2020
Mười chi tộc bị thất lạc của Israel đang hồi hương
Mười chi tộc bị thất lạc của Israel đang hồi hương
Khi Chúa bắt dân Do Thái phải lưu vong khỏi Đất Thánh, khoảng 2.700 năm trước đây, Ngài đã hứa “Sẽ xảy ra là trong ngày ấy: Ðức Chúa lại sẽ giơ tay, chuộc lấy số sót dân Người, những kẻ còn sót lại ở Assur, và Aicập, ở Patros, Kush, Êlam, Shinơar, Khamat, và các hải đảo.” (I-sa-ia 11:11. Bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn).
Ngài đã hứa rằng một ngày nào đó, Ngài sẽ đưa các con cái từ bốn phương trời trở lại quê hương, đất của dân Do Thái: “Người sẽ phất cờ làm hiệu cho các nước, Người sẽ thâu họp lại mưu đồ của Israel, và cho đoàn tụ lại những kẻ tản mác của Yuđa, từ tứ phương thiên hạ.” (I-sa-ia 11:12)
Chúng ta cũng thấy ở sách Ê-giê-ki-el, Chúa đã cho Ê-giê-ki-el nhìn thấy những bộ xương khô được sống lại: “Người mới phán với tôi: “Hãy tuyên sấm trên các xương ấy và nói với chúng: Các xương khô kia, hãy nghe lời của Yavê! Ðức Chúa Yavê phán với các xương ấy: Này Ta sẽ đem thần khí đến trên các ngươi. Và các ngươi sẽ sống.” (Ê-giê-ki-el 37:4-5). Nhiều người Do Thái đã diễn giải khung cảnh này như sự hồi sinh của dân Do Thái và sự hồi hương về lại Đất Hứa. Như những bộ xương khô, chẳng ai tin được rằng còn sức sống, nhưng 10 chi tộc sẽ được hồi sinh và hồi hương để hâm lại sức sống trong đất Do Thái.
Những lời tiên tri bên trên, xem ra như chỉ có trong mơ nhưng cơn mơ đó đã và đang trở thành hiện thực, ngay trong lúc này. Ngược với mọi lý giải của con người, Lời của Chúa đã trở thành sự thật, và dân Do Thái đã và đang hồi hương. Chẳng có nơi nào trên thế giới mà đất đai đã chờ đợi người dân trở lại, và sau 2.000 năm (nói về nhóm phải đi đày sau thời Chúa Giêsu, sau năm 70 AD), đúng như Chúa hứa, mực còn in trên giấy, làm bằng da thú, trong Kinh Thánh.
Những người dân Do Thái hồi hương từ hướng đông như: Iran, Afghanistan, Iraq, Syria và còn nữa. Nhiều người khác đã trở về từ Châu Âu và ngay cả Châu Mỹ. Họ đã trở về từ những nước khác như Egypt (Ai-cập), Tripoli (nước Lybia), và những nhóm đông đảo từ Morocco và Yemen.
CÂU CHUYỆN VỀ 10 CHI TỘC BỊ THẤT LẠC CỦA ISRAEL
Sau triều đại của vua Solomon, vào thế kỷ thứ 10 BC (trước Chúa Giáng Sinh), 12 chi tộc của Do Thái đã tự phân chia thành 2 vương quốc. Hai chi tộc Judah và Benjamin thành lập vương quốc Judah, ở phía nam. 10 chi tộc còn lại hợp thành vương quốc Israel ở phương bắc. Thực ra, mỗi vương quốc đều có một phần của chi tộc Lê-vi, họ không có ruộng đất nhưng có có các tư tế, chuyên lo việc thờ phượng.
Các chi tộc của vương quốc phía bắc (Israel) từ chối không nhận vương quyền của Rehoboam, con trai vua Solomon. Hai chi tộc Judah và Benjamin cùng một phần của chi tộc Levi, vẫn trung thành với Rehoboam, thành lập vương quốc Judah ở phía nam.
Hai thế kỷ sau, đế quốc Assyria xâm chiếm vương quốc Israel và trong nhiều giai đoạn, họ đã từ từ phân tán cả 10 chi tộc đi các nơi khác. Kế hoạch lưu đày đó đã hoàn tất vào năm 722 BC và vương quốc Israel (phía bắc) hoàn toàn biến mất.
Mười chi tộc bị thất lạc đó là: Simeon, Dan, Naphtali, Gad, Asher, Issachar, Zebulun, Manasseh, Ephraim, và một phần của Levi. Hằng ngàn năm sau và cho đến bây giờ, nhiều nhóm người đã tự nhận là dòng dõi của các chi tộc bị thất lạc, một vài tôn giáo của họ cũng tin Đấng Cứu Thế và tin có ngày hồi hương của các chi tộc.
Sử gia thời danh của Do Thái, Josephus (37-100 AD) đã viết rằng mười chi tộc thất lạc đó đã sống rải rác ở phía đông của sông Euphrates (sông này chảy qua Iraq ngày nay, từ hướng tây-bắc xuống đông-nam). Họ đã sinh sản rất nhiều, không thể đếm được.
Những người Do Thái ở Ethiopia
Câu chuyện lạ lùng nhất đã xảy ra với những con cháu của chi tộc Dan ở Ethiopia (Bắc Châu Phi). Họ thuộc nhóm 10 chi tộc phải đi lưu đày từ 27 thế kỷ trước. Qua nhiều năm, họ từng có một vương quốc cho riêng họ và luôn luôn tuân giữ Kinh Thánh. Họ tuân theo luật giữ ngày Sa-bát, luật thanh tẩy (Niddah purity), chỉ ăn thức ăn Kosher (theo luật kiêng cữ), và luôn tin tưởng rằng ngày nào đó họ sẽ hồi hương, trở về thành thánh Jerusalem.
Năm 1977, ông Menachem Begin, thủ tướng Do Thái, đã gọi vị đứng đầu ngành anh ninh, Mossad, và nói một câu mà sau này đã trở thành thời danh: “Đem dân Do Thái từ Ethiopia về cho tôi!” Họ đã thành công đem trở lại Do Thái gần 15 ngàn đồng bào đã bị thất lạc hàng ngàn năm!

Những nhóm người Pathans
Ở thời trung cổ, dân Do Thái thất lạc đã phải sống dưới lề luật của Kitô giáo, rồi Hồi giáo và mơ tưởng rằng một ngày nào đó, các chiến sĩ dũng mãnh thuộc 10 chi tộc thất lạc sẽ xuất hiện từ một vương quốc ẩn dấu, đánh bại những kẻ áp bức và đưa họ về lại quê xưa. Một nhóm có thể hoàn thành công tác đó là những người Pathans, họ là những chiến sĩ thiện chiến đã từng giúp dân Afghanistan đánh đuổi được quân xâm lược Liên Xô ra khỏi bờ cõi.
Những người Pathans thuộc chi phái Sunni của Hồi giáo này, hiện đang sống ở cả hai bên biên giới giữa các nước Afghanistan và Pakistan, và có thể xa hơn nữa tới vùng Kashmir của Ấn Độ. Người ta tin rằng họ thuộc một phần của mười chi tộc Do Thái bị thất lạc, tổng số dân Pathans được ước lượng ít nhất là 15 triệu. Có những chi tộc “nhánh” (sub-tribes) đang mang những tên vẫn còn âm hưởng Do Thái như: Rabani (Reuben), Shiwari (Shimon), Daftani (Naphtali), Sahuri (Asher), Yusuf-sai (con cháu của Yosef).
Nhóm Shin-lung
Khoảng đầu thập niên 1950, một nông dân tên là Chala thuộc chi tộc Shin-lung trong vùng biên giới giữa Ấn Độ và Burma (hay Myanmar – tức Miến Điện) đã có một giấc mộng, trong đó Chúa đã cho ông biết rằng dân Shin-lung chính là người Do Thái, thuộc chi tộc bị thất lạc Menasseh, và đã đến lúc họ phải hồi hương.
Nhiều người Shin-lung tin giấc mộng của Chala là lời tiên tri. Tổ tiên của họ có tên là Menase, âm này rất gần với chi tộc “Menasseh”. Rồi họ bắt đầu giữ các qui luật Giu-đa, thực hành bất cứ nghi thức nào họ học được từ những người Do Thái ở thành phố Bombay (Ấn Độ). Bắt đầu từ một nhóm nhỏ, nay con số đã lên đến trên 5.000 người, được gọi với tên mới là “Judaizers”. Những người này giữ ngày Sa-bát, chịu cắt bì, ăn theo luật Kashrut. Họ xây hàng chục hội đường trong những ngôi làng và thị trấn ở miền đông-bắc Ân Độ, thuộc các bang Mizoram và Manipur.
Chính phủ Do-Thái đã tỏ ra dè dặt về việc “hồi hương” này, nhưng một số dân chúng đã tự tổ chức, như nhóm Amishav (Dân tôi hồi hương), đã tìm kiếm dấu tích của mười chi tộc đã bị lưu đày từ 27 thế kỷ xưa. Họ đã đưa một nhóm nhỏ thanh niên Shin-lung về Do Thái để nhập với nhóm đã đến từ trước và với sự chấp thuận của các thày cả (Rabbis), những ai chưa “trở lại” với niềm tin Giu-đa sẽ được nhận nghi thức này.
Còn có thêm rất nhiều những câu chuyện tương tự, như 5 triệu dân thuộc chi phái Hồi giáo Sunni trong vùng cao nguyên Kashmir (tây-bắc Ấn Độ). Họ có những tên còn mang âm hưởng các địa danh trong Kinh Thánh như Mamre, Pisgah, hay núi Nevo. Họ còn tương truyền rằng ông Mô-sê đã được an táng ở Kashmir, cũng như Chúa Giê-su đã từng đến đây để tìm 10 chi tộc bị thất lạc.
Bộ tộc Chang-min có khoảng 250.000 người, đang sống trong vùng biên giới Trung Quốc và Tibet, nơi tương truyền rằng bộ tộc Shin-lung đã từng sống. Trông họ giống như những người Trung Quốc, đã từng thờ độc thần, trước khi theo Kitô giáo. Tương truyền rằng họ thuộc “dòng dõi của ông Abraham”. Khi làm lễ hiến tế, họ đã cắm 12 lá cờ chung quanh bàn thờ, để tưởng nhớ 12 chi tộc của tổ tiên.
Ngược xuống miền trung-tây của Châu Phi, có bộ tộc Ibo ở nước Nigeria. Tuy phần đông dân chúng đang theo Kitô giáo, nhưng nhiều nghi thức cổ truyền của họ đã tương tự như cách thức của người Do Thái, như cắt bì trẻ trai sau khi sinh được 8 ngày. Nếu hỏi bất cứ người Ibo nào về gốc gác của họ ở đâu, thì câu trả lời luôn là: “Do Thái”, ông Onyeulo, người đang viết một cuốn sách về nguồn gốc của bộ tộc Ibo đã nói như vậy.
Những nước khác ở phía tây Châu Phi như Senegal, Dahomey (hiện thuộc nước Benin), và Sierra đang có rất nhiều bộ tộc vẫn tự nhận là thuộc dòng dõi Do Thái. Họ có những nghi thức tổng hợp giữa Kitô giáo và niềm tin Giu-đa. Tổng số dân có thể lên đến nhiều triệu người.
Quả nhiên, cuộc tìm kiếm những chi tộc bị thất lạc đã là niềm khao khát sâu xa của người Do Thái. Qua nhiều thiên kỷ, họ đã hiểu rằng cuộc lưu đày của dân tộc họ, chính là hình phạt cho tội không xứng đáng là dân được Chúa chọn, không cố gắng sống hợp nhất với Thiên Chúa. Cuộc phân tán của 10 chi tộc, 27 thế kỷ trước đây, đã là mối đau thương đầu tiên của dân tộc, cuộc lưu đày tiên khởi. Tìm lại những chi tộc bị thất lạc đó là nối lại mối giao hòa giữa Thiên Chúa và giống dân đã được Ngài chọn, trở lại với sự tinh trắng, thánh thiêng ban đầu.
LM. Phaolô Nguyễn Văn Tùng (tổng hợp)
2020
“Chúa nhật giải phóng người Dalit” ở Ấn Độ
“Chúa nhật giải phóng người Dalit” ở Ấn Độ
Hàng năm vào Chúa nhật thứ hai của tháng 11, người Công giáo và Tin lành ở Ấn Độ cử hành “Ngày giải phóng người Dalit”, “những người không có vị trí trong xã hội”. Sáng kiến được Hội đồng Giám mục Ấn Độ đứng ra tổ chức, với sự cộng tác của Hội đồng các Giáo hội Kitô Quốc gia.
Do hệ thống đẳng cấp cứng nhắc của Ấn Độ, người Dalit bị ở bên ngoài nấc thang xã hội, thường bị phân biệt đối xử, ngay cả trong công việc. Hiện nay, dân số Ấn Độ là 1,3 tỷ, người Dalit chiếm 1/6. Các Kitô hữu và tín đồ Hồi giáo phải chịu nhiều thiệt thòi nhất.
Năm 1935, người Anh, khi đó đang cai trị Ấn Độ, đã thử chỉnh đốn tình trạng phân biệt đối xử trong xã hội, bằng cách cấp các đặc quyền cho những công dân thuộc tầng lớp thấp kém hoặc những người bị loại ra bên lề, như người Dalit. Những lợi ích này không phụ thuộc vào tôn giáo, chúng liên hệ đến cả người theo Ấn Độ giáo, các Kitô hữu, tín đồ Hồi giáo, Phật tử và người theo đạo Sikh.
Mọi thứ bắt đầu thay đổi vào năm 1950, khi tổng thống ra lệnh xem xét lại các quyền này và chỉ trao địa vị “Được nhìn nhận đẳng cấp” cho người Dalit theo Ấn Độ giáo. Ông còn tuyên bố rằng không có người nào ngoài Ấn Độ giáo được coi là “thành viên của một giai cấp được công nhận”. Sau đó, lệnh đã được thay đổi hai lần, nghĩa là người Dalit theo đạo Sikh và Phật giáo được nhìn nhận, nhưng các Kitô hữu và người Hồi giáo vẫn còn bị loại ra bên lề.
Sáng kiến “Ngày giải phóng người Dalit” do Văn phòng các giai cấp và bộ lạc thiệt thòi của Hội đồng Giám mục Ấn Độ đứng ra tổ chức, cùng với sự cộng tác của Hội đồng các Giáo hội Kitô ở Ấn Độ. Ngày dành riêng cho việc giải phóng người Dalit đã được cử hành từ năm 2007 và ngày này được xác định là Chúa nhật thứ hai trong tháng 11.
Bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch, Ấn Độ hiện có 8,3 triệu ca nhiễm, và số ca nhiễm mới vẫn tiếp tục gia tăng mỗi ngày. Người Dalit là thành phần bị lây nhiễm nhiều nhất, do hoàn cảnh sống bấp bênh, nghèo khổ. Việc phòng ngừa cũng khó khăn hơn đối với họ, vì họ sống ở những khu vực đông dân cư và dịch vụ y tế khan hiếm.
Ngọc Yến
2020
Nhà thờ trở thành bệnh viện dã chiến
Nhà thờ trở thành bệnh viện dã chiến
Trong những ngày này, ở châu Âu, số người bị nhiễm virus corona đang gia tăng, và ở vùng Nam Tirol, Ý được coi là khu vực “báo động đỏ”, có thể phải áp dụng một lệnh cách ly xã hội nghiêm khắc. Để chuẩn bị cho tình huống khó khăn nhất có thể xảy ra, cha Luciano Gambino, linh mục tuyên úy của một bệnh viện ở Turin đã biến nhà thờ thành một bệnh viện dã chiến, phục vụ bệnh nhân.
Nhà thờ trở thành bệnh viện dã chiến
Với quyết định của linh mục tuyên úy, vào chiều thứ Sáu vừa qua, các băng ghế của nhà thờ nằm trong khu vực bệnh viện Thánh Luigi ở Turin thuộc Nam Tirol đã được thay thế bằng 30 giường nhỏ dành cho bệnh nhân Covid với các triệu chứng nhẹ.
Cha Luciano Gambino chia sẻ: “Có một số người không đồng ý với quyết định này. Nhưng nhà thờ dành cho dân Chúa, cho mọi người, nên nếu cần thiết thì có thể dùng để đón tiếp bệnh nhân, chắc chắn tôi không làm điều gì xấu”.
Cha cũng cho biết, ý tưởng là vậy, nhưng khi thực hiện không đơn giản vì phải sắp xếp làm sao để có thể phục vụ tốt nhất cho các bệnh nhân. Cho tới nay mọi sự đã tương đối ổn định và nhà thờ bệnh viện đã sẵn sàng đón tiếp phục vụ bệnh nhân.
Cha nói: “Tôi thấy mọi người rất sợ, họ đau khổ, họ không biết đi đâu, cả những người bệnh, những người còn rất trẻ và các bác sĩ. Theo tôi, trong đợt lây nhiễm thứ hai này, nhu cầu tinh thần của mọi người gia tăng. Họ cần được trợ giúp, động viên với niềm hy vọng Kitô giáo. Chính vì thế chúng tôi, những linh mục tuyên úy cần phải làm việc tích cực hơn. Chúng ta phải nghĩ rằng mọi người cần bác sĩ, y tá, và siêu thị. Nhưng người ta không thể sống chỉ bằng việc được khám bệnh. Người bệnh cần có Chúa, ít nhất là để chia sẻ những câu hỏi lớn. Chúng tôi là những người nâng đỡ đời sống tâm linh đang chạm tay vào điều đó. Tôi hy vọng mọi sự sẽ mang lại kết quả tốt đẹp. Ân sủng Chúa hành động, nhất là trong những thời khắc khó khăn”.
“Tôi tin rằng, từ đại dịch này, tất cả mọi người có thể học được điều quan trọng của cuộc sống. Đó không phải là vẻ bên ngoài, nhưng là sức khỏe thể chất không tách rời sức khỏe tinh thần. Người ta nói nhiều về việc cách ly xã hội, đó là điều cần thiết, nhưng chúng ta cần tương quan xã hội, như Đức Thánh Cha nói ‘chúng ta không thể tự cứu mình’”.
Ngọc Yến
2020
Giáo phận Sibolga ở Indonesia: Một Giám mục và ba linh mục chết vì Covid-19
Giáo phận Sibolga ở Indonesia: Một Giám mục và ba linh mục chết vì Covid-19
Ngày 07/11/2020, Đức cha Anicetus Bongsu Sinaga, dòng Phanxicô (OFMCap), 79 tuổi, là Giám mục Indonesia đầu tiên chết vì đại dịch. Ngoài Đức cha, tại Giáo phận Sibolga, từ tháng 10 đến nay có ba linh mục cũng đã chết do bị nhiễm Covid-19.
Ngày 20/10/2020, Đức cha Sinaga đã có kết quả xét nghiệm dương tính với Covid-19. Ngài được các bác sĩ chăm sóc cẩn thận nhưng đã qua đời vào tối thứ Bảy tại bệnh viện Thánh Elisabeth ở Medan sau hai tuần nhập viện.
Đức cha Sinaga là Giám mục tiên khởi của Giáo phận Sibolga, được Thánh Gioan Phaolô II tấn phong tại Roma vào ngày 6/01/1981. Trước khi qua đời, Đức cha là nguyên Tổng Giám mục của Tổng Giáo phận Medan và là Giám quản Tông tòa của Giáo phận Sibolga, cả hai đều thuộc tỉnh phía bắc Sumatra.
Trách vụ của Đức cha tại Giáo phận Sibolga kết thúc vào năm 2004 khi ngài được chọn trở thành Giám mục Phó của Tổng Giáo phận Medan, sau đó vào năm 2009 trở thành Tổng Giám mục, thay thế Giám mục mãn nhiệm Đức cha Alfred Gonti Pius Datubara (OFMCap).
Do tới tuổi, Đức cha Sinaga đã xin từ chức và 08/12/2018, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chấp thuận. Nhưng vài tuần sau, Giám mục Sibolga, Đức cha Ludovicus Simanullang qua đời đột ngột và Tòa Thánh lại bổ nhiệm ngài làm Giám quản Tông tòa.
Trước đó, thứ Sáu 06/11, cha Barnabas Johan Winkler, linh mục dòng Phanxicô (OFMCap) cũng chết vì Covid-19 ở tuổi 89. Nhà truyền giáo người Đức này đã phục vụ tại Giáo phận Sibolga từ năm 2003 đến 2007. Ngoài cha Winkler còn có hai linh mục khác của Giáo phận cũng đã qua đời vì Covid-19
Đức cha Kornelius Sipayung (OFMCap), Giám mục Medan là giám chức Indonesia đầu tiên đã phục hồi thành công từ Covid-19. Vào tháng 7, Đức cha có kết quả xét nghiệm dương tính với corona virus nhưng hồi phục rất nhanh.
Ngọc Yến
