Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Chia sẻ

Home / Giáo dục / Chia sẻ
18Tháng Năm
2023

Người Việt đầu tiên soạn từ điển là Công giáo

18/05/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Người Việt đầu tiên soạn từ điển là Công giáo

Đã 113 năm từ khi ông Huỳnh Tịnh Của qua đời. Cuộc đời, sự nghiệp và công trạng của ông đối với việc phát triển chữ quốc ngữ đã được lịch sử ghi nhận và tri ân. Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều điều bí ẩn quanh cuộc đời ông chưa tìm được lời giải. Ông chính là người Việt đầu tiên biên soạn từ điển.

Tên của ông là Huỳnh Tịnh Của, ông còn có ngoại hiệu là Tịnh Trai và tên thánh là Paulus, tức là ghi theo tiếng Latin hay tiếng Đức, còn Việt Nam phiên âm đọc là Phaolô.

Tác phẩm Đại Nam Quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của liên tục được các thế hệ tái bản, nghiên cứu.

Bậc kỳ tài nhiều bí ẩn

Lẽ thường với người Công giáo, tên thánh sẽ đặt trước tên thật (hoặc cả họ tên) và ông Của đã nhiều lần sử dụng cách đặt tên này trong các tác phẩm của ông, như ký tên là Paulus Của hoặc P. Của, có sách ông ký tên là Paulus Của Huình-Tịnh.

Thế nhưng, trên một số tác phẩm, trong đó tác phẩm nổi tiếng Đại Nam quốc âm tự vị, ông lại ký tên là Huình- Tịnh Paulus Của, một cách đặt tên hoàn toàn khác với mọi người, thậm chí khác với chính cách đặt tên của ông trước đó. Họ của ông, ông không viết chữ Huỳnh, mà viết là Huình. Thậm chí trong tác phẩm Trần Sanh diễn ca, ông ký tên là Hoàng-Tịnh Paulus Của.

Năm sinh của ông có những thông tin khác nhau, quê quán của ông cũng chưa được xác định rõ. Ngay cả khi đi tu, học đến chức thầy Tư rồi hoàn tục cưới vợ không rõ vì sao. Tác phẩm của ông cũng bị nhầm lẫn nhiều, nghề nghiệp báo chí cũng chưa được xác định rõ ràng về thời điểm, chức vụ.

Thậm chí, ngay cả hình dáng của ông thế nào cũng không ai rõ vì không có ảnh hay truyền thần lưu lại như những bạn bè đương thời.

Làm việc cho Pháp mà không bị coi là Việt gian

Theo tài liệu được đánh giá khá xác tín là luận văn thạc sĩ của ông Nguyễn Văn Y tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn thì Huỳnh Tịnh Của sinh năm 1830 tại làng Phước Tuỵ, tỉnh Bà Rịa. Đây là vùng giáo dân chạy nạn trong các cuộc đàn áp đạo trước đó về nương náu. Do từ nhỏ ông tỏ ra thông minh, hiếu học nên năm 12 tuổi được gửi sang tu học ở Penang Malaysia cho đến khi xuất tu về quê lập gia đình.

KHÔNG HỀ BỊ AI BẮT BUỘC, MÀ CHỈ BẰNG LÒNG ĐAM MÊ MỚI CÓ THỂ KHIẾN ÔNG KIÊN TRÌ TẠO RA NHỮNG TÁC PHẨM CÓ GIÁ TRỊ ĐỂ ĐỜI CHO HẬU THẾ. TRONG ĐÓ CÓ TÁC PHẨM BIÊN KHẢO NỔI TIẾNG ĐẠI NAM QUỐC ÂM TỰ VỊ.

Ông được đánh giá là giỏi cả tiếng Pháp, Hán, Latin và chữ Quốc ngữ vốn còn mới mẻ lúc đó.

Khi Pháp tấn công và chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ năm 1862, nhiều văn thân sĩ phu nếu không tham gia vào các phong trào khởi nghĩa chống Pháp thì cũng dùng ngòi bút để đả kích chống ngoại xâm.

Còn Paulus Của lại quyết định ra làm việc với Pháp. Vào thời điểm đó việc cộng tác với Pháp được người Việt xem là hành vi phản quốc, là Việt gian. Thế nhưng đến nay dù có vài ý kiến khác nhau nhưng Huỳnh Tịnh Của vẫn không bị gán cho tội danh đó.

Lý do là khi điểm lại cuộc đời của Huỳnh Tịnh Của, người ta có thể nhận thấy ông làm việc với Pháp chỉ làm thông ngôn, dù được ăn lương khá cao nhưng ông không hề cai trị ai cả chứ đừng nói tham gia đàn áp. Ông chỉ làm cầu nối về mặt ngôn ngữ.

Thứ nữa, Huỳnh Tịnh Của luôn mong mỏi và khát khao đem các kiến thức về học thuật và kỹ thuật của Tây phương vào để canh tân đất nước nhưng vẫn giữ gìn bản sắc của dân tộc và văn hóa truyền thống nước nhà.

Ông là người có công rất lớn đã nhen nhóm nền văn học, đặc biệt là chữ Quốc ngữ trong những bước đầu ở Nam Kỳ. Là người có lòng yêu quý ngôn ngữ và các tác phẩm văn học nước nhà, ông sưu tầm các áng văn hay của người xưa bằng cách ghi chép lại các câu hát góp, thành ngữ, tục ngữ, gia ngôn.

Ông dịch thuật rất nhiều tác phẩm nước ngoài sang chữ Quốc ngữ để người dân dễ đọc, như Quan âm diễn ca, Trần Sanh diễn ca, Chiêu Quân cống Hồ truyện, Bạch Viên Tôn Các truyện, Văn Doanh diễn ca, Thoại Khanh Châu Tuấn truyện, Thơ mẹ dạy con, Tống Tử Vưu truyện… Ngoài ra ông cũng biên soạn các cuốn: Phép toán, Phép đo, Maximes et proverbers, Gia Lễ, Chuyện giải buồn, Bác học sơ giải, Sách quan chế, Tân soạn từ trát nhất xấp…

Công trình thế kỷ

Đại Nam quốc âm tự vị được ông miệt mài viết trong bốn năm, bao gồm hai tập, dày tổng cộng trên 1.200 trang, xuất bản từ năm 1895 tại Sài Gòn. Trong đó liệt kê và chú giải rất nhiều từ ngữ tiếng Việt kèm theo chữ Hán và cả chữ Nôm.

Trước đó, nước ta chưa có quyển từ điển nào giải nghĩa tiếng Việt bằng tiếng Việt. Điểm đặc biệt là thành phần từ ngữ, tục ngữ của Đại Nam quốc âm tự vị rất phong phú nhưng cơ bản là những từ ngữ rất phổ thông, những câu cửa miệng vốn được người dân Việt lúc đó sử dụng hằng ngày. Mỗi từ, mỗi chữ đều được ông giải nghĩa rõ ràng, ngắn gọn không dài dòng, rất dễ hiểu.

Thông qua hai tập sách, người ta có thể nhận thấy sự giàu có và phong phú của ngôn ngữ Việt Nam, có những câu chữ mà xưa nghĩa khác và nay nghĩa khác. Nếu không có tác phẩm của ông, chúng ta không được biết đến rất nhiều câu chữ, từ ngữ độc đáo của người Việt mà nay đã không còn được sử dụng nữa.

Khi còn sống, Huỳnh Tịnh Của khiêm tốn giải thích công trình của mình không phải là tự điển mà chỉ là tự vị: Có kẻ hỏi tự điển, tự vị khác nhau thế nào? Sao sách ta làm kêu là tự vị mà không gọi là tự điển?… Tự điển, tự vị khác nhau có một sự rộng hẹp. Tự điển phải có chú giải, mỗi chữ, mỗi tiếng đều phải dẫn điển, dẫn tích, nguyên là chữ sách nào, nguyên là lời ai nói, cả thảy đều phải có kinh truyện làm thầy; chí như tự vị cũng là sách hội biên các thứ chữ, cùng các tiếng nói, song trong ấy thích chữ một, nghĩa một, mà không dẫn điển tích gì”. Nhưng sau này một số nhà nghiên cứu vẫn cho rằng tác phẩm của ông xứng đáng được gọi là tự điển.

Nhà báo thứ hai của Việt Nam

Năm 1869 Trương Vĩnh Ký được người Pháp chuyển giao thực hiện tờ Gia Định báo với vai trò giám đốc. Đây là tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam thời bấy giờ. Người đứng vai trò chủ bút chính là Huỳnh Tịnh Của.

Tờ Gia Định báo ông Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút.

Tại sao lại là ông Của mà không là ai khác? Vì ông Perus Ký đề ra ba mục tiêu chính cho tờ báo là truyền bá chữ quốc ngữ, cổ động tân học và khuyến học trong dân chúng, bằng cách thêm các phần khảo cứu, nghị luận, gồm các bài dịch thuật, sưu tầm, sáng tác thơ, văn, lịch sử, truyện cổ tích…

Những phần này đòi hỏi chủ bút phải là người có học vấn uyên thâm về văn hóa Việt Nam, phải giỏi chữ Hán và chữ Quốc ngữ, đồng thời có kiến thức Tây học (để dịch các tài liệu về vấn đề chính trị, pháp lý, công quyền qua các bài đăng công văn, nghị định, thông tư, đạo dụ của chính quyền).

Sau khi viết báo xong xuôi, lại phải dịch ngược lại tiếng Pháp để nhà cầm quyền Pháp kiểm duyệt… Cho nên ông Huỳnh Tịnh Của là người đủ năng lực để thực hiện công việc này.

Làm chủ bút nhưng ông Của viết rất nhiều, lý do là ông Perus Ký bận việc (thông ngôn, dạy học, viết sách…) nên không có thời gian nhiều cho báo chí, thành ra ông Của cáng đáng tờ Gia Định báo đến tận năm 1880 mới ngưng viết.

Tính ra ông cũng có thâm niên đáng kể với nghề báo và chỉ đứng sau ông Perus Ký khi đặt chân vào lĩnh vực mới mẻ này.

Một con người liêm khiết, thanh bạch
Ông Huỳnh Tịnh Của vào ngạch quan viên từ năm 1862. Sau nhiều lần thăng chức, ông được thăng Đốc phủ sứ năm 1884. Làm Giám đốc Ty Phiên dịch văn án ở soái phủ Sài Gòn, ông có chân trong Ban Biên tập bán nguyệt san Revue Indochinoise. Ông nhiều lần làm giám khảo trong các cuộc thi về Hán và Việt văn, được thống đốc Nam Kỳ cử làm hội viên trong hội đồng bàn nghị về Sở Nghĩa địa làng trong các hạt Nam Kỳ.
Tuy vậy ông sống rất thanh bạch, được thực dân Pháp hậu đãi, có quyền chức lớn nhưng ông tỏ ra là một người khiêm tốn, giản dị. Nhà nghiên cứu Nguyễn Liên Phong sống cùng thời đã mô tả ông: “Hình dung nho nhã, tánh nết cẩn thận hiền lành… làm công chức cao mà nhà vẫn thanh bần. Đã quá tuổi hưu trí mà Nhà nước đoái tưởng ngài tuổi lớn nhà nghèo, cho làm luôn”.

PHẠM TRƯỜNG GIANG

Read More
18Tháng Năm
2023

Trương Vĩnh Ký: Ông tổ nghề báo Việt Nam

18/05/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Trương Vĩnh Ký: Ông tổ nghề báo Việt Nam

Ngày nhỏ thường chạy xe đạp qua giao lộ Trần Hưng Đạo – Trần Bình Trọng, tôi rất ngạc nhiên khi thấy một ngôi nhà mồ nằm trên một khu đất rộng ngay mặt tiền đắc địa. Mãi đến sau này đi làm báo mới biết đó là nhà mồ của nhà bác học người Công giáo Petrus Trương Vĩnh Ký, người khai sinh ra tờ báo đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ: Gia Định Báo.

Khuôn viên rộng 2.000 m2 vẫn được giữ nguyên nét cổ kính hoang sơ như cả trăm năm trước. Những hàng cây tán rộng, những mảng sân xi măng loang lổ tróc vữa. Gần giữa trưa nhưng khuôn viên vẫn râm mát do cây me ngay cửa ra vào tỏa bóng rộng.

Nhà bác học Trương Vĩnh Ký

Ngôi nhà mồ cổ hiu quạnh

Tôi vào một ngôi nhà kiểu cổ, bên trong vẫn mang nét kiến trúc cổ điển đậm chất Việt để tìm ông Trương Minh Đạt là hậu duệ đời thứ tư của cụ Petrus Ký, cũng là người được giao nhiệm vụ trông coi quản lý đất hương hỏa.

Ông Đạt lấy chìa khóa để mở cổng nhà mồ cho tôi vào tham quan, đồng thời giải thích thắc mắc. Đây nguyên là phần đất của gia đình, do đích thân cụ Trương Vĩnh Ký tổ chức xây dựng. Đường Trần Hưng Đạo trước đây là đại lộ Gallieni vốn là một con kênh bị lấp đi thành đường để nối Sài Gòn và Chợ Lớn.

Từ khu đất này nhìn qua thấy rạch Bến Nghé cách đó không xa. Nhà xây ngoài mục đích để ở còn là nơi để dạy học, tiếp khách và làm việc trong những năm cuối đời của cụ Trương Vĩnh Ký. Bên ngoài căn nhà gỗ mái âm dương, phía trước nhà đặt một hòn non bộ lớn, thú tiêu khiển đặc trưng của nhà vườn Nam Bộ xưa.

Sau khi cụ Trương mất, thi hài được mai táng trong căn nhà mồ đã được xây dựng ngay từ lúc cụ còn sống. Một phong cách rất Việt, người già thường sắm sửa trước cỗ áo quan cho ngày ra đi của chính mình. Trên nhà mồ còn ghi rõ ngày hoàn thành là tháng 12-1898, tức là năm cụ Trương mất.

Đến năm 1937, nhân dịp giỗ lần thứ 39 của cụ, con cháu trùng tu lại di tích, xây thêm tường gạch kiên cố bên ngoài, còn mọi thứ vẫn giữ nguyên.

Ngôi nhà mồ không quá to lớn, hình bát giác, nhìn trên cao xuống như hoa thị. Bên trong thiết kế bằng phẳng với lớp gạch bông Hoàng Hậu cũ vẫn còn nguyên, kể cả ba ngôi mộ đều theo phong cách Tây không đắp cao mà phẳng với nền nhà.

Ngôi mộ cụ Trương đặt ở giữa, hai bên là mộ của người vợ được ghi tên theo phong cách xưa là Maria Trương Vĩnh Ký (nhũ danh Vương Thị Thọ) và người con trai cả Trương Vĩnh Thế. Bia mộ trang trí rất đơn giản, chỉ có viền hoa văn hình lá ở ngoài. Bia mộ cụ Trương được làm bằng đá trắng, còn của vợ và con thì làm bằng đá hoa cương đỏ, bị nứt nẻ khá nhiều.

Mặc dù bia mộ theo phong cách Tây nhưng trần nhà mồ lại vẽ một con kỳ lân cùng các hoa văn cách điệu ngọn lửa giống trong chén đĩa cổ. Ngôi nhà mồ là một kiến trúc kết hợp phong cách Đông-Tây, Á-Âu rất hài hòa dù diện tích chỉ vẻn vẹn chưa đầy 50 m2.

Trong khuôn viên còn độ 60 ngôi mộ nữa là con cháu của cụ. Các ngôi mộ được đặt sát cạnh nhau và đều không có nhà mồ.

Ông Đạt cho biết nhà mồ cụ Trương mới được trùng tu năm năm trước, gia đình không sửa chữa thay thế gì cả, chỉ sơn quét lại và tô vẽ các hoa văn đã bị mờ y như cũ. “Thỉnh thoảng mới có người lại viếng cụ, cô hiệu trưởng Trường Lê Hồng Phong (Petrus Ký cũ) cũng mang hoa lại đây” – ông Đạt kể lại.

Ngôi nhà mồ cụ Trương Vĩnh Ký. Ảnh: PTG

Thần đồng ngôn ngữ

Lịch sử Việt Nam từng có nhiều thần đồng kiệt xuất như Mạc Đĩnh Chi, Lê Quý Đôn… nhưng giai đoạn cận đại mới có một người đặc biệt như Trương Vĩnh Ký. Sinh ra trong một gia đình quan lại, cha là Lãnh binh Trương Chánh Thi mất sớm khi nhậm chức tại Nam Vang, cậu Ký sống với mẹ và đã bộc lộ khả năng sáng dạ, nghe hay đọc qua một lần là thuộc.

Ba tuổi, cậu học thuộc sách Tam Tự Kinh, đến sáu tuổi đã thông hiểu Minh Tâm Bửu Giám, thuộc nhiều bài thơ đời Đường, đời Tống, kể cả các bài ca dao dài mà người lớn không nhớ nổi… Cậu đọc cả Tứ Thư, Ngũ Kinh và trích dẫn trong các tình huống ứng xử hằng ngày khiến mọi người đều kinh ngạc.

VỚI KHẢ NĂNG SỬ DỤNG 26 NGOẠI NGỮ, TRONG ĐÓ CÓ 15 NGÔN NGỮ CHÂU ÂU VÀ 11 NGÔN NGỮ PHƯƠNG ĐÔNG, TRƯƠNG VĨNH KÝ ĐƯỢC XEM LÀ MỘT TRONG 18 BÁC HỌC NỔI TIẾNG Ở THẾ KỶ XIX.

Gia cảnh khó khăn, cậu sớm được các linh mục chú ý nhận nuôi dưỡng, cho theo đạo, đặt tên là Petrus Ký rồi dạy tiếng Latin và chữ quốc ngữ. Đến khi triều đình cấm đạo gay gắt, cậu được một linh mục người Pháp tên là Bouilleaux (tên Việt là Cố Long) đưa sang Chủng viện Pinha-lu bên Cao Miên để lánh nạn.

Chủng viện Pinha-lu tập hợp 25 chủng sinh xuất sắc từ các chủng viện khác, tuổi 13-15. Khi ấy cậu Ký chỉ mới 11 tuổi nhưng biết tiếng Latin xuất sắc nhất. Trong quá trình giao tiếp với các chủng sinh nước ngoài, cậu Ký nhanh chóng học luôn các thứ tiếng Nhật, tiếng Hán, tiếng Thái của các bạn cùng lớp.

Qua năm sau, cậu nói được tiếng Lào, tiếng Miên, tiếng Ấn Độ… khiến mọi người đều sửng sốt. Ban đầu cậu học qua bạn học và từ điển, rồi sau đó tự tìm ra quy luật ngữ pháp để học ngoại ngữ nhanh chóng hơn.

Đứng đầu lớp, cậu Ký được sang học ở Chủng viện Dulalma ở Penang, Mã Lai. Trong khoảng thời gian theo học tại đây, cậu học thêm các thứ tiếng khác như tiếng Anh, Tây Ban Nha, Mã Lai, Hy Lạp, Pháp…

Giữa hai dòng nước và nỗi oan trăm năm

Mặc dù được các cha tạo điều kiện sang La Mã học để làm linh mục nhưng thầy Petrus Ký quyết định trở về nước để chịu tang mẹ. Ông được giới thiệu làm thông ngôn cho Pháp và dạy tại trường thông ngôn do Pháp mở.

Ông được gọi theo phái đoàn Pháp bàn nghị hòa với triều đình rồi được đại thần Phan Thanh Giản gọi theo làm phiên dịch trong chuyến sang Pháp xin chuộc ba tỉnh miền Đông. Sau này ông lãnh nhiều chức vụ khác liên quan đến việc dạy ngôn ngữ cho người Pháp cũng như triều đình.

Petrus Ký được phong danh hiệu viện sĩ của Viện Hàn lâm Pháp và chức hàn lâm viện thị giảng học sĩ. Ngoài viết hơn 120 quyển sách, một con số khổng lồ, Trương Vĩnh Ký còn xin phép xuất bản tờ Gia Định báo, tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam vào năm 1865 và được xem như ông tổ nghề báo Việt Nam.

Mộ Petrus Ký bên cạnh vợ và con. Ảnh: PTG

Ông chỉ làm công việc phiên dịch và dạy ngôn ngữ, góp phần vào việc kết nối Việt Nam với văn hóa các nước nhưng lại bị nghi ngờ từ cả hai phía. Mặc dù làm việc cho Pháp nhưng ông không chịu nhập quốc tịch Pháp. Đã vậy trong sách của ông viết, ông vẫn gọi Pháp là “giặc”.

Do vậy, ông bị Pháp nghi ngờ, không tin tưởng. Mặt khác, việc ông theo đạo Công giáo cũng bị phía triều đình nghi ngờ. Pháp xem ông như một người “hai mang”, còn người Việt xem ông là Việt gian.

Lúc cuối đời, ông bị cả hai bên ghẻ lạnh, thậm chí trù dập.. Những năm tháng cuối đời ông sống trong cảnh buồn bã và nghèo khó.

Cuộc đời ông Trương Vĩnh Ký như đứng bên hai dòng nước, có nhân sĩ viết sách lên án ông nhưng cũng có những người vận động đúc tượng ông để ghi công. Nỗi oan của ông kéo dài cả trăm năm sau khi chết. Những con đường hay ngôi trường mang tên ông đã bị đổi tên, tượng của ông bị tháo dỡ, cất trong bảo tàng…

Cảm thấy mình bị oan ức, ông chỉ biết than thở qua những vần thơ lúc lâm chung, có hai câu cuối:

Cuốn sổ bình sanh công với tội, Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.

Các nhà ngôn ngữ học của nước Pháp vô cùng ngạc nhiên
Tất cả nhà ngôn ngữ học của nước Pháp vô cùng ngạc nhiên trước cuốn Khảo luận về các ngôn ngữ phương Đông bởi tính độc đáo của nó. Lần đầu tiên, một người bản xứ như Trương Vĩnh Ký lại có cái nhìn về “bác ngữ học” nhằm bày tỏ cho những nhà ngôn ngữ học châu Âu nhiều tư liệu và đánh giá rất khoa học. Cuốn khảo luận này chắc chắn mau chóng nâng bạn lên hàng những nhà ngôn ngữ học thế giới. Và các nhà ngôn ngữ học của Pháp sẽ coi bạn là niềm tin tự hào của chính mình…
Nhà văn hóa Pháp LITTRÉ

PHẠM TRƯỜNG GIANG

Read More
02Tháng Năm
2023

GIA ĐÌNH KHÁC ĐẠO

02/05/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

 

GIA ĐÌNH KHÁC ĐẠO

 

Hỏi: Con được sinh ra trong gia đình có Bố là người bên lương và Mẹ là người Công giáo. Bố con vẫn giữ những nghi thức cúng bái, đưa tang, ăn cơm cúng… Bà nội con thường đi gặp Thầy ở Chùa để xin giải hạn cho con. Con đã được rửa tội, và hiểu rõ những bối rối của Mẹ con. Vậy, chúng con có được tham gia những nghi thức mà Bố và Bà con tham gia không?

Trả lời:

Đây là một câu hỏi thường gặp, vì thật ra trường hợp của gia đình bạn không phải là trường hợp hoạ hiếm ngày nay. Sau hơn 400 năm Tin Mừng đến Đất Việt, người Công giáo ở thời điểm hiện tại vẫn chỉ là một thiểu số trong lòng dân tộc Việt Nam. Trước đây, Đạo Công giáo ở Việt Nam đã phải trải qua một thời gian dài sống khép và kín theo hướng tự vệ. Khi đó người Công giáo chỉ được phép lấy người Công giáo và không có nhiều gia đình sống theo hôn nhân khác đạo. Nhưng khi cuộc sống mở ra, nhất là khi Giáo hội Công giáo Việt Nam đã chọn “sống đức tin giữa lòng dân tộc”, nhiều khả thể khác được mở ra với các gia đình Công giáo. Hôn nhân khác đạo đã không còn là chuyện quá lạ lùng hay cấm kỵ.

Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là phủ nhận những khó khăn và thử thách trong đời sống đạo của hai mẹ con bạn. Mẹ của bạn đã theo tiếng gọi của con tim, đã can đảm chọn đi một con đường khó. Trên con đường ấy, nỗ lực gìn giữ đức tin và việc nuôi dưỡng bạn lớn lên theo truyền thống Công giáo là điều rất đáng trân trọng. Những bối rối và trăn trở của cả hai mẹ con bạn trong trong việc làm sao để sống đúng đức tin của mình cho chính đáng và phù hợp cũng là điều rất đáng trân trọng.

Để phần nào giãi gỡ những bối rối và trăn trở ấy, trước hết, chúng ta cần nhận ra những điều tích cực trong gia đình của bạn.

Nếu ngay từ đầu, bố mẹ của bạn và gia đình nội ngoại hai bên đã đồng thuận trong việc Đạo ai nấy giữ, đồng thời Giáo hội đã chuẩn nhận việc hôn nhân khác đạo, thì điều quan trọng nhất là việc thực hành đức tin riêng của mỗi bên cần phải được tôn trọng, đúng không? Bạn đã được cho rửa tội để làm người Công giáo, nghĩa là gia đình bên nội đã có một sự tôn trọng nhất định đối với mẹ bạn và tôn giáo của mẹ bạn rồi. Việc chấp thuận để cho bạn được rửa tội và được giáo dục theo đức tin Công giáo cũng cho thấy gia đình bên nội cũng đã giữ lời hứa so với cam kết ban đầu của mình. Nếu hai mẹ con bạn đã có đủ tự do để sống đức tin Công giáo của mình, bố của bạn cũng xứng đáng có được sự tự do ấy để sống đức tin của mình, phải không?

Vì thế, việc bố của bạn theo những nghi thức của Phật Giáo, hay của niềm tin tự nhiên theo truyền thống gia đình bên nội, là điều cần được tôn trọng. Việc thực hành những nghi thức cúng bái, đưa tang, ăn cơm cúng… cho thấy bố của bạn là một người có đời sống tâm linh, có tâm tình tôn giáo. Đây là phẩm chất rất quý của con người sống trong thời hiện đại. Cũng vậy, việc bà nội đi Chùa cầu siêu cho cháu của mình cũng là một điều chính đáng, phải không? Đó là cách bà thể hiện tình thương và sự chăm sóc cho cháu mình. Bạn nên nhận sự quan tâm và chăm sóc ấy, nên cám ơn bà nội của mình về điều ấy. Hơn nữa, cả gia đình bên nội của bạn theo Phật Giáo, chắc chắn những ngày giỗ chạp hay đám tiệc của nhà nội sẽ phải được tổ chức theo nghi thức tôn giáo của bên ấy. Đối với những nghi thức ấy, bạn nên có sự tôn trọng đúng mực.

Sự hiện diện của mẹ con bạn với cả đại gia đình trong những dịp họp mặt và lễ truyền thống như thế là cách sống sự hiệp thông và nuôi dưỡng tình thân gia đình. Đó là một phần của gia đình mà mẹ bạn đã chọn để sinh bạn ra và nuôi dưỡng bạn lớn lên. Vì vậy, hai mẹ con bạn không nên tự tách mình ra khỏi bầu khí gia đình chỉ vì lý do khác biệt về tôn giáo. Bởi lẽ, nếu nại vào lý do khác biệt tôn giáo để hai mẹ con bạn sống tách biệt và cô lập, thì hoá ra tôn giáo lại trở thành duyên cớ của sự phân biệt và chia rẽ trong cùng một gia đình hay sao?

Cần phân biệt rõ rằng việc vái hương hay cúi đầu tỏ lòng tôn kính trước Đức Phật không phải là việc tôn thờ ngẫu tượng. Cũng giống như việc người Công giáo thắp nhang và cúi đầu trước bàn thờ của ông bà tổ tiên: đó là cách thể hiện lòng hiếu thảo và tôn kính, chứ không phải là tôn thờ. Chúng ta chỉ tôn thờ một mình Thiên Chúa. Trong đức tin của chúng ta, Đức Phật là một Đấng đáng kính, đáng để chúng ta bày tỏ lòng kính ngưỡng mộ và tôn trọng.

Thêm nữa, có thể phân biệt rằng tham dự thì khác với tham gia. Bạn có thể tham dự vào những nghi lễ trong gia đình bên nội bằng sự hiện diện và sự tôn trọng, bằng mối dây hiệp thông gia đình. Nhưng sự tham dự ấy không có nghĩa là bạn tham gia vào việc thờ phượng của một tôn giáo khác. Bởi vì bạn mang một đức tin khác, một văn hoá khác, lòng của bạn hướng về một Đấng khác.

Chúng ta thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất. Tuy nhiên, cần nhớ rằng việc thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất không loại trừ và cấm chúng ta bày tỏ lòng tôn kính đối với những bậc đáng kính, dù là trong tôn giáo mình hay trong các tôn giáo bạn. Cần nhìn nhận rõ ràng rằng những người thuộc các tôn giáo khác không phải là đối thủ, càng không phải là kẻ thù nguy hiểm cho đức tin chúng ta. Chúng ta luôn có thể chung sống trong an bình và dành cho nhau sự tôn trọng sâu sắc với những người khác niềm tin với chúng ta. Đó là cách để chúng ta xây dựng một thế giới hoà bình. Thế giới ấy khởi đi từ chính gia đình của bạn.

Đây là lời khuyên quan trọng dành cho bạn: khi bạn và mẹ của bạn đã cùng chia sẻ với gia đình bên nội những sinh hoạt của họ, thì thỉnh thoảng cũng nên mời họ tham dự vào các sinh hoạt cầu nguyện của bên mình, phải không? Nếu bạn đã cùng tham dự những buổi cầu nguyện với gia đình nhà nội, bạn có từng thử cũng mời họ tham dự giờ cầu nguyện và giải thích cho họ về ý nghĩa của việc cầu nguyện trong đạo Công giáo không? Nếu bạn đã một vài lần đến Chùa cùng với bố và nội, bạn có từng thử mời họ một vài lần đến Nhà Thờ với mình không? Chẳng hạn: vào những dịp quan trọng như Giáng Sinh, Phục Sinh, các buổi diễn nguyện thánh ca, hay các hoạt động bác ái xã hội… Đã bao giờ bạn thử mời bố cùng tham dự vào giờ kinh tối, phút hồi tâm cuối ngày, hay một giờ trầm lắng cầu nguyện nào đó với mẹ con bạn không?

Mục đích của chúng ta ở đây không phải là việc “dụ khị” bố của bạn hay nhà bên nội của bạn vào đạo Công giáo. Mục đích chính ở đây, trước hết là giúp cho bố bạn và nhà bên nội có cơ hội để hiểu và có thiện cảm với Đạo của mẹ con bạn. Đừng trình bày với gia đình bên nội về Đạo của mình như là Đạo cho phép làm điều này, cấm làm điều kia… như thể Đạo chỉ là một bộ luật và một mớ nguyên tắc. Hãy giới thiệu cho họ về một Thiên Chúa là Cha bao dung và yêu thương, một Thiên Chúa không nhất thiết phải luôn luôn đòi hỏi và áp đặt, một Thiên Chúa dám đặt niềm tin của mình vào tự do của con người.

Biết cách sống tốt đức tin của mình trong gia đình, biết bám rễ từ tinh thần đại đồng Kitô giáo để xây dựng hạnh phúc gia đình, biết đâu bạn và mẹ của bạn có thể thuyết phục được bố và chia sẻ được với bố về niềm tin của mình thì sao! Chân lý luôn có cách tự tỏ lộ mình. Sau khi bạn đã làm hết mọi sự tốt đẹp trong khả năng của mình, phần còn lại Chúa sẽ lo. Cao Gia An, S.J.

Read More
30Tháng Tư
2023

Nên đeo nhẫn cưới ở tay nào?

30/04/2023
Anmai
Chia sẻ, Giáo dục
0

Nên đeo nhẫn cưới ở tay nào?

Anna Ashkova
Mọi người thường đeo nhẫn cưới ở ngón tay thứ tư, tuy nhiên đeo nó ở bàn tay nào tùy thuộc vào từng nơi.
Người ta thường đeo nhẫn cưới ở ngón tay thứ tư, thường được gọi là “ngón áp út”. Tuy nhiên bàn tay để đeo nhẫn thì khác nhau giữa các quốc gia. Đúng vậy, tùy thuộc vào phong tục và truyền thống, trong thế giới Công giáo, nhẫn cưới có thể được đeo ở tay trái hoặc tay phải.
Vào thời cổ đại, thời Hippocrates, các bác sĩ người Hy Lạp tin rằng ngón tay thứ tư của bàn tay trái được kết nối trực tiếp với trái tim, vì các tĩnh mạch bao quanh nó, một trong số đó được gọi là “tĩnh mạch tình yêu” (vena amoris). Cho nên, còn nơi nào tốt hơn ngón tay này – ngón đeo nhẫn bên trái – để tượng trưng cho sự kết hợp và tình yêu của hai người?
Đó là lý do tại sao ở thế giới phương Tây, hầu hết mọi người đều đeo nhẫn cưới trên tay trái, mặc dù khoa học đã chứng minh từ lâu rằng không có gì đặc biệt về tĩnh mạch ở ngón áp út của bàn tay trái.
Trong khi ở Mỹ, Canađa, Bồ Đào Nha, Pháp, Ý, Slovakia, Thụy Sĩ, Croatia và Slovenia, và một số nước khác, các cặp vợ chồng đều đeo nhẫn cưới bên tay trái, thì ở Ukraine, Ba Lan, Tây Ban Nha, Colombia, Peru, Venezuela và thậm chí ở Cuba, nhẫn cưới được đeo vào ngón áp út của bàn tay phải. Ở một số nơi, bàn tay phải được ưa chuộng hơn vì Kinh Thánh đã mô tả bên phải cơ thể là phần tốt nhất: “Lạy CHÚA, tay hữu Ngài đã biểu dương sức mạnh. Tay hữu Ngài, lạy CHÚA, đã nghiền nát địch quân” (Xh15,6).
Có câu trả lời đúng hoặc sai không?
Linh mục Pierre-Marie Castaignos, người thường xuyên làm việc với các cặp đôi đã đính hôn, nói với chúng tôi: “Không có một tuyên bố thần học nào về sự kiện này. Tay trái hay tay phải… Biểu tượng không phải là bàn tay đeo nhẫn ​​mà là chính chiếc nhẫn”.
Chiếc nhẫn có ý nghĩa tượng trưng mạnh mẽ của riêng nó: chúng là biểu tượng của sự chung thủy trong hôn nhân. Trong bí tích hôn nhân chúng mang ý nghĩa riêng biệt trong tương quan với mầu nhiệm trung thành của Thiên Chúa với dân của Người trong Chúa Kitô. Một trong những công thức mà linh mục có thể sử dụng để chúc lành cho những chiếc nhẫn của cô dâu và chú rể là:
Lạy Chúa xin chúc phúc cho những chiếc nhẫn này, mà chúng con làm phép nhân danh Chúa.
Xin Chúa ban cho những ai đeo nhẫn này luôn có niềm tin son sắt với nhau.
Để họ luôn thực thi ý Chúa và sống với nhau trong bình an, thiện chí và yêu thương.
Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.
Vì vậy việc đeo nhẫn cưới vào tay phải hay trái không quan trọng. “Điều quan trọng là đeo nó như một biểu tượng của sự hiến dâng, yêu thương và chung thủy của đôi vợ chồng”.
G. Võ Tá Hoàng
 

On which hand should you wear your wedding ring?

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 21
  • Page 22
  • Page 23
  • …
  • Page 87
  • Next page
Bài viết mới nhất
THƯ MỜI THAM DỰ HỘI THẢO “NÂNG CAO TINH THẦN DẤN THÂN PHỤC VỤ VÀ TÁI CẤU TRÚC TRƯỜNG MẦM NON CÔNG GIÁO”
28/03/2026
THƯ GỬI SINH VIÊN, HỌC SINH CÔNG GIÁO NHÂN DỊP MỪNG LỄ CHÚA PHỤC SINH 2026
28/03/2026
CHÚNG TA ĐANG SỐNG, HAY CHỈ ĐANG TỒN TẠI?
27/03/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.