Aenean nec eros. Vestibulum ante ipsum primis in faucibus orci luctus et ultrices posuere cubilia curae. Suspendisse sollicitudin velit sed leo.

Chuyên mục
  • Bài giảng
  • Các loại khác
  • Chia sẻ
  • Chưa phân loại
  • GH Hoàn Vũ
  • GH Việt Nam
  • Giáo dục
  • Hạnh các Thánh
  • HĐGM Việt Nam
  • Kinh Thánh
  • Phim giáo dục
  • Phụng vụ
  • Sách
  • Suy niệm Chúa nhật
  • Suy niệm hàng ngày
  • Tài liệu giáo dục
  • Tài liệu phụng vụ
  • Thần học
  • Thánh ca
  • Thánh lễ
  • Thánh lễ trực tuyến
  • Thư chung
  • Thư viện
  • Tin tức
  • Triết học
  • Tư liệu
  • UBGD Công giáo
  • Video
From Gallery
Stay Connected
UyBanGiaoDucHDGM.net
  • Trang chủ
  • Thư chung
    • HĐGM Việt Nam
    • UBGD Công giáo
  • Tin tức
    • GH Việt Nam
    • GH Hoàn Vũ
  • Phụng vụ
    • Thánh lễ
    • Thánh lễ trực tuyến
    • Suy niệm hàng ngày
    • Suy niệm Chúa nhật
    • Tài liệu phụng vụ
  • Giáo dục
    • Chia sẻ
    • Tài liệu giáo dục
  • Thư viện
    • Sách
      • Kinh Thánh
      • Triết học
      • Thần học
      • Các loại khác
    • Video
      • Bài giảng
      • Thánh ca
      • Phim giáo dục
      • Hạnh các Thánh
      • Tư liệu
  • Liên hệ
Give Online

Danh mục: Tài liệu phụng vụ

Home / Phụng vụ / Tài liệu phụng vụ
12Tháng Năm
2020

Bữa ăn và sự gặp gỡ

12/05/2020
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Là nguồn cần thiết bổ sung năng lượng, là thời khắc thụ hưởng vui tươi, bữa ăn còn là dịp để đối thoại, trao đổi và chia sẻ. Một tình cảm hiệp thông rất đặc biệt nối kết những người đồng bàn. 

Trong thế giới Kinh Thánh và ngoài xã hội nữa, bữa ăn đánh dấu những biến cố lớn trong đời sống gia đình và cộng đoàn: tiệc thôi nôi, đám cưới, những cam kết xã hội và chính trị. Người ta mời khách dùng bữa. Ý nghĩa biểu trưng vẫn luôn là: nối kết những khách mời, khơi dậy sự hiệp thông tinh thần và hòa hợp tâm hồn.

Ăn bánh

Ăn bánh là “nuôi sống mình”. Trong một xã hội nông nghiệp như xã hội của Kinh Thánh thì ngũ cốc là lương thực cơ bản. Hình thức của chiếc bánh có khác nhau. Đó là tấm bánh hay ổ bánh: bằng lúa mạch, lúa mì, hạt kê hay lúa mì nâu. Đôi khi, bột bánh được làm cho mềm đi bằng mật ong hay dầu. Hạt ngũ cốc không thôi cũng là lương thực cơ bản. Cách đơn giản nhất để chuẩn bị bữa ăn bằng ngũ cốc là rang hay nướng.

Quạ phục vụ bữa ăn

Ngôn sứ Êlia gặp khó khăn khi thi hành nhiệm vụ. Trốn cuộc truy sát của vua Akháp, ông chạy vào sa mạc, nơi không mấy hiếu khách mà ta có thể chết đói ở đấy. Nhưng Thiên Chúa lo lắng và bảo đảm cho sự sống còn của ông. Cứ đến trưa, một con quạ mang bánh và thịt đến. Trước khi đêm xuống, cũng con quạ ấy (hay một con khác?) lại xuất hiện. Và sự việc cứ tiếp tục như thế cho đến khi vị ngôn sứ không còn ở trong tình trạng nguy hiểm nữa. Như thế, Êlia có thể lên đường đi Sarépta (ngôi làng mà Thiên Chúa muốn ông đến), nhờ những bữa ăn mà quạ phục vụ trưa tối. Bản văn này cho ta biết về các giờ ăn. Người Israel cổ ăn bữa trưa và bữa tối, ngồi trên đất. Họ cũng dùng những bữa ăn dặm nhẹ gồm: trái cây khô (chà là, vả, nho), hạt đào lạc (pistaches), quả hạnh (amandes), quả óc chó (noix).

Khi đậu lăng thành giấm chua

Một câu chuyện khác về bữa ăn. Hai anh em sinh đôi: Êsau và Giacóp. Êsau là đứa con yêu của cha; Giacóp là đứa con yêu của mẹ. Một ngày kia, Êsau đi săn như thường lệ. Anh tìm con mồi để chuẩn bị món ăn mà cha anh yêu thích. Đấy là ngày Isaác chúc lành đặc biệt cho người con trưởng. Biết được chuyện, bà mẹ bảo Giacóp bắt hai con dê non trong đàn để bà làm món mà ông Isaác yêu thích. Đánh lừa người cha mù lòa, Giacóp được lầm tưởng là Êsau và chiếm lấy sự chúc lành dành cho anh mình. Hiển nhiên, Êsau đến sau với bữa ăn đã “biến thành giấm”!

Rõ ràng, bữa ăn không đem lại cơ hội cho Êsau, người mà trước đó cũng vừa mới “nhường” quyền trưởng nam cho Giacóp để đổi lấy một tô cháo đậu lăng. Chắc chắn, đậu lăng là họ đậu được biết đến nhiều nhất, nhưng người Israel cổ cũng ăn cả đậu gà (pois chiches) và rau quả như:  dưa chuột, hành tây, tỏi…

Và thức uống?

Người ta uống rượu nho, hoặc là nước nho ép có đường hoặc là nước ép cho lên men. Đôi khi được cho thêm hương vị, rượu nho được pha loãng nếu quá đậm. Hơn nữa, rượu nho không phải là thức uống có cồn duy nhất được biết đến. Chekhar, nghĩa là thức uống làm cho say, hoặc chỉ một loại rượu làm từ quả cây cọ, chà là, một loại bia làm từ lúa mạch, hoặc một thức uống lên men khác. Kinh Thánh còn nói đến một loại hèm làm từ quả lựu.   Để giải khát khi làm việc đồng áng, người ta uống một loại giấm pha với nước.

Gia vị và biểu tượng

Trong thế giới Kinh Thánh, những giao ước đôi khi được gọi là “giao ước muối” (tiếng Hípri là berith mélah), bởi vì muối thêm vị cho món ăn nhưng nhất là vì nó bảo quản tránh khỏi hư hoại. Muối trở thành biểu tượng của sự trường tồn và trung tín của giao ước được ký kết. Những tập quán của người Ả Rập ở đầu thế kỷ giúp ta hiểu rõ hơn về biểu tượng này. Để kết thúc một hiệp ước hay làm cho tình bạn bất phân ly, người Ả Rập cùng nhau nhúng hai miếng bánh của cùng một chiếc bánh vào trong muối và ăn chúng. Họ tuyên thệ rằng: “Hãy làm điều này nhờ bánh và muối ở giữa chúng ta”. Từ đó có thành ngữ Ả Rập  “traître jusqu’au sel” (phản bội đến cả muối, nghĩa là, phá hủy giao ước). Và thành ngữ “avoir mangé un boisseau de sel” (ăn một vốc muối) có nghĩa là “bạn vong niên”.

Ngồi bàn ăn

Phục vụ bàn ăn thay đổi tùy theo giai cấp xã hội. Người nghèo ngồi quanh một mâm ăn sâu lòng mà mỗi người lấy thức ăn bằng tay. Trong những gia đình có điều kiện, người ta đặt những ghế và bàn riêng (những chân ghế mà người ta đặt mâm ăn trên đó). Từ thế kỷ V trước Công nguyên, người ta mới thấy các vua chúa, và những nhân vật đặc biệt (nhất là trong những đại tiệc) nằm dài ra ăn trong khi các bà vẫn ngồi.

Sách Châm Ngôn 23,1-3,6-8 và Huấn Ca 31,12-24 cho chúng ta những mẫu “quy chuẩn” khi ngồi bàn ăn: “Khi con ngồi ăn với kẻ có chức quyền, hãy để ý kỹ người đối diện.  Nếu con vốn tham ăn, hãy đặt dao kề cổ. Đừng thèm thuồng cao lương mỹ vị của hắn, vì đó là thứ đồ ăn phỉnh gạt. […] Chớ ăn bánh của quân xấu bụng, đừng thèm thuồng cao lương mỹ vị của hắn. Vì lòng hắn nghĩ sao, con người hắn như vậy. Hắn mời con: “Ăn uống đi nào!” Nhưng đâu phải hắn có lòng với con. Mẩu bánh vừa nuốt vào, con đã phải thổ ra. Mất công toi bao nhiêu lời tốt đẹp” (Cn 23, 1-3,6-8)

“Khi ngồi trước mâm cao cỗ đầy, đừng hả họng thốt lên: “Chà! Thịnh soạn quá!” Hãy nhớ rằng: mắt hau háu là điều chẳng hay. Có thụ tạo nào tệ hơn con mắt? Gặp chi nó cũng phát khóc (vì thèm). Miếng người khác đã nhằm, con đừng đưa tay tới, đừng giành với họ trên cùng một đĩa. Hãy suy bụng ta mà nghĩ ra bụng người, làm việc gì cũng phải đắn đo cân nhắc. Những món đã dọn ra, hãy ăn làm sao cho xứng một con người, đừng nhai nhồm nhoàm kẻo bị khinh chê. Hãy tỏ ra có giáo dục mà buông đũa trước. Đừng háu ăn kẻo người ta bực mình. Chung mâm với nhiều người, con đừng cầm đũa trước. Người có giáo dục thì chút ít cũng vừa, trên giường nằm sẽ không tức bụng. Ăn chừng mực sẽ ngủ thoải mái, thức dậy sớm, tâm hồn được thảnh thơi; kẻ ăn uống quá độ thì mất ngủ đã đành, mà còn bị thượng thổ hạ tả. Nếu đã bị ép phải ăn, hãy đứng lên ra ngoài mà ói, con sẽ thấy dễ chịu. Con ơi, hãy nghe ta, chớ có khinh thường, sau này con sẽ thấy là ta nói đúng: Trong mọi việc con làm, hãy giữ chừng giữ mực, thì chẳng bệnh tật nào chạm tới con. Chủ nhà hào hoa, người người ca tụng, thiên hạ còn kể mãi về lòng tốt của ông. Chủ nhà sẻn so, cả làng đàm tiếu, thiên hạ có kể về sự hẹp hòi đó thì cũng phải thôi” (Hc 31,12-24)

Bữa tiệc Thánh Thể

Có những lời nói và hành động của Đức Giêsu liên quan đến tính chất xã hội của bữa ăn. Vì thế, khi Đức Giêsu phân phát bánh cho đám đông, Ngài không làm theo kiểu mạnh ai nấy tự phục vụ; Ngài bảo mọi người “quy tụ lại thành những nhóm 100 hay 50 người”, như thế là làm thành những bàn ăn. Và chỉ khi đó thì bữa ăn chính thức mới bắt đầu. Cùng nhau ăn, trao đổi với nhau những lời nói, tăng thêm giá trị thiêng liêng cho thú vui yến tiệc. Trong Kinh Thánh, bữa ăn là nơi khơi gợi lên sự hòa giải, tái lập những giao ước đã bị phá vỡ. Đàng khác, phản bội đang khi người ta tin tưởng cùng ngồi ăn với nhau, đó sẽ là sự phản bội tệ hại nhất trong mọi sự phản bội.

Theo các Tin Mừng, chính quanh một bàn ăn mà Đức Giêsu đã quy tụ các môn đệ với nhau lại lần cuối cùng. Chia sẻ bánh và rượu trở nên biểu tượng của quà tặng mà Chúa đã làm bằng chính con người mình dành cho số đông người, là giao ước mà Ngài thiết lập với mỗi người. Nhất là nó tượng trưng cho sự kết hiệp từ nay ngự trị giữa những ai “ăn bánh và uống chén này” trong khi chờ đợi bữa đại yến tiệc cùng với Ngài trong Nước Trời.

 

Aldina da Silva
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ từ Parabole

Read More
10Tháng Năm
2020

Có phải sách Khải Huyền không được đọc trong các Thánh lễ?

10/05/2020
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

 

Dưới đây là trả lời của cha Cido Pereia dành cho độc giả Regina Célia trên tuần báo São Paulo thuộc tổng giáo phận Brasil.

 

“Regina thân mến, tôi nghĩ rằng bạn không nhận ra sách Khải huyền đã được dùng, và thường dùng trong thánh lễ. Ví dụ, Khải huyền đã được dùng trong các bài đọc Năm C ở tuần thứ 4, 5 và 6 mùa Phục sinh, và những ngày trong tuần 33 và 34 mùa Thường niên. Các bài đọc Khải huyền cũng được dùng trong các Thánh lễ Cung hiến nhà thờ, lễ về Đức Mẹ, các Thánh Tử đạo và các Thánh. Nó cũng thường được dùng trong lễ cầu cho người đã qua đời.

 

Đó là một cuốn sách rất đặc biệt. Sách được thánh Gioan viết trong giai đoạn đau khổ lớn lao vì những cuộc bách hại đang nhắm vào Giáo hội. Thánh Gioan đã viết bằng một ngôn ngữ đầy biểu tượng để duy chỉ các Kitô hữu mới hiểu được nó. Cuốn sách miêu tả cách tượng trưng cuộc đấu tranh của quyền lực sự dữ chống lại các môn đệ của Chúa Giêsu, cho đến khi Người trở lại. Cuối cùng họ sẽ chiến thắng và thành Giêrusalem trên trời cũng sẽ xuất hiện.

 

Tôi nghĩ về những đau khổ của các Kitô hữu tiên khởi, họ phải đối diện với những cuộc bách hại và hiểu lầm. Họ bị cám dỗ để nản lòng, từ bỏ niềm tin vào Chúa Giêsu. Khải huyền là một cuốn sách tràn đầy hy vọng. Qua sách này, thánh Gioan hô lên rằng chỉ những ai kiên trì đến cùng mới được cứu rỗi. Vì thế, cuốn sách diễn tả bữa đại tiệc sau cùng, khi Chúa Giêsu là tất cả trong mọi sự.

 

Sách Khải Huyền được chia thành hai phần chính: phần đầu tiên đề cập đến kinh nghiệm hiện tại nơi các cộng đoàn Kitô giáo. Giáo hội phải đối mặt với nhiều cuộc đấu tranh, nhưng trong tương lai, Giáo hội và Chúa Kitô sẽ chiến thắng. Vì vậy, tôi nhắc lại, Khải huyền là một cuốn sách đầy tràn hy vọng”.

 

Xin Thiên Chúa chúc lành cho bạn và gia đình.

 

  1. Võ Tá Hoàngchuyển ngữ
Read More
09Tháng Năm
2020

Bàn thờ hình tròn có được không?

09/05/2020
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Viếng thăm nhiều nhà thờ, chúng ta nhận ra rằng hầu hết các bàn thờ trong cung thánh có bề mặt là hình chữ nhật. Nhưng thỉnh thoảng chúng ta cũng thấy bàn thờ có bề mặt là hình vuông, hình tròn hay hình đa giác. Để xác định bàn thờ trong cung thánh nhà thờ có thể làm theo hình tròn hay không, thiết tưởng chúng ta cần tìm hiểu các hình dáng của bàn thờ đã từng xuất hiện và tồn tại trong lịch sử Hội Thánh cũng như duyệt lại luật phụng vụ hiện hành quy định về hình dáng của bàn thờ như thế nào.

Phương diện lịch sử

Thực sự, Tân Ước không nói nhiều đến bàn thờ. Chúng ta có thể biết tới bàn thờ trong thị kiến được nêu ra trong sách Khải huyền. Khi các sách Tân Ước đang được viết, thì cái bàn cộng đoàn sử dụng để cử hành Bữa tiệc của Chúa không phải là bàn thờ thực sự, mà chỉ là cái bàn nhỏ, đơn giản và bằng gỗ với chức năng nguyên thủy, theo như Josef Jungmann cho biết, là để đặt bánh và rượu trên đó, nhưng khía cạnh bàn tiệc của bí tích vẫn sáng tỏ.[1] Nhận định này trùng với ý kiến cho rằng thời các tông đồ, bàn thờ chỉ là một cái bàn ăn (mensa) và được gọi là bàn ăn của Chúa Kitô (mensa Christi) vì Bữa ăn Huynh đệ (Agape) liên kết với lễ Nghi lễ Bẻ bánh (Eucharistia) giữa cộng đoàn[2]. Lúc bấy giờ, Agape đi chung với Eucharistia, bàn có hình chữ C. Nhưng từ khi Agape bị tách ra khỏi Eucharistia vì sự lạm dụng như được mô tả trong 1Cr 11,17-34, thì chỉ còn một cái bàn cho cả cộng đoàn. Căn cứ vào hình ảnh trên các vòm hang toại đạo thì bàn này hình tròn, có ba chân, thường làm bằng gỗ. Mọi người tham dự Nghi lễ Bẻ bánh đứng chung quanh bàn và tiến đến bàn khi hiệp lễ. Do nguồn gốc này mà trong Lễ quy Rôma, dân chúng được gọi là CIRCUMSTANTES, nghĩa đen là những người đứng chung quanh.[3] Trong GH đã từng tồn tại bàn thờ hình bán nguyệt từ thập kỷ đầu của thế kỷ thứ hai. Cổ xưa nhất, cũng như đáng chú ý nhất là bức bích họa về cử hành Thánh Thể được tìm thấy ở nhà nguyện Greca với hình ảnh có bảy người ngồi trên một ghế dài hình bán nguyệt trước một cái bàn cùng hình bán nguyệt.[4]

Ngoài các hình dáng trên đây, hầu như mọi bàn thờ trong nhà thờ/nhà nguyện vào thời kỳ trước Công đồng Vatican II và ngay cả hiện nay đều có hình dáng là chữ nhật hoặc ít là mặt bàn thờ với phiến đá là hình chữ nhật vì bàn thờ được thiết kế như một: ngôi mộ; bàn thờ hy tế; và  bàn ăn/ bàn tiệc của Chúa (Mediator Dei, 62; QCSL 73, 296; GLCG 1181; LNGM 945)[5] vì chiều kích hy tế của bí tích Thánh Thể hay chiều dọc của việc thờ phượng trong Thánh lễ được nhấn mạnh nhiều hơn.[6] Bàn thờ này không chỉ là bàn tiệc Thánh Thể mà theo thánh Tôma Aquinô, còn là Thánh giá Chúa Kitô, trên đó Chúa Giêsu chịu sát tế, Ngài “lấy máu mình mà thánh hoá toàn dân” (Hr 13, 10-12).[7]

Sau thời cấm đạo ở Rôma (thế kỷ IV-V), những bàn thờ bằng đá sớm nhất chính là ngôi mộ của các vị tử đạo được chôn cất trong hang toại đạo ở Rôma. Việc cử hành Thánh Thể trên mộ của các vị tử đạo có dấu vết từ thế kỷ thứ hai nhằm tưởng niệm và vinh danh những người sẵn sàng chịu chết vì đức tin. Dưới triều đại của ĐGH Damasus (366-384), các nhà thờ và nhà nguyện được dựng lên ở Rôma và những nơi khác để vinh danh các vị tử đạo nổi tiếng nhất, và các bàn thờ, khi có thể, được đặt ngay phía trên ngôi mộ của họ vì muốn liên kết hài cốt các vị tử đạo với bàn thờ (nơi cử hành Thánh lễ).[8] Điều này thích ứng với những gì sách Khải huyền mô tả: “Khi Con Chiên mở ấn thứ năm, thì tôi thấy dưới bàn thờ, linh hồn của những người đã bị giết vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và đã làm chứng”(Kh 6,9). Nó còn nhằm nhấn mạnh ý nghĩa: Hy lễ của các chi thể bắt nguồn từ hy lễ của Đấng là Đầu và là Thủ Lãnh. Vào khoảng thời gian này (thế kỷ IV –VI), người ta cũng có thói quen chôn các linh mục và giám mục dưới bàn thờ. Nhưng ĐGH Félix I tuyên bố chỉ mộ huyệt của các thánh tử đạo mới xứng đáng là nơi để dâng lễ, nên không cho cử hành Thánh lễ trên bất cứ mộ phần nào khác. Đây là lý do mà trong quá khứ, các nhà kiến trúc đã từng thiết kế bàn thờ như một ngôi mộ, đôi khi có cả thi thể của một vị thánh nằm trong đó. Nhất là từ thế kỷ thứ X, người ta đẩy lùi bàn thờ vào cuối cung thánh, linh mục quay mặt vào bàn thờ [sát tường/hậu bầu của cung thánh] để cử hành Thánh Thể, giáo dân nhìn vào lưng của ngài. Còn thầy phó tế, lúc trước đứng đối diện với chủ tế trong suốt Thánh lễ, nay đứng sau lưng của ngài, đương nhiên hình dáng của bàn thờ là hình chữ nhật/ngôi mộ.[9]

Từ sau Công đồng Vatican II, khi chiều kích hiệp thông huynh đệ/bàn tiệc Thánh Thể được nhấn mạnh nhiều hơn hầu giúp toàn thể cộng đoàn có thể tham gia nhiều hơn vào nghi thức Thánh lễ thì mới nảy sinh các thiết kế và xây dựng sau:[10] [i] Thứ nhất, mặt sàn nhà thờ có thể không còn theo kiểu mẫu hình thánh giá của các basilica xưa kia nữa (chẳng hạn như sàn của các nhà thờ chính tòa kiểu Gôtic tại Âu châu, tại Mỹ, các nhà thờ cổ tại Việt Nam hay đa số các nhà thờ tại miền Bắc nước ta). Thay vào đó, sàn nhà thờ của một số thánh đường thời kỳ hậu Vatican II có hình thức gần giống như sàn của một “nhà hát”/ “sân vận động”, nghĩa là chúng được thiết kế và xây dựng theo hình vuông, bán nguyệt, lục giác, bát giác, tròn hay bầu dục. Cung thánh sẽ ở trung tâm hoặc được đặt ở góc của hình vuông hay dựa sát vào tường nếu mẫu nhà thờ có sàn hình bán nguyệt, lục giác hay bát giác; [ii] Thứ hai, một loại bàn thờ chưa bao giờ được biết đến ở tầm mức hoàn vũ và đáng ao ước ở mọi nhà thờ mới. Đó chính là bàn thờ để cử hành Thánh lễ đối diện với dân chúng (versus populum) như đã từng thực hành hồi thế kỷ IV-VI trong những ngôi đại thánh đường, hoặc nơi tư gia, hay thậm chí  trong các hang toại đạo.[11] Như vậy, với bàn thờ mới, cộng đoàn dễ dàng tham dự phụng vụ cách tích cực hơn,[12] cho thấy sự hợp nhất giữa chủ tế và dân chúng trong một cử hành.[13] Thêm nữa, vị tư tế có thể cử hành Thánh lễ theo cả hai cách: đối diện với dân chúng hay đối diện với bàn thờ và sẽ phải có một khoảng không gian thềm cung thánh rộng rãi ở cả hai phía của bàn thờ cho chủ tế đứng và bái quỳ cũng như để ngài có thể thuận tiện đi xung quanh bàn thờ mà xông hương (QCSL 299; DX 64).

Hậu nhiên là do những thay đổi trên đây mà người ta bắt đầu thấy xuất hiện trở lại, tuy không nhiều lắm, bàn thờ theo hình tròn/bát giác/bầu dục. Đồng thời người ta còn mô tả bàn thờ là “bàn của cộng đoàn”.[14] J. Gélineau đặt vấn đề như sau:

Vậy cái bàn này phải có hình dáng thế nào để ta thấy đó là nơi Chúa Kitô mời ta đến cùng đồng bàn với Ngài, và để nó nhắc ta nhớ đến các bữa ăn của ta, các cuộc chung vui của ta? Ta phải tỏ dấu kính trọng bàn thờ thế nào? Trang hoàng các bông hoa, ánh sáng…? …Rồi còn những khi người ta chất lên bàn thờ đủ thứ, nào là máy ghi âm, các thứ dây điện chằng chịt, từng chồng sách, cả những máy am-pli, máy thâu băng… Như vậy không phải làm mất hình ảnh bàn thờ đó sao?”[15]

Quy định phụng vụ

Bộ Giáo Luật (1983), khi bàn về “bàn thờ” từ điều 1235-1239, tuyệt nhiên không nói gì đến hình dáng bàn thờ mà chỉ đề cập đến những vấn đề sau: số bàn thờ trong nhà thờ; bàn thờ cố định và bàn thờ lưu động; chất liệu làm bàn thờ (bằng đá, tảng đá tự nhiên duy nhất, hoặc bằng chất liệu khác, xứng đáng và vững chắc…); cung hiến và làm phép; lưu giữ hài cốt các vị tử đạo hay các thánh khác dưới bàn thờ cố định; bàn thờ chỉ được dành riêng cho việc phụng tự, tuyệt đối phải loại trừ mọi sử dụng phàm tục; không chôn táng xác chết dưới bàn thờ và không được phép cử hành Thánh lễ trên bàn thờ ấy.

Toàn bộ Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma [QCSL] (2002) đề cập đến hạn từ “bàn thờ” ở 213 chỗ, đặc biệt tại mục “Bàn thờ và cách trang trí”, QCSL cho chúng ta biết rất chi tiết về bản chất, chức năng và cách sắp xếp bàn thờ: bàn thờ cố định, bàn thờ di động, việc xây bàn thờ cách vách tường để có thể dễ dàng đi chung quanh và có thể cử hành Thánh lễ quay mặt xuống tín hữu, bàn thờ phải làm bằng chất liệu xứng hợp, quý giá, bền chắc như đá tự nhiên, gỗ quý… (các số 296-308). Tuy nhiên, bộ Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma (2002) không xác định bàn thờ làm theo theo hình dáng nào.

Tài liệu Dựng Xây Từ Những Viên Đá Sống Động [DX] (2006) của UBGM về Nghệ Thuật Thánh (trực thuộc HĐGM Việt Nam) hầu như chỉ lập lại, khai triển và cụ thể hóa những gì đã được nói đến trong Bộ Giáo Luật (1983) và Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma (2002) tại các số 63-67. Cách riêng tại số 63, tài liệu hướng dẫn: “Dù không nói rõ kích thước và hình dáng, nhưng bàn thờ cần phải cân đối với nhà thờ. Hình dáng và kích thước cần phản ánh bản chất của bàn thờ là nơi tế lễ và là bàn, nơi mà Chúa Kitô tụ họp cộng đoàn xung quanh để nuôi dưỡng họ…”. Như vậy, Dựng Xây Từ Những Viên Đá Sống Động cũng không xác định bàn thờ làm theo theo hình dáng nào.

Cử hành Thánh lễ bên ngoài nhà thờ/nguyện

Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma (2002) số 297 nói rằng: “Trong nơi thánh, Thánh lễ phải được cử hành trên một bàn thờ. Ngoài nơi thánh thì có thể cử hành trên một bàn thích hợp, nhưng bao giờ cũng phải có khăn phủ bàn và khăn thánh, thánh giá và nến.” Trong nơi thánh, tuyệt đối Thánh lễ luôn luôn phải cử hành trên bàn thờ và bàn thờ này phải đáp ứng các quy định về luật phụng vụ như vừa nhắc lại trên đây nhưng không nhất thiết là phải có hình vuông, hình chữ nhật hay hình tròn. Còn “cái bàn” bên ngoài nhà thờ dùng để cử hành Thánh lễ được hiểu là một cái bàn thích hợp tại các đền thánh, tư gia hay nơi hành hương trong tâm tình và nhận thức rằng tình yêu của Chúa Kitô lan tràn khắp mặt đất và Hội Thánh tìm thấy nhà của mình không chỉ ở những nơi thánh được dành riêng để tôn thờ Chúa mà còn ở nơi khác nữa.[16] Chính vì vậy, cái bàn này sẽ có những hình dáng khác nhau. Liên quan đến vấn đề này, có thể nói lại ở đây kinh nghiệm của thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II: “Tôi đã được cử hành Thánh lễ trong nhà nguyện trên triền núi, trên bờ hồ, trên bãi biển, tôi đã dâng Thánh lễ trên bàn thờ dựng ngay trong sân vận động, trên công trường các thành phố?”[17]

Kết luận

Tóm lại, sự đa dạng của các hình dáng bàn thờ và luật phụng vụ không quy định hình dáng của bàn thờ sẽ dễ dàng dẫn người ta tới chỗ tùy nghi chọn lựa thiết kế bàn thờ hoặc theo hình chữ nhật, hoặc theo hình vuông, hình bầu dục, hay hình tròn phù hợp với kích cỡ cộng đoàn của họ cũng như có tương quan mỹ học với giảng đài, ghế chủ tọa và môi trường phụng vụ nói chung ở đó. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng với những nhà thờ nhỏ, thì bàn thờ nên có hình vuông hay hình chữ nhật; còn với những thánh đường lớn, bàn thờ có thể thiết kế theo hình chữ nhật hay hình tròn vì như vậy bàn thờ mở ra cho 4 phương của thế giới. Dù vậy, phương án tốt nhất là chúng ta nên chọn bàn thờ có hình chữ nhật, vì những lý do sau: [i] Thứ nhất, sự chọn lựa này tiếp tục truyền thống và thực hành phổ biến nhất từ xưa tới nay về hình dáng của bàn thờ; [ii] Thứ hai, hình dáng này thuận lợi nhất cho việc bày trí các vật dụng phụng vụ trên bàn thờ; [iii] Thứ ba, khi nói đến “cạnh bàn thờ”/ “góc bàn thờ” (latus altaris/the side of the altar) đi kèm với hành động của chủ tế/các vị đồng tế như trong Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma (2002) tại các số 76, 142, 144-145, 163, 248, 270 và trong Nghi thức Thánh lễ (2002) tại số 28 cũng như tại số 17 của Nghi thức Thánh lễ (2002) [khi chỉ có một thừa tác viên tham dự], rõ ràng chúng ta liền nghĩ ngay, hiểu ngay đến bàn thờ hình chữ nhật hơn bất cứ một hình nào khác và hình tròn thì chắc chắn chẳng có “góc” hay “cạnh” gì cả.

______________

[1] Xc. Dennis McNally, SJ, “Altar”, trong Fink E. Peter, SJ (ed.), The New Dictionary of Sacramental Worship (Collegeville, Minnesota: A. Michael Glazier Book/ The Liturgical Press, 1990)43-45.

[2] J. Jungmann, The Early Liturgy: To the Time of Gregory the Great, tr. Brunner Francis (Indiana: University of Notre Dame Press, 1959), 254.

[3] Charles E. Miller, CM, The Celebration of The Eucharist (Newyork: St Paul’s, Alba House, 2010),  49.

[4] Maurice M. Hassett, “History of the Christian Altar”, trong The Catholic Encyclopedia, copyright © 1913 by the Encyclopedia Press, Inc. Electronic version copyright © 1996 by New Advent, Inc., P.O. Box 281096, Denver, Colorado, USA, 80228. ([email protected]) Taken from the New Advent Web Page (www.knight.org/advent).

[5] Xc. Duncan G. Stroik, The Church Building as a Sacred Place (Chicago/Mundelein, IL: Hillenbrand Books, 2012), 96; Richard Taylor, Làm thế nào để hiểu một thánh đường, dg, Nguyễn Văn Huy (Nxb. Tôn Giáo, 2014),60-61.

[6] Joseph M. Champlin, Bên trong Nhà thờ Công giáo (Nxb. Tôn Giáo, 2015), 64.

[7] Thomae Aquinatis, “In Epistolam ad Hebraeos”, trong Divi Thomae Aquinatis Doctoris Angelici Ordinis Praedicatorum. Opera VII-VIII (Venetiis, 1747), 407-584, 579.

[8] Cuốn “Liber Pontificalis” vốn được gán cho  ĐGH Felix I (269-274) chứa một sắc lệnh cho biết Thánh lễ nên được cử hành trên các ngôi mộ của các vị tử đạo (constituit supra memorias martyrum missas celebrare, “Lib. Pont.”, ed. Duchesne, I, 158); Xc. J. B. O’Connell, Church Building and Furnishing (London: Burns & Oates, 1955), 127.

[9] J. B. O’Connell, Church Building and Furnishing, 129; Nguyễn Văn Trinh, Thánh lễ 2 (Lớp BDTH Liên Dòng. Knxb), 148-149; Duncan G. Stroik, The Church Building as a Sacred Place (Chicago/Mundelein, IL: Hillenbrand Books, 2012), 132.

[10] Mark G. Boyer, The Liturgical Environment,  2nd edition (Collegeville, Minnesota: Liturgical Press, 2004), 8-10.

[11] Consilium, “Letter Le renouveau liturgique of Cardinal G. Lercaro to presidents of the conference of bishops, on furthering liturgical reform (30 June 1965)”, trong Documents on the Liturgy 1963 – 1979, Conciliar, Papal, and Curial Texts (Minnesota: The Liturgical Press, 1982), 117-122; J. B. O’Connell, Church Building and Furnishing, 153-154.

[12] Sacra Congregatio Rituum, Instructio, ad exsecutionem constitutionis de sacra liturgia recte ordinandam, AAS 56 (1964) 877-900.

[13] C. Napier, “Altar in Contemporary Church”, trong The Clergy Review 57 (1972/8) 628.

[14] Dennis R. McNamara, Catholic Church Architecture and the Spirit of the Liturgy ((Chicago/Mundelein, IL: Hillenbrand Books, 2009), 219.

[15] J. Gélineau, Họp Nhau Cử Hành Phụng Vụ, tập I (Nxb Đồng Nai, 1992), 217.

[16] Xc. Mary Schaefer – Joanne M. Pierce, “Some General Norms for All Forms of Mass”,  eds. Edward Foley, et al., A Commentary on the General Instruction of the Roman Missal (Collegeville, Minnesota: A Pueblo Book/ The Liturgical Press, 2007), 361.

[17] ĐGH Gioan Phaolô II, Ecclesia de Eucharistia, 8. Lm. Giuse Phạm Đình Ái, SSS

Read More
29Tháng Tư
2020

Tội nguyên tổ dưới nhẫn quan duy thức

29/04/2020
Anmai
Phụng vụ, Tài liệu phụng vụ
0

Tội nguyên tổ dưới nhẫn quan duy thức

Từ vài chục năm nay, vấn đề Tội Nguyên Tổ đã trở thành đề tài bàn tán sôi nổi giữa những nhà thần học Công Giáo và sở dĩ như thế là vì nó có liên hệ tới hai lãnh vực Khoa Học và Thần Học như sau.

Hiện nay, khoa học đã có những hiểu biết vượt bực về vũ trụ, thiên văn, cổ sinh vật học, nhân chủng học v,v…và vì thế người ta không thể chấp nhận có hai con người đầu tiên được sinh ra gọi là nguyên tổ Adam, Eva và khi đã không có nguyên tổ thì cũng chẳng làm gì mà có cái gọi là Tội  Nguyên Tổ ?

Còn nếu xét trên phương diện thần học cũng không thể chấp nhận Tội Nguyên Tổ. Lý do là vì ta có thể đặt giả thuyết nếu Adam, Eva không nghe lời cám dỗ của rắn Sa Tan thì đã không phạm tội  đến nỗi bị đuổi ra khỏi Vườn Địa Đàng  thì  cần gì Đức Ki Tô phải xuống thế làm người hầu cứu chuộc thiên hạ ? Còn như nếu nhìn nhận có Tội Nguyên Tổ thì chẵng lẽ  Đức Ki Tô chỉ đến để sửa chữa những  hư hỏng do Adam lỡ gây ra cho kế hoạch…bất toàn của Thiên Chúa hay sao ?

Công nhận hay phủ nhận Tội  Nguyên Tổ  như vậy đều không thể  được và Tội Nguyên Tổ rút cục đã trở thành như …miếng xương gà mắc nơi cổ họng, khạc không ra mà nuốt vào cũng chẳng  được: “ Nếu thực sự có một vấn  đề trời  tru  đất diệt, không ai dám đề cập tới, không ai ưa  đả động gì  thì đó phải là vấn đề Tội Nguyên Tổ ( Tội Tổ Tông Truyền ). Tin rằng Thiên Chúa đã  trực tiếp dựng nên  Adam và Eva tức khắc phải đối đầu với cả một vấn đề hết sức  rắc rối rồi.  Còn tin rằng hai ông bà Nguyên Tổ đã truyền lại cho con cháu về sau cả một  tội trạng được coi như  là câu giải đáp cho  những tai họa khốn đốn đang dồn dập trút đổ xuống trên đầu nhân loại thì đó là chuyện còn quá đáng hơn nữa, không thể nào chịu đựng được. Hễ cứ mạo hiểm trình bày  vấn đề như thế là giáo lý viên  sẽ đau đớn nắm chắc  phần thất bại. Và không riêng gì giáo lý viên  mà cả tính cách đáng tin của Giáo Hội và niềm tin vào Thiên Chúa là Cha của Đức Giê Su cũng chuốc lấy luôn thảm bại nữa” ( Nguồn: Conggiao Info – 18/6/2015 – Tội Nguyên Tổ ).

Tại sao chấp nhận Tội Nguyên Tổ thì niềm tin vào Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê Su lại chuốc lấy thảm bại ?  Đó là vì nếu đã chấp nhận Tội  Nguyên Tổ  thì đương nhiên cũng phải nhìn nhận có Đấng Tạo Hóa. Đang khi đó  với Đấng gọi là Tạo Hóa đó  không thể là Cha  Đức Ki Tô cũng như mạc khải của Ngài: “ Ngoài Cha không ai biết Con. Ngoài Con và người nào Con muốn mạc khải cũng không ai biết Cha” ( Lc 10, 22 ).

Một đàng chỉ Đức Ki Tô và những ai Ngài muốn mạc khải mới…biết về Cha. Đàng khác thần học lại khẳng  định Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, như vậy thì còn cần chi tới mạc khải ? Thật sự, đấng được gọi là Tạo Hóa ấy chỉ là một quan niệm của thần học và quan niệm ấy lại thoát thai từ triết học Hy Lạp, nói chính xác là của Aristote: “ Với tín hữu Ki Tô giáo, vũ trụ  và sự vận hành trong vũ trụ là do Thiên Chúa  sáng tạo từ hư vô. Trái lại với Aristote cả vũ trụ, cả vận hành của nó đều có từ đời  đời và không bị tạo dựng bởi Thiên Chúa. Với Aristote “ Thiên Chúa” chỉ  được quan niệm  như một sức mạnh kiểu Đệ Nhất Động Cơ để làm cho trời đất vận hành thế nên vị…thần Động Cơ này không biết gì  đến vũ trụ, cũng không lo lắng…Thiên Hựu ( Providence ) cho vũ trụ” ( L.T. Nghiêm – LSTHTP – Q.2 ).

Một  Đấng Tạo Hóa mà lại không quan tâm  gì đến vũ trụ thì làm sao có thể là Cha của  Đức Ki Tô ? Như vậy quan niệm Đấng  Tạo Hóa  thuần túy chỉ là sản phẩm của triết Hy Lạp, nó chẳng có quan hệ gì tới Đấng Cha của Đức Ki Tô  cũng như của  hết thảy Ki Tô Hữu chúng ta.

Có câu hỏi không thể không đặt ra đó là tại sao quan niệm Đấng  Tạo Hóa  lại có thể thống ngự Giáo Hội suốt trong bao thế kỷ ? Nguyên nhân sâu xa là vì  thần học từ trước tới nay vẫn là Duy Lý. Triết gia Clement d, Alexangdria vào đầu thế kỷ thứ III nói: “ Nhiều Ki Tô Hữu sợ triết học Hy Lạp như trẻ con sợ ngáo ộp, sợ bị triết học này chinh phục. Nếu đức tin của chúng ta là như thế, nếu nó sụp đổ trước sự thuyết phục của lý luận thì hãy cứ để cho nó sụp đổ, bởi lẽ qua đó chúng ta chứng tỏ rằng chúng ta đã không có chân lý” ( Giáo Phụ – Tập I, từ TK 1 đến TK 4 ).

Ngay từ những thế kỷ đầu, đức tin đã bị triết Hy Lạp chinh phục và rồi  đến thế kỷ 13, xét trên phương diện thần học, Giáo Hội đã chính thức bước vào con đường Tục Hóa khi công nhận Aristot  cùng với Thánh Gioan Baptixita là…Tiền Hô của Đức Ki Tô: “Tiền Hô của Christ  trong những gì thuộc lãnh vực thiên nhiên, không khác gì Jean Baptist trong những gì thuộc lãnh vực ơn sủng” (Proecursor Christi in rebus naturalibus, sicut Joannes Baptista in rebus gratituitis )

Thần học hiện nay  gọi là Duy Lý  bởi vì  đã nhìn nhận  câu định nghĩa của Aristot như là nền tảng của triết học: “ Người là con vật biết suy lý” ( L, home est l,animal raisonnable ). Lấy Lý Trí làm nền tảng cho triết học, đây là sai lầm nghiêm trọng của triết học Tây Phương nói chung và của thần học Ki Tô giáo nói riêng. Tại sao ? Bởi vì Lý Trí luôn là Lý Trí phân biệt và nó chính là Tội  Nguyên Tổ trong câu chuyện có tính biểu tượng  của Sách Sáng Thế: “ Giehova ĐCT đem người  vào cảnh vườn Eden để trông và giữ vườn. Rồi Đức Giehova phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn. Nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến. Vì một mai ngươi ăn chắc là phải chết” ( St 2, 15 -16 ).

Biết ở đây có nghĩa là biết phân biệt điều thiện và điều ác. Tại sao biết phân biệt điều thiện, điều ác lại là…tội ? Bởi vì chính cái biết phân biệt ấy mà đã hình thành nên một…Cái Ta ( Ngã ) và cũng chính bởi …Cái Ta ấy đã làm cho con người xa cách  nhau  cũng như với thiên nhiên, trời đất.

Đức Ki Tô xuất sinh nơi  đời mục đích  để cho con người được…làm hòa với  Thiên Chúa và với nhau. Nhưng  bởi u mê chấp ngã nên con người  đã không chấp nhận: “ Ban đầu có Đạo, Đạo ở cùng ĐCT. Đạo ấy ban đầu ở cùng ĐCT . Muôn vật bởi Ngài dựng nên, ngoài Ngài chẳng có vật gì được  dựng nên. Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người. Sự sáng soi trong tối tăm  mà tối tăm chẳng tiếp nhận” ( Ga 1, 1 -5 ).

“ Đạo” cần được hiểu như là Chân Tâm thường trú ở nơi mỗi người. Chân Tâm ấy rộng lớn như hư không, không ngằn, không mé, bao la vô cùng vô tận, không một…vật gì có thể ngoài Chân Tâm ấy mà có. Nhà Phật phát biểu  chân lý ấy thế này: “ Tam giới duy Tâm. Vạn pháp  duy Thức”.

Tam giới tức là Dục Giới. Sắc Giới và Vô Sắc Giới. Cả ba cùng trong một Chân Tâm cũng gọi là Phật Tánh vốn đã sẵn đủ ở nơi mỗi người. Còn Vạn Pháp Duy Thức có nghĩa  muôn sự muôn vật đều là Thức, do Thức biến hiện. Nói cách đơn giản và dễ hiểu thì tất cả những gì gọi tên ra được đều là Thức. Cái nhà là Thức, con vi trùng vô hình là Thức mà mặt trời to lớn kia cũng là Thức. Tóm lại đó chỉ là những cái ..tên, cái danh mà thôi.

Đang khi Chân Tâm thì bao la vô cùng vô tận, thế mà tại sao lại phân chia manh mún  thành ra những cái Thức, cái tên như vậy ? Xin thưa  tất cả là do Thức Phân Biệt  còn gọi là Thức thứ sáu trong Duy Thức Học.

Sở dĩ  có tên là Thức thứ sáu bởi vì nó …đứng hàng thứ sáu trong Bát Thức Tâm Vương: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức, Mạt na thức và Alaida thức.

Có năm Thức trước  gọi là Tiền Ngũ Thức:

1, Nhãn thức: Có vật trước mắt, thấy vuông, tròn, méo, lớn nhỏ v.v…

  1. Nhĩ thức: Có tiếng động, tai nghe sanh các biết, biết tiếng trầm, tiếng bổng, thanh, thô v.v…

  1. Tỷ thức:  Có những mùi đem gần mũi, biết thơm, biết thối v.v…

  1. Thiệt  thức: Có đồ ăn đem vào miệng, lưỡi nếm, sanh các biết, biết mặn, ngọt, cay, chua v.v…

  1. Thân thức: Có vật  đụng chạm đến thân  sanh các biết, biết mềm, cứng, biết nóng, lạnh v.v…

Năm cái biết ( Thức ) này  chỉ là cảm biết chứ không phải là  Thức nếu chưa có Ý Thức xen vào. Nói cho dễ hiểu khi ta nhìn một bông hoa thì đó mới chỉ là một thứ cảm biết ( tri giác ). Chỉ khi nào thấy nó đẹp, xấu, lớn, nhỏ….thì mới được gọi là Thức.

Trong tám thứ Thức  thì Thức thứ sáu này khôn ngoan, lanh lẹ hơn hết. Suy nghĩ làm việc phải, Thức này đứng đầu mà tính toán làm việc quấy nó cũng hơn cả ( Công vi thủ, tội vi khôi ). Lý do khiến định công, tội của Thức thứ sáu  là vì tất cả những gì mà Thức này  do phân biệt mà có ấy đều được Thức thứ bảy ( Mạt na Thức  còn gọi là Thức chấp ngã đưa vào chất chứa ở nơi Thức thứ tám Alai da ( Tạng Tâm )

Khi nhìn bông hoa ở công viên hay nhà  người  mà khởi Tâm tham muốn hái đem về …trưng ở nhà mình thì đó là Tâm tham do ngã chấp điều khiển.Trái lại cùng nhìn bông hoa ấy mà không khởi đẹp, xấu, đó gọi là Tâm vô ngã là thấy đúng như thực tại nó là.

Tội của Ý Thức chính là thấy có một Cái Ta và vì Cái Ta đó mà  hành động.  Ngược lại bỏ đi cái ý thức phân biệt ấy đó lại là Công. Dù là Công ( Vô Ngã ) hay Tội ( Chấp Ngã ) mà làm thì tất cả những việc làm ấy đều được đem chất chứa  lâu ngày chầy tháng  để trở thành cái Nghiệp của mỗi người.

Có hai thứ Nghiệp, một là Nghiệp  thế gian, hai là Nghiệp xuất thế gian. Đạo Chúa là  đạo xuất thế gian: “ Nếu các ngươi thuộc về thế gian thì thế gian chắc sẽ yêu mến  những kẻ thuộc về mình. Nhưng vì các ngươi không thuộc thế gian. Song Ta đã lựa chọn các ngươi ra khỏi thế gian nên thế gian ghét bỏ các ngươi” ( Ga 15, 19 ).

Để ra khỏi thế gian  thì cần có “ Nhân” xuất thế và cái  “ Nhân” xuất thế ấy chính là biết vâng theo Thánh Ý Chúa: “ Có người thưa với Ngài rằng: Kìa có mẹ và anh  em Thầy đứng ở ngoài muốn tìm cách nói với Thầy. Chúa đáp: Ai là mẹ Ta, ai là anh em Ta.? Rồi Ngài giơ tay chỉ các môn đệ mà phán: Này là mẹ Ta, là anh em ta vì hễ kẻ nào làm theo Thánh Ý Cha  Ta  thì nấy là  anh em và là mẹ Ta” ( Mt 12, 47 -50 ).

Vâng theo Thánh  Ý Chúa  đó là đã tạo cho mình một cái “ Nhân” tối thượng. Kinh Mân Côi có  sức huân tập rất lớn, bởi lẽ  để thực hành Kinh này  thì phải lập đi lập lại lời chào mừng của sứ thần Gabriel trong Ngày Truyền Tin mở đầu cho Ơn Cứu Độ.

Thật diệu kỳ, Ơn Cứu Độ lại được mở ra  sau khi Nguyên Tổ bị đuổi khỏi Vườn Địa Đàng  cùng với lời trách phạt của Đức Chúa Giehova với rắn Sa Tan: “ Ta sẽ làm cho mày cùng Người Nữ. Dòng dõi mày cùng dòng dõi Người Nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mày, còn mày thì sẽ rình cắn gót chân  Người” ( St 3, 15 ).

Chính Tội Nguyên Tổ lại mang Ơn Cứu Độ đến cho con người. Nhận ra  chân lý thâm sâu này, Thánh Augustin đã phải thốt lên: Ôi ! Đây thật là tội hồng phúc ( Felix Culpa )./.

Phùng  Văn  Hóa

Read More

Điều hướng bài viết

  • Previous page
  • Page 1
  • …
  • Page 70
  • Page 71
  • Page 72
  • …
  • Page 78
  • Next page
Bài viết mới nhất
DƯ ÂM CHUYẾN TÔNG DU CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV TẠI CHÂU PHI
30/04/2026
ASSISI: THƯ CHUNG CỦA HỘI ĐỒNG CÁC BỀ TRÊN TỔNG QUYỀN PHAN SINH GỬI GIA ĐÌNH PHAN SINH NHÂN KỈ NIỆM 800 NĂM THÁNH PHANXICÔ VỀ TRỜI
30/04/2026
LINH ĐẠO CỦA CHÂN PHƯỚC PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP
30/04/2026
Video nổi bật
https://www.youtube.com/watch?v=Td144YDsaGo
Sự kiện sắp tới

There are no upcoming events at this time.

Ủy ban Giáo dục Công giáo – Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Liên hệ

72/12 Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TP.HCM Get Directions

Phone: +84 931 436 131

Email: [email protected]

Ban chuyên môn
  • Ban Tài liệu và Truyền thông
  • Ban Giáo chức
  • Ban Kỹ năng và Giá trị sống
  • Ban Khuyến học
  • Ban Học viện Thần học
  • Ban Hội Học sinh – Sinh viên
Chuyên mục
  • Tin tức
  • Thư chung
  • Giáo dục
  • Phụng vụ
  • Thư viện
Bản quyền © 2020 thuộc về Ủy Ban Giáo Dục HĐGM VN. Design by JT.