2021
Thánh lễ tại Thính phòng Megaron
Thánh lễ tại Thính phòng Megaron
Vào lúc 16 giờ, Chúa nhật 05/12, từ Toà Sứ thần, Đức Thánh Cha di chuyển bằng xe đến Thính phòng Megaron cách Toà Sứ thần 4,3 km để cử hành Thánh lễ.
Thính phòng Megaron
Thính phòng Megaron được coi là di sản văn hóa quốc gia, ngôi đền của âm nhạc và các hoạt động văn hóa, giáo dục của thủ đô Hy Lạp. Tọa lạc trên đại lộ Vasilissis Sofias, ra đời vào những năm 70 từ ý tưởng của một số trí thức khai sáng như Alexandra Trianti và Christos Lambrakis. Nhờ sự giúp đỡ của một số nhà tài trợ, trong đó có nhà soạn nhạc và nhạc trưởng, Dimitris Mitropoulos, thính phòng được giao cho các kiến trúc sư và kỹ sư giỏi nhất của Hy Lạp và châu Âu chuyên về âm học. Thính phòng được khánh thành vào năm 1991 bởi Tổng thống Cộng hòa Kōnstantinos Karamanlīs, và được mở rộng dần với các phòng đa chức năng, không gian ngoài trời cho các hoạt động văn hóa, một thư viện âm nhạc uy tín với khoảng 10.000 bản ghi âm của các nhà soạn nhạc, các bộ sưu tập âm nhạc truyền thống và quý hiếm, một trung tâm quốc tế cho Hội nghị, phòng diễn tập và ghi âm, và không gian triển lãm. Ở thính phòng này, âm nhạc cổ điển và opera là lĩnh vực chính, được lồng ghép bởi thế giới đương đại của các nghệ sĩ từ khắp nơi trên thế giới, kết hợp với sân khấu, điện ảnh, khiêu vũ. Dàn nhạc ở nơi cư trú, Dàn nhạc Quốc gia Athen.
Thánh lễ
Tại Thính phòng Megaron, Đức Thánh Cha cử hành Thánh lễ theo phụng vụ Chúa nhật II Mùa Vọng. Nghi thức Thánh lễ bằng tiếng latinh, hai bài đọc và Tin Mừng bằng tiếng Hy Lạp.
Sau đây là bài giảng của Đức Thánh Cha:
Vào Chúa nhật thứ hai Mùa Vọng này, Lời Chúa giới thiệu cho chúng ta khuôn mặt của Thánh Gioan Tẩy Giả. Tin Mừng nhấn mạnh hai điều quan trọng: nơi Gioan hiện diện, đó là hoang địa, và nội dung sứ điệp của Thánh Gioan, đó là sám hối. Hoang địa và sám hối: Tin Mừng hôm nay nhấn mạnh nhiều lần những lời này để làm cho chúng ta hiểu rằng những lời này liên quan trực tiếp đến chúng ta. Chúng ta hãy đón nhận cả hai.
Chúa đến không theo cách con người nghĩ
Hoang địa. Thánh sử Luca giới thiệu nơi này một cách cụ thể. Ngài nói về những hoàn cảnh trang trọng và những nhân vật vĩ đại của thời đó. Ngài đề cập đến năm thứ 15 của hoàng đế Tibêriô, tổng trấn Phongxiô Philatô, vua Hêrôđê và các “nhà lãnh đạo chính trị” khác của thời đó. Sau đó, Thánh Luca nhắc đến những vị lãnh đạo tôn giáo Khanan và Caipha, những người đang phục vụ Đền thờ Giêrusalem (Lc 3,1-2). Đến đây, Thánh Luca tuyên bố: “Lời Thiên Chúa phán cùng ông Gioan trong sa mạc” (Lc 3,2). Nhưng Lời đó đến bằng cách nào? Chúng ta đã mong đợi Lời Chúa sẽ được nói với một trong những nhân vật nổi danh vừa được kể đến. Thay vào đó, một điều trớ trêu tinh tế xuất hiện nơi những dòng Tin Mừng: từ vị trí trên cao của những người quyền bính, lại bất ngờ xuất hiện trong hoang địa một người vô danh, đơn độc. Thiên Chúa làm chúng ta ngạc nhiên. Đường lối Người làm chúng ta ngạc nhiên vì nó khác với sự mong đợi của con người chúng ta; chúng không phản ánh sức mạnh và sự vĩ đại mà chúng ta dựa vào. Thiên Chúa ưa thích sự nhỏ bé và khiêm nhường. Ơn cứu độ không bắt đầu từ Giêrusalem, Athens hay Roma, nhưng trong hoang địa. Cách tiếp cận nghịch lý này mang đến cho chúng ta một thông điệp rất đẹp: quyền bính, học thức và nổi tiếng không có gì bảo đảm làm đẹp lòng Chúa, vì những điều này có thể dẫn đến kiêu ngạo và từ chối Người. Thay vào đó, cần phải có cái nghèo nội tâm, nghèo như hoang địa.
Chúa đến với chúng ta trong những lúc thử thách
Chúng ta hãy suy nghĩ thêm về nghịch lý của hoang địa. Gioan Tẩy Giả – Vị Tiền hô – chuẩn bị sự xuất hiện của Đấng Kitô tại một nơi khó tiếp cận và đầy nguy hiểm. Ngày nay, nếu ai đó muốn đưa ra một loan báo quan trọng, người này thường đến những địa điểm ấn tượng, nơi có nhiều người, nơi có thể được nhìn thấy rõ. Trái lại, Gioan rao giảng trong hoang địa. Chính ở nơi đó, nơi khô cằn, trong không gian trống vắng và nơi hầu như không có sự sống, ở đó vinh quang của Chúa được tỏ bày, như lời Kinh Thánh đã tiên báo (Is 40, 3-4), Thiên Chúa biến hoang địa thành hồ ao, đất khô cằn thành mạch nước dồi dào (Is 41,18). Và một thông điệp đáng khích lệ khác: Thiên Chúa, nay cũng như xưa, hướng mắt nhìn đến bất cứ nơi nào có nhiều nỗi buồn và cô đơn. Chúng ta có thể trải nghiệm điều đó trong cuộc sống. Chúa thường không đến được với chúng ta khi chúng ta đang ở giữa những tiếng vỗ tay và chỉ nghĩ đến mình, nhưng Chúa đến với chúng ta trong những lúc thử thách. Người đến thăm chúng ta trong những hoàn cảnh khó khăn, lấp đầy khoảng trống nội tâm của chúng ta khi chúng ta để chỗ cho Người, trong những sa mạc hiện sinh của chúng ta.
Sa mạc tâm hồn là nơi Chúa tỏ hiện
Anh chị em thân mến, trong cuộc sống của chúng ta với tư cách là cá nhân hay quốc gia, không thiếu những giây phút chúng ta có cảm tưởng như đang ở trong sa mạc. Và đây chính là nơi Thiên Chúa tỏ hiện. Chúa thường không đến với những ai cảm thấy mình thành công, nhưng đến với những người cảm thấy mình không thể làm gì được. Và Người đến với những lời gần gũi, trắc ẩn và dịu dàng: “Đừng sợ hãi: có Ta ở với ngươi. Đừng nhớn nhác: Ta là Thiên Chúa của ngươi. Ta cho ngươi vững mạnh, Ta lại còn trợ giúp với tay hữu toàn thắng của Ta”(Is 41, 10). Bằng cách rao giảng trong sa mạc, Thánh Gioan đảm bảo với chúng ta rằng Chúa đến để giải thoát chúng ta và ban lại sự sống cho chúng ta trong những hoàn cảnh tưởng chừng như không thể cứu vãn, không có lối thoát. Do đó, không có nơi nào mà Chúa không muốn đến viếng thăm. Và hôm nay chúng ta không thể không cảm nhận niềm vui khi thấy Người chọn sa mạc, để đến với chúng ta trong sự nhỏ bé của chúng ta để yêu thương, và trong sự khô cằn của chúng ta để làm dịu cơn khát! Anh chị em thân mến, đừng sợ sự nhỏ bé, vì nhỏ bé không phải là vấn đề, miễn là chúng ta mở lòng với Chúa và với tha nhân. Và đừng sợ sự khô khan, bởi vì Thiên Chúa không sợ điều này, ở đó, trong sự khô khan Chúa đến thăm chúng ta!
Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang điều thứ hai, sám hối. Thánh Gioan Tẩy Giả đã rao giảng điều đó không ngừng và với cung giọng mạnh mẽ (Lc 3, 7). Đây cũng là một chủ đề “khó chịu”. Cũng như sa mạc không phải là nơi đầu tiên chúng ta muốn đến, thì lời mời sám hối chắc chắn không phải là lời đề nghị đầu tiên mà chúng ta muốn nghe. Nói về sám hối có thể khơi dậy nỗi buồn; nó dường như khó hòa hợp với Tin Mừng của niềm vui. Nhưng điều này xảy ra khi chúng ta cho rằng sám hối đơn giản chỉ sự phấn đấu của chúng ta để nên hoàn thiện về mặt đạo đức, như thể đó là điều chúng ta có thể đạt được nhờ nỗ lực của chính chúng ta. Vấn đề nằm ở chỗ: chúng ta nghĩ mọi thứ tuỳ thuộc vào chúng ta. Và điều này dẫn đến nỗi buồn và thất vọng tinh thần. Vì chúng ta muốn sám hối, trở nên tốt hơn, vượt qua những lỗi lầm và thay đổi, nhưng chúng ta cảm thấy mình không đủ khả năng và mặc dù có thiện chí, chúng ta lại luôn vấp ngã. Chúng ta có kinh nghiệm giống Thánh Phaolô, chính từ vùng đất này, ngài đã viết: “Muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm”(Rm 7, 18-19). Như thế, tự mình, chúng ta không có khả năng làm điều tốt chúng ta muốn, vậy có nghĩa gì khi chúng ta phải sám hối?
Sám hối: suy nghĩ vượt lên trên
Ở đây ngôn ngữ đẹp của anh chị em, ngôn ngữ Hy Lạp có thể giúp chúng ta hiểu động từ “sám hối”, metanoéin. Động từ này bao gồm metá, có nghĩa là vượt lên trên, và noéin có nghĩa là suy nghĩ. Như vậy, sám hối có nghĩa là suy nghĩ vượt lên trên, nghĩa là vượt lên trên những suy nghĩ thông thường của chúng ta, vượt ra ngoài thế giới quan thông thường của chúng ta. Tất cả những lối suy nghĩ đó làm giảm đi mọi thứ cho chính chúng ta, cho niềm tin của việc thấy mình tự đủ của chúng ta. Hoặc những lối suy nghĩ tự cho mình là trung tâm được đánh dấu bằng sự cứng nhắc và sợ hãi làm tê liệt, bởi sự cám dỗ nói “chúng tôi luôn làm theo cách này”, bởi ý tưởng rằng sa mạc của cuộc sống là nơi chết chóc, và không có sự hiện diện của Chúa.
Khi khuyến khích chúng ta sám hối, Thánh Gioan mời gọi chúng ta vượt ra ngoài nơi chúng ta hiện diện; vượt xa những gì bản năng nói với chúng ta và tư tưởng ảnh hướng đến chúng ta, bởi vì thực tế còn vĩ đại hơn. Thực tế là Chúa vĩ đại hơn. Vì vậy, sám hối có nghĩa là không nghe những gì làm mất niềm hy vọng, không nghe những người luôn nói rằng sẽ không có gì thay đổi trong cuộc sống. Sám hối có nghĩa là từ chối tin rằng chúng ta đã bị định sẵn để chìm vào vũng lầy của sự tầm thường. Nó có nghĩa là không quy phục trước những sợ hãi bên trong, xuất hiện đặc biệt trong những lúc thử thách để làm chúng ta nản lòng và nói với chúng ta rằng chúng ta sẽ không vượt qua được, rằng mọi thứ đã sai và việc nên thánh không dành cho chúng ta. Không phải như vậy, bởi vì Thiên Chúa luôn hiện diện. Cần phải tin cậy nơi Chúa, bởi vì Người là điều vượt trên của chúng ta, là sức mạnh của chúng ta. Mọi thứ thay đổi nếu chúng ta dành cho Người vị trí đầu tiên. Chúng ta chỉ cần mở cửa để Chúa bước vào và làm những điều kỳ diệu. Chỉ như sa mạc và lời của Gioan là đủ để Chúa đến thế gian.
Chúng ta hãy cầu xin ân sủng để tin rằng với Chúa, mọi thứ sẽ thay đổi, rằng Người chữa lành nỗi sợ hãi của chúng ta, chữa lành vết thương của chúng ta, biến những nơi khô cằn thành suối nước. Chúng ta cầu xin ân sủng của hy vọng. Vì hy vọng làm sống lại đức tin và khơi lại lòng bác ái. Bởi vì đó là hy vọng mà các sa mạc của thế giới ngày nay đang khát.
Và trong lúc cuộc gặp gỡ này đổi mới chúng ta trong niềm hy vọng và niềm vui của Chúa Giêsu, và tôi vui mừng khi được ở giữa anh chị em, chúng ta hãy cầu xin Đức Mẹ giúp chúng ta, giống như Mẹ, trở nên những người gieo rắc hy vọng, những người gieo niềm vui xung quanh chúng ta, không chỉ vào lúc này, khi chúng ta hạnh phúc và ở cùng nhau, nhưng hàng ngày, trong những sa mạc nơi chúng ta hiện diện. Vì chính nơi đó, với ơn Chúa, cuộc đời chúng ta được mời gọi sám hối và nở hoa.
Chào cám ơn
Trước khi kết thúc Thánh lễ, Đức Tổng Giám mục Theodoros Kontidis của Tổng Giáo phận Athen, đại diện cộng đoàn cám ơn Đức Thánh Cha. Đức Tổng Giám mục nói rằng sự hiện diện của Đức Thánh Cha tại Hy Lạp làm cho mọi người cảm nhận được sự hiệp nhất với Giáo hội như một thân thể trong Đức Kitô. Ngài nói: “Chúng con chân thành cám ơn Đức Thánh Cha vì đã đến đây với chúng con, cùng cử hành Thánh lễ, và cám ơn vì tất cả những gì Đức Thánh Cha đã làm cho Giáo hội trên thế giới và vì những lời giảng dạy đã khuyến khích mọi người đi theo đường lối Chúa Giêsu”.
Đáp lời Đức Tổng Giám mục, Đức Thánh Cha cũng bảy tỏ lòng biết ơn đến chính quyền dân sự và các Giám mục, cũng như tất cả những người bằng nhiều cách khác nhau đã cộng tác chuẩn bị và tổ chức chuyến thăm này.
Sau Thánh lễ, Đức Thánh Cha trở về Toà Sứ thần.
Thăm Đức Thượng phụ Jeronymos II
Tại Toà Sứ thần, vào lúc 19 giờ, Đức Thánh Cha có cuộc gặp gỡ với Đức Thượng phụ Jeronymos II và đoàn tuỳ tùng tại hội trường của Toà sứ thần.
Ngọc Yến
2021
Diễn văn của ĐTC trước những người tị nạn ở Mytilene
Diễn văn của ĐTC trước những người tị nạn ở Mytilene
Lúc 08:30 sáng Chúa Nhật 5/12, ĐTC rời Toà Sứ thần, đi đến sân bay Athens cách đó 23km để bay đến sân bay Mytilene trên đảo Lesbos và thăm những người tị nạn ở “Trung tâm Tiếp nhận và Định danh”. Có khoảng 200 người tham dự cuộc gặp gỡ với Đức Thánh Cha.
Diễn văn của Đức Thánh Cha khi đến thăm những người tị nạn
tại “Trung tâm Tiếp nhận và Định danh” ở Mytilene
05/12/2021
Anh chị em thân mến,
Cảm ơn về những lời của anh chị em. Tôi cảm ơn Bà Tổng thống, vì sự hiện diện và những lời của bà. Thưa anh chị em, tôi lại đến đây để gặp anh chị em. Tôi ở đây để nói với anh chị em rằng tôi gần gũi anh chị em. Tôi nói điều này bằng cả trái tim. Tôi ở đây để nhìn thấy khuôn mặt của anh chị em, để nhìn vào mắt anh chị em, đôi mắt đầy sợ hãi và mong đợi, đôi mắt đã nhìn thấy bạo lực và nghèo đói, đôi mắt nhíu lại vì quá nhiều nước mắt. Đức Thượng Phụ Đại Kết và người anh em Bartholomeo, cách đây 5 năm tại hòn đảo này, đã nói một điều khiến tôi bị đánh động: “Những người sợ anh chị em đã không nhìn thẳng vào mắt của anh chị em. Những người sợ anh chị em đã không nhìn vào khuôn mặt của anh chị em. Những người sợ anh chị em đã không nhìn thấy con cái của anh chị em. Quên rằng phẩm giá và tự do vượt cao hơn nỗi sợ hãi và chia rẽ. Quên rằng di cư không phải là vấn đề của Trung Đông và Bắc Phi, của châu Âu và Hy Lạp, nhưng là một vấn đề của thế giới ”( Diễn văn, ngày 16 tháng 4 năm 2016).
Vâng, đó là một vấn đề của thế giới, một cuộc khủng hoảng nhân đạo ảnh hưởng đến tất cả mọi người. Đại dịch đã ảnh hưởng đến chúng ta ở cấp độ toàn cầu, nó khiến tất cả chúng ta thấy mình đang ở trên cùng một con thuyền, nó khiến chúng ta học được thế nào là có cùng nỗi sợ hãi. Chúng ta hiểu rằng các vấn đề lớn phải được giải quyết cùng nhau, bởi vì trong thế giới ngày nay, các giải pháp rời rạc là không phù hợp. Nhưng trong khi chúng ta hết mình tiêm chủng toàn cầu, dẫu cho có những chậm trễ và do dự, hoặc có những bước tiến trong việc chống biến đổi khí hậu, nhưng điều này dường như gặp một sự lẩn tránh khủng khiếp đối với vấn đề di cư. Tuy nhiên, có nhiều người mà cuộc sống họ đang bị đe dọa! Tương lai của tất cả mọi người đang bị đe dọa, và chỉ sẽ bình yên nếu được hội nhập. Chỉ khi được hòa giải với những người yếu nhất thì tương lai đó mới thịnh vượng. Bởi vì khi người nghèo bị từ chối, thì hòa bình cũng bị từ chối.
Lịch sử dạy chúng ta rằng sự đóng lại và chủ nghĩa quốc gia sẽ dẫn đến những hậu quả tai hại. Thật vậy, như Công đồng Vatican II đã nhắc lại, “ý chí cương quyết muốn tôn trọng người khác, những dân tộc khác cũng như phẩm giá của họ và sự ân cần thực thi tình huynh đệ là những điều kiện thiết yếu để xây dựng hòa bình.” (Gaudium et spes, 78). Thật là ảo tưởng khi nghĩ rằng làm như vậy là đủ để mình được an toàn, bảo vệ bản thân khỏi những kẻ yếu nhất đến gõ cửa chúng ta. Trong tương lai, chúng ta còn tiếp xúc với nhau nhiều hơn. Để làm tương lai trở nên tốt đẹp, điều chúng ta cần không phải là những hành động đơn phương, nhưng là những chính sách mở rộng. Tôi nhắc lại, lịch sử đã dạy điều đó, nhưng chúng ta chưa học được. Đừng quay lưng lại với thực tế, đừng mãi thoái thác trách nhiệm, đừng luôn đẩy vấn đề di cư cho người khác, như thể chẳng ai liên can và đó chỉ là một gánh nặng vô ích mà ai đó buộc phải gánh vác!
Những chị em, anh em, những khuôn mặt và ánh mắt của anh chị em yêu cầu chúng ta không quay lưng lại, không phủ nhận nhân tính chung của chúng ta, biến câu chuyện của anh chị em thành của chúng ta và đừng quên những thảm kịch của anh chị em. Elie Wiesel, nhân chứng của thảm kịch lớn nhất thế kỷ qua, đã viết: “Chính vì tôi nhớ về sự khởi đầu chung của chúng ta mà tôi xích lại gần hơn với đồng loại của mình. Đó là bởi vì tôi không quên rằng tương lai của họ cũng quan trọng như tương lai của tôi.” (From the Kingdom of Memory, Reminiscences, New York, 1990, 10). Vào Chúa Nhật này, tôi cầu xin Chúa đánh thức chúng ta khỏi sự khước từ của chúng ta đối với những người đau khổ, đánh thức chúng ta khỏi chủ nghĩa cá nhân vốn loại trừ người khác, đánh thức những trái tim bị điếc của chúng ta trước nhu cầu của người khác. Và tôi cũng kêu gọi mọi người: chúng ta hãy vượt qua sự tê liệt của nỗi sợ hãi, sự thờ ơ giết chết, sự thờ ơ yếm thế kết án tử những người bên lề bằng đôi găng tay nhung lụa! Chúng ta hãy phản đối tận gốc tư tưởng thống trị, tư tưởng xoay quanh cái tôi, cái tôi cá nhân và quốc gia ích kỷ, vốn trở thành thước đo và tiêu chí của mọi thứ.
Năm năm đã trôi qua kể từ chuyến thăm được thực hiện tại đây với những người anh em thân yêu Bartolomeo và Jeronymos. Sau tất cả thời gian này, chúng ta vẫn thấy rằng vấn đề di cư chẳng mấy thay đổi. Tất nhiên, nhiều người đã dấn thân chào đón và hội nhập, và tôi muốn cảm ơn nhiều tình nguyện viên và những người ở mọi cấp – tổ chức, xã hội, từ thiện – đã thực hiện những nỗ lực to lớn, chăm sóc người dân và vấn đề di cư. Tôi ghi nhận sự dấn thân hỗ trợ và xây dựng các cơ sở tiếp nhận xứng đáng và tôi chân thành cảm ơn người dân địa phương vì những điều tốt đẹp mà họ đã làm và nhiều hy sinh mà họ đã cố gắng. Và tôi cũng muốn cảm ơn chính quyền địa phương đã dấn thân trong việc đón nhận, trong việc bảo vệ và thăng tiến những người đến đây. Xin cảm ơn vì đã làm điều đó. Nhưng chúng ta phải cay đắng thừa nhận rằng đất nước này, cũng như những nước khác, vẫn đang chịu nhiều áp lực, và ở châu Âu có những người vẫn cương quyết coi vấn đề này như một việc mà họ không quan tâm. Đây là một thảm kịch. Tôi nhớ những lời cuối của Bà Tổng thống rằng: “Châu Âu hành động như vậy”. Và bao nhiêu điều kiện không xứng đáng với con người! Có bao nhiêu điểm nóng nơi người di cư và người tị nạn sống trong điều kiện hạn chế, mà không có giải pháp nào phía trước! Tuy nhiên, sự tôn trọng đối với các cá nhân và quyền con người, điều không ngừng được cổ võ trên toàn cầu, đặc biệt ở lục địa này, cần phải luôn được bảo vệ, và phẩm giá của mỗi người phải được đặt lên hàng đầu. Thật đáng buồn khi nghe đề xuất như một giải pháp rằng nguồn quỹ chung được sử dụng để xây tường, để dựng hàng rào thép gai. Chúng ta đang sống trong thời đại của những bức tường và thép gai. Tất nhiên, chúng ta hiểu những nỗi sợ hãi và bất an, khó khăn và nguy hiểm. Người ta cảm thấy mệt mỏi và thất vọng, càng trở nên trầm trọng hơn bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế và đại dịch, nhưng không phải bằng cách dựng lên các hàng rào thì các vấn đề được giải quyết và sự chung sống được cải thiện. Thay vào đó, cần chung sức để chăm sóc người khác theo khả năng thực tế của mỗi người và tuân theo luật pháp, luôn đặt giá trị không thể chuyển nhượng của sự sống của mỗi người nam, người nữ, của mỗi người lên hàng đầu. Elie Wiesel còn nói: “Khi tính mạng con người bị đe dọa, khi phẩm giá con người gặp nguy hiểm, thì biên giới quốc gia trở thành vô nghĩa” (Diễn văn nhận giải Nobel Hòa bình, ngày 10 tháng 12 năm 1986).
Trong nhiều xã hội khác nhau, có những đối kháng về ý thức hệ giữa an ninh và liên đới, địa phương và phổ quát, truyền thống và cởi mở. Thay vì tranh cãi về các ý tưởng, thì sẽ hữu ích hơn nếu bắt đầu với thực tế: hãy dừng lại, mở rộng tầm nhìn của chúng ta, dìm mình vào các vấn đề của đa số nhân loại, của nhiều nhóm nạn nhân của các trường hợp khẩn cấp nhân đạo mà chính họ không tạo ra nhưng lại phải gánh chịu, sau những chương dài lịch sử khai thác và hiện vẫn đang diễn ra. Người ta dễ dàng lôi kéo dư luận bằng cách khơi dậy nỗi sợ hãi về người khác. Nhưng tại sao chúng ta không nói, với cùng một thái độ, về sự bóc lột người nghèo, về những cuộc chiến bị lãng quên và thường được tài trợ mạnh tay, về những thỏa thuận kinh tế được thực hiện trên xương máu của người dân, về những thủ đoạn ẩn giấu để buôn bán vũ khí và phát triển thương mại vũ khí? Tại sao người ta không nói về điều này? Cần đối diện với những nguyên nhân sâu xa, chứ không phải bắt dân nghèo gánh chịu hậu quả, thậm chí bị lợi dụng để tuyên truyền chính trị! Để loại bỏ các nguyên nhân gốc rễ, không thể chỉ dừng lại ở các trường hợp khẩn cấp. Những hành động phối hợp là cần thiết. Những thay đổi mang tính biểu tượng cần được tiếp cận với tầm nhìn xa. Bởi vì không có câu trả lời dễ dàng cho các vấn đề phức tạp. Thay vào đó, cần phải đồng hành với các tiến trình từ bên trong, để vượt qua sự cô lập và khuyến khích hội nhập dần dần và thiết yếu, để chào đón các nền văn hóa và truyền thống của những người khác một cách huynh đệ và có trách nhiệm.
Trên tất cả, nếu chúng ta muốn bắt đầu lại, chúng ta hãy nhìn vào khuôn mặt của những đứa trẻ. Chúng ta tìm thấy can đảm để xấu hổ trước chúng, những người vô tội và là tương lai. Họ đặt câu hỏi về lương tâm của chúng ta và hỏi chúng ta: “Loại thế giới quý vị để lại cho chúng tôi?” Chúng ta đừng lạnh lùng lảng tránh những hình ảnh sống sượng của những tấm thân bé nhỏ nằm bất động trên các bãi biển. Địa Trung Hải, nơi hàng thiên niên kỷ đã gắn kết các dân tộc khác nhau và những vùng đất xa xôi, đang trở thành một nghĩa trang lạnh lẽo không bia mộ. Hồ nước rộng lớn này, cái nôi của nhiều nền văn minh, giờ đây trông giống như một tấm gương chết chóc. Chúng ta đừng để biển của chúng ta (mare nostrum) biến thành biển của sự chết (mare mortuum) hoang tàn, đừng để nơi gặp gỡ này trở thành sân khấu của sự đối đầu! Đừng để “biển của ký ức” này biến thành “biển của sự lãng quên”. Tôi kêu gọi hãy ngăn chặn sự nhấn chìm của nền văn minh này!
Trên các bờ biển này, Thiên Chúa đã trở thành người. Nơi đây, Lời của Người được vang vọng, loan báo rằng Thiên Chúa là “Cha và là Đấng hướng dẫn tất cả mọi người” (St. GREGORY OF NAZIANZO, Discorso 7 per il fratello Cesario, 24). Người yêu chúng ta như những người con và muốn chúng ta là anh em của nhau. Ngược lại, Thiên Chúa bị xúc phạm khi con người vốn được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa bị xem thường, khi con người bị phó mặc cho sóng biển, trong sự phủi tay thờ ơ, đôi khi ngay cả được biện minh nhân danh điều được cho là các giá trị Kitô giáo. Trái lại, đức tin đòi hỏi lòng trắc ẩn và lòng thương xót. Nó thúc đẩy lòng hiếu khách, là tình yêu đối với người xa lạ (philoxenia) đã thấm nhuần văn hóa cổ điển, và được biểu lộ rõ ràng nơi Chúa Giêsu, đặc biệt trong dụ ngôn Người Samari nhân hậu (xem Lc 10,29-37) và trong những lời của chương 25 Tin Mừng theo thánh Matthêu (x. cc. 31-46). Đây không phải là một ý thức hệ tôn giáo, nhưng là cội rễ Kitô giáo cách cụ thể. Chúa Giêsu đã long trọng khẳng định rằng Người hiện diện ở đó, nơi người lạ, người tị nạn, người mình trần và đói khát. Và đường lối Kitô giáo được tìm thấy nơi Chúa Giêsu. Vâng, như Đức Giáo Hoàng Biển Đức đã viết: đường lối Kitô giáo “là một con tim biết nhìn”. (Thông điệp Thiên Chúa là Tình yêu, 31). Tôi không muốn kết thúc sứ điệp này mà không cảm ơn người dân Hy Lạp về sự chào đón. Nhiều khi việc chào đón này trở thành một vấn đề, bởi vì không thể tìm ra lối thoát cho người ta để đi tiếp. Cảm ơn anh chị em Hy Lạp về sự quảng đại này.
Bây giờ chúng ta hãy cầu xin Đức Mẹ mở mắt cho chúng ta trước những đau khổ của anh chị em mình. Mẹ đã vội vã lên đường đến với người chị họ Elizabeth đang mang thai. Biết bao người mẹ mang thai đã chết khi đang hành trình vội vã ngay cả khi đang mang trong mình sự sống! Xin Mẹ Thiên Chúa giúp chúng ta có một cái nhìn mẫu tử, biết nhìn thấy người khác là những người con của Thiên Chúa, là anh chị em để được chào đón, bảo vệ, thăng tiến và hội nhập; và để được yêu một cách dịu dàng. Xin Mẹ Rất Thánh dạy chúng ta đặt thực tế của con người lên trước những ý tưởng và ý thức hệ, và có những bước tiến vội vã để gặp gỡ những người đau khổ.
Giờ đây tất cả chúng ta cùng cầu nguyện với Đức Mẹ.
ĐỌC KINH TRUYỀN TIN
2021
Tổng Giáo phận Hà Nội khai mạc công nghị kỷ niệm 110 năm Công đồng Kẻ Sở
Tổng Giáo phận Hà Nội khai mạc công nghị kỷ niệm 110 năm Công đồng Kẻ Sở
Tại nhà thờ Chánh tòa Hà Nội, sáng ngày 24.11.2021, Ðức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên đã chủ sự thánh lễ khai mạc triệu tập công nghị Tổng Giáo phận Hà Nội. Ðồng tế có Ðức Hồng y Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, nguyên Tổng Giám mục Hà Nội, Ðức cha Lôrensô Chu Văn Minh, nguyên Giám mục Phụ tá Tổng giáo phận.
Về ý nghĩa của công nghị, Ðức Tổng Giuse cho biết nếu cách đây 110 năm, Công đồng Kẻ Sở cho thấy đoàn kết làm nên sức mạnh và những thành quả tích cực cho hoạt động tông đồ, thì Công nghị giáo phận sẽ là một dấu son trong lịch sử Tổng Giáo phận, sự tiếp nối truyền thống đáng tự hào của các bậc tiền bối, mở ra một tương lai đầy hứa hẹn cho Tổng Giáo phận.
![]() |
Ngược dòng lịch sử, năm 1912, “Công đồng miền Bắc Kì lần thứ hai” được diễn ra tại khu vực nhà thờ Chánh tòa Kẻ Sở, từ ngày 10 đến 24.11, dưới quyền triệu tập và chủ tọa của Ðức Giám mục niên trưởng Phêrô Gendreau Ðông, đại diện Tông tòa giáo phận Tây Ðàng Ngoài (Hà Nội). “Công đồng miền Bắc Kì” quy tụ các Giám mục đang phụ trách các giáo phận khu vực Ðàng Ngoài, từ Sông Gianh trở ra, hiện nay là giáo tỉnh Hà Nội, khi đó thuộc Hội Thừa Sai Paris và Dòng Ða Minh. Mục đích để thống nhất hoạt động mục vụ các giáo phận trong cùng một khu vực, theo hướng dẫn của thánh bộ Truyền giáo ngày 23.6.1879. Công đồng Kẻ Sở có bảy nghị phụ chính thức, đại diện cho bảy giáo phận. Nội dung chính của Công đồng Kẻ Sở có bốn phần bao gồm những quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của “các đấng bậc”: từ giám mục, thừa sai, linh mục bản quốc, thầy giảng đến tổ chức nhà Ðức Chúa Trời, nhà tràng (Chủng viện), và các dòng nam nữ; Quy định về tài sản Hội thánh, việc quản trị, tiêu dùng và sổ sách; Quy định về việc cử hành và lãnh nhận các Bí tích Rửa tội, Thêm Sức, Thánh Thể, Giải tội, Xức dầu, Truyền chức và Hôn phối; Nhắc nhở các linh mục bổn phận phải chăm lo cho các tín hữu sống đạo: siêng năng dự lễ, kiêng việc xác, ăn chay kiêng thịt, chăm sóc anh chị em tân tòng và nhắc nhở tín hữu xa tránh những điều mê tín dị đoan. Khuyến khích các linh mục mở trường học, nhà tiểu nhi và nhà thương…
Chia sẻ trong thánh lễ khai mạc, Ðức Tổng Giám mục Giuse cho biết Công đồng Kẻ Sở có ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử giáo hội Việt Nam nói chung và tại miền bắc nói riêng, các bề trên đã tìm cho mình hướng đi mới để sống hội nhập và“Công nghị của TGP Hà Nội lần này được diễn ra nhằm nhìn lại quá khứ với tâm tình tạ ơn Thiên Chúa, tri ân các bậc tiền nhân về những hồng ân trọng đại đã nhận được từ xưa đến nay. Phân định những thách đố hiện tại với lăng kính đức tin. Canh tân cơ cấu tổ chức hành chính và những thực hành đức tin cho phù hợp với tâm thức của người tín hữu trong thời hiện đại. Ðưa ra những định hướng mục vụ phù hợp giúp Dân Chúa sống đức tin trong bối cảnh xã hội mới, đồng thời hướng tới tương lai, thúc đẩy những hoạt động loan báo Tin Mừng, bồi đắp nền văn minh tình thương tại quê hương Việt Nam. Chúng ta cầu xin cho công nghị đem lại nhiều hoa trái. Công nghị sẽ dàn trải suốt năm 2022 để lắng nghe tiếng nói của Dân Chúa, suy tư cầu nguyện, cùng tìm hướng đi làm sao để người tín hữu làm chứng tá cho Chúa trong bối cảnh hôm nay, như Thư Chung của HÐGMVN năm 1980”.
Công nghị Tổng Giáo phận Hà Nội tôn nhận Thánh Phêrô Trương Văn Ðường tử đạo làm bổn mạng. Ðại hội Công nghị sẽ được tiến hành trong các ngày từ 19-24.11.2022. Những buổi hội thảo về các chuyên đề mục vụ, sẽ được tổ chức trong năm 2022 tại các giáo hạt. Thánh lễ bế mạc năm Công nghị Giáo phận và tạ ơn, kỷ niệm 110 năm Công đồng Kẻ Sở được cử hành vào ngày 24.11.2022 tại Vương Cung Thánh Ðường Sở Kiện.
Anh Nguyên
2021
Giáo phận Lạng Sơn – Cao Bằng cải táng mộ phần các tiền nhân
Giáo phận Lạng Sơn – Cao Bằng cải táng mộ phần các tiền nhân
Ngày 29.11.2021, khi các linh mục giáo phận Lạng Sơn – Cao Bằng tề tựu về Tòa Giám mục tiến hành tĩnh tâm, giáo phận cũng đã cải táng mộ phần các vị giám mục, linh mục từng gắn bó, phục vụ nơi đây.
| Mộ phần trước khi cải táng – ảnh: Đức cha Giuse Châu Ngọc Tri cung cấp |
Ðức cha Giuse Châu Ngọc Tri, Giám mục giáo phận chủ sự nghi thức cải táng Ðức ông Bertrand Cothoney Chiểu, O.P, Phủ doãn Tông tòa đầu tiên của giáo phận (1919 – 1925), qua đời năm 1929; Ðức cha Felix Maurice Hedde Minh, O.P, Ðại diện Tông tòa Giáo phận (1929 – 1939), qua đời năm 1960; và Ðức cha Vinhsơn Phaolô Phạm Văn Dụ, Giám mục tiên khởi giáo phận Lạng Sơn – Cao Bằng (1960 – 1998). Tối 29.11, Ðức cha Giuse Châu Ngọc Tri cùng linh mục đoàn đã dâng lễ cầu nguyện cho các vị. Sau đó, các giáo họ của giáo xứ Chánh tòa Cửa Nam, Tòa Giám mục và nhà dòng Ðaminh thay phiên canh thức kinh lễ cho các ngài suốt đêm, cho đến giờ dâng thánh lễ vào sáng 30.11, lễ thánh Anrê tông đồ.
![]() |
Chia sẻ với Công giáo và Dân tộc, Ðức cha Giuse Châu Ngọc Tri, Giám mục giáo phận Lạng Sơn – Cao Bằng cho biết trong hơn một năm qua, giáo phận đã cải tạo chỉnh trang sân vườn nhà thờ Chánh tòa và chuẩn bị nơi chốn xứng hợp, để tiến hành cải táng 3 vị chủ chăn của giáo phận được an táng trước sân Tòa Giám mục: “Lịch sử 110 năm của giáo phận Lạng Sơn – Cao Bằng như hội tụ lại trong dịp này, khi ba chủ chăn sống chết trong ba thời kỳ khác nhau của giáo phận cùng về ở bên nhau giữa đoàn con cái”. Ðức cha Giuse cũng thông tin thêm, trong khi cải táng các phần mộ, giáo dân được nhìn thấy điều khá đặc biệt là thi hài Ðức Giám mục tiên khởi giáo phận Lạng Sơn – Cao Bằng Vinhsơn Phaolô Phạm Văn Dụ sau 23 năm nghỉ yên trong lòng đất mẹ dường như vẫn nguyên vẹn. “Phần mộ của Ðức cha Vinhsơn Phaolô được xây rất kiên cố, nên mãi đến 17g, với sự tiếp sức của xe cơ giới, mới chạm đến nắp quan tài. Mọi người đang tập trung đông đảo như nín thở và cất tiếng hát tạ ơn. Khi nắp quan tài bằng gỗ được bật ra để lộ nắp trong bằng chất liệu nhựa trong suốt, mọi người ngỡ ngàng đến kinh ngạc khi nhìn thấy thi hài của ngài như còn nguyên vẹn, áo lễ trắng, mũ gậy giám mục, đặc biệt là gương mặt như còn hồng hào, với hàng chân mày đen nhánh rõ nét và mi mắt như chưa nhắm chặt. Bật luôn nắp nhựa ra, thi thể ngài cứng như đông đá, vải vóc giày vớ vẫn còn khá lành lặn, ít đổi màu và không mục nát. 15 phút sau, da mặt đổi màu, trở nên tím tái, mí mắt khép lại. Dù chưa hết bàng hoàng và cảm xúc, chúng tôi cũng phải mau mắn bàn bạc quyết định đưa nguyên thi hài ngài lên mặt đất, đặt lên giường, làm vệ sinh nhẹ, phủ cho ngài một tấm áo lễ mới, đổi áo quan mới, làm nghi thức tẩn liệm cho ngài một lần nữa và đưa ngài vào hội trường trước nhà nguyện Thánh Thể cùng với hai chủ chăn đã yên vị trước”, Ðức cha Giuse kể lại.
![]() |
Ðức Giám mục Vinhsơn Phaolô Phạm Văn Dụ sinh năm 1922 trong một gia đình Công giáo đạo hạnh ở Ninh Bình. Các anh em ngài đều có chí hướng tu tập. Sau nhiều năm tu học, cha được truyền chức linh mục năm 1948, là linh mục của Hạt Ðại diện Tông tòa Lạng Sơn và Cao Bằng. Năm 1958, Ðức cha Jacq Mỹ, Giám mục Phó Ðại diện Tông tòa Lạng Sơn và Cao Bằng rời Việt Nam sang Lào truyền giáo, Ðức Giám mục Ðại diện Tông Tòa Hedde Minh cũng qua đời sau đó vào tháng 5.1960. Trong thời gian này, cha Vinhsơn Phaolô Phạm Văn Dụ đảm nhiệm vai trò Tổng quản Ðịa phận, linh mục chánh xứ Thất Khê. Tòa Thánh loan tin tuyển chọn ngài làm Giám mục giám quản Hạt Ðại diện Tông tòa Lạng Sơn và Cao Bằng vào tháng 3.1960. Ngày 24.11.1960, Hạt Ðại diện Tông tòa Lạng Sơn – Cao Bằng được Tòa Thánh nâng lên giáo phận chánh tòa Lạng Sơn – Cao Bằng, thuộc giáo tỉnh Hà Nội. Ðức cha Vinhsơn Phaolô Phạm Văn Dụ trở thành Giám mục tiên khởi giáo phận này. Ngày 9.3.1998, Ðức cha được Tòa Thánh chấp thuận đơn từ nhiệm vai trò Giám mục Chánh tòa giáo phận Lạng Sơn – Cao Bằng. Ngài qua đời sau đó không lâu, vào ngày 2.9.1998.

.png)

