Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • uncategorized
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Chia sẻ

Home / Giáo dục / Chia sẻ
23Tháng Năm
2023

Chuyện điều răn thứ nhất…

23/05/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0
Photo: inspiration.org

♦ Giuse Nguyễn Đình Trường – Học Viện Ngôi Lời

“Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng : “Thưa Thầy, trong sách Luật Môsê, điều răn nào là điều răn trọng nhất ?” Đức Giêsu đáp: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất”. (Mt 22, 35 -38)

“Yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi”, phó từ “hết” gợi lên mức độ cao nhất trong hành động, một sự trọn vẹn. Điều đó thực sự là một thách đố thực sự cho người Kitô hữu. Bởi lẽ, lòng yêu mến Thiên Chúa tột độ như vậy đòi hòi nơi chúng ta một đời sống sao cho cân xứng. Dĩ nhiên, chúng ta phải buông bỏ “những ngẫu tượng” mà lâu nay chúng ta vẫn yêu mến, vun vén và gắn bó. Vậy điều răn thứ nhất có chăng là một gánh nặng?

Mang lấy một gánh nặng bên mình?

Văn hào người Nga Leon Tonstoï có một câu chuyện với đại ý như sau: “Một người hành khất nghèo đến trước cửa nhà của một người giàu có để xin bố thí, sau những van xin thì điều ông nhận được không phải là bánh ăn hay những đồng xu mà là một cục đá ném vào con người khốn khổ. Người hành khất lặng lẽ nhặt lấy hòn đá cho vào túi, đi đâu, cũng mang theo hòn đá ấy, mong một ngày tìm lại được người giàu có kia để ném cục đá ấy vào ông nhà giàu”.

Một câu chuyện ngụ ngôn tưởng chừng chẳng trúng trật hay liên hệ gì với “câu chuyện của điều răn thứ nhất” nhưng chúng ta có thể thử làm một phép loại suy như sau: Thiên Chúa trong thế đứng của Ngài có lẽ cũng tựa như một “ông chủ giàu có”, nơi người sung mãn mọi sự, Ngài là Vua cả vũ hoàn, mọi sự trên trời dưới đất đều là của Ngài. Đối lại, trong thân phận của một thụ tạo với những yếu đuối, mỏng giòn, chúng ta chẳng khác nào “người hành khất nghèo” trong “cuộc lữ” với bao khốn khổ tư bề. Chúng ta chạy đến kêu cầu cùng Chúa để mong được những điều tốt đẹp, “những mẩu bánh hay đồng xu”. Thế nhưng, chúng ta lại nhận được một “hòn đá” thật to, thật nặng nề mà chúng ta phải mang theo bên mình kể từ đó: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi”. Yêu mến Thiên Chúa mà thôi là chưa đủ nhưng còn phải yêu mến chỉ một mình Người với trọn cả con tim, linh hồn và trí khôn. Đó chẳng khác nào “cục đá” mà ông nhà giàu ném cho người hành khất.

Dĩ nhiên, một lối loại suy như trên thật là quá khập khiễng nhưng thiết nghĩ, nó phần nào diễn tả thái độ mà chúng ta đang tuân giữ điều răn của Thiên Chúa. Điều đó muốn phản ánh một sự thật rằng đôi khi chính chúng ta cũng đang sống giới răn của Thiên Chúa với một tâm thế tiêu cực như vậy. Chúng ta sống vật vờ với những giới răn, cảm thấy thật nặng nề và ngột ngạt. Chúng ta thấy khó chịu trước lệnh truyền của Thiên Chúa nhưng vẫn phải mang theo nó trên suốt hành trình đức tin, trên cuộc lữ hành của mình, để đi tìm Thiên Chúa. Chúng ta đi tìm Ngài mà chẳng biết đi đâu, đến bao giờ hay sẽ mãi chẳng bao giờ gặp được, tựa như ông hành khất mang cục đá bên mình đi tìm người giàu có.

Những người ngoài Kitô giáo vẫn xem những giới răn của Thiên Chúa ban cho con người chẳng khác gì những sự ràng buộc, gò bó, trong khi con người, đang hơn bao giờ hết, tha thiết sự tự do, “sự giải phóng”. Hay nói theo kiểu của triết gia Friedrich Nietzsche, con người cần phải “giết Thượng Đế để con người được làm Chúa”. Và nếu như chính chúng ta, những người Kitô hữu cũng cảm thấy giới răn của Thiên Chúa là “một gánh nặng” cần được phải “quẳng đi”, điều đó thật nguy hại biết bao.

Quả thật, nhìn nhận giới răn thứ nhất tựa như một gánh nặng là một lối nhìn tiêu cực trong cách thức tuân giữ lệnh truyền của Thiên Chúa.Thế  nhưng, trớ trêu thay, điều đó lại đang xảy ra nơi chính thực tế đời sống của chúng ta. Một gánh nặng mà đôi lúc mỗi người đã chẳng dám thừa nhận hay không dám đối diện hoặc thậm chí là cố chịu đựng vậy. Dĩ nhiên, điều đó không làm đẹp lòng Thiên Chúa. Bởi lẽ, những lệnh truyền của Thiên Chúa là Thần Khí và là Sự Sống (x. Ga 6,63), để cho chúng ta, những người tuân giữ, “được sống và sống dồi dào” (x. Ga 10,10), chứ không phải để trở nên “gánh nặng” như vậy.

Vậy đâu là lối nhìn cần có khi giữ giới răn thứ nhất?

“Người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Người đáp: “Trong Luật đã viết gì ? Ông đọc thế nào?” Ông ấy thưa: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.” Đức Giêsu bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống”” (Lc 10, 25-28).

Nhìn dưới một góc nhìn khác, điều răn thứ nhất phải là một lời mời gọi, một phương tiện vươn tới Thiên Chúa thay vì một gánh nặng. Có lẽ “cục đá” mà người hành khất mang theo bên mình lại cách nào đó trở nên một phương thế giúp ông tìm kiếm và kiên trì tìm kiếm ông nhà giàu năm xưa trong suốt hành trình của mình.

Là những người Kitô hữu, hẳn chúng ta đã rõ về đích điểm của hành trình cuộc đời, đó là được hưởng kiến Thiên Chúa, hay nói cách khác là tìm gặp được Ngài. Hành trình ấy thực sự là một cuộc tìm kiếm và vươn lên không ngừng, những sẽ thật đáng lo ngại khi chúng ta thường quên mất điều đó. Bởi lẽ, hành trình bước theo Thiên Chúa vẫn còn lắm những chông gai và đôi lúc, chúng ta bị lạc mất phương hướng. Chúng ta thường chọn yêu mến những “sự dịu êm” của đời này hơn những giới răn tưởng như nặng nề của Thiên Chúa. Thế nên, chính trong bối cảnh như vậy, điều răn thứ nhất mà Đức Giêsu trao ban lại càng trở nên giá trị biết bao, đó là kim chỉ nam cho chúng ta, “cứ làm như vậy là sẽ được sống” (x. Lc 10, 28). Lệnh truyền ấy mời gọi và dẫn lối chúng ta không ngừng kiếm tìm Thiên Chúa với trọn cả con tim, linh hồn và lý trí. Chính giới răn của Thiên Chúa sẽ kéo chúng ta thoát khỏi vũng bùn tội lỗi và nâng chúng ta vươn lên tới Ngài. Nhờ đó, chúng ta vững bước trong đường lối và thánh ý của Ngài. Đó cũng là dấu chỉ biểu lộ lòng yêu mến của chúng ta đối với Thiên Chúa, bởi lẽ, còn yêu mến là còn kiếm tìm.

Dĩ nhiên, chúng ta không thể phủ nhận việc tuân giữ giới luật thứ nhất của Thiên Chúa thực sự là một thách đố, vì lẽ, nó chất vấn cuộc sống của chúng ta mỗi ngày và trong từng khoảnh khắc, “Thiên Chúa đã thực sự là chủ cuộc đời tôi hay chăng?”. Thế nhưng, bên cạnh đó, lệnh truyền mà Đức Giêsu truyền dạy thực sự là phương tiện giúp chúng ta định hướng và kiên vững trong hành trình hướng về Nước Trời. Đó mới là lối nhìn cần có khi tuân giữ giới răn của Thiên Chúa. Và nếu điều đó giúp chúng ta đạt tới cứu cánh đích thực của mình thì đó hẳn là một phương thế tốt đẹp. Vậy phải chăng một phương tiện hỗ trợ tốt đẹp lại có thể là một gánh nặng được?

Tóm lại

Thiết nghĩ, trong tâm tình Mùa Chay, mỗi người được mời gọi trở về với cõi lòng mình để tự vấn với giới răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi”. Yêu mến một vị Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước bằng “một mối tình muôn thuở” (x. Gr 31, 3), một vị Thiên Chúa đã trao nộp chính Con Một Yêu Dấu của mình vì tất cả chúng ta (Rm 8,31-32). Có lẽ, trước tình yêu của một vị Thiên Chúa như thế, chúng ta đáp trả Ngài bằng tình yêu, đó quả là điều“chính đáng và phải đạo”. Hơn nữa, nhờ yêu mến vị Thiên Chúa ấy hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi, chúng ta, “những kẻ được Thiên Chúa chúc phúc” sẽ được“lãnh nhận phần gia nghiệp là Nước Trời” (x. Mt 25, 34).

 

Read More
18Tháng Năm
2023

Lần theo cuốn sách nổi tiếng của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận

18/05/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Lần theo cuốn sách nổi tiếng của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận

Trong thời gian Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận bị quản thúc tại Nhà thờ Giang Xá thuộc TGP Hà Nội, 1978-1982, ông T.L, một giáo dân thuộc Giáo xứ Chính tòa Hà Nội có dịp tiếp xúc nhiều với Ngài. Chúng tôi đến gặp ông để nghe lại những câu chuyện xưa.

Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

Chính trong thời gian ở tại Giang Xá, Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã viết hai cuốn sách nổi tiếng là Đường Hy vọng dưới ánh sáng lời Chúa và Công đồng Vaticano II và cuốn Những người lữ hành trên Đường Hy
vọng
.

Tôi theo chân ông T.L lên cầu thang gỗ dựng đứng trong căn nhà nhỏ tại phố cổ Hà Nội. Trên những kệ đầy sách, ông rút ra cuốn Đường Hy vọng đã bám màu thời gian, phủ đầy những kỷ niệm về Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Đôi tay hơi run, ông lật giở từng trang để chỉ cho tôi thấy và kể cho tôi nghe những câu chuyện về Đấng Đáng kính.

Đạp xe 20 cây số để gặp Đức Hồng y

Từ năm 1978 đến 1982 Đức Hồng y ở tại nhà thờ Giang Xá thuộc Tổng Giáo phận Hà Nội. “Khi đó ở Hà Nội, một số tín hữu đã bắt gặp được nhiều tư tưởng mới của Ngài về đời sống đức tin dưới ánh sáng Công đồng Vaticano II. Nhóm chúng tôi chừng 4, 5 người thường đạp xe đến Giang Xá, cách trung tâm Hà Nội gần 20 km để có thể gặp gỡ Ngài. Mối thân tình cha con bắt đầu từ đó và càng gần gũi hơn khi Ngài ở tại Tòa Tổng Giám mục Hà Nội những năm 1988 trở đi”, ông T.L kể.

“Ngài bình dị lắm!”, đôi mắt trầm ngâm của ông T.L khép lại để truy hồi về một thời được cận kề bên Đức Hồng y. “Lúc đó, rất ít giáo dân được tiếp xúc với Ngài vì đang trong thời gian quản thúc. Căn phòng nhỏ của Ngài đơn giản hết mức có thể với bộ tràng kỷ cũ, chiếc giường cùng vật dụng cá nhân”.

Về cuốn sách Đường Hy vọng dưới ánh sáng Lời Chúa và Công đồng dày 533 trang, để trong tấm bìa da xanh sẫm, khổ nhỏ bằng n a tờ A4, ông kể: “Hôm đó tôi cùng bà xã qua thăm Đức Hồng y để trò chuyện. Ngài chia sẻ với chúng tôi rất nhiều trăn trở về đời sống đức tin của giáo dân Việt Nam hiện tại.

Sau đó, Ngài lấy ra cuốn sách kèm tập tranh màu nho nhỏ đem từ Roma về. Đó là những bức tranh về các loài hoa kèm những câu trích thiêng liêng bằng tiếng Ý. Do vợ chồng tôi không thông thạo ngoại ngữ nên Ngài vừa dán ảnh vào những khoảng trống ở đầu các chuyên mục vừa ân cần giải nghĩa cho chúng tôi. Ngài còn tự tay viết những câu trích dẫn trong tranh bằng tiếng Việt ngay bên cạnh. Cả thảy có sáu bức như thế!”.

Tấm hình nhỏ do chính tay ĐHY Nguyễn Văn Thuận dán và dòng bút tích của Ngài.

Nhiều người lo ngại vì sức ảnh hưởng của cuốn sách

Lúc đó, điều kiện in ấn hết sức khó khăn. Giấy dùng để in khi ấy là giấy ngả vàng thời bao cấp, số lượng phát hành sách của Đức Hồng y cũng chỉ tới trăm cuốn là cùng.

Vì vậy, những cuốn sách “đời đầu” này cực kỳ hiếm và ít ai có được. “Gia đình tôi thì coi đó như một kỷ vật quý giá, một dấu ấn khó phai với cố Đức Hồng y. Không chỉ thế, nó còn là những tư tưởng, ánh sáng dẫn đường cho đời sống của nhà tôi. Chính vợ tôi đã ghi lại những dòng chữ ở đầu cuốn sách để có thể ngừng lại, ngẫm suy về những điều Đức Hồng y viết”.

Những dòng chữ bà viết lại mờ mờ theo cái lướt đi của thời gian nhưng vẫn còn đậm suy tư: “Những khi quá mất mát đắng cay/ Những lúc gần gục ngã trong cuộc sống/ Con lại đọc sách này/ Để tâm hồn náo nức mê say/ Từng giờ từng phút từng giây”.

Theo ông T.L, cuốn sách Đường Hy vọng làm cho nhiều người lo ngại vì sức ảnh hưởng của nó. Thêm nữa, Tu hội Hy vọng do chính ngài lập ra cũng hoạt động khá mạnh mẽ giữa thời thế nhiều biến đổi. Chính những ý tưởng Hy vọng của Ngài đã làm thức tỉnh, truyền cảm hứng cho giáo dân trong đời sống đức tin cũng như thường nhật. Ba bộ vãn dâng hoa kính Đức Mẹ tại Tổng Giáo phận Hà Nội lần lượt được viết trong thời gian đó cũng đượm tinh thần Hy vọng của Đức Hồng y!

Một tình yêu với Huế qua những điều nhỏ nhặt

“Cha đã đi một quãng đường/ Hân hoan có, gian khổ có nhưng luôn tràn trào hy vọng”. Đó là lời mà Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận nói về Ngài và quả thực cuộc sống của Ngài đã như những gì Ngài nói.

Ông T.L tiếp tục nhặt nhạnh tiếp trong ký ức của mình về những hình ảnh một người Cha hy vọng luôn luôn trong đời sống vốn nhiều trúc trắc.

“Ngài có một tình yêu đối với Huế của mình qua những điều nhỏ nhặt. Có lần tôi gặp Ngài, Ngài kể nhiều về món tré của người cố đô với tình yêu dung dị”. Trong thời gian Ngài ở gần chỗ Công viên Thống Nhất hiện nay, thấy mấy anh công an canh giữ ngài đang đọc, viết gì đó, Ngài hỏi: “Các anh học gì đấy?”. Họ đáp: “Chúng cháu học ngoại ngữ chuyên ngành”. Khi đấy, Ngài bảo các anh đưa giấy, bút và những từ cần phiên dịch. Ngài đã viết mấy ngàn từ chuyên ngành với nhiều thứ tiếng, từ Việt, Anh, Pháp, Nga.

“Có lẽ kể về Đức Hồng y mãi thì chẳng hết được vì nhiều lắm!”, ông T.L trầm tư. Đức Hồng y bình dị trong những công việc nhỏ bé mà lại có những cái nhìn rất xa cho tương lai Giáo hội. Nhiều lần Ngài chia sẻ tâm nguyện mua một miếng đất bên sông Hồng để xây một ngôi nhà thờ kính các thánh tử đạo Việt Nam.

Những lo lắng của Ngài về chủng sinh, linh mục với trăn trở “khi ở Chủng viện thì các thầy theo luật của Chủng viện, còn khi làm cha rồi thì theo luật của mình”. Ngài còn lo xa cho hàng giáo phẩm tại miền Bắc sau này vì nhân sự còn quá yếu.

“Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài. Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống. Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp. Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh”. Mượn câu trích trong Đường Hy vọng của cố Đức Hồng y để tạm khép cuốn sách kỷ niệm về Ngài, về những câu chuyện vắn vỏi của Ngài tại Hà Nội.

Những ý tưởng đó sẽ mãi vương vấn, nảy mầm trong mưa hồng ân của Thiên Chúa. Và rồi, mỗi chấm, mỗi phết qua đi trong cuộc đời đều là mỗi phết, mỗi chấm của Hy Vọng.

Ngày 4-5-2017, Ủy ban Hồng Y và Giám mục thuộc Bộ Tuyên Thánh tại Vatican đã biểu quyết đồng loạt chấp nhận án tuyên thánh của tôi tớ Chúa Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Với bước ngoặt quan trọng này, Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận sẽ tiến gần hơn đến việc được phong Chân Phước và cuối cùng là được tuyên Hiển Thánh.

AN DUYÊN

Read More
18Tháng Năm
2023

Người Việt đầu tiên soạn từ điển là Công giáo

18/05/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Người Việt đầu tiên soạn từ điển là Công giáo

Đã 113 năm từ khi ông Huỳnh Tịnh Của qua đời. Cuộc đời, sự nghiệp và công trạng của ông đối với việc phát triển chữ quốc ngữ đã được lịch sử ghi nhận và tri ân. Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều điều bí ẩn quanh cuộc đời ông chưa tìm được lời giải. Ông chính là người Việt đầu tiên biên soạn từ điển.

Tên của ông là Huỳnh Tịnh Của, ông còn có ngoại hiệu là Tịnh Trai và tên thánh là Paulus, tức là ghi theo tiếng Latin hay tiếng Đức, còn Việt Nam phiên âm đọc là Phaolô.

Tác phẩm Đại Nam Quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của liên tục được các thế hệ tái bản, nghiên cứu.

Bậc kỳ tài nhiều bí ẩn

Lẽ thường với người Công giáo, tên thánh sẽ đặt trước tên thật (hoặc cả họ tên) và ông Của đã nhiều lần sử dụng cách đặt tên này trong các tác phẩm của ông, như ký tên là Paulus Của hoặc P. Của, có sách ông ký tên là Paulus Của Huình-Tịnh.

Thế nhưng, trên một số tác phẩm, trong đó tác phẩm nổi tiếng Đại Nam quốc âm tự vị, ông lại ký tên là Huình- Tịnh Paulus Của, một cách đặt tên hoàn toàn khác với mọi người, thậm chí khác với chính cách đặt tên của ông trước đó. Họ của ông, ông không viết chữ Huỳnh, mà viết là Huình. Thậm chí trong tác phẩm Trần Sanh diễn ca, ông ký tên là Hoàng-Tịnh Paulus Của.

Năm sinh của ông có những thông tin khác nhau, quê quán của ông cũng chưa được xác định rõ. Ngay cả khi đi tu, học đến chức thầy Tư rồi hoàn tục cưới vợ không rõ vì sao. Tác phẩm của ông cũng bị nhầm lẫn nhiều, nghề nghiệp báo chí cũng chưa được xác định rõ ràng về thời điểm, chức vụ.

Thậm chí, ngay cả hình dáng của ông thế nào cũng không ai rõ vì không có ảnh hay truyền thần lưu lại như những bạn bè đương thời.

Làm việc cho Pháp mà không bị coi là Việt gian

Theo tài liệu được đánh giá khá xác tín là luận văn thạc sĩ của ông Nguyễn Văn Y tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn thì Huỳnh Tịnh Của sinh năm 1830 tại làng Phước Tuỵ, tỉnh Bà Rịa. Đây là vùng giáo dân chạy nạn trong các cuộc đàn áp đạo trước đó về nương náu. Do từ nhỏ ông tỏ ra thông minh, hiếu học nên năm 12 tuổi được gửi sang tu học ở Penang Malaysia cho đến khi xuất tu về quê lập gia đình.

KHÔNG HỀ BỊ AI BẮT BUỘC, MÀ CHỈ BẰNG LÒNG ĐAM MÊ MỚI CÓ THỂ KHIẾN ÔNG KIÊN TRÌ TẠO RA NHỮNG TÁC PHẨM CÓ GIÁ TRỊ ĐỂ ĐỜI CHO HẬU THẾ. TRONG ĐÓ CÓ TÁC PHẨM BIÊN KHẢO NỔI TIẾNG ĐẠI NAM QUỐC ÂM TỰ VỊ.

Ông được đánh giá là giỏi cả tiếng Pháp, Hán, Latin và chữ Quốc ngữ vốn còn mới mẻ lúc đó.

Khi Pháp tấn công và chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ năm 1862, nhiều văn thân sĩ phu nếu không tham gia vào các phong trào khởi nghĩa chống Pháp thì cũng dùng ngòi bút để đả kích chống ngoại xâm.

Còn Paulus Của lại quyết định ra làm việc với Pháp. Vào thời điểm đó việc cộng tác với Pháp được người Việt xem là hành vi phản quốc, là Việt gian. Thế nhưng đến nay dù có vài ý kiến khác nhau nhưng Huỳnh Tịnh Của vẫn không bị gán cho tội danh đó.

Lý do là khi điểm lại cuộc đời của Huỳnh Tịnh Của, người ta có thể nhận thấy ông làm việc với Pháp chỉ làm thông ngôn, dù được ăn lương khá cao nhưng ông không hề cai trị ai cả chứ đừng nói tham gia đàn áp. Ông chỉ làm cầu nối về mặt ngôn ngữ.

Thứ nữa, Huỳnh Tịnh Của luôn mong mỏi và khát khao đem các kiến thức về học thuật và kỹ thuật của Tây phương vào để canh tân đất nước nhưng vẫn giữ gìn bản sắc của dân tộc và văn hóa truyền thống nước nhà.

Ông là người có công rất lớn đã nhen nhóm nền văn học, đặc biệt là chữ Quốc ngữ trong những bước đầu ở Nam Kỳ. Là người có lòng yêu quý ngôn ngữ và các tác phẩm văn học nước nhà, ông sưu tầm các áng văn hay của người xưa bằng cách ghi chép lại các câu hát góp, thành ngữ, tục ngữ, gia ngôn.

Ông dịch thuật rất nhiều tác phẩm nước ngoài sang chữ Quốc ngữ để người dân dễ đọc, như Quan âm diễn ca, Trần Sanh diễn ca, Chiêu Quân cống Hồ truyện, Bạch Viên Tôn Các truyện, Văn Doanh diễn ca, Thoại Khanh Châu Tuấn truyện, Thơ mẹ dạy con, Tống Tử Vưu truyện… Ngoài ra ông cũng biên soạn các cuốn: Phép toán, Phép đo, Maximes et proverbers, Gia Lễ, Chuyện giải buồn, Bác học sơ giải, Sách quan chế, Tân soạn từ trát nhất xấp…

Công trình thế kỷ

Đại Nam quốc âm tự vị được ông miệt mài viết trong bốn năm, bao gồm hai tập, dày tổng cộng trên 1.200 trang, xuất bản từ năm 1895 tại Sài Gòn. Trong đó liệt kê và chú giải rất nhiều từ ngữ tiếng Việt kèm theo chữ Hán và cả chữ Nôm.

Trước đó, nước ta chưa có quyển từ điển nào giải nghĩa tiếng Việt bằng tiếng Việt. Điểm đặc biệt là thành phần từ ngữ, tục ngữ của Đại Nam quốc âm tự vị rất phong phú nhưng cơ bản là những từ ngữ rất phổ thông, những câu cửa miệng vốn được người dân Việt lúc đó sử dụng hằng ngày. Mỗi từ, mỗi chữ đều được ông giải nghĩa rõ ràng, ngắn gọn không dài dòng, rất dễ hiểu.

Thông qua hai tập sách, người ta có thể nhận thấy sự giàu có và phong phú của ngôn ngữ Việt Nam, có những câu chữ mà xưa nghĩa khác và nay nghĩa khác. Nếu không có tác phẩm của ông, chúng ta không được biết đến rất nhiều câu chữ, từ ngữ độc đáo của người Việt mà nay đã không còn được sử dụng nữa.

Khi còn sống, Huỳnh Tịnh Của khiêm tốn giải thích công trình của mình không phải là tự điển mà chỉ là tự vị: Có kẻ hỏi tự điển, tự vị khác nhau thế nào? Sao sách ta làm kêu là tự vị mà không gọi là tự điển?… Tự điển, tự vị khác nhau có một sự rộng hẹp. Tự điển phải có chú giải, mỗi chữ, mỗi tiếng đều phải dẫn điển, dẫn tích, nguyên là chữ sách nào, nguyên là lời ai nói, cả thảy đều phải có kinh truyện làm thầy; chí như tự vị cũng là sách hội biên các thứ chữ, cùng các tiếng nói, song trong ấy thích chữ một, nghĩa một, mà không dẫn điển tích gì”. Nhưng sau này một số nhà nghiên cứu vẫn cho rằng tác phẩm của ông xứng đáng được gọi là tự điển.

Nhà báo thứ hai của Việt Nam

Năm 1869 Trương Vĩnh Ký được người Pháp chuyển giao thực hiện tờ Gia Định báo với vai trò giám đốc. Đây là tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam thời bấy giờ. Người đứng vai trò chủ bút chính là Huỳnh Tịnh Của.

Tờ Gia Định báo ông Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút.

Tại sao lại là ông Của mà không là ai khác? Vì ông Perus Ký đề ra ba mục tiêu chính cho tờ báo là truyền bá chữ quốc ngữ, cổ động tân học và khuyến học trong dân chúng, bằng cách thêm các phần khảo cứu, nghị luận, gồm các bài dịch thuật, sưu tầm, sáng tác thơ, văn, lịch sử, truyện cổ tích…

Những phần này đòi hỏi chủ bút phải là người có học vấn uyên thâm về văn hóa Việt Nam, phải giỏi chữ Hán và chữ Quốc ngữ, đồng thời có kiến thức Tây học (để dịch các tài liệu về vấn đề chính trị, pháp lý, công quyền qua các bài đăng công văn, nghị định, thông tư, đạo dụ của chính quyền).

Sau khi viết báo xong xuôi, lại phải dịch ngược lại tiếng Pháp để nhà cầm quyền Pháp kiểm duyệt… Cho nên ông Huỳnh Tịnh Của là người đủ năng lực để thực hiện công việc này.

Làm chủ bút nhưng ông Của viết rất nhiều, lý do là ông Perus Ký bận việc (thông ngôn, dạy học, viết sách…) nên không có thời gian nhiều cho báo chí, thành ra ông Của cáng đáng tờ Gia Định báo đến tận năm 1880 mới ngưng viết.

Tính ra ông cũng có thâm niên đáng kể với nghề báo và chỉ đứng sau ông Perus Ký khi đặt chân vào lĩnh vực mới mẻ này.

Một con người liêm khiết, thanh bạch
Ông Huỳnh Tịnh Của vào ngạch quan viên từ năm 1862. Sau nhiều lần thăng chức, ông được thăng Đốc phủ sứ năm 1884. Làm Giám đốc Ty Phiên dịch văn án ở soái phủ Sài Gòn, ông có chân trong Ban Biên tập bán nguyệt san Revue Indochinoise. Ông nhiều lần làm giám khảo trong các cuộc thi về Hán và Việt văn, được thống đốc Nam Kỳ cử làm hội viên trong hội đồng bàn nghị về Sở Nghĩa địa làng trong các hạt Nam Kỳ.
Tuy vậy ông sống rất thanh bạch, được thực dân Pháp hậu đãi, có quyền chức lớn nhưng ông tỏ ra là một người khiêm tốn, giản dị. Nhà nghiên cứu Nguyễn Liên Phong sống cùng thời đã mô tả ông: “Hình dung nho nhã, tánh nết cẩn thận hiền lành… làm công chức cao mà nhà vẫn thanh bần. Đã quá tuổi hưu trí mà Nhà nước đoái tưởng ngài tuổi lớn nhà nghèo, cho làm luôn”.

PHẠM TRƯỜNG GIANG

Read More
18Tháng Năm
2023

Trương Vĩnh Ký: Ông tổ nghề báo Việt Nam

18/05/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Trương Vĩnh Ký: Ông tổ nghề báo Việt Nam

Ngày nhỏ thường chạy xe đạp qua giao lộ Trần Hưng Đạo – Trần Bình Trọng, tôi rất ngạc nhiên khi thấy một ngôi nhà mồ nằm trên một khu đất rộng ngay mặt tiền đắc địa. Mãi đến sau này đi làm báo mới biết đó là nhà mồ của nhà bác học người Công giáo Petrus Trương Vĩnh Ký, người khai sinh ra tờ báo đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ: Gia Định Báo.

Khuôn viên rộng 2.000 m2 vẫn được giữ nguyên nét cổ kính hoang sơ như cả trăm năm trước. Những hàng cây tán rộng, những mảng sân xi măng loang lổ tróc vữa. Gần giữa trưa nhưng khuôn viên vẫn râm mát do cây me ngay cửa ra vào tỏa bóng rộng.

Nhà bác học Trương Vĩnh Ký

Ngôi nhà mồ cổ hiu quạnh

Tôi vào một ngôi nhà kiểu cổ, bên trong vẫn mang nét kiến trúc cổ điển đậm chất Việt để tìm ông Trương Minh Đạt là hậu duệ đời thứ tư của cụ Petrus Ký, cũng là người được giao nhiệm vụ trông coi quản lý đất hương hỏa.

Ông Đạt lấy chìa khóa để mở cổng nhà mồ cho tôi vào tham quan, đồng thời giải thích thắc mắc. Đây nguyên là phần đất của gia đình, do đích thân cụ Trương Vĩnh Ký tổ chức xây dựng. Đường Trần Hưng Đạo trước đây là đại lộ Gallieni vốn là một con kênh bị lấp đi thành đường để nối Sài Gòn và Chợ Lớn.

Từ khu đất này nhìn qua thấy rạch Bến Nghé cách đó không xa. Nhà xây ngoài mục đích để ở còn là nơi để dạy học, tiếp khách và làm việc trong những năm cuối đời của cụ Trương Vĩnh Ký. Bên ngoài căn nhà gỗ mái âm dương, phía trước nhà đặt một hòn non bộ lớn, thú tiêu khiển đặc trưng của nhà vườn Nam Bộ xưa.

Sau khi cụ Trương mất, thi hài được mai táng trong căn nhà mồ đã được xây dựng ngay từ lúc cụ còn sống. Một phong cách rất Việt, người già thường sắm sửa trước cỗ áo quan cho ngày ra đi của chính mình. Trên nhà mồ còn ghi rõ ngày hoàn thành là tháng 12-1898, tức là năm cụ Trương mất.

Đến năm 1937, nhân dịp giỗ lần thứ 39 của cụ, con cháu trùng tu lại di tích, xây thêm tường gạch kiên cố bên ngoài, còn mọi thứ vẫn giữ nguyên.

Ngôi nhà mồ không quá to lớn, hình bát giác, nhìn trên cao xuống như hoa thị. Bên trong thiết kế bằng phẳng với lớp gạch bông Hoàng Hậu cũ vẫn còn nguyên, kể cả ba ngôi mộ đều theo phong cách Tây không đắp cao mà phẳng với nền nhà.

Ngôi mộ cụ Trương đặt ở giữa, hai bên là mộ của người vợ được ghi tên theo phong cách xưa là Maria Trương Vĩnh Ký (nhũ danh Vương Thị Thọ) và người con trai cả Trương Vĩnh Thế. Bia mộ trang trí rất đơn giản, chỉ có viền hoa văn hình lá ở ngoài. Bia mộ cụ Trương được làm bằng đá trắng, còn của vợ và con thì làm bằng đá hoa cương đỏ, bị nứt nẻ khá nhiều.

Mặc dù bia mộ theo phong cách Tây nhưng trần nhà mồ lại vẽ một con kỳ lân cùng các hoa văn cách điệu ngọn lửa giống trong chén đĩa cổ. Ngôi nhà mồ là một kiến trúc kết hợp phong cách Đông-Tây, Á-Âu rất hài hòa dù diện tích chỉ vẻn vẹn chưa đầy 50 m2.

Trong khuôn viên còn độ 60 ngôi mộ nữa là con cháu của cụ. Các ngôi mộ được đặt sát cạnh nhau và đều không có nhà mồ.

Ông Đạt cho biết nhà mồ cụ Trương mới được trùng tu năm năm trước, gia đình không sửa chữa thay thế gì cả, chỉ sơn quét lại và tô vẽ các hoa văn đã bị mờ y như cũ. “Thỉnh thoảng mới có người lại viếng cụ, cô hiệu trưởng Trường Lê Hồng Phong (Petrus Ký cũ) cũng mang hoa lại đây” – ông Đạt kể lại.

Ngôi nhà mồ cụ Trương Vĩnh Ký. Ảnh: PTG

Thần đồng ngôn ngữ

Lịch sử Việt Nam từng có nhiều thần đồng kiệt xuất như Mạc Đĩnh Chi, Lê Quý Đôn… nhưng giai đoạn cận đại mới có một người đặc biệt như Trương Vĩnh Ký. Sinh ra trong một gia đình quan lại, cha là Lãnh binh Trương Chánh Thi mất sớm khi nhậm chức tại Nam Vang, cậu Ký sống với mẹ và đã bộc lộ khả năng sáng dạ, nghe hay đọc qua một lần là thuộc.

Ba tuổi, cậu học thuộc sách Tam Tự Kinh, đến sáu tuổi đã thông hiểu Minh Tâm Bửu Giám, thuộc nhiều bài thơ đời Đường, đời Tống, kể cả các bài ca dao dài mà người lớn không nhớ nổi… Cậu đọc cả Tứ Thư, Ngũ Kinh và trích dẫn trong các tình huống ứng xử hằng ngày khiến mọi người đều kinh ngạc.

VỚI KHẢ NĂNG SỬ DỤNG 26 NGOẠI NGỮ, TRONG ĐÓ CÓ 15 NGÔN NGỮ CHÂU ÂU VÀ 11 NGÔN NGỮ PHƯƠNG ĐÔNG, TRƯƠNG VĨNH KÝ ĐƯỢC XEM LÀ MỘT TRONG 18 BÁC HỌC NỔI TIẾNG Ở THẾ KỶ XIX.

Gia cảnh khó khăn, cậu sớm được các linh mục chú ý nhận nuôi dưỡng, cho theo đạo, đặt tên là Petrus Ký rồi dạy tiếng Latin và chữ quốc ngữ. Đến khi triều đình cấm đạo gay gắt, cậu được một linh mục người Pháp tên là Bouilleaux (tên Việt là Cố Long) đưa sang Chủng viện Pinha-lu bên Cao Miên để lánh nạn.

Chủng viện Pinha-lu tập hợp 25 chủng sinh xuất sắc từ các chủng viện khác, tuổi 13-15. Khi ấy cậu Ký chỉ mới 11 tuổi nhưng biết tiếng Latin xuất sắc nhất. Trong quá trình giao tiếp với các chủng sinh nước ngoài, cậu Ký nhanh chóng học luôn các thứ tiếng Nhật, tiếng Hán, tiếng Thái của các bạn cùng lớp.

Qua năm sau, cậu nói được tiếng Lào, tiếng Miên, tiếng Ấn Độ… khiến mọi người đều sửng sốt. Ban đầu cậu học qua bạn học và từ điển, rồi sau đó tự tìm ra quy luật ngữ pháp để học ngoại ngữ nhanh chóng hơn.

Đứng đầu lớp, cậu Ký được sang học ở Chủng viện Dulalma ở Penang, Mã Lai. Trong khoảng thời gian theo học tại đây, cậu học thêm các thứ tiếng khác như tiếng Anh, Tây Ban Nha, Mã Lai, Hy Lạp, Pháp…

Giữa hai dòng nước và nỗi oan trăm năm

Mặc dù được các cha tạo điều kiện sang La Mã học để làm linh mục nhưng thầy Petrus Ký quyết định trở về nước để chịu tang mẹ. Ông được giới thiệu làm thông ngôn cho Pháp và dạy tại trường thông ngôn do Pháp mở.

Ông được gọi theo phái đoàn Pháp bàn nghị hòa với triều đình rồi được đại thần Phan Thanh Giản gọi theo làm phiên dịch trong chuyến sang Pháp xin chuộc ba tỉnh miền Đông. Sau này ông lãnh nhiều chức vụ khác liên quan đến việc dạy ngôn ngữ cho người Pháp cũng như triều đình.

Petrus Ký được phong danh hiệu viện sĩ của Viện Hàn lâm Pháp và chức hàn lâm viện thị giảng học sĩ. Ngoài viết hơn 120 quyển sách, một con số khổng lồ, Trương Vĩnh Ký còn xin phép xuất bản tờ Gia Định báo, tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam vào năm 1865 và được xem như ông tổ nghề báo Việt Nam.

Mộ Petrus Ký bên cạnh vợ và con. Ảnh: PTG

Ông chỉ làm công việc phiên dịch và dạy ngôn ngữ, góp phần vào việc kết nối Việt Nam với văn hóa các nước nhưng lại bị nghi ngờ từ cả hai phía. Mặc dù làm việc cho Pháp nhưng ông không chịu nhập quốc tịch Pháp. Đã vậy trong sách của ông viết, ông vẫn gọi Pháp là “giặc”.

Do vậy, ông bị Pháp nghi ngờ, không tin tưởng. Mặt khác, việc ông theo đạo Công giáo cũng bị phía triều đình nghi ngờ. Pháp xem ông như một người “hai mang”, còn người Việt xem ông là Việt gian.

Lúc cuối đời, ông bị cả hai bên ghẻ lạnh, thậm chí trù dập.. Những năm tháng cuối đời ông sống trong cảnh buồn bã và nghèo khó.

Cuộc đời ông Trương Vĩnh Ký như đứng bên hai dòng nước, có nhân sĩ viết sách lên án ông nhưng cũng có những người vận động đúc tượng ông để ghi công. Nỗi oan của ông kéo dài cả trăm năm sau khi chết. Những con đường hay ngôi trường mang tên ông đã bị đổi tên, tượng của ông bị tháo dỡ, cất trong bảo tàng…

Cảm thấy mình bị oan ức, ông chỉ biết than thở qua những vần thơ lúc lâm chung, có hai câu cuối:

Cuốn sổ bình sanh công với tội, Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.

Các nhà ngôn ngữ học của nước Pháp vô cùng ngạc nhiên
Tất cả nhà ngôn ngữ học của nước Pháp vô cùng ngạc nhiên trước cuốn Khảo luận về các ngôn ngữ phương Đông bởi tính độc đáo của nó. Lần đầu tiên, một người bản xứ như Trương Vĩnh Ký lại có cái nhìn về “bác ngữ học” nhằm bày tỏ cho những nhà ngôn ngữ học châu Âu nhiều tư liệu và đánh giá rất khoa học. Cuốn khảo luận này chắc chắn mau chóng nâng bạn lên hàng những nhà ngôn ngữ học thế giới. Và các nhà ngôn ngữ học của Pháp sẽ coi bạn là niềm tin tự hào của chính mình…
Nhà văn hóa Pháp LITTRÉ

PHẠM TRƯỜNG GIANG

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 20
  • Page 21
  • Page 22
  • …
  • Page 86
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ
11/02/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA GIÁNG SINH 2025
20/12/2025
THƯ GỬI ANH CHỊ EM GIÁO CHỨC CÔNG GIÁO NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20.11.2025  
17/11/2025
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.