2020
Chúa Giêsu Thăng Thiên và Đức Maria Lên Trời khác nhau thế nào?
Chúa Giêsu Thăng Thiên và Đức Maria Lên Trời khác nhau thế nào?
- Võ Tá Hoàng chuyển ngữ từaleteia
Không chỉ thay đổi về mặt từ ngữ, mà về cơ bản ý nghĩa của nó cũng khác nhau.
Lịch phụng vụ của Giáo hội Công giáo trình bày hai lễ này với những tên gọi giống nhau và có ý nghĩa tương đồng, nhưng thực chất rất khác nhau: Lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên được mừng kính sau lễ phục sinh 40 ngày, và lễ Đức Mẹ Lên Trời được cử hành vào ngày 15 tháng 8.
Trong tiếng La tinh từ Ascensione “Thăng thiên” chỉ dành riêng cho Chúa Giêsu Kitô, nó có nghĩa là “đi lên”: Ngài đã lên trời, đã thăng thiên, tự thân, nghĩa là nhờ quyền năng của Ngài với tư cách là Thiên Chúa.
Với Đức Maria, từ Asumptione, muốn nói rằng : Mẹ “được đưa lên”, “được Thiên Chúa mang đi”. Mẹ được Chúa đưa về trời, không do khả năng của mình mà nhờ quyền năng của Thiên Chúa.
Tín điều Đức Mẹ Lên Trời minh xác rằng: Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã được tôn vinh trọn cả xác hồn, và được đưa về trời sau khi kết thúc cuộc đời trần thế của Mẹ.
Tông hiến Munificentissimus Deus của Đức Giáo hoàng Piô XII ban hành vào ngày 1 tháng 11 năm 1950, đã trình bày cho chúng ta về chân lý đức tin này: “Đức Maria vô nhiễm, Mẹ Thiên Chúa, trọn đời đồng trinh, sau khi chấm dứt dòng đời dưới thế, đã được cất về vinh quang trên trời cả xác hồn”.
Lễ Chúa Giêsu Thăng Thiên
Lễ Chúa Thăng Thiên được cử hành sau lễ Phục sinh 40 ngày, dù thực tế, tại nhiều Giáo hội địa phương, lễ này được chuyển sang ngày Chúa nhật, vì lý do mục vụ, để các Kitô hữu có thể tham dự thánh lễ dễ dàng.
Kinh thánh nói gì
“Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi, thì bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv 1,9-11).
Ý nghĩa
Trong Lễ Thăng Thiên, một phần của Mùa Phục sinh, Chúa Giêsu rời bỏ các tông đồ, nhưng chỉ theo nghĩa hữu hình : dù vậy, giờ đây Ngài vẫn luôn sẵn sàng tiếp bước với Giáo hội; Chúa vẫn tiếp tục hiện diện, cách vô hình, để hành động nơi Giáo hội. Hơn nữa, sự ‘chia ly’ chỉ là tạm thời, bởi vì Chúa Giêsu sẽ trở lại.
Trở về với Cha, Chúa Giêsu kết thúc sự tồn tại dưới phương diện nhân loại, đồng thời Ngài vượt qua sự phân chia giữa Trời và Đất: Ngài rời đi, nhưng chính xác là Ngài về Thiên đàng trước chúng ta, qua đó xác nhận rằng Thiên đàng là đích điểm của chúng ta. Bản tính con người, được Ngôi Lời nhập thể trong thân phận nghèo khó đưa về Trời và được tôn vinh.
Nguồn lịch sử
Các Tin mừng nói rất ít về sự kiện Chúa Thăng thiên: Tin mừng Matthêô và Gioan kết thúc các trình thuật bằng cuộc hiện ra của Chúa Giêsu sau Phục sinh; Thánh Marcô dành đoạn văn cuối cùng để nói về sự kiện này, trong khi Luca mô tả rất rõ ràng, chủ yếu trong sách Công vụ Tông đồ. Trong sách này, thánh sử Luca cho biết về con số 40 ngày sau Phục sinh – một con số rất tượng trưng trong toàn bộ Kinh thánh – Chúa Giêsu đưa các tông đồ đến Bêtania, lên núi Cây dầu, Ngài chúc lành cho họ và nói chuyện với họ trước khi về Trời. Trong diễn từ này Chúa Giêsu xác nhận lời hứa ban Chúa Thánh Thần, Ngài sẽ không để các ông mồ côi, và báo trước sự trở lại lần thứ hai của mình vào ngày sau hết.
Nguồn gốc của lễ trọng
Sử gia Eusebio thành Cesarea và Egeria đã làm chứng rằng : Lễ Thăng Thiên được mừng kính trong Giáo hội vào những thế kỷ đầu. Ngay từ đầu, lễ này được cử hành cùng với lễ Ngũ Tuần, nhưng chúng ta biết rằng, giữa thế kỷ V và VI hai lễ này đã được tách ra, bởi vì có những bài giảng của thánh Gioan Crisostomo và thánh Augustinô dành riêng cách đặc biệt cho lễ Thăng Thiên.
“Bên hữu Chúa Cha”
Trong các Tin mừng có những đoạn trong đó Chúa Giêsu cho biết trước những gì sẽ xảy ra trong ngày Ngài về Trời. Chẳng hạn, trong đêm Tiệc ly, Chúa nói rằng : “sẽ về cùng Cha”.
Thành ngữ “bên hữu Chúa Cha” ám chỉ đến vị trí danh dự của Con Thiên Chúa, bên cạnh vinh quang vĩnh cửu của Cha. Nếu Chúa Giêsu không trở về với Cha thì sẽ không có ơn cứu chuộc nào dành cho con người : bằng cách trở về với Cha, Ngài hoàn tất sự Phục sinh và gửi Thánh Thần An ủi đến cho thế giới.
2020
Tại sao ngày thứ bảy được dành riêng cho Đức Trinh Nữ Maria?

2020
Người Công Giáo có thờ Đức Mẹ không?
Dĩ nhiên, người Công Giáo chúng ta chỉ THỜ phượng một Chúa duy nhất mà thôi. Nhưng chúng ta cũng rất kính mến Ðức Mẹ và các Thánh. Ðiều này đã được giải thích, trình bày rất nhiều lần và qua các thế hệ. Một số giáo hội Tin Lành như Anh giáo, Lutheran cũng đồng quan điểm với chúng ta về sự kính mến Ðức Mẹ. Giáo hội Chính Thống cũng rất tôn kính Ðức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa.
Tuy nhiên ở thời nào cũng có một số người qúa khích, luôn luôn tìm cách đả kích và lên án Giáo Hội Công Giáo. Một trong những đề tài mà họ thường xử dụng là việc người Công Giáo “thờ” Ðức Mẹ. Những người thuộc loại này, ngày nay chúng ta hay thấy ở các nhóm Tin Lành qúa khích (fundamentalism). Ðối với những kẻ cố tình gán ép, công kích bất kể sự giải thích của Giáo Hội Công Giáo, chúng ta chỉ biết cầu nguyện cho họ mà thôi. Nhưng đối với những người thật tình muốn tìm hiểu, hoặc ngay cả việc muốn tranh luận về vấn đề này, người Công Giáo cần phải thỏa mãn họ cách nghiêm chỉnh, trong sự tương kính, và tình nhân ái.
Giáo huấn của giáo hội luôn luôn rõ ràng: Ðức Giêsu Kitô là Ðấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa Cha và con người. Không một ai dù ở trên trời hay dưới thế có thể thay thế Ngài. Vai trò của Ðức Mẹ và các Thánh là dẫn đưa các tín hữu đến với Ðức Kitô. Sự trung gian phụ này do chính Chúa ban cho các ngài, chứ không phải các ngài tự có.
ÐỨC MẸ TRONG KINH THÁNH
Trong bất cứ giai đoạn quan trọng nào của cuộc đời Chúa Cứu Thế, chúng ta luôn nhìn thấy hình ảnh của Ðức Mẹ. Khi Chúa khởi đầu chương trình cứu chuộc của Ngài, Ðức Mẹ đã được Thiên Thần Gabriel ca tụng là đầy ơn phúc và nhiều phúc lạ hơn mọi người nữ (Lu-ca 1:28). Lúc Hài Nhi Thánh được sinh ra ở Bê-lem, Ngài đã không đến trực tiếp từ trời, nhưng qua cung lòng trinh nữ Maria (Mát-thêu 1:25; Lu-ca 2:7) Khi thánh Giuse và Ðức Mẹ dâng con trẻ trong đền thờ, tiên tri Simeon đã tiên báo là Ðức Mẹ sẽ phải gặp rất nhiều đau khổ (Lu-ca 2:35). Mười hai năm sau, cũng sau một lần thăm viếng đền thờ, con trẻ Giêsu đã trở về Nazareth với mẹ và cha nuôi đồng thời tuân phục các ngài (Lu-ca 2:51).
Ðức Mẹ đã hiện diện trong bữa tiệc cưới ở Cana để chứng kiến phép lạ đầu tiên của Chúa Giêsu, đồng thời khởi sự cuộc rao giảng công khai của Ngài (Gioan 2:3). Thỉnh thoảng, Đức Mẹ đã đến thăm Chúa Giêsu khi Ngài đang rao giảng (Mát-thêu 12:46-50). Lúc Chúa chịu thọ hình, chính Ðức Mẹ đã đứng ở chân thánh giá để chứng kiến cái chết của con mình, đồng thời, theo lời truyền của Chúa, nhận thánh Gioan (đại diện Giáo Hội) làm con. Trong hiệu qủa, Ðức Mẹ đã nhận lãnh vai trò làm Mẹ của Giáo Hội (Gioan 19:26). Cuối cùng, khi các môn đệ nhận lãnh Chúa Thánh Linh trong ngày hiện xuống, Ðức Mẹ cũng có mặt ở đó (Tông Đồ Công Vụ 1:14).
ÐỨC MẸ TRONG GIÁO HỘI
Từ khởi sự cho đến hoàn thành, hình ảnh của Ðức Mẹ, lúc ẩn, khi hiện, nhưng luôn bàng bạc trong cuộc đời của Chúa Cứu Thế. Khi Chúa Giêsu hoàn tất cuộc giáng trần, vai trò của Ðức Mẹ đã mở rộng từ việc làm mẹ thể lý của Chúa đến là mẹ tinh thần của tất cả anh chị em Ngài, cả Giáo Hội. Ðức Mẹ đã không xin hoặc đòi hỏi tước vị này, hay Giáo Hội đã phong cho Ðức Mẹ, nhưng là chính Chúa Kitô, từ trên thập gía, đã truyền lệnh ấy cho Mẹ và cho toàn thể Giáo Hội.
Người Công Giáo nhìn vào Ðức Mẹ như một gương mẫu và vị “chỉ bảo đàng lành.” Qua lời xin vâng trong ngày Truyền Tin, Ðức Mẹ đã trở nên người Kitô đầu tiên và hoàn hảo nhất. Cả cuộc đời của Ðức Mẹ là một minh chứng cho thấy những nhiệm mầu sẽ đến, nếu người ta biết hợp tác với Thánh Ý của Chúa. Niềm tin vững mạnh vào Chúa và tiếng đáp lại lời Ngài của Ðức Mẹ đã khiến Ðức Mẹ trở thành con người đầu tiên nhận lãnh Ðức Kitô, cả hồn và xác. Từ đấy, giáo hội vẫn luôn lập lại lời thánh Elizabeth: “Phúc thay cho người nữ đã tin rằng lời của Chúa về bà sẽ được hoàn thành.” (Lu-ca 1:45).
Người Công Giáo xin lời bầu cử của Ðức Mẹ cũng như họ xin lời cầu nguyện của tất cả những tín hữu tốt lành, còn sống cũng như đã chết, vì tất cả sinh tồn trong Ðức Kitô (1 Cô-rin-tô 15:22). Việc các thánh cùng thông công này đã được giáo hội thực thi ngay từ khởi đầu. Nếu chúng ta, là những người có tội mà vẫn có thể cầu nguyện cho nhau, tại sao chúng ta không thể xin Ðức Mẹ và các thánh chuyển cầu?
Lời cầu nguyện thường xuyên nhất đối với thân mẫu Ðức Kitô là kinh Ave Maria: Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Ðức Chúa Trời ở cùng Bà… Tại sao những người Tin lành qúa khích lại có thể chống lại lời cầu nguyện rất Kinh Thánh này? Vì phần đầu của kinh Kính Mừng đã lấy trực tiếp từ lời của Thiên Sứ Gabriel khi truyền tin cho Ðức Mẹ (Lu-ca 1:28-42). Trong khi phần thứ hai của kinh này xác định Thiên Tính của Ðức Kitô, tình trạng tội lỗi của con người, nhân loại sẽ phải đối diện với cái chết, và sức mạnh của lời chuyển cầu.
Kinh Kính Mừng đã thở thành một phần quan trọng của chuỗi Mân Côi, một hình thức tổng hợp của việc cầu nguyện và suy gẫm về những mầu nhiệm của công trình Cứu Chuộc. Thế mà những người Tin Lành qúa khích đã cho đó là những lời lập đi lập lại vô ích. Người Công Giáo không đặt nặng trên những lời cầu, nhưng là thái độ và bầu khí cầu nguyện khiến người cầu kinh có thể chìm vào sự cảm nghiệm thánh, nghe được tiếng Chúa thay vì tiếng của chính mình.
Việc cầu nguyện với Ðức Mẹ tự nó không phải là cứu cánh, nhưng chỉ là một phương tiện đưa con người đến sự kết hợp sâu xa hơn với Con của Mẹ. Ðến với Ðức Giêsu qua Ðức Mẹ (Ad Jesum per Mariam) đã là châm ngôn cổ truyền nhất của mọi tín hữu Công Giáo. Sùng kính Ðức Mẹ cách thực sự, không bao giờ làm mờ đi sự duy nhất của Ðức Kitô, vì người Công Giáo biết rằng mệnh lệnh duy nhất của Ðức Mẹ đã được ghi lại trong Kinh Thánh, là phải vâng lời Chúa trọn vẹn Hãy làm bất cứ điều gì Ngài bảo. (Gioan 2:5).
CÁC TÍN ÐIỀU VỀ ÐỨC MẸ
Người Tin Lành qúa khích vẫn hiểu lầm (hay cố tình không hiểu) hai tín điều chính về Ðức Mẹ: Vô Nhiễm Nguyên Tội (Immaculate Conception) và Hồn Xác Lên Trời (Assumption). Các tín điều về Ðức Mẹ luôn được đặt qua lăng kính Kitô học và Giáo Hội học. Nói một cách khác, Giáo Hội suy niệm về Ðức Maria để nói về Ðức Giêsu và về Giáo Hội nhiều hơn là nói về chính Ðức Mẹ, Ðấng nối liền Chúa và Giáo Hội vì vai trò đặc biệt của Mẹ trong công cuộc cứu rỗi.
Tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội của Ðức Mẹ minh chứng rằng Ðức Trinh Nữ đã không vướng tội nguyên tổ của ông bà Adam và Eve. Tín điều này còn nói lên hai điểm quan trọng khác. Thứ nhất, Ðức Mẹ được ơn Vô nhiễm vì Ngài đã hoàn toàn ưng thuận làm Mẹ Ðấng Cứu Thế và để lòng Mẹ được xứng đáng là nơi Chúa ngự. Thứ hai, qua sự chết và phục sinh của Chúa Kitô, tất cả những tì vết gây nên bởi nguyên tổ trong các tín hữu, đã được thanh tẩy nhờ phép rửa tội.
Nhiều giáo phái Tin lành đã tỏ ra lo ngại về tín điều này, vì họ cho rằng tín điều sẽ làm mất đi nhân tính của Ðức Mẹ và nâng Ngài lên hàng thần thánh. Họ trưng đẫn kinh Ngợi Khen (Magnificat), theo đó Ðức Mẹ đã tuyên xưng Thiên Chúa Ðấng cứu độ tôi (Lu-ca 1:47). Như vậy, chính Ðức Mẹ đã tự nhận rằng mình cần được cứu chuộc. Về điều này, thần học Công Giáo đã giải thích rằng, đúng vậy, Ðức Mẹ cũng cần được cứu chuộc, nhưng Mẹ đã được cứu rỗi bởi ơn ban trước (prevenient grace). Có nghĩa, Ðức Mẹ đã được Chúa cho tránh khỏi tội nguyên tổ trước khi Chúa giáng trần để chịu chết và phục sinh, cứu độ nhân loại. Ðức Mẹ được ơn vô nhiễm nguyên tội ngay từ khi thành thai trong lòng mẹ Ngài là thánh Anna, để sau này trở nên người Mẹ Vô Nhiễm, đón nhận người Con Vô Nhiễm là Ðấng Thiên Sai vào lòng mình. Quan niệm về thời gian chỉ là của nhân loại, đối với Thiên Chúa là Ðấng hằng có đời đời thì thời gian không có nghĩa gì cả. Người nữ được vinh dự đón Ngôi Hai Thiên Chúa vào lòng cần phải được thanh tẩy và chuẩn bị trước, đó cũng là điều có thể hiểu được với sự suy luận thông thường.
Tín điều Hồn Xác Lên Trời dạy rằng Mẹ Thiên Chúa đã được cất về trời cả hồn lẫn xác. Thân xác của Ðức Mẹ đã không bị hư đi, vì Ngài đã cưu mang Ðấng Cứu Chuộc. Mọi Kitô hữu (cả Công Giáo lẫn Tin Lành) đều tin kẻ chết sẽ sống lại, tín điều hồn xác lên trời chỉ đơn thuần tái xác định sự thừa nhận của Chúa về sự xứng đáng của Ðức Mẹ để được hưởng ơn cứu độ toàn diện (sống lại trước mọi người) vì Ngài là Mẹ Ðức Kitô và là Mẹ Giáo Hội. Ở đây, chúng ta lại thấy chiều kích Kitô học và Giáo Hội học. Phần thưởng hồn xác lên trời đã trao ban cho Ðức Mẹ vì Ngài đã cưu mang Ðấng Cứu Thế. Ðồng thời phần thưởng này còn nhắc đến việc kẻ chết sống lại, điều mà cả Giáo Hội đang trông mong.
Không phải chỉ có Ðức Mẹ mới được hưởng ơn vô nhiễm nguyên tội (khỏi tội tổ tông), chúng ta đã được hưởng ơn này qua bí tích Thanh Tẩy. Ơn hồn xác lên trời, Ðức Mẹ đã được hưởng trước, nhưng mọi tín hữu đều có thể được hưởng trong ngày Chúa giáng lâm lần thứ hai.
ÐỨC MARIA TRỌN ÐỜI ÐỒNG TRINH
Người Tin lành qúa khích đã công kích Giáo Hội Công Giáo về vấn đề Ðức Maria trọn đời đồng trinh. Tất cả các Kitô hữu đều tin rằng Ðức Maria đã đồng trinh cho tới khi hạ sinh Chúa Giêsu, điều này đã được ghi rõ trong Phúc Âm (Mát-thêu 1:18; Lu-ca 1:34). Nhưng sau đó là vấn đề đã gây bất đồng ý kiến. Giáo Hội Công Giáo dạy rằng Ðức Mẹ đồng trinh không những cho tới khi mang thai Chúa Cứu Thế, nhưng còn suốt đời của Mẹ nữa.
Trước nhất, đây là việc bảo vệ một sự thật. Từ lâu, trước khi các giáo phái Tin Lành tự tách lìa khỏi giáo hội Roma (thế kỷ thứ 16), sự đồng trinh trọn đời của Ðức Mẹ đã luôn luôn được dạy và tin tưởng. Các kinh phụng vụ cổ thời nhất đã nhắc đến Ðức Mẹ là Trinh Nữ. Nếu Ðức Mẹ đã không đồng trinh trọn đời, tại sao người ta vẫn gọi Ðức Mẹ là Trinh Nữ sau khi Chúa Kitô giáng trần? Một người chưa lập gia đình thì được gọi là độc thân, nhưng đến khi anh ta thành gia thất rồi thì không ai còn gọi anh ta là chàng độc thân nữa. Giáo hội thuở ban đầu luôn luôn gọi Ðức Mẹ là Thánh Nữ Ðồng Trinh và Ngài đã sống và chết như một trinh nữ.
Thứ hai, tất cả các kinh tin kính cổ thời nhất đều nhấn mạnh đến điều Ðức Maria trọn đời đồng trinh. Kinh tin kính ở Epiphanius năm 374; Công đồng Constantinople đệ nhị năm 553; và Công đồng Lateran năm 649. Các Thánh phụ trong giáo hội như Augustine, Jerome, và Cyril thành Alexandria đều viết về Ðức Mẹ đồng trinh trọn đời. Ngay cả các nhà cải cách Tin Lành như Luther, Calvin, và Zwingli cũng đã đồng ý về sự đồng trinh trọn đời của Ðức Mẹ.
Sự trọn đời đồng trinh của Ðức Mẹ đã nói lên tính cách đặc biệt trong ơn gọi của Mẹ. Ðức Mẹ đã được gọi và được chọn là Mẹ của Ðấng Cứu Thế, không một công tác nào trên thế gian còn còn có thể quí trọng hơn công tác này, vì vậy thật là hữu lý khi nói rằng không còn con người trần thế nào được sinh ra từ cung lòng của Mẹ, đã cưu mang Ðấng Thiên Sai.
Ngoài ra, đã không có bằng chứng nào cho thấy Ðức Maria đã có thêm con cái sau Ðức Giêsu. Thánh sử Mác-cô, 3:31-33, đã nói đến mẹ và anh em Ngài, nhưng đây là hậu qủa của sự thiếu chính xác trong hai ngôn ngữ Do thái và Aram. Cùng một chữ này nhưng ở những nơi khác lại được dịch là đồng bào (brethren), hay còn được hiểu là anh em ruột thịt, bà con gần hoặc họ hàng xa. Truyền thống của giáo hội từ hai ngàn năm nay vẫn lưu truyền rằng Ðức Maria đã trọn đời đồng trinh. Không nên vì một vài người muốn nói khác đi mà giáo hội phải thay đổi truyền thống ngàn xưa đó.
CÁC PHÉP LẠ ÐỨC MẸ HIỆN RA
Cũng có một số các Kitô hữu ngoài Công Giáo đã tỏ ra quan tâm về việc các phép lạ Ðức Mẹ hiện ra. Chính Giáo Hội Công Giáo đã không dễ dàng chấp nhận sự xác thật của các phép lạ nói trên; tuy nhiên, Giáo Hội cũng tin rằng đối với Chúa sự gì cũng có thể xảy ra. (Lu-ca 1:37). Nếu Chúa đã tự tỏ mình ra hay gửi vị trung gian để truyền mệnh lệnh của Ngài trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, kể cả thời gian sau khi Chúa đã lên trời, như sự kiện Chúa gọi thánh Phaolô, thì tại sao ngày nay chúng ta phải thắc mắc về điều này?
Tất cả những phép lạ hiện ra, dù là do chính Chúa thực hiện như với thánh nữ Maria Magarita, hoặc qua sự chuyển mệnh của Ðức Mẹ như ở Lộ Ðức hay Fatima v.v… đều mang một chủ đề tương tự. Ðã không có những mạc khải mới, nhưng chỉ là sự tái xác định những huấn lệnh của Phúc Âm. Các con hãy cải thiện đời sống và tin tưởng vào Tin Mừng (Mác-cô 1:15). Thật lạ lùng, đây cũng chính là những thông điệp mà các giáo sĩ Tin Lành qúa khích đã và đang rao giảng.
TÔN THỜ ÐỨC MẸ?
Trở lại câu hỏi người Công Giáo có tôn thờ Ðức Mẹ không? Câu trả lời luôn luôn là KHÔNG, nhưng các giáo dân Công Giáo có bổn phận phải kính mến Ðức Mẹ cũng như các Thánh, vì các Ngài đã nêu gương sáng đức tin cho thế gian qua cuộc đời của các Ngài. Người Công Giáo xin lời bầu cử của các Ngài trước toà Chúa khi tất cả các tín hữu ở trên trời cũng như còn dưới thế cùng nhau cầu nguyện lời kinh hoàn hảo của Ðức Kitô.
Ðức Maria là dấu chỉ của niềm hi vọng cho tất cả các Kitô hữu; trong Mẹ, Chúa đã đem vườn địa đàng trở lại tình trạng tinh sạch của thuở ban đầu. Vì vậy, Mẹ là dấu chỉ và hứa hẹn của những gì Chúa sẽ làm cho những người biết noi theo gương trung tín của Mẹ. Trong Kinh Thánh, Ðức Mẹ đã tiên tri: Mọi thế hệ sẽ khen tôi có phúc. (Lu-ca 1:48). Thể hiện lời tiên tri này, người Công Giáo coi đó là điều vinh hạnh vô cùng, vì người ta không thể không nhắc đến người Phụ Nữ này và vai trò độc đáo của Bà trong đức tin Kitô giáo. Nếu không, người ta sẽ bóp méo sự thật của Kinh Thánh.
- Phaolô Nguyễn Văn Tùng(tổng hợp)
2020
Đức Maria và Giá trị cao đẹp của người Phụ Nữ
Bên cạnh những nhân tố cổ truyền đóng góp cho sự tiến triển của Thánh mẫu học (Thánh kinh, Thánh truyền, Thần học…) cần phải thêm một nhân tố văn hóa của thời đại, đó là phong trào Nữ quyền. Đức Maria là điển hình của người nữ can đảm chấp nhận một vai trò có ảnh hưởng đến số phận của nhân loại.
Trong thế kỷ 20, thánh mẫu học đã tiến triển về mặt thần học và tu đức, gần đây còn tăng thêm khía cạnh xã hội và mục vụ, kể cả sự hiểu biết thêm vai trò phụ nữ trong cộng đoàn Kitô hữu và trong xã hội như đã được nêu bật trong vài văn kiện của Huấn quyền Giáo hội.
Trong phần kết thúc công đồng Vaticano II, ngày 8-12-1965, các nghị phụ trong sứ điệp gởi cho tất cả phụ nữ trên thế giới : “Giờ đã đến, khi mà ơn gọi của phụ nữ đã được diễn tả trọn vẹn, giờ mà người phụ nữ đã chiếm được trong xã hội một tầm ảnh hưởng, một địa bàn và một thế lực chưa từng thấy xưa nay.”
“Trong những năm gần đây, phẩm giá và thiên chức của người phụ nữ – đề tài tư duy của lý trí và của Kitô giáo – đã mặc lấy một tầm quan trọng đặc biệt. Đó cũng là lời được khẳng định trong Tông thư “Phẩm giá người Phụ nữ”.
Trong thế kỷ này, vai trò và phẩm giá phụ nữ là đối tượng tranh đấu của phong trào Nữ quyền, đôi khi với hình thức sôi nổi chống lại những gì làm ngăn trở việc đánh giá cao và phát triển nhân cách của phụ nữ cũng như việc họ tham gia vào đời sống xã hội và chính trị.
Trước những yêu sách đó, Hội thánh, nhất là trong thời gian gần đây, đã tỏ ra đặc biệt quan tâm và được thúc đẩy bởi sự nhận thức rằng:
Nếu biết nhận ra chân dung đích thực của Đức Maria thì sẽ tìm ra một lời giải đáp hữu hiệu cho khát vọng giải phóng phụ nữ. Đức Maria là người duy nhất đã thể hiện được cách tuyệt diệu chương trình yêu thương mà Thiên Chúa dành cho nhân loại.
Kế hoạch Thiên Chúa đã được biểu lộ ngay từ trong Cựu ước, với trình thuật sự tạo dựng nam-nữ theo hình ảnh Thiên Chuá (St 1,27). Thiên Chúa nhìn thấy những gì mình đã làm thật là một điều rất tốt đẹp (St 1,31). Trong kế hoạch đó, sự khác biệt không bao hàm sự thấp kém của người nữ hay sự bất bình đẳng giới mà biểu lộ tính phong phú của chương trình sáng tạo. Với Đức Maria, Thiên Chúa đã tạo nên một phụ nữ vượt xa số phận bình thường của người nữ Evà, nâng lên tới cấp hoàn hảo. Đức Maria là kẻ “Được chúc phúc hơn mọi người nữ” mặc dầu mỗi người nữ đều tham dự vào phẩm giá siêu việt của Đức Maria trong chương trình của Thiên Chúa.
Các phụ nữ cần khám phá sự quý trọng mà Thiên Chúa dành cho mình hầu ý thức hơn về phẩm giá cao quý của họ…
Trải qua dòng lịch sử, nhiều phụ nữ đã đau khổ vì tài năng bị coi rẻ, bị hạ thấp và gánh chịu những thiên kiến bất công. Mặc dầu tình trạng này đã có một vài cải thiện nhưng vẫn tồn tại ở nhiều nước và không ít lãnh vực trên thế giới…
Công trình tuyệt diệu mà Đấng Tạo hóa đã thực hiện nơi Đức Maria cung cấp cho hết mọi người nam-nữ có cơ hội để khám phá vài chiều kích mà trước đây chúng ta chưa đánh giá đúng mức…
Đức Maria thật là khuôn mẫu về sự phát triển sung mãn của thiên chức phụ nữ vì bất chấp những giới hạn áp đặt trên điều kiện xã hội của mình, Đức Maria đã và sẽ gây được một ảnh hưởng vô biên đối với thân phận nhân loại và với sự biến đổi xã hội.
Trước sự khai thác bỉ ổi của những kẻ muốn biến phụ nữ thành một đối tượng vô phẩm giá, dành cho sự thỏa mãn đam mê dục tính, thì Đức Maria khẳng định giá trị cao vời của phụ nữ, một hồng ân và phản ảnh vẻ đẹp của Thiên Chúa.
Sự thánh thiện tuyệt vời của Đức Maria thay vì ngăn cản con đường cao cả đi theo Chúa thì theo chương trình hồng ân của Chúa, trở nên dấu chỉ khuyến khích mọi kitô hữu hãy cởi mở cho quyền năng của ơn Chúa vì đối với Chúa không có gì mà không thể làm được. Vì thế nơi Đức Maria, mọi người đều được kêu gọi hãy tín thác nơi Thiên Chúa toàn năng, Đấng có thể thay đổi con tim, dìu dắt tới sự hoàn toàn tiếp đón kế hoạch yêu thương quan phòng của Ngài.
Nữ tu Mai Thành, CND-CSA
