2020
Bàn thờ hình tròn có được không?
Viếng thăm nhiều nhà thờ, chúng ta nhận ra rằng hầu hết các bàn thờ trong cung thánh có bề mặt là hình chữ nhật. Nhưng thỉnh thoảng chúng ta cũng thấy bàn thờ có bề mặt là hình vuông, hình tròn hay hình đa giác. Để xác định bàn thờ trong cung thánh nhà thờ có thể làm theo hình tròn hay không, thiết tưởng chúng ta cần tìm hiểu các hình dáng của bàn thờ đã từng xuất hiện và tồn tại trong lịch sử Hội Thánh cũng như duyệt lại luật phụng vụ hiện hành quy định về hình dáng của bàn thờ như thế nào.
Phương diện lịch sử
Thực sự, Tân Ước không nói nhiều đến bàn thờ. Chúng ta có thể biết tới bàn thờ trong thị kiến được nêu ra trong sách Khải huyền. Khi các sách Tân Ước đang được viết, thì cái bàn cộng đoàn sử dụng để cử hành Bữa tiệc của Chúa không phải là bàn thờ thực sự, mà chỉ là cái bàn nhỏ, đơn giản và bằng gỗ với chức năng nguyên thủy, theo như Josef Jungmann cho biết, là để đặt bánh và rượu trên đó, nhưng khía cạnh bàn tiệc của bí tích vẫn sáng tỏ.[1] Nhận định này trùng với ý kiến cho rằng thời các tông đồ, bàn thờ chỉ là một cái bàn ăn (mensa) và được gọi là bàn ăn của Chúa Kitô (mensa Christi) vì Bữa ăn Huynh đệ (Agape) liên kết với lễ Nghi lễ Bẻ bánh (Eucharistia) giữa cộng đoàn[2]. Lúc bấy giờ, Agape đi chung với Eucharistia, bàn có hình chữ C. Nhưng từ khi Agape bị tách ra khỏi Eucharistia vì sự lạm dụng như được mô tả trong 1Cr 11,17-34, thì chỉ còn một cái bàn cho cả cộng đoàn. Căn cứ vào hình ảnh trên các vòm hang toại đạo thì bàn này hình tròn, có ba chân, thường làm bằng gỗ. Mọi người tham dự Nghi lễ Bẻ bánh đứng chung quanh bàn và tiến đến bàn khi hiệp lễ. Do nguồn gốc này mà trong Lễ quy Rôma, dân chúng được gọi là CIRCUMSTANTES, nghĩa đen là những người đứng chung quanh.[3] Trong GH đã từng tồn tại bàn thờ hình bán nguyệt từ thập kỷ đầu của thế kỷ thứ hai. Cổ xưa nhất, cũng như đáng chú ý nhất là bức bích họa về cử hành Thánh Thể được tìm thấy ở nhà nguyện Greca với hình ảnh có bảy người ngồi trên một ghế dài hình bán nguyệt trước một cái bàn cùng hình bán nguyệt.[4]
Ngoài các hình dáng trên đây, hầu như mọi bàn thờ trong nhà thờ/nhà nguyện vào thời kỳ trước Công đồng Vatican II và ngay cả hiện nay đều có hình dáng là chữ nhật hoặc ít là mặt bàn thờ với phiến đá là hình chữ nhật vì bàn thờ được thiết kế như một: ngôi mộ; bàn thờ hy tế; và bàn ăn/ bàn tiệc của Chúa (Mediator Dei, 62; QCSL 73, 296; GLCG 1181; LNGM 945)[5] vì chiều kích hy tế của bí tích Thánh Thể hay chiều dọc của việc thờ phượng trong Thánh lễ được nhấn mạnh nhiều hơn.[6] Bàn thờ này không chỉ là bàn tiệc Thánh Thể mà theo thánh Tôma Aquinô, còn là Thánh giá Chúa Kitô, trên đó Chúa Giêsu chịu sát tế, Ngài “lấy máu mình mà thánh hoá toàn dân” (Hr 13, 10-12).[7]
Sau thời cấm đạo ở Rôma (thế kỷ IV-V), những bàn thờ bằng đá sớm nhất chính là ngôi mộ của các vị tử đạo được chôn cất trong hang toại đạo ở Rôma. Việc cử hành Thánh Thể trên mộ của các vị tử đạo có dấu vết từ thế kỷ thứ hai nhằm tưởng niệm và vinh danh những người sẵn sàng chịu chết vì đức tin. Dưới triều đại của ĐGH Damasus (366-384), các nhà thờ và nhà nguyện được dựng lên ở Rôma và những nơi khác để vinh danh các vị tử đạo nổi tiếng nhất, và các bàn thờ, khi có thể, được đặt ngay phía trên ngôi mộ của họ vì muốn liên kết hài cốt các vị tử đạo với bàn thờ (nơi cử hành Thánh lễ).[8] Điều này thích ứng với những gì sách Khải huyền mô tả: “Khi Con Chiên mở ấn thứ năm, thì tôi thấy dưới bàn thờ, linh hồn của những người đã bị giết vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và đã làm chứng”(Kh 6,9). Nó còn nhằm nhấn mạnh ý nghĩa: Hy lễ của các chi thể bắt nguồn từ hy lễ của Đấng là Đầu và là Thủ Lãnh. Vào khoảng thời gian này (thế kỷ IV –VI), người ta cũng có thói quen chôn các linh mục và giám mục dưới bàn thờ. Nhưng ĐGH Félix I tuyên bố chỉ mộ huyệt của các thánh tử đạo mới xứng đáng là nơi để dâng lễ, nên không cho cử hành Thánh lễ trên bất cứ mộ phần nào khác. Đây là lý do mà trong quá khứ, các nhà kiến trúc đã từng thiết kế bàn thờ như một ngôi mộ, đôi khi có cả thi thể của một vị thánh nằm trong đó. Nhất là từ thế kỷ thứ X, người ta đẩy lùi bàn thờ vào cuối cung thánh, linh mục quay mặt vào bàn thờ [sát tường/hậu bầu của cung thánh] để cử hành Thánh Thể, giáo dân nhìn vào lưng của ngài. Còn thầy phó tế, lúc trước đứng đối diện với chủ tế trong suốt Thánh lễ, nay đứng sau lưng của ngài, đương nhiên hình dáng của bàn thờ là hình chữ nhật/ngôi mộ.[9]
Từ sau Công đồng Vatican II, khi chiều kích hiệp thông huynh đệ/bàn tiệc Thánh Thể được nhấn mạnh nhiều hơn hầu giúp toàn thể cộng đoàn có thể tham gia nhiều hơn vào nghi thức Thánh lễ thì mới nảy sinh các thiết kế và xây dựng sau:[10] [i] Thứ nhất, mặt sàn nhà thờ có thể không còn theo kiểu mẫu hình thánh giá của các basilica xưa kia nữa (chẳng hạn như sàn của các nhà thờ chính tòa kiểu Gôtic tại Âu châu, tại Mỹ, các nhà thờ cổ tại Việt Nam hay đa số các nhà thờ tại miền Bắc nước ta). Thay vào đó, sàn nhà thờ của một số thánh đường thời kỳ hậu Vatican II có hình thức gần giống như sàn của một “nhà hát”/ “sân vận động”, nghĩa là chúng được thiết kế và xây dựng theo hình vuông, bán nguyệt, lục giác, bát giác, tròn hay bầu dục. Cung thánh sẽ ở trung tâm hoặc được đặt ở góc của hình vuông hay dựa sát vào tường nếu mẫu nhà thờ có sàn hình bán nguyệt, lục giác hay bát giác; [ii] Thứ hai, một loại bàn thờ chưa bao giờ được biết đến ở tầm mức hoàn vũ và đáng ao ước ở mọi nhà thờ mới. Đó chính là bàn thờ để cử hành Thánh lễ đối diện với dân chúng (versus populum) như đã từng thực hành hồi thế kỷ IV-VI trong những ngôi đại thánh đường, hoặc nơi tư gia, hay thậm chí trong các hang toại đạo.[11] Như vậy, với bàn thờ mới, cộng đoàn dễ dàng tham dự phụng vụ cách tích cực hơn,[12] cho thấy sự hợp nhất giữa chủ tế và dân chúng trong một cử hành.[13] Thêm nữa, vị tư tế có thể cử hành Thánh lễ theo cả hai cách: đối diện với dân chúng hay đối diện với bàn thờ và sẽ phải có một khoảng không gian thềm cung thánh rộng rãi ở cả hai phía của bàn thờ cho chủ tế đứng và bái quỳ cũng như để ngài có thể thuận tiện đi xung quanh bàn thờ mà xông hương (QCSL 299; DX 64).
Hậu nhiên là do những thay đổi trên đây mà người ta bắt đầu thấy xuất hiện trở lại, tuy không nhiều lắm, bàn thờ theo hình tròn/bát giác/bầu dục. Đồng thời người ta còn mô tả bàn thờ là “bàn của cộng đoàn”.[14] J. Gélineau đặt vấn đề như sau:
Vậy cái bàn này phải có hình dáng thế nào để ta thấy đó là nơi Chúa Kitô mời ta đến cùng đồng bàn với Ngài, và để nó nhắc ta nhớ đến các bữa ăn của ta, các cuộc chung vui của ta? Ta phải tỏ dấu kính trọng bàn thờ thế nào? Trang hoàng các bông hoa, ánh sáng…? …Rồi còn những khi người ta chất lên bàn thờ đủ thứ, nào là máy ghi âm, các thứ dây điện chằng chịt, từng chồng sách, cả những máy am-pli, máy thâu băng… Như vậy không phải làm mất hình ảnh bàn thờ đó sao?”[15]
Quy định phụng vụ
Bộ Giáo Luật (1983), khi bàn về “bàn thờ” từ điều 1235-1239, tuyệt nhiên không nói gì đến hình dáng bàn thờ mà chỉ đề cập đến những vấn đề sau: số bàn thờ trong nhà thờ; bàn thờ cố định và bàn thờ lưu động; chất liệu làm bàn thờ (bằng đá, tảng đá tự nhiên duy nhất, hoặc bằng chất liệu khác, xứng đáng và vững chắc…); cung hiến và làm phép; lưu giữ hài cốt các vị tử đạo hay các thánh khác dưới bàn thờ cố định; bàn thờ chỉ được dành riêng cho việc phụng tự, tuyệt đối phải loại trừ mọi sử dụng phàm tục; không chôn táng xác chết dưới bàn thờ và không được phép cử hành Thánh lễ trên bàn thờ ấy.
Toàn bộ Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma [QCSL] (2002) đề cập đến hạn từ “bàn thờ” ở 213 chỗ, đặc biệt tại mục “Bàn thờ và cách trang trí”, QCSL cho chúng ta biết rất chi tiết về bản chất, chức năng và cách sắp xếp bàn thờ: bàn thờ cố định, bàn thờ di động, việc xây bàn thờ cách vách tường để có thể dễ dàng đi chung quanh và có thể cử hành Thánh lễ quay mặt xuống tín hữu, bàn thờ phải làm bằng chất liệu xứng hợp, quý giá, bền chắc như đá tự nhiên, gỗ quý… (các số 296-308). Tuy nhiên, bộ Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma (2002) không xác định bàn thờ làm theo theo hình dáng nào.
Tài liệu Dựng Xây Từ Những Viên Đá Sống Động [DX] (2006) của UBGM về Nghệ Thuật Thánh (trực thuộc HĐGM Việt Nam) hầu như chỉ lập lại, khai triển và cụ thể hóa những gì đã được nói đến trong Bộ Giáo Luật (1983) và Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma (2002) tại các số 63-67. Cách riêng tại số 63, tài liệu hướng dẫn: “Dù không nói rõ kích thước và hình dáng, nhưng bàn thờ cần phải cân đối với nhà thờ. Hình dáng và kích thước cần phản ánh bản chất của bàn thờ là nơi tế lễ và là bàn, nơi mà Chúa Kitô tụ họp cộng đoàn xung quanh để nuôi dưỡng họ…”. Như vậy, Dựng Xây Từ Những Viên Đá Sống Động cũng không xác định bàn thờ làm theo theo hình dáng nào.
Cử hành Thánh lễ bên ngoài nhà thờ/nguyện
Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma (2002) số 297 nói rằng: “Trong nơi thánh, Thánh lễ phải được cử hành trên một bàn thờ. Ngoài nơi thánh thì có thể cử hành trên một bàn thích hợp, nhưng bao giờ cũng phải có khăn phủ bàn và khăn thánh, thánh giá và nến.” Trong nơi thánh, tuyệt đối Thánh lễ luôn luôn phải cử hành trên bàn thờ và bàn thờ này phải đáp ứng các quy định về luật phụng vụ như vừa nhắc lại trên đây nhưng không nhất thiết là phải có hình vuông, hình chữ nhật hay hình tròn. Còn “cái bàn” bên ngoài nhà thờ dùng để cử hành Thánh lễ được hiểu là một cái bàn thích hợp tại các đền thánh, tư gia hay nơi hành hương trong tâm tình và nhận thức rằng tình yêu của Chúa Kitô lan tràn khắp mặt đất và Hội Thánh tìm thấy nhà của mình không chỉ ở những nơi thánh được dành riêng để tôn thờ Chúa mà còn ở nơi khác nữa.[16] Chính vì vậy, cái bàn này sẽ có những hình dáng khác nhau. Liên quan đến vấn đề này, có thể nói lại ở đây kinh nghiệm của thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II: “Tôi đã được cử hành Thánh lễ trong nhà nguyện trên triền núi, trên bờ hồ, trên bãi biển, tôi đã dâng Thánh lễ trên bàn thờ dựng ngay trong sân vận động, trên công trường các thành phố?”[17]
Kết luận
Tóm lại, sự đa dạng của các hình dáng bàn thờ và luật phụng vụ không quy định hình dáng của bàn thờ sẽ dễ dàng dẫn người ta tới chỗ tùy nghi chọn lựa thiết kế bàn thờ hoặc theo hình chữ nhật, hoặc theo hình vuông, hình bầu dục, hay hình tròn phù hợp với kích cỡ cộng đoàn của họ cũng như có tương quan mỹ học với giảng đài, ghế chủ tọa và môi trường phụng vụ nói chung ở đó. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng với những nhà thờ nhỏ, thì bàn thờ nên có hình vuông hay hình chữ nhật; còn với những thánh đường lớn, bàn thờ có thể thiết kế theo hình chữ nhật hay hình tròn vì như vậy bàn thờ mở ra cho 4 phương của thế giới. Dù vậy, phương án tốt nhất là chúng ta nên chọn bàn thờ có hình chữ nhật, vì những lý do sau: [i] Thứ nhất, sự chọn lựa này tiếp tục truyền thống và thực hành phổ biến nhất từ xưa tới nay về hình dáng của bàn thờ; [ii] Thứ hai, hình dáng này thuận lợi nhất cho việc bày trí các vật dụng phụng vụ trên bàn thờ; [iii] Thứ ba, khi nói đến “cạnh bàn thờ”/ “góc bàn thờ” (latus altaris/the side of the altar) đi kèm với hành động của chủ tế/các vị đồng tế như trong Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma (2002) tại các số 76, 142, 144-145, 163, 248, 270 và trong Nghi thức Thánh lễ (2002) tại số 28 cũng như tại số 17 của Nghi thức Thánh lễ (2002) [khi chỉ có một thừa tác viên tham dự], rõ ràng chúng ta liền nghĩ ngay, hiểu ngay đến bàn thờ hình chữ nhật hơn bất cứ một hình nào khác và hình tròn thì chắc chắn chẳng có “góc” hay “cạnh” gì cả.
______________
[1] Xc. Dennis McNally, SJ, “Altar”, trong Fink E. Peter, SJ (ed.), The New Dictionary of Sacramental Worship (Collegeville, Minnesota: A. Michael Glazier Book/ The Liturgical Press, 1990)43-45.
[2] J. Jungmann, The Early Liturgy: To the Time of Gregory the Great, tr. Brunner Francis (Indiana: University of Notre Dame Press, 1959), 254.
[3] Charles E. Miller, CM, The Celebration of The Eucharist (Newyork: St Paul’s, Alba House, 2010), 49.
[4] Maurice M. Hassett, “History of the Christian Altar”, trong The Catholic Encyclopedia, copyright © 1913 by the Encyclopedia Press, Inc. Electronic version copyright © 1996 by New Advent, Inc., P.O. Box 281096, Denver, Colorado, USA, 80228. ([email protected]) Taken from the New Advent Web Page (www.knight.org/advent).
[5] Xc. Duncan G. Stroik, The Church Building as a Sacred Place (Chicago/Mundelein, IL: Hillenbrand Books, 2012), 96; Richard Taylor, Làm thế nào để hiểu một thánh đường, dg, Nguyễn Văn Huy (Nxb. Tôn Giáo, 2014),60-61.
[6] Joseph M. Champlin, Bên trong Nhà thờ Công giáo (Nxb. Tôn Giáo, 2015), 64.
[7] Thomae Aquinatis, “In Epistolam ad Hebraeos”, trong Divi Thomae Aquinatis Doctoris Angelici Ordinis Praedicatorum. Opera VII-VIII (Venetiis, 1747), 407-584, 579.
[8] Cuốn “Liber Pontificalis” vốn được gán cho ĐGH Felix I (269-274) chứa một sắc lệnh cho biết Thánh lễ nên được cử hành trên các ngôi mộ của các vị tử đạo (constituit supra memorias martyrum missas celebrare, “Lib. Pont.”, ed. Duchesne, I, 158); Xc. J. B. O’Connell, Church Building and Furnishing (London: Burns & Oates, 1955), 127.
[9] J. B. O’Connell, Church Building and Furnishing, 129; Nguyễn Văn Trinh, Thánh lễ 2 (Lớp BDTH Liên Dòng. Knxb), 148-149; Duncan G. Stroik, The Church Building as a Sacred Place (Chicago/Mundelein, IL: Hillenbrand Books, 2012), 132.
[10] Mark G. Boyer, The Liturgical Environment, 2nd edition (Collegeville, Minnesota: Liturgical Press, 2004), 8-10.
[11] Consilium, “Letter Le renouveau liturgique of Cardinal G. Lercaro to presidents of the conference of bishops, on furthering liturgical reform (30 June 1965)”, trong Documents on the Liturgy 1963 – 1979, Conciliar, Papal, and Curial Texts (Minnesota: The Liturgical Press, 1982), 117-122; J. B. O’Connell, Church Building and Furnishing, 153-154.
[12] Sacra Congregatio Rituum, Instructio, ad exsecutionem constitutionis de sacra liturgia recte ordinandam, AAS 56 (1964) 877-900.
[13] C. Napier, “Altar in Contemporary Church”, trong The Clergy Review 57 (1972/8) 628.
[14] Dennis R. McNamara, Catholic Church Architecture and the Spirit of the Liturgy ((Chicago/Mundelein, IL: Hillenbrand Books, 2009), 219.
[15] J. Gélineau, Họp Nhau Cử Hành Phụng Vụ, tập I (Nxb Đồng Nai, 1992), 217.
[16] Xc. Mary Schaefer – Joanne M. Pierce, “Some General Norms for All Forms of Mass”, eds. Edward Foley, et al., A Commentary on the General Instruction of the Roman Missal (Collegeville, Minnesota: A Pueblo Book/ The Liturgical Press, 2007), 361.
[17] ĐGH Gioan Phaolô II, Ecclesia de Eucharistia, 8. Lm. Giuse Phạm Đình Ái, SSS
2020
Tội nguyên tổ dưới nhẫn quan duy thức
Tội nguyên tổ dưới nhẫn quan duy thức
Từ vài chục năm nay, vấn đề Tội Nguyên Tổ đã trở thành đề tài bàn tán sôi nổi giữa những nhà thần học Công Giáo và sở dĩ như thế là vì nó có liên hệ tới hai lãnh vực Khoa Học và Thần Học như sau.
Hiện nay, khoa học đã có những hiểu biết vượt bực về vũ trụ, thiên văn, cổ sinh vật học, nhân chủng học v,v…và vì thế người ta không thể chấp nhận có hai con người đầu tiên được sinh ra gọi là nguyên tổ Adam, Eva và khi đã không có nguyên tổ thì cũng chẳng làm gì mà có cái gọi là Tội Nguyên Tổ ?
Còn nếu xét trên phương diện thần học cũng không thể chấp nhận Tội Nguyên Tổ. Lý do là vì ta có thể đặt giả thuyết nếu Adam, Eva không nghe lời cám dỗ của rắn Sa Tan thì đã không phạm tội đến nỗi bị đuổi ra khỏi Vườn Địa Đàng thì cần gì Đức Ki Tô phải xuống thế làm người hầu cứu chuộc thiên hạ ? Còn như nếu nhìn nhận có Tội Nguyên Tổ thì chẵng lẽ Đức Ki Tô chỉ đến để sửa chữa những hư hỏng do Adam lỡ gây ra cho kế hoạch…bất toàn của Thiên Chúa hay sao ?
Công nhận hay phủ nhận Tội Nguyên Tổ như vậy đều không thể được và Tội Nguyên Tổ rút cục đã trở thành như …miếng xương gà mắc nơi cổ họng, khạc không ra mà nuốt vào cũng chẳng được: “ Nếu thực sự có một vấn đề trời tru đất diệt, không ai dám đề cập tới, không ai ưa đả động gì thì đó phải là vấn đề Tội Nguyên Tổ ( Tội Tổ Tông Truyền ). Tin rằng Thiên Chúa đã trực tiếp dựng nên Adam và Eva tức khắc phải đối đầu với cả một vấn đề hết sức rắc rối rồi. Còn tin rằng hai ông bà Nguyên Tổ đã truyền lại cho con cháu về sau cả một tội trạng được coi như là câu giải đáp cho những tai họa khốn đốn đang dồn dập trút đổ xuống trên đầu nhân loại thì đó là chuyện còn quá đáng hơn nữa, không thể nào chịu đựng được. Hễ cứ mạo hiểm trình bày vấn đề như thế là giáo lý viên sẽ đau đớn nắm chắc phần thất bại. Và không riêng gì giáo lý viên mà cả tính cách đáng tin của Giáo Hội và niềm tin vào Thiên Chúa là Cha của Đức Giê Su cũng chuốc lấy luôn thảm bại nữa” ( Nguồn: Conggiao Info – 18/6/2015 – Tội Nguyên Tổ ).
Tại sao chấp nhận Tội Nguyên Tổ thì niềm tin vào Thiên Chúa là Cha của Chúa Giê Su lại chuốc lấy thảm bại ? Đó là vì nếu đã chấp nhận Tội Nguyên Tổ thì đương nhiên cũng phải nhìn nhận có Đấng Tạo Hóa. Đang khi đó với Đấng gọi là Tạo Hóa đó không thể là Cha Đức Ki Tô cũng như mạc khải của Ngài: “ Ngoài Cha không ai biết Con. Ngoài Con và người nào Con muốn mạc khải cũng không ai biết Cha” ( Lc 10, 22 ).
Một đàng chỉ Đức Ki Tô và những ai Ngài muốn mạc khải mới…biết về Cha. Đàng khác thần học lại khẳng định Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, như vậy thì còn cần chi tới mạc khải ? Thật sự, đấng được gọi là Tạo Hóa ấy chỉ là một quan niệm của thần học và quan niệm ấy lại thoát thai từ triết học Hy Lạp, nói chính xác là của Aristote: “ Với tín hữu Ki Tô giáo, vũ trụ và sự vận hành trong vũ trụ là do Thiên Chúa sáng tạo từ hư vô. Trái lại với Aristote cả vũ trụ, cả vận hành của nó đều có từ đời đời và không bị tạo dựng bởi Thiên Chúa. Với Aristote “ Thiên Chúa” chỉ được quan niệm như một sức mạnh kiểu Đệ Nhất Động Cơ để làm cho trời đất vận hành thế nên vị…thần Động Cơ này không biết gì đến vũ trụ, cũng không lo lắng…Thiên Hựu ( Providence ) cho vũ trụ” ( L.T. Nghiêm – LSTHTP – Q.2 ).
Một Đấng Tạo Hóa mà lại không quan tâm gì đến vũ trụ thì làm sao có thể là Cha của Đức Ki Tô ? Như vậy quan niệm Đấng Tạo Hóa thuần túy chỉ là sản phẩm của triết Hy Lạp, nó chẳng có quan hệ gì tới Đấng Cha của Đức Ki Tô cũng như của hết thảy Ki Tô Hữu chúng ta.
Có câu hỏi không thể không đặt ra đó là tại sao quan niệm Đấng Tạo Hóa lại có thể thống ngự Giáo Hội suốt trong bao thế kỷ ? Nguyên nhân sâu xa là vì thần học từ trước tới nay vẫn là Duy Lý. Triết gia Clement d, Alexangdria vào đầu thế kỷ thứ III nói: “ Nhiều Ki Tô Hữu sợ triết học Hy Lạp như trẻ con sợ ngáo ộp, sợ bị triết học này chinh phục. Nếu đức tin của chúng ta là như thế, nếu nó sụp đổ trước sự thuyết phục của lý luận thì hãy cứ để cho nó sụp đổ, bởi lẽ qua đó chúng ta chứng tỏ rằng chúng ta đã không có chân lý” ( Giáo Phụ – Tập I, từ TK 1 đến TK 4 ).
Ngay từ những thế kỷ đầu, đức tin đã bị triết Hy Lạp chinh phục và rồi đến thế kỷ 13, xét trên phương diện thần học, Giáo Hội đã chính thức bước vào con đường Tục Hóa khi công nhận Aristot cùng với Thánh Gioan Baptixita là…Tiền Hô của Đức Ki Tô: “Tiền Hô của Christ trong những gì thuộc lãnh vực thiên nhiên, không khác gì Jean Baptist trong những gì thuộc lãnh vực ơn sủng” (Proecursor Christi in rebus naturalibus, sicut Joannes Baptista in rebus gratituitis )
Thần học hiện nay gọi là Duy Lý bởi vì đã nhìn nhận câu định nghĩa của Aristot như là nền tảng của triết học: “ Người là con vật biết suy lý” ( L, home est l,animal raisonnable ). Lấy Lý Trí làm nền tảng cho triết học, đây là sai lầm nghiêm trọng của triết học Tây Phương nói chung và của thần học Ki Tô giáo nói riêng. Tại sao ? Bởi vì Lý Trí luôn là Lý Trí phân biệt và nó chính là Tội Nguyên Tổ trong câu chuyện có tính biểu tượng của Sách Sáng Thế: “ Giehova ĐCT đem người vào cảnh vườn Eden để trông và giữ vườn. Rồi Đức Giehova phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn. Nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến. Vì một mai ngươi ăn chắc là phải chết” ( St 2, 15 -16 ).
Biết ở đây có nghĩa là biết phân biệt điều thiện và điều ác. Tại sao biết phân biệt điều thiện, điều ác lại là…tội ? Bởi vì chính cái biết phân biệt ấy mà đã hình thành nên một…Cái Ta ( Ngã ) và cũng chính bởi …Cái Ta ấy đã làm cho con người xa cách nhau cũng như với thiên nhiên, trời đất.
Đức Ki Tô xuất sinh nơi đời mục đích để cho con người được…làm hòa với Thiên Chúa và với nhau. Nhưng bởi u mê chấp ngã nên con người đã không chấp nhận: “ Ban đầu có Đạo, Đạo ở cùng ĐCT. Đạo ấy ban đầu ở cùng ĐCT . Muôn vật bởi Ngài dựng nên, ngoài Ngài chẳng có vật gì được dựng nên. Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người. Sự sáng soi trong tối tăm mà tối tăm chẳng tiếp nhận” ( Ga 1, 1 -5 ).
“ Đạo” cần được hiểu như là Chân Tâm thường trú ở nơi mỗi người. Chân Tâm ấy rộng lớn như hư không, không ngằn, không mé, bao la vô cùng vô tận, không một…vật gì có thể ngoài Chân Tâm ấy mà có. Nhà Phật phát biểu chân lý ấy thế này: “ Tam giới duy Tâm. Vạn pháp duy Thức”.
Tam giới tức là Dục Giới. Sắc Giới và Vô Sắc Giới. Cả ba cùng trong một Chân Tâm cũng gọi là Phật Tánh vốn đã sẵn đủ ở nơi mỗi người. Còn Vạn Pháp Duy Thức có nghĩa muôn sự muôn vật đều là Thức, do Thức biến hiện. Nói cách đơn giản và dễ hiểu thì tất cả những gì gọi tên ra được đều là Thức. Cái nhà là Thức, con vi trùng vô hình là Thức mà mặt trời to lớn kia cũng là Thức. Tóm lại đó chỉ là những cái ..tên, cái danh mà thôi.
Đang khi Chân Tâm thì bao la vô cùng vô tận, thế mà tại sao lại phân chia manh mún thành ra những cái Thức, cái tên như vậy ? Xin thưa tất cả là do Thức Phân Biệt còn gọi là Thức thứ sáu trong Duy Thức Học.
Sở dĩ có tên là Thức thứ sáu bởi vì nó …đứng hàng thứ sáu trong Bát Thức Tâm Vương: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức, Mạt na thức và Alaida thức.
Có năm Thức trước gọi là Tiền Ngũ Thức:
1, Nhãn thức: Có vật trước mắt, thấy vuông, tròn, méo, lớn nhỏ v.v…
- Nhĩ thức: Có tiếng động, tai nghe sanh các biết, biết tiếng trầm, tiếng bổng, thanh, thô v.v…
- Tỷ thức: Có những mùi đem gần mũi, biết thơm, biết thối v.v…
- Thiệt thức: Có đồ ăn đem vào miệng, lưỡi nếm, sanh các biết, biết mặn, ngọt, cay, chua v.v…
- Thân thức: Có vật đụng chạm đến thân sanh các biết, biết mềm, cứng, biết nóng, lạnh v.v…
Năm cái biết ( Thức ) này chỉ là cảm biết chứ không phải là Thức nếu chưa có Ý Thức xen vào. Nói cho dễ hiểu khi ta nhìn một bông hoa thì đó mới chỉ là một thứ cảm biết ( tri giác ). Chỉ khi nào thấy nó đẹp, xấu, lớn, nhỏ….thì mới được gọi là Thức.
Trong tám thứ Thức thì Thức thứ sáu này khôn ngoan, lanh lẹ hơn hết. Suy nghĩ làm việc phải, Thức này đứng đầu mà tính toán làm việc quấy nó cũng hơn cả ( Công vi thủ, tội vi khôi ). Lý do khiến định công, tội của Thức thứ sáu là vì tất cả những gì mà Thức này do phân biệt mà có ấy đều được Thức thứ bảy ( Mạt na Thức còn gọi là Thức chấp ngã đưa vào chất chứa ở nơi Thức thứ tám Alai da ( Tạng Tâm )
Khi nhìn bông hoa ở công viên hay nhà người mà khởi Tâm tham muốn hái đem về …trưng ở nhà mình thì đó là Tâm tham do ngã chấp điều khiển.Trái lại cùng nhìn bông hoa ấy mà không khởi đẹp, xấu, đó gọi là Tâm vô ngã là thấy đúng như thực tại nó là.
Tội của Ý Thức chính là thấy có một Cái Ta và vì Cái Ta đó mà hành động. Ngược lại bỏ đi cái ý thức phân biệt ấy đó lại là Công. Dù là Công ( Vô Ngã ) hay Tội ( Chấp Ngã ) mà làm thì tất cả những việc làm ấy đều được đem chất chứa lâu ngày chầy tháng để trở thành cái Nghiệp của mỗi người.
Có hai thứ Nghiệp, một là Nghiệp thế gian, hai là Nghiệp xuất thế gian. Đạo Chúa là đạo xuất thế gian: “ Nếu các ngươi thuộc về thế gian thì thế gian chắc sẽ yêu mến những kẻ thuộc về mình. Nhưng vì các ngươi không thuộc thế gian. Song Ta đã lựa chọn các ngươi ra khỏi thế gian nên thế gian ghét bỏ các ngươi” ( Ga 15, 19 ).
Để ra khỏi thế gian thì cần có “ Nhân” xuất thế và cái “ Nhân” xuất thế ấy chính là biết vâng theo Thánh Ý Chúa: “ Có người thưa với Ngài rằng: Kìa có mẹ và anh em Thầy đứng ở ngoài muốn tìm cách nói với Thầy. Chúa đáp: Ai là mẹ Ta, ai là anh em Ta.? Rồi Ngài giơ tay chỉ các môn đệ mà phán: Này là mẹ Ta, là anh em ta vì hễ kẻ nào làm theo Thánh Ý Cha Ta thì nấy là anh em và là mẹ Ta” ( Mt 12, 47 -50 ).
Vâng theo Thánh Ý Chúa đó là đã tạo cho mình một cái “ Nhân” tối thượng. Kinh Mân Côi có sức huân tập rất lớn, bởi lẽ để thực hành Kinh này thì phải lập đi lập lại lời chào mừng của sứ thần Gabriel trong Ngày Truyền Tin mở đầu cho Ơn Cứu Độ.
Thật diệu kỳ, Ơn Cứu Độ lại được mở ra sau khi Nguyên Tổ bị đuổi khỏi Vườn Địa Đàng cùng với lời trách phạt của Đức Chúa Giehova với rắn Sa Tan: “ Ta sẽ làm cho mày cùng Người Nữ. Dòng dõi mày cùng dòng dõi Người Nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mày, còn mày thì sẽ rình cắn gót chân Người” ( St 3, 15 ).
Chính Tội Nguyên Tổ lại mang Ơn Cứu Độ đến cho con người. Nhận ra chân lý thâm sâu này, Thánh Augustin đã phải thốt lên: Ôi ! Đây thật là tội hồng phúc ( Felix Culpa )./.
Phùng Văn Hóa
2020
Giao Ước – Ân Điển Của Thiên Chúa Dành Cho Con Người
.jpg)
Tìm hiểu về giao ước, chúng ta sẽ thấy, trước hết giao ước gắn liền với Thiên Chúa, vì giao ước là danh xưng của Thiên Chúa. Thật vậy, sách Giáo lý Công Giáo (GLCG) viết: “Thiên Chúa của Giao Ước” (số 401) và mô tả Thiên Chúa như là Đấng “đến gặp gỡ con người qua các giao ước của Người” (số 309). Đồng thời GLCC khẳng định mỗi chúng ta được mời “để giao ước với Đấng Sáng Tạo, dâng lên Người một lời đáp trả tin yêu mà không ai có thể thay thế được” (số 357).
Trong Cựu Ước, ngôn sứ I-sai-a đã từng loan báo về một nhân vật được Thiên Chúa tuyển chọn làm Người Tôi Trung của Thiên Chúa: “Đây là Người Tôi Tớ Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn và hết lòng quí mến” (Is 42,1),“Giờ đây ĐỨC CHÚA lại lên tiếng. Người là Đấng nhào nặn ra tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ để tôi trở thành người tôi trung, đem nhà Gia-cóp về cho Người và quy tụ dân Ít-ra-en chung quanh Người. Thế nên tôi được ĐỨC CHÚA trân trọng, và Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi” (Is 49,5). Người Tôi Trung đó được Thiên Chúa đặt làm giao ước: “Ta đã đặt ngươi làm giao ước với dân” (Is 42,6; 49,8). Người Tôi Trung mà ngôn sứ I-sai-a loan báo đó, trong Tân Ước, được tác giả Tin Mừng Mát-thêu xác tín là Đức Giê-su (x. Mt 12,8), và Đức Giê-su cũng chính là giao ước vì Người đã nói: “Này là chén máu Thầy, máu Giao Ước mới và vĩnh cửu…” (x. Mt 26,28; Mc 14,24; Lc 22,20), “Chén này là Giao Ước Mới, lập bằng máu Thầy…” (1 Cr 11,25). Tác giả thư Híp-ri cũng khẳng định rằng Đức Giê-su “đã trở nên Đấng bảo đảm cho một giao ước tốt đẹp hơn” (Hr 7,22), “là Đấng trung gian cho một giao ước tốt đẹp hơn” (Hr 8,6), “là Đấng trung gian của một Giao Ước Mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ” (Hr 9,15).
Theo hồng y Jean Danielou, S.J., giao ước được kể là một trong những danh xưng của Thiên Chúa trong Ki-tô giáo thời kỳ đầu.[1] Theo đó trong Kinh Nguyện Thánh Thể IV (phụng vụ của Hội Thánh) đã cầu nguyện như sau: “Lạy Cha…. Cha đã dựng nên con người giống hình ảnh Cha và trao cho việc trông coi vũ trụ, để khi phụng sự một mình Cha là Ðấng tạo hoá, con người cai quản mọi loài thụ tạo. Và khi con người đã mất tình nghĩa với Cha vì bất phục tùng, Cha đã không bỏ mặc con người dưới quyền lực sự chết…. Nhiều lần Cha đã giao ước với loài người… và khi tới thời viên mãn, Cha đã sai Con Một đến làm Ðấng cứu độ chúng con”.
Trong Cựu Ước, thuật ngữ giao ước gốc Híp-riבְּרִית (berít) nghĩa là việc cắt, sự cắt, có lẽ phát xuất từ động từ בתר (batar), nghĩa là cắt làm đôi. Như vậy, thuật ngữ giao ước hẳn là có liên quan trực tiếp đến nghi thức, cách thức thực hiện giao ước trong thế giới Kinh Thánh Cựu Ước (x. St 15,9-20).
Các tác giả Tân Ước dùng thuật từ Hy-lạp διαθήκη (diathêkê) để chỉ giao ước (x. Mt 26,28; Lc 1,72; Cv 7,8; Rm 9,4; Gl 4,24; 1 Cr 11,25; 2 Cr 3,6). Danh từ διαθήκη (diathêkê) bởi động từ διάτίθημι (diatithêmi), nghĩa là đặt riêng ra, tách đôi ra tương tự ý nghĩa của hạn từ berít trong tiếng Híp-ri, đồng thời nhấn mạnh ý muốn và vai trò trổi vượt của Thiên Chúa trong việc đi vào tương quan với con người qua lời hứa của Người.
Các bản dịch Kinh Thánh sang tiếng La-tinh, thuật ngữ giao ước được dịch thành testamentum tức làm chứng hoặc chúc thư (x. Hr 9,16-17).
Các bản dịch Anh ngữ thì sử dụng thuật từ covenant xuất phát bởi động từ La-tinh convenire [gồm giới từ con: cùng + động từ venire: đến], nghĩa là cùng đến, cùng đi tới, thỏa thuận, đồng ý…
Bởi việc chuyển ngữ như thế nên từ ngữ giao ước trong Kinh Thánh có nguy cơ bị hiểu là giao kèo hay hợp đồng,… Tuy nhiên, ý nghĩa của thuật ngữ giao ước trong Cựu Ước không hàm ý một giao kèo sòng phẳng giữa đôi bên, mà là bên có thế giá hơn gia ân cho bên ít thế giá hơn (x. Gs 9,6.15; 1 Sm 11,1; Ed 17,13). Theo đó, giao ước mà Thiên Chúa lập với con người mang đặc tính đơn phương, tức là chỉ Thiên Chúa tình nguyện cam kết thực hiện lời Người đã hứa với con người, phần con người chỉ cần đón nhận cách xứng đáng và trung thành. Sự đáp trả của con người không thể sánh với những gì con người đã lãnh nhận (x. Ep 2). Đó là ân điển Thiên Chúa tặng ban cho con người. Để so sánh chúng ta có thể lấy ví dụ:
+ Cô điếm (giao kèo) khác với cô dâu (giao ước).
+ Người làm công (giao kèo) khác với người con (giao ước).
Ngoài ra, giữa giao kèo và giao ước cũng liên quan đến các vấn đề bảo chứng như: lời hứa và lời thề, theo đó:
+ Giao kèo: liên quan đến lời hứa
+ Giao ước: liên quan đến lời thề
Xét như việc liên quan đến lời hứa, chúng ta thấy xưa và nay cũng có khác biệt. Với người xưa chỉ cần một lời là đủ, nên mới có các câu như:“Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”, “Nhất ngôn cửu đỉnh”, “Xuất ngôn như phá thạch”, “Một lời như đinh đóng cột”, hoặc “Quân tử nhất ngôn”. Còn ngày nay, lời hứa cần phải được trình bày qua chữ viết (văn tự), và được xác định bằng việc ký tên của đôi bên. Do đó, các bản thỏa thuận, bản hợp đồng, hay bản giao kèo… không những viết trên giấy trắng mực đen, mà còn phải được công chứng bởi cơ quan công quyền, để buộc mỗi bên phải giữ lời hứa của mình.
Với giao ước thì khác. Giao ước không phải là lời hứa mà là lời thề, tức là nại đến thẩm quyền của Đấng Tối Cao làm chứng và phân xử. Qua đó, với lời thề, người ta (1) nhờ Thiên Chúa chứng giám; (2) nhờ Thiên Chúa giúp giữ lời hứa. Ví dụ: Một người ra tòa làm chứng sẽ phải thề nói sự thật. Như vậy, sẽ không chỉ có anh ta và quan tòa, mà còn có Thiên Chúa nữa. Như vậy, một khi đặt mình dưới lời thề thì nếu người ấy không giữ lời thề, anh ta sẽ không chỉ bị pháp luật xử, mà còn bị Thiên Chúa xét xử nữa.
Nếu hiểu giao ước là một hợp đồng thì vấn đề xem ra lại càng sai lầm, vì hợp đồng nhằm đến việc trao đổi tài sản, trong khi giao ước nhằm đến mối tương quan giữa hai bên. Theo ý nghĩ này, chúng ta thấy rằng hợp đồng liên quan đến sự trao đổi những thứ hai bên muốn trao đổi như: tài sản, công việc, giờ giấc lao động, công xá… và như vậy, hợp đồng chỉ là cam kết những thứ ngoại thân, cho nên (1) hai bên sẽ hết trách nhiệm với nhau khi hoàn tất hợp đồng; (2) có thể bồi thường hợp đồng; (3) có thể giải phóng hợp đồng; (4) có thể hủy hợp đồng nếu hai bên đồng ý.
Trong khi đó, giao ước không liên quan đến sự đổi chác những vật ngoại thân, mà liên quan trực tiếp đến tương quan, phẩm giá, tư cách và thân phận của chính đương sự. Vì một khi ký kết giao ước, cả hai bên sẽ “đi vào trong” giao ước đó, nên sẽ (1) không có chuyện hết giao ước như hết hợp đồng; (2) không có chuyện bồi thường giao ước như bồi thường hợp đồng; (3) không có chuyện giải phóng giao ước như giải phóng hợp đồng; (4) không có chuyện hủy giao ước như hủy hợp đồng. Nói cách khác, khi hai bên đi vào giao ước với nhau là đi vào sự trao hiến chính mình cho nhau. Dựa trên ý nghĩa đó, John Bergsma đã định nghĩa giao ước là một cam kết có tính pháp lý giữa hai hay nhiều bên bằng một lời thề (hay bằng một điều gì đó tương đương), để từ đó về sau, với tất cả nghĩa vụ và quyền lợi, họ trở nên cốt nhục của nhau, tức là thành viên trong một gia đình.[2]
Thiên Chúa đã đi vào trong một giao ước như thế với dân Người: “Ta sẽ là Thiên Chúa của họ, và họ sẽ là dân riêng của Ta” (2 Cr 6,16). Nhờ giao ước, con người được tương quan với Thiên Chúa, được nâng cao đến mức trở thành con cái của Đấng Thánh vì “theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giê-su Ki-tô” (Ep 1,5). Theo đó và con người được biến đổi cả chiều kích tự nhiên lẫn siêu nhiên: “Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người” (Ep 1,4). Đồng thời, con người trở thành anh chị em của nhau trong một gia đình của Thiên Chúa.
Có thể điểm qua một số giao ước Thiên Chúa lập qua: (1) ông A-đam và bà E-và (x. St 1,26—2,3); (2) ông Nô-ê và gia đình (x. St 9,8-17); (3) ông Áp-ra-ham và dòng tộc (x. St 12,1-3; 17,1-14; 22,16-18); (4) ông Mô-sê và dân Ít-ra-en (x. Xh 19,5-6; 3,4-10; 6,7); vua Đa-vít và vương quốc Ít-ra-en (x. 2 Sm 7,8-19); Đức Giê-su và Hội Thánh (x. Mt 26,28; 16,17-19). Các giao ước này trình bày tiến trình Thiên Chúa thực hiện giao ước của Người với nhân loại khởi từ một đôi vợ chồng rồi từ đó hình thành nên một gia đình, một dòng tộc, một dân tộc, một vương quốc và cuối cùng là Hội Thánh (Nước Trời). Dấu chỉ tình yêu của giao ước thuở tạo dựng là một cuộc hôn nhân khi người nam và nữ trở thành một xương một thịt: “Con người nói : “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi ! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra.”Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,23-24), thì dưới ánh sáng Tân ước, chúng ta sẽ thấy, cuộc hôn nhân của A-đam và E-và chỉ đến một tình yêu lớn lao hơn, một tương quan sâu xa hơn, đó là tình yêu và tương quan giữa Thiên Chúa với con người.[3] Thánh Phao-lô nói rằng tình yêu của Đức Ki-tô đối với hiền thê của Người là Hội Thánh (x. Ep 5,21-33). Còn tác giả sách Khải Huyền thì trình bày tiệc cưới của Con Chiên [Đức Ki-tô và Hội Thánh] (x. Kh 19,9; 21,9; 22,17). Như vậy, giao ước tình yêu giữa Thiên Chúa với con người nơi sách Sáng Thế mở đầu cuộc tạo dựng với cuộc hôn nhân của A-đam và E-và sẽ được hoàn tất bằng cuộc tạo dựng mới với tiệc cưới của Con Chiên và Tân Nương trong sách Khải Huyền.[4]
Như vậy, giao ước là ân điển và là cánh cửa đưa con người vào trong mối tương quan bền vững với Thiên Chúa dựa trên tình yêu và lòng trung thành của một cuộc hôn nhân. Một khi bước vào giao ước và ở lại trong giao ước, con người sẽ đạt tới niềm vui đích thực là được thông dự vào niềm vui và sự sống thần linh của Đức Ki-tô Phục Sinh. Vì thế, giữa bóng tối của sự dữ mà cụ thể là dịch bệnh viêm phổi cấp do vi-rút SARS-CoV-2 đang hoành hành và gây tang tóc khắp nơi thì chúng ta, các Ki-tô hữu, hơn lúc nào hết, được mời gọi trở lại với giao ước, tức trở lại với Thiên Chúa, vốn là nguồn sống và nguồn tình yêu bất diệt, trở lại với việc đi vào trong tương quan bền vững dựa trên giao ước tình yêu và lòng trung thành, để chúng ta tin tưởng, hy vọng và can đảm đem ánh sáng niềm tin chiếu soi cho tất cả thế giới.
Halleluia. Halleluia.
Chúa Nhật Phục Sinh 2020
Ga. Nguyễn Thiên Minh, O.P.
2020
Có phải tên Thiên Chúa là “Giavê” hay “Giêhôva” không?
Hỏi: Thưa cha Kerper*, gần đây con có nghe nhiều người nói rằng Giáo Hội Công Giáo chống lại việc sử dụng tên thật của Thiên Chúa, mà trong Kinh Thánh tên đó là “Giêhôva” (Jehovah). Con có biết Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI từng cấm người Công Giáo sử dụng tên này. Nếu đó thật sự là tên thật của Thiên Chúa thì vì sao lại cấm sử dụng?
Đáp: Cảm ơn câu hỏi của bạn, một câu gần đây thật sự thường nghe. Tôi thấy rằng câu hỏi của bạn có ba ý phân biệt nhưng liên kết với nhau: một là, vấn đề danh hiệu “Giêhôva”; hai là, việc sử dụng tên thật của Thiên Chúa trong việc thờ phượng; ba là, Thiên Chúa có tên thật không.
Đầu tiên chúng ta nói về danh từ “Giêhôva”. Nếu bạn chịu khó tìm trong các bản dịch mới nhất của Kinh Thánh, bạn sẽ không tìm thấy từ đó. Vì sao? Bởi vì hầu hết các học giả đều đồng ý rằng danh từ đó là một cách dịch sai của 4 ký tự Hípri – mà chúng ta thường phiên tự bằng chữ cái Latinh là “YHWH” hay “JHWH”.
Nguồn gốc thuật ngữ “Giêhôva”
Bởi vì người Israel có lòng tôn kính danh Thiên Chúa cách sâu sắc, nên họ đã dừng hẳn việc phát âm từ “YHWH”. Điều này xảy ra vào khoảng năm 300 trước Công Nguyên.
Để nhắc nhở các đọc giả không đọc ra danh Thiên Chúa, các bản sao Kinh Thánh Do Thái bắt đầu chèn vào từ “Adonai”, nghĩa là “Đức Chúa”, trên đầu các ký tự “YHWH”. Chỉ mới từ thời Trung cổ, những người dịch Kinh Thánh từ tiếng Hípri sang tiếng Latinh hay các ngôn ngữ châu Âu khác mới tạo ra thuật ngữ “Jehovah” (“Giêhôva”) do ghép nhầm các ký tự của chữ “Adonai” vào cụm 4 chữ cái “YHWH”. Càng về sau, sự nhầm lẫn càng tiến hoá và trở thành từ “Giêhôva”.
Đến nay, vẫn có một vấn đề lớn với cụm 4 ký tự “YHWH”: Không ai thực sự biết 4 chữ này nghĩa là gì. Đa số nhà Kinh Thánh học gán cho các ký tự này nghĩa là “Ta là Đấng mà Ta là“, hoặc “Ta sẽ Đấng mà Ta sẽ là”. Nhiều người thậm chí dịch đơn giản là “Hiện Hữu” (Being). Bên cạnh đó, nhiều học giả khác xác quyết rằng ẩn ý của 4 ký tự “YHWH” chính là Thiên Chúa thật ra không muốn mặc khải Thánh Danh Người. Nói cách khác, 4 ký tự đó nghĩa là Thiên Chúa phán với Môsê rằng “Danh Ta can chi đến ngươi.”
Những người thuộc phái Nhân chứng “Giêhôva” đã tranh cãi vấn đề về nguồn gốc từ “Giêhôva” từ lâu, khẳng định rằng đó là tên thật duy nhất của Thiên Chúa. Tuy nhiên, giới học giả đều đồng ý rằng đó không phải là sự thật.
Tại sao từ “Giavê” (“Yahweh”) không còn xuất hiện trong phụng vụ Công Giáo nữa
Giờ thì chúng ta bàn đến việc Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI “cấm” sử dụng “tên thật” của Thiên Chúa. Vào tháng 8 năm 2008, Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích, với sự đồng thuận của Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã ban hành một chỉ dẫn cho các Giám Mục về việc không sử dụng danh từ “Giavê” trong thánh nhạc và kinh nguyện. Có 2 lý do:
Một là, trước giờ, Kitô hữu chưa bao giờ sử dụng danh hiệu để chỉ về Thiên Chúa trong phụng vụ. Thật vậy, từ “Giavê” chỉ mới xuất hiện trong các thánh ca Công Giáo từ khoảng năm 1970. Việc này xảy ra do bản dịch Kinh Thánh “Kinh Thánh Giêrusalem” (The Jerusalem Bible) được phát hành năm 1966.
Nhiều người Công Giáo nói tiếng Anh cảm thấy thích thú danh từ này và bắt đầu có phong trào sử dụng từ “Giavê” thay cho “Đức Chúa” hay “Thiên Chúa”, nhưng nhóm các tu sĩ nhạc sĩ dòng Tên St. Louis. Họ tin rằng từ “Giavê” giữ được ý vị của các thánh vịnh. Tuy nhiên, các chuyên gia về phụng vụ thì phản đối việc sử dụng từ “Giavê” trong phụng vụ chung, vì từ đó không truyền thống, và có nhiều tín hữu thậm chí không biết “Giavê” là ai.
Hai là, việc phát âm từ “Giavê” là một sự xúc phạm rõ ràng đến tâm thức tôn kính Danh Thiên Chúa của người Do Thái. Ý thức về một cấm kỵ lâu đời giữa người Do Thái về việc phát âm ra Danh Thánh Thiên Chúa, các chuyên gia cho rằng cần tôn trọng truyền thống trên và không nên làm điều gây chướng tai người Do Thái, thậm chí có thể là một sự phạm thánh.
Tên thật của Thiên Chúa
Bây giờ chúng ta nói đến vấn nạn lớn nhất: thật ra Thiên Chúa có tên thật không?
Chúng ta nên ý thức rõ rằng: Thiên Chúa là Đấng vô cùng và vượt trên mọi khả năng hiểu biết của loài người, vượt trên mọi tên hiệu mà loài người biết được. Kinh Thánh cho thấy điều này qua việc sử dụng rất nhiều từ và ngữ để chỉ về Thiên Chúa.
Vậy Thiên Chúa có phải tên là “Thiên Chúa” không? Nói cách nghiêm túc thì đây không phải là tên riêng mà là một hạn từ chung chỉ một nhóm sự vật có cùng đặc tính, giống như các từ “loài người”, “thẩm phán” hay “lính canh”. “Thiên Chúa” được dịch từ chữ “Elohim” của tiếng Hípri, nghĩa đen là “Thần” hoặc “Thẩm Phán” (magistrate).
Kinh Thánh Do Thái dùng rất nhiều thuật ngữ phiếm chỉ để gọi Thiên Chúa, như Chúa Thượng, Đấng Thánh, Đấng Uy Lực nhà Giacóp (Is 49,26), Đấng Toàn Năng, Đấng Đáng Chúc Tụng,… Khi người Do Thái bắt đầu dịch Kinh Thánh sang tiếng Hy Lạp, họ luôn thay 4 ký tự “YHWH” bằng chữ “Kyrios” nghĩa là Đức Chúa. Thuật ngữ Hy Lạp này được chuyển sang thẳng tiếng Latinh mà không dịch ra, ví dụ kinh Thương Xót thường được đọc trong Thánh lễ là “Kyrie, eleison” nghĩa là “Xin Chúa thương xót”. Vì vậy, từ thời các Tông Đồ, các Kitô đã không bao giờ gọi Thiên Chúa là “Giavê”, mà là “Đức Chúa” hoặc “Thiên Chúa”. Gọi “Giavê” là một sự phạm thượng.
Còn Chúa Giêsu thì như thế nào? Là một người Do Thái đạo đức và công chính, Chúa Giêsu không bao giờ gọi Thiên Chúa là “Giavê”, ít nhất là công khai. Thay vào đó, nếu không gọi là “Thiên Chúa” thì Người gọi là “Cha”. Một lần duy nhất Chúa Giêsu gọi Thiên Chúa là “Ê-lô-i” (Mc 15,34), tiếng Aram nghĩa là Thiên Chúa, từ trên Thập giá. Cũng vậy, Thánh Phaolô hay các Thánh Tông Đồ khác cũng không bao giờ gọi Thiên Chúa là “Giavê” hay “Giêhôva”, mà luôn luôn là Thiên Chúa hoặc Cha, đôi khi ghép lại là Thiên Chúa Cha, hoặc Thân Phụ Đức Giêsu Kitô.
Người ta cố gắng tìm kiếm tên “thật” của Thiên Chúa một phần vì nghĩ rằng cần gọi đúng tên của Người để được Người lắng nghe. Khi làm vậy, họ quên mất bản chất yêu thương của Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa thật lòng yêu thương chúng ta và muốn lắng nghe chúng ta cầu nguyện, việc dùng danh từ nào không quá quan trọng. Quả vậy, một người cha đầy yêu thương có thể lắng nghe tiếng khóc của con mình mà chẳng cần chấp nhất nó có gọi “ba ơi”, “cha ơi”, “mẹ ơi” hay bất cứ từ gì.
* Cha Michael Kerper là cha sở giáo xứ Corpus Christi thuộc Portsmouth, bang New Hampshire, Hoa Kỳ
Gioakim Nguyễn biên dịch
