ các làng xã đến các siêu đô thị
- Từ lao động chân tay đến công nghệ cao
- Từ giàu đến nghèo
- Từ nam đến nữ
Trong các cuộc thảo luận về những hiệu quả truyền thông của những phát triển này cho Giáo Hội ở Châu Á, các giám mục đã phát hiện ra, ngoài tám xu thế của Naisbitt, còn có thêm hai xu hướng bổ sung có tầm quan trọng như những cái trên và mối quan tâm đặc biệt đối với các Giáo Hội:
- Từ các truyền thống tới các chọn lựa
- Từ niềm tin tới chủ nghĩa cực đoan
Tất cả những xu thế này có một thành phần truyền giáo và truyền thông mạnh mẽ. Chúng đáng được xem xét chi tiết hơn về những thách đố truyền thông xã hội đặc biệt của chúng. Điều này, tuy nhiên, vượt ra ngoài mục đích của bài trình bày này. Chỉ cần liệt kê các xu thế cho thấy thách thức to lớn mà việc truyền giáo trong bối cảnh của những xu thế này mang đến, cho hoàn cảnh của chúng ta ở Châu Á. Làm thế nào để chúng ta đáp trả và chuẩn bị chính bản thân chúng ta cho thách đố truyền giáo như thế?
Các giám mục trong cuộc gặp các giám mục FABC-OSC đã thực hiện bước đầu tiên trong việc nhận xét về tất cả những xu thế này trong bản tài liệu đúc kết của họ. Vì vậy, họ đã nêu, ví dụ trong xu thế “từ truyền thống đến những chọn lựa” rằng “trước đây, những người trẻ đã lớn lên trong xã hội dựa trên sự cố định, văn hóa, đạo đức và truyền thống thiêng liêng. Bây giờ, những truyền thống này rất thường được thay thế thông qua các tùy chọn khác nhau có sẵn cho cá nhân và cộng đoàn.” Họ kết luận rằng “truyền thông Kitô giáo phải chỉ cho thấy giá trị của các truyền thống, nhưng đồng thời cũng giúp biện phân sự phát triển mới. Đặc biệt là những người trẻ cần được hướng dẫn trong một xã hội ngày càng đa dạng hơn. Các nhà truyền thông kitô giáo nên là bạn đồng hành và hướng dẫn họ.”
Một cách tương tự như họ nêu trong xu hướng “từ niềm tin đến chủ nghĩa cực đoan,” đó là “sự xuất hiện của chủ nghĩa cực đoan và chủ nghĩa thế tục, đã dẫn đến tình trạng bất an và đối đầu giữa các nhóm quốc gia và cộng đồng khác nhau, điều kêu gọi truyền thông Kitô giáo thúc đẩy hợp tác cũng như hiệp nhất, và cân bằng các thái cực đang nổi lên trong các cộng đồng và xã hội.”[14]
Quá tải thông tin và trật tự đạo đức
Anthony Rogers, thư ký điều hành của Văn phòng FABC về Phát Triển Con Người thấy một khu vực truyền giáo khác của thời đại chúng ta có liên quan đến truyền thông xã hội. Ông đã nói đến việc quá tải thông tin, thiếu tầm nhìn và ý thức về trách nhiệm xã hội, cũng như “các vấn đề hệ thống được tổ chức cao về thông tin sai lạc và quản lý hình ảnh. Mọi người không còn có thể phân biệt cái gì là đúng và cái gì là sai. Có một nhật thực từ từ về sự thật, về khái niệm công lý và hòa bình. Chúng ta nhận được rất nhiều tin tức và nhiều lượt xem trong bài báo và phương tiện truyền thông điện tử.”
Nhưng dường như hầu hết mọi người không thực sự hiểu được những gì thực sự đang diễn ra. Dường như có “một quan niệm sai lầm rằng trong một nền dân chủ, đa số luôn luôn là đúng:” hầu như không có quy tắc phổ quát và đạo đức. Điều này chỉ ra thực tế là chúng ta thiếu bất kỳ “thẩm quyền đạo đức” mà có thể làm cho các tình huống nhất định rõ ràng.
Bản thân các tôn giáo cũng quá bận tâm đến lợi ích và mối quan tâm nội bộ của họ bởi vì họ thiếu tầm nhìn và một nhãn quan rõ ràng về thực tế. Sứ vụ của Giáo Hội và các tôn giáo trong một tình huống được tạo ra một phần và chắc chắn như vậy, được duy trì phần lớn thông qua một truyền thông hiện đại là gì? Rogers kêu gọi “quay trở lại với từ ‘Ethos’, một lần nữa tập trung vào các giá trị và thái độ nhất định xuất phát từ các đặc điểm tinh thần của di sản văn hóa của chúng ta.”
Nó có nghĩa là một sự trở lại với các “nền tảng trọng yếu của tôn giáo” của chúng ta. Điều này cũng đặt câu hỏi về cách chúng ta “rao giảng” và truyền thông! Rogers thấy các tôn giáo hầu như chỉ tập trung vào “ngoại tại và hiển hiện, chứ không phải là nội tại và mầu nhiệm. Mọi thứ đều được đưa ra một lời giải thích hợp lý, để chúng ta có thể dạy mọi người về cuộc sống thay vì giúp mọi người học hỏi bằng cách suy tư trên cuộc sống và kinh nghiệm của họ để nhận ra Chúa làm việc thầm lặng trong cuộc sống và cộng đồng của họ.” “Chúng ta thực sự bận rộn”, Rogers nói, “về việc phân phát các đồ trang sức tôn giáo, sách vở và các nghi lễ thu hút ngày càng nhiều người tiêu dùng theo Kitô giáo để thỏa mãn những mốt nhất về việc tôn sùng tôn giáo. Rõ ràng là sự tập trung này vào nhu cầu về sự an toàn, giữa sự hỗn loạn kéo chúng ta vào vòng xoáy xung quanh những hòn đảo nhỏ của sự sung túc và sự giàu có, được duy trì bởi tính tâm linh cá nhân hóa và sự thờ ơ xã hội. Phúc lợi và dịch vụ trợ cấp phát triển mạnh, nhưng chúng ta thì khó khăn để trở thành chứng tá cho thế giới. Ánh sáng nhỏ được chiếu vào thế giới rộng lớn và chúng ta cũng không nhìn thế giới trong một ánh sáng mới, bởi vì ánh sáng của đức tin của chúng ta, thì giống như ngọn đèn được cố định chắc chắn dưới gầm bàn. Do đó, chúng ta rút dần vào lối văn hóa thờ ơ và dửng dưng của mình. Tránh xa những tiếng khóc của thế giới và không thể làm cho đức tin Kitô giáo của chúng ta thực sự mang tính truyền giáo, được thiết lập dựa trên phúc âm của Tin Mừng của Chúa Giêsu Á Châu, chúng ta trở thành nạn nhân của một định hướng tiêu dùng chịu ảnh hưởng của các hình thức khác nhau của Kitô giáo nền tảng. Chúng ta không còn có thể tham gia vào cuộc đối thoại thực sự với tư cách là những Kitô hữu thiểu số, trong các quốc gia của chúng ta và là nỗ lực đối thoại giữa các quốc gia.”
Trong sứ mệnh của chúng ta về truyền thông đích thực, chúng ta phải trở về cội nguồn của những di sản văn hóa của chúng ta. “Việc chiêm ngắm những khuôn mặt của một Đức Giêsu Á Châu” sẽ cho phép chúng ta “thần học nó trong bối cảnh Châu Á và phát triển một phương pháp thực sự không thể tách rời và lối sư phạm tự do,” điều mà dẫn đến một đạo đức biến đổi trong lĩnh vực truyền giáo của truyền thông hiện đại.[15]
Một số kết quả
Cách đây hơn 15 năm, Michael Traber đã viết trong Tạp chí Đại kết của ban cố vấn quốc tế của các giáo hội ở Geneva (1987) một bài viết kích thích tư duy dưới tiêu đề: sự ảo ảnh của “truyền giáo là tiếp thị”. Ông bảo vệ điều đó rằng, đặc biệt là các phương tiện truyền thông đại chúng, không nhất thiết có nghĩa là cho việc rao giảng Tin Mừng. Chúng cơ bản là giải trí và chuyện kể có định hướng và do đó không nhất thiết phải thực sự được trang bị hoàn toàn cho truyền giáo. Truyền giáo như là sự sai đi và sự công bố, thì không chỉ giống như chuyện bán xà phòng và chất tẩy rửa hoặc giải trí dân chúng, theo mối quan tâm các phương tiện và thủ thuật theo lối các công cụ hay mưu mẹo càng tốt thì sự thành công càng lớn.
Truyền giáo trong truyền thông xã hội thì vượt xa các cách tiếp cận như vậy, bởi vì nó là thách đố để đem Chúa Kitô vào trong nền “văn hóa mới” cách trọn vẹn. Điều này, tuy nhiên, chỉ có thể được thực hiện bởi các cá nhân và các cộng đoàn, người mà, chính họ là những dấu chỉ của ơn cứu chuộc của Chúa và không phải trong trường hợp cá biệt này, bởi các phương tiện và sự sắp xếp kỹ thuật. Mặc dù, nền “văn hóa mới,” thì được xác định mạnh mẽ bởi kỹ thuật mà cá nhân, người mà quyết định nó cách chung cuộc. Do đó, “chứng tá đời sống” của các cá nhân và các cộng đoàn Kitô hữu quyết định trước hết và trên hết về việc truyền giáo trong truyền thông xã hội, như Đức Giáo Hoàng Phaolô khẳng định trong Evangelii Nuntiandi: “đối với Giáo Hội, đời sống chứng tá của người tín hữu đích thực hiến mình cho Thiên Chúa trong sự thông hiệp không gì cắt đứt được và nhiệt thành giúp đỡ anh em là phương thế thứ nhất của việc Phúc Âm hóa. Mới đây Ta đã nói với một nhóm giáo dân rằng: người đương thời sẵn sàng lắng nghe những nhân chứng hơn là những thầy dạy, hoặc nếu họ có nghe thầy dậy, thì bởi vì chính thầy dạy cũng là những nhân chứng”(Evangelii Nuntiandi, số 41).
Nếu chúng ta có thể, qua cuộc sống của mình để chỉ ra cách hòa nhập nền “văn hóa mới” với chính ngôn ngữ mới, phương tiện mới và tâm lý mới vào trải nghiệm cá nhân của chúng ta về ơn cứu chuộc của Chúa Kitô thì cũng là rao giảng Tin Mừng của Truyền Thông Xã Hội có thể đảm nhiệm. Nó đặt để một khuôn mẫu để có thể được mọi người nhìn thấy. Nó dựa vào yếu tố “là” nhiều hơn yếu tố “làm’ của chúng ta.
Điều này thực sự chỉ ra vai trò trung tâm của linh đạo cho truyền giáo trong Truyền Thông Xã Hội. Huấn Thị Mục Vụ về việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội Communio et Progressio (1971) được đề nghị bởi Công Đồng Vatican II, khẳng định rằng: “nếu người công giáo được dành cho việc phục vụ đối với các phương tiện truyền thông xã hội và hành động để những thứ này có thể phục vụ cùng đích của nhân loại, không cần phải nói rằng nó thuộc về lĩnh vực thiêng liêng. Bằng cách này, văn kiện tiếp tục, bản chất cơ sở của truyền thông xã hội sẽ được đánh giá rõ ràng hơn,… phẩm giá của con người, sẽ được hiểu biết tốt hơn và kính trọng hơn. Theo cách này, sự tương tác xã hội này làm cho mọi người hàng xóm có thể dẫn đến truyền thông thật sự” (Communio et Progressio, số 102). Đích điểm và mục đích này thậm chí còn cấp bách hơn trong nền “văn hóa mới” của ngày hôm nay.
Truyền giáo trong truyền thông xã hội cuối cùng nhằm mục đích giải phóng con người. Họ phải thoát khỏi sự phụ thuộc và bị vướng mắc vào các ngôn ngữ, kỹ thuật và tâm lý mới của nền “văn hóa mới” này, nơi họ có thể mất khả năng đưa ra ý kiến của mình, để quyết định và thay vào đó trở thành nô lệ cho chủ nghĩa tiêu dùng, của cải vật chất, thời trang và sự nổi tiếng chỉ để được thành công ở “đó” mà thôi.
Kết luận
Mối quan hệ giữa Truyền Giáo và Truyền Thông Xã Hội không chỉ là vấn đề sử dụng phương tiện truyền thông phù hợp và phát triển các công cụ của truyền thông tốt nhất, để loan báo trực tiếp hoặc gián tiếp về Lời hoặc thậm chí cho các việc mục vụ của chúng ta. Toàn bộ thế giới Truyền Thông Xã Hội như một nền “văn hóa mới”, bản thân nó là một lĩnh vực truyền giáo đặc biệt; được Kitô giáo hóa và được truyền giáo.
Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận mới và sâu sắc hơn, điều mà bắt đầu trước tiên hết với ý định cá nhân của chúng ta cho truyền thông. Nếu truyền thông xã hội là cách chúng ta chia sẻ với nhau, thì điều đó có nghĩa là nó phải bắt đầu trong cộng đoàn của chúng ta. Chúa Giêsu nêu gương trong ba bước được phản ánh trong sự chữa lành của Ngài như trong câu chuyện chữa lành của mẹ vợ của Phêrô (Mc 1,31): Ngài đến với bà – Nắm lấy tay bà – Và chữa lành cho bà. Nếu chúng được thực hành trong cộng đoàn của chúng ta, chúng ta sẽ sẵn sàng hơn, để đáp trả với những thách đố của nền “văn hóa mới” của truyền thông ngày nay.
Chỉ từ một khuynh hướng của cuộc sống (thiêng liêng) như vậy, mà cuộc đối thoại ba chiều kích có thể được phát triển, điều mà Liên Hội Đồng Giám Mục Châu Á (FABC) đã thúc đẩy ngay từ ban đầu, hơn 30 năm trước: cuộc đối thoại 1. Với mọi người, đặc biệt là người nghèo, 2. Với các nền văn hóa và 3. Các tôn giáo. Điều này sẽ dẫn đến một sự hiểu biết tốt hơn về bối cảnh thực tế của Châu Á bây giờ.
Như những con người của chứng tá, của thiêng liêng và tự do, chúng ta cũng trở thành những người bạn đồng hành đáng tin cậy cho nền “văn hóa mới,” người mà có thể giúp đỡ với những thay đổi và phát triển vì lợi ích của lục địa và nhân loại của chúng ta.
Tuy nhiên, tất cả những điều này là như Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã từng nói rằng là “một vấn đề phức tạp,” điều phản ánh rằng “sự ly khai giữa Tin Mừng và văn hóa quả là một thảm trạng của thời đại chúng ta” (Evangelii Nuntiandi, số 20).
Nền “văn hóa mới,” theo Redemptoris Missio cần học hỏi và nghiên cứu sâu hơn, đặc biệt là tại các trường thần học và các học viện. Điều này nên được coi là một thách đố đặc biệt cho bất kỳ trường thần học, chủng viện hoặc học viện nào, mà cũng cho còn cho các nghiên cứu liên ngành. Dường như chúng ta đã từng đụng chạm cách khó khăn vào mối quan tâm quan trọng này, điều rất cần thiết cho truyền giáo và truyền thông xã hội.
Nhưng điều đó cũng có nghĩa là mỗi người trong chúng ta thay đổi lối suy nghĩ của mình từ định hướng công cụ trong truyền thông, điều này nhấn mạnh đến việc huấn luyện chuyên biệt, cũng như định hướng kỹ năng, cho đến việc đào tạo một khuynh hướng cởi mở để lắng nghe Thiên Chúa và với người khác. Đây là một thách đố, không chỉ đối với những người có mối quan tâm đặc biệt trong truyền thông xã hội, mà còn đối với tất cả chúng ta. Cách tiếp cận và chiều hướng tương tự cũng phải được phản ánh trong tất cả việc giảng dạy và nghiên cứu thần học.
__________
[1] cf. Franz-Josef Eilers. Communicating in Community. An introduction to Social Communication, 3rd revised and enlarged edition. Manila (Logos) 2002, tr.67.
[2] Franz-Josef Eilers/Heinz Helf. Arnold Janssen. A Pictorial Biography, 2nd Edition Nettetal (Steyler Verlag) 1987, tr 62. For encyclical letters on Mission see: Raymond Hickey (ed). Modern Missionary Documents and Africa. Dublin (Dominican Publications), 1982.
[3] Eilers 2002, tr 23.
[4] Cf. Franz-Josef Eilers. Communicating in Ministry and Mission. An Introduction to Pastoral and Evangelizing Communication, 2nd Edition Manila (Logos) 2004 (Bangalore, Asian Trading 2004), tr 61. (có thể đọc bản tiếng việt toàn bộ cuốn sách này tại: http://www.truyen-tin.net/ViewNewsDetail.aspx?tabid=63&NewsPK=4917 (chú thích của người dịch).
[5] Franz-Josef Eilers/Heinz Helf. Arnold Janssen. A Pictorial Biography, 2nd Edition Nettetal (Steyler Verlag) 1987 tr 62. For encyclical letters on Mission see: Raymond Hickey (ed). Modern Missionary Documents and Africa. Dublin (Dominican Publications) 1982.
[6] For a more extensive presentation see Eilers 2002, tr 41-60. For intercultural communication: Franz-Josef Eilers. Communicating between Cultures. An Introduction to Intercultural Communication, 2nd Edition. Manila (Logos) 1994.
[7] Today (Newspaper), Manila Sept.9, 2004, tr 8.
[8] Jacque Ellul. The Humiliation of the Word. Grand Rapids (Eerdman) 1985 tr 140. Available online through: religion-online.org.
[9] Malcolm Muggeridge. Christ and the Media. London (Hodder and Stoughton)1977, tr 23-42.
[10] Gregory Goethals. The TV Ritual: worship on the Video Altar. Boston (Beacon Press) 1981. Cf. also Goethals. Myth and Ritual in Cyberspace. In Jolyon Mitchell and Sophia Marriage (ed). Mediating Religion, Conversations in Media, Religion and Culture. London (T&T Clark) 2003, tr 257-269.
[11] Erc W. Rothenbuehler. Ritual Communication. From Everyday conversation to mediated ceremony. Thousand Oaks (Sage) 1998 tr 125. Cf. also: James Carey. Communication as Culture. Essays on Media and Society. New York/London (Routledge) 1992.
[12] William Fore. Television and Religion, The shaping of faith values and culture. Minneapolis (Augsburg) 1987, tr 64.
[13] Ineke de Fijter. Mainline Religion and Media culture. Amsterdam: Unpublished Manuscript, 2004.
[14] Franz-Josef Eilers (Ed). Church and Social Communication in Asia. Documents, Analysis, Experiences. Manila (Logos) 2002, tr 33-40.
[15] Anthony Rogers. Fighting Poverty: Politics and Policies???. Paper delivered at the Signis Asia Conference 2004. Kuala Lumpur Oct. 7, 2004.
Franz-Josef Eilers, SVD
Phêrô Phạm Minh Triều, CM chuyển ngữ từ fabc.org
