2020
5 truyền thống văn hóa mừng Lễ Đức Mẹ hồn xác lên Trời
5 truyền thống văn hóa mừng Lễ Đức Mẹ hồn xác lên Trời
Dưới đây là cách dễ dàng kết hợp các phong tục lịch sử hân hoan trong việc kỷ niệm ngày lễ này tại nhà.
Mặc dù mãi đến năm 1950 tín điều Đức Mẹ hồn xác Lên Trời mới chính thức được xác định, nhưng ngay từ những ngày đầu của Giáo hội các tín hữu biết và tin rằng Đức Mẹ đã được cất lên Thiên đàng. Thật vậy, ngày 15 tháng Tám là một trong những ngày lễ kính Đức Mẹ lâu đời nhất!
Qua các thế kỷ, nhiều cách sùng kính bình dân đã phát triển để tôn vinh Đức Trinh Nữ trong ngày thánh này. Ở một số quốc gia, những người phụ nữ có tên Maria tôn vinh thánh bổn mạng bằng bữa tiệc tổ chức tại nhà cho bạn bè và hàng xóm của họ; các thị trấn tổ chức những đám rước và lễ hội với hoa, âm nhạc và nhảy múa.
Theo truyền thống, ngày Lễ Đức Mẹ lên Trời là Ngày Lễ buộc ở nhiều nơi; ngay cả với thời điểm miễn trừ hiện tại, ngày lễ này là thời điểm thích hợp để tham dự Thánh lễ nếu bạn có thể, theo dõi Thánh lễ trực tuyến, hoặc đọc Phụng vụ Lời Chúa tại nhà với gia đình. Bạn cũng có thể đọc Kinh Mân côi năm Sự Mừng, suy tư đặc biệt về mầu nhiệm thứ năm, “Đức Maria được thưởng trên nước Thiên Đàng, Nữ Vương Thiên Đàng và Trần thế”.
Dưới đây là 5 cách mừng kính ngày lễ này theo lịch sử, cùng với những cách thức để kết hợp các truyền thống trong gia đình của bạn.
1. ĐỨC BÀ THẢO MỘC VÀ HOA
Người ta tin rằng các loại thảo mộc được hái vào tháng Tám là có công dụng tốt nhất, vì vậy, nhiều nhà thờ theo truyền thống tổ chức “làm phép cho các loại thảo mộc” vào ngày này. Ở Ba Lan, ngày này được biết đến trong lịch sử với tên gọi Lễ Đức Bà Thảo một và Hoa, và người Ba Lan ở Mỹ thường tiếp nối truyền thống theo một cách mới, với tên gọi là Lễ Đức Bà Hoa. Theo các lễ mừng truyền thống, trẻ em sẽ hát thánh ca bằng tiếng Ba Lan và tiếng Anh tại nhà thờ, và sau đó cha mẹ các em nhảy múa theo điệu nhạc truyền thống của Ba Lan.
Gia đình bạn có thể dâng các loại thảo mộc và hoa lên ảnh Đức Mẹ trong khi hát thánh ca trong nhà của bạn, sau đó là nhảy múa!
2. RƯỚC KIỆU QUA THÀNH PHỐ
Ở Ý, người dân thị trấn đi theo đoàn rước tượng Đức Mẹ qua các đường phố đến nhà thờ. Siena nổi tiếng với cuộc đua ngựa “Palio di Siena”, một cuộc đua ngựa chưa thuần, vô luật lệ và đầy phấn khích ở quảng trường của thành phố. Những người tham gia và nhiều người tham dự mặc trang phục thời trung cổ, và thành phố ngập tràn các đồ trang trí và người xem, làm cho cuộc đua hàng năm trở thành một truyền thống đáng yêu.
Trẻ nhỏ thích cuộc đua ngựa giả đầy hào hứng ở sân sau hoặc trong phòng khách, hoặc đơn giản bạn có thể theo đám rước kiệu và ca vang những bài thánh ca.
3. VƯƠNG MIỆN BẰNG HOA
Ở Bồ Đào Nha, lễ hội hàng năm trong ngày lễ này được gọi là Romeria. Một ban kèn đồng, trống truyền thống và kèn túi (nhạc dân ca vùng Galicia) đồng tấu trong khi các bức tượng Mẹ Maria, Nữ Vương các Thiên thần, được đội triều thiên trong các nhà thờ.
Dâng hoa lên Đức Mẹ là một truyền thống thường được cử hành vào tháng Năm, nhưng chẳng có lý do gì để không tôn vinh Đức Mẹ vào bất kỳ ngày nào trong năm, và Lễ Đức Mẹ hồn xác lên Trời là một ngày vô cùng thích hợp! Vì vậy, nếu bạn chưa bao giờ dâng hoa lên Đức Mẹ vào tháng Năm, thì Giáo hội luôn hỗ trợ bạn: Đây là một dịp phù hợp theo phụng vụ để dâng hoa lên Đức Mẹ. Bạn có thể làm một triều thiên bằng hoa cho tượng Đức Mẹ, hoặc xem các bản in Tượng Đức Mẹ này với triều thiên nhỏ xíu.
4. DÂNG HOA TRÁI ĐẦU MÙA
Ở Armenia có phong tục dâng “hoa trái đầu mùa” của vụ thu hoạch lên Chúa, theo gương của Aben trong Kinh thánh, người đã dâng của lễ xứng đáng. Vì vậy, ngày Chúa nhật cận với Lễ Đức Mẹ lên Trời được dành riêng để làm phép vườn nho. Một phong tục đáng khen là kiêng ăn nho cho đến sau khi làm phép, khi đó những mâm xếp đầy trái cây được mang vào nhà thờ, được làm phép và trao cho từng thành viên trong cộng đoàn mang về nhà. Ở một số nơi, các lễ hội được tổ chức trong vườn nho.
Ăn nho trong ngày Lễ Đức Mẹ Lên Trời là một cách ăn mừng đơn giản và thú vị! Để phù hợp với tinh thần của ngày lễ, bạn có thể dâng lời cầu nguyện đặc biệt để tạ ơn vì muôn ơn lành rộng rãi của Chúa.
5. CẦU HÔN
Ở một số vùng của Pháp, có phong tục cầu hôn vào ngày 15 tháng Tám, khi đó các đôi đính ước cầu xin Mẹ Maria chúc phúc cho tương lai chung sống của họ. Người trẻ theo truyền thống thích các buổi dã ngoại và tiệc tùng, và sau khi rước tượng Đức Mẹ qua làng, họ sẽ nhảy múa bên ánh sáng của những đống lửa. Nếu bạn đang dự định việc đính hôn thì Lễ Đức Mẹ lên Trời sẽ là một ngày hoàn hảo để cầu hôn, bạn có nghĩ vậy không?
[Nguồn: aleteia]
Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN
2020
Tại sao phải đến với Mẹ Maria trong khi chúng ta đã có Chúa Giêsu?
Tại sao phải đến với Mẹ Maria trong khi chúng ta đã có Chúa Giêsu?
Cách đây vài năm, tôi có một cuộc thảo luận với một người bạn theo Tin lành về việc người công giáo dâng mình cho Đức Maria. Tôi giải thích rằng về cơ bản đó chỉ là một cách nói theo nghĩa chúng tôi phó thác bản thân cho Đức Mẹ và đặt mình dưới sự bảo trợ của Mẹ để Mẹ có thể dạy chúng tôi nên thánh như Mẹ.
Để giúp bạn của tôi hiểu rõ điều này, tôi đã dùng một ví dụ về môn bóng rổ. Tôi đã nói rằng nếu bạn muốn trở thành cầu thủ bóng rổ giỏi, thì bạn phải học từ người giỏi nhất. Nếu có thể, bạn nên đến gặp cầu thủ bóng rổ giỏi nhất mọi thời đại, Michael Jordan, anh ấy có thể giúp bạn nhiều hơn bất kỳ ai trên trái đất này.
Tương tự, nếu chúng ta muốn trở nên người thánh thiện hết sức có thể, chúng ta cũng nên học hỏi nơi người tốt nhất. Chúng ta nên học nghệ thuật nên thánh từ người hoàn hảo nhất đã từng bước đi trên trái đất này. Sau đó tôi nói rằng người thánh thiện nhất xưa nay (theo Kitô giáo) đó chính là Đức Mẹ Maria, mà đặc ân Vô nhiễm Nguyên tội đã giữ cho Mẹ khỏi tội lỗi, dù là nhỏ nhất trong thời gian Mẹ sống ở trần gian. Nhưng lúc đó bạn tôi xen vào nói – đó là Chúa Giêsu. Dĩ nhiên, điều anh ta nói ngụ ý rằng việc dâng mình cho Mẹ Maria là không cần thiết, vì chúng ta có thể học hỏi từ chính Chúa Giêsu.
Vậy làm thế nào chúng ta có thể trả lời cho kiểu lập luận đó? Nhìn bề ngoài, lập luận ấy có vẻ rất mạnh mẽ. Chắc chắn, Đức Mẹ được Thiên Chúa gìn giữ khỏi tội lỗi, nhưng Chúa Giêsu là Thiên Chúa, cho nên không cần phải động não. Chúng ta nên bỏ qua người trung gian và đi thẳng đến nguồn gốc của mọi sự thánh thiện.
Nhưng nếu chúng ta đào sâu hơn một chút, chúng ta thấy rằng nó thực sự không đơn giản. Để biết lý do tại sao, chúng ta hãy thay đổi chủ đề một chút và nhìn vào những lời giáo huấn trong Tân ước về những người có đời sống thánh thiện mà chúng ta cần noi theo. Nhiều đoạn văn nói với chúng ta rằng chúng ta nên bắt chước Chúa Giêsu – chẳng hạn như Ga 13:34; 1Pr 2:21 -, vì vậy theo logic lập luận của người bạn đó thì chúng ta không nên lấy các thánh tông đồ làm gương. Chúa Giêsu là mẫu gương tuyệt hảo về sự thánh thiện, vậy việc gì chúng ta phải nhìn vào bất kỳ ai khác?
Một lần nữa, điều đó nghe qua có vẻ thuyết phục nhưng nó không giống như điều Kinh thánh nói. Chẳng hạn thánh Phaolô thường bảo các độc giả của ngài hãy bắt chước ngài (1 Cor 4,16, Phil 3,17; 2Tx 3,7-9), và trong đoạn khác ngài còn nói: “Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi đã bắt chước Chúa Kitô” (1Cor 11,1). Phaolô không chỉ nói với những người con thiêng liêng của mình hãy noi gương ngài cách chung chung, mà ngài còn bảo họ hãy bắt chước ngài trong khi họ có thể nhìn vào Chúa Giêsu cách dễ dàng. Ngay cả khi đang bắt chước Chúa Giêsu, thánh Phaolô cũng bảo mọi người hãy bắt chước ngài hơn là nhìn vào mẫu gương mà ngài đang noi theo.
Điều này không có nghĩa là thánh Phaolô không khuyến khích mọi người lấy Chúa Kitô làm gương mẫu. Trái lại, ngài nói rõ với các độc giả của ngài rằng họ nên làm điều đó (Phil 2, 5, Col 3,13), vì vậy quan điểm của ngài không phải là bắt mọi người bắt chước mình thay vì bắt chước Chúa Giêsu. Đúng hơn, mọi người nên bắt chước ngài cùng với Chúa Giêsu. Thực vậy, chúng ta có thể nói rằng, Phaolô muốn các độc giả của mình bắt chước Chúa Giêsu cách chính xác bằng cách bắt chước ngài.
Và tại sao lại như vậy? Nói cách ngắn gọn, Thiên Chúa không muốn chúng ta tập trung nhìn vào Ngài để rồi chúng ta không còn thấy ai nữa. Ngài không chú tâm đến chúng ta theo kiểu riêng biệt đến nỗi chúng ta trở nên độc lập về mặt thiêng liêng với phần còn lại của Giáo hội. Không, giống như Ngài đã tạo dựng loài người chúng ta theo cách mà chúng ta cần nhau để tồn tại về mặt thể lý, thì Ngài cũng muốn chúng ta lệ thuộc vào nhau về mặt thiêng liêng. Mặc dù Chúa Giêsu có thể là mẫu gương thánh thiện duy nhất của chúng ta, Ngài cũng muốn chúng ta nhìn lên người khác.
Và lấy nguyên tắc tương tự làm nền tảng cho việc chúng ta dâng mình cho Mẹ Maria. Chắc chắn, chính Thiên Chúa, nguồn gốc của mọi sự thánh thiện, là thầy dạy của đời sống thiêng liêng, nhưng Ngài không muốn chỉ mình Ngài đóng vai trò đó. Thay vào đó, Ngài muốn chia sẻ điều đó với con cái của mình; Ngài muốn chúng ta học từ người khác. Cụ thể hơn, chúng ta có thể nói rằng Ngài muốn dạy chúng ta qua mẫu gương và sự dạy dỗ của người khác.
Vì vậy ý tưởng cắt bỏ người trung gian và bỏ qua Đức Maria thực sự mâu thuẫn với tinh thần của Tân ước. Chắc chắn tự Thiên Chúa có thể trực tiếp dạy chúng ta, nhưng Ngài chọn cách dạy và hướng dẫn chúng ta qua những người khác. Giờ đây, “người khác” tuyệt vời nhất mà chúng ta có thể phó thác đó chính là Đức Maria, vì vậy thật hợp lý khi chúng ta dâng mình cho Mẹ và đặt mình dưới sự chở che của Mẹ để Mẹ có thể dạy chúng ta nên thánh giống như Mẹ.
- Võ Tá Hoàngchuyển ngữ
2020
Tại sao người ta thường chắp tay khi cầu nguyện?
Tại sao người ta thường chắp tay khi cầu nguyện?
Liệu có tồn tại quy tắc nào yêu cầu tín hữu nên chắp tay, dang tay mắt ngước lên trời hay dang hai tay ngang khi cầu nguyện không? Và các tư thế đó có quan trọng không? Có thể câu hỏi khá kỳ lạ, nhưng là một điều quan trọng nên biết. Thực tế, tư thế có thể là khía cạnh quan trọng khi cầu nguyện, có truyền thống lâu đời và đáng kính.
Có nhiều người kể rằng các nữ tu đạo đức khi dạy giáo lý đã nói về ý nghĩa của tư thế tay khi cầu nguyện như sau: “Cầu nguyện khi hai tay chắp lại thì lời nguyện sẽ bay thẳng tới thiên đàng. Nếu cầu nguyện mà tay chỉ xuống đất thì lời cầu sẽ đi xuống hoả ngục. Và nếu tay để mở rộng ra hai bên, lời cầu nguyện sẽ bao phủ khắp căn phòng.”
Có lẽ những hướng dẫn ấy khá ngây thơ, và đã được diễn dịch cho trẻ em dễ hiểu. Thực chất, lý do cốt lõi của việc người tín hữu chắp tay khi cầu nguyện có một ý nghĩa biểu tượng sâu xa. Trong Kitô Giáo, truyền thống đóng một vai trò quan trọng, dựa trên các thói quen của các tín hữu thời đầu.
Trong truyền thống Do Thái, có nhiều bằng chứng trong Ngũ Thư về việc người Do Thái đã chắp tay cầu nguyện khi họ được giải thoát khỏi Ai Cập và truyền thống ấy kéo dài đến thời Chúa Giêsu, được người Kitô Giáo tiếp nối và duy trì. Nhiều nhà sử đồng ý rằng các Kitô hữu Do Thái thời đầu đã tiếp thu tập quán chắp tay cầu nguyện từ truyền thống tôn giáo cha ông của họ.
Nhiều người khác lại cho là tư thế chắp tay xuất phát từ văn hoá La Mã cổ. Theo đó, người La Mã thường trói các tù nhân của họ bằng dây cây nho hoặc dây thừng trong tư thế chắp tay: hai tay chắp lại nói lên sự tùng phục. Nếu ngày nay, trong chiến đấu, người ta giơ cờ trắng để biểu thị việc đầu hàng, thì thời xưa, những người lính La Mã chắp hai tay lại để nhận mình đầu hàng và tránh khỏi bị giết ngay lập tức. Thời ấy, người dân biểu thị sự trung thành và kính trọng với các lãnh tụ của họ cũng bằng cách chắp tay. Thật vậy, hành động chắp hai tay lại với nhau biểu lộ sự nhìn nhận quyền bính cũng như tùng phục quyền bính của một người nào đó.
Ngày nay, ý niệm chắp tay để tỏ bày trung thành vẫn được duy trì trong phụng vụ Công Giáo. Trong nghi lễ truyền chức linh mục, vị Giám Mục sẽ chắp hai tay của tân linh mục lại và nói “Con có hứa tôn trọng và vâng phục cha cũng như các đấng kế vị hợp pháp không?”
Một khía cạnh quan trọng khác khi chắp tay là đan chéo hai ngón cái theo dạng hình Thánh Giá. Tất cả các tư thế và hành vi đều nhằm thể hiện sự trung thành với Thiên Chúa, hướng lời cầu nguyện về trời và nhắc lại về Thánh Giá Chúa Kitô.
Thực chất thì không có một quy tắc nào bắt buộc tư thế của người Công Giáo khi cầu nguyện, nhưng chắp tay là một lựa chọn rất ý nghĩa, có truyền thống lâu đời và ý nghĩa biểu tượng sâu sắc.
Theo Philip Kosloski, Aleteia
Gioakim Nguyễn biên dịch
2020
7 thái độ của phụ nữ trong Kinh Thánh mà mọi Kitô hữu nên bắt chước
7 thái độ của phụ nữ trong Kinh Thánh mà mọi Kitô hữu nên bắt chước
Gặp gỡ một số phụ nữ trong Kinh thánh và lấy cảm hứng.
Các nghiên cứu ngày nay khẳng định rằng phụ nữ không còn chiếm đa số trong Hội thánh. Họ đã từng là phúc lành tuyệt vời trong Hội thánh của Chúa Giêsu. Mặc dù não trạng trọng nam khinh nữ còn tồn tại trong các nền văn hóa được nói đến nhiều trong Kinh thánh, chúng tôi tìm thấy ở đây những người phụ nữ tuyệt vời, họ có rất nhiều điều để dạy chúng ta.
Để tỏ lòng kính trọng đối với phụ nữ, tôi muốn nêu lên đây 7 thái độ của người nữ trong Kinh thánh mà mọi người nên bắt chước.
SỰ KHIÊM NHƯỜNG CỦA ĐỨC MARIA, MẸ CHÚA GIÊSU
Đức Maria được chọn trong số các thiếu nữ khác nhau để làm mẹ Đấng Cứu Chuộc. Điều đó có thể đem lại niềm tự hào nhất định, một sự kiêu căng trong tâm hồn mẹ. Thế nhưng, Mẹ đã nói một điều mà tất cả chúng ta cần phải thưa với Chúa mỗi ngày: “Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Đấng cứu chuộc tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn Người đoái thương nhìn tới, từ nay hết mọi thời sẽ khen tôi có phúc” (lc 1,46-48).
Sự khiêm nhường của Đức Maria khi đặt cuộc đời vào bàn tay quan phòng của Chúa và cộng tác với Chúa trong sứ mệnh cao cả của mình là điều thực sự hấp dẫn mà mọi Kitô hữu nên bắt chước.
SỰ KIÊN TRÌ TRONG LỜI CẦU NGUYỆN CỦA BÀ ANNA
Bà Anna đã có một cuộc sống không thực sự dễ dàng. Chồng bà là Encana đã lợi dụng truyền thống để có hai vợ (1Sam 1,2). Ngoài ra, Anna là người nữ vô sinh, thứ mà thời đại của bà coi là bị nguyền rủa. Bà bị người vợ kia của chồng coi thường và mang trong mình một nỗi buồn khôn tả vì chuyện này (1Sam 1,6). Nhưng bà không từ bỏ mục tiêu sinh con và không quan tâm đến những lời đàm tiếu, trái lại, bà vẫn kiên trì cầu nguyện, “ngày qua tháng lại, bà Anna thụ thai, sinh con trai và đặt tên cho nó là Samuen, vì bà nói: “Tôi đã xin ĐỨC CHÚA được nó.” (1 Sam 1,20).
SỰ CAN ĐẢM CỦA MARIA MAĐALÊNA ĐỂ VƯỢT QUA QUÁ KHỨ
Kinh thánh kể rằng Maria Mađalêna bị quỉ ám. Chúa Giêsu đã đuổi bảy quỉ ra khỏi bà (Lc 8,2). Chúng ta không có nhiều chi tiết về quá của của người phụ nữ đó, tuy nhiên, chắc chắn đó là một quá khứ không đẹp lòng Chúa. Thế nhưng bà đã can đảm vượt qua quá khứ đen tối của mình và trở thành người tôi tớ trung thành tuyệt vời của Chúa Giêsu. Bà luôn được nhắc đến trong đội ngũ các môn đệ, và là người đầu tiên biết và tin vào sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô (Mt 28,1). Bà là người phụ nữ đã thể hiện một sự vượt qua không thể sánh, một bức chân dung về sự biến đổi mà Thiên Chúa hành động trong đời sống của mọi người.
SỰ KHÔN NGOAN CỦA MIRIAM ĐỂ VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG
Pharaon ra lệnh cho toàn dân của mình: “Mọi con trai người Aicập sinh ra, hãy ném xuống sông Nin; mọi con gái thì để cho sống” (Xh 1,22).
Mệnh lệnh đó khiến cho cuộc sống của Môsê, khi còn là trẻ thơ, gặp nguy hiểm. Nhưng chiến lược của người mẹ và Miriam, chị của ông, đã cứu mạng ông. Thật không dễ tí nào. Miriam đã thể hiện sự khôn khéo tuyệt vời khi dõi mắt theo cậu bé được đặt trong một chiếc thúng trôi trên sông, rồi thuyết phục cô công chúa của vua Pharaon giao cậu bé cho mẹ của mình để bà ta chăm sóc cho cậu một thời gian (Xh 2,7). Cô đã cứu mạng Môsê qua cách xử lý cách khôn ngoan trước những tình huống thật sự bất lợi.
LÒNG KÍNH SỢ CHÚA CỦA CÔ GÁI ĐIẾM RAKHÁP
Rakháp được nhắc đến trong Kinh thánh như một cô điếm. Kinh thánh không che giấu sự gì về cô ta. Kinh thánh cũng không che giấu sự thay đổi đang diễn ra trong lòng của cô ấy. Trong cuộc đối thoại với những người do thám của Israel, những người mà cô giấu trong nhà với mục đích bảo vệ họ, cô cho chúng ta thấy nỗi sợ hãi Thiên Chúa của mình: “Khi chúng tôi nghe đồn, thì tâm thần chúng tôi sợ hãi như muốn chảy tan ra, không ai còn nhuệ khí trước mặt các ông, vì ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của các ông, là Thiên Chúa ngự chốn trời cao cũng như nơi đất thấp” (Gs 2.11). Một lời thú nhận về lòng kính sợ Thiên Chúa rất tuyệt vời. Xét thấy rằng, Rakháp sống giữa những người ngoại giáo cho nên lời nói của cô cho thấy được nỗi sợ Thiên Chúa của cô to lớn đến mức nào. Thái độ của cô dành cho Thiên Chúa rất tuyệt vời, để rồi cô được trở nên một phần trong gia phả của Chúa Giêsu Kitô (Mt 1,5).
SỰ NHIỆT THÀNH TRUYỀN GIÁO CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ SAMARI
Như chúng ta đã biết, người phụ nữ Samaria đã có cuộc gặp gỡ tuyệt vời với Chúa Giêsu cạnh một cái giếng nơi cô đến lấy nước (Ga 4,9). Chúa Giêsu đã tỏ cho cô thấy những lỗi lầm mà cô ta đã phạm trong quá khứ và hiện tại. Những lời nói mạnh mẽ của Chúa đã đánh động con tim của người phụ nữ đó. Kết quả thế nào? Lòng nhiệt thành truyền giáo đã xâm chiếm tâm hồn người phụ nữ ấy, cô đã đem những lời của Chúa Giêsu đã nói đến cho dân làng của mình dù chưa biết Chúa là ai: “Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta: “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao? ” Họ ra khỏi thành và đến gặp Người” (Ga 4,28-30).
NHỮNG NGƯỜI PHỤ NỮ ĐỨC HẠNH VÔ DANH TRONG SÁCH CHÂM NGÔN
Những câu cuối cùng của sách Châm ngôn được dành để ca ngợi đức tính của người phụ nữ vô danh, nhưng cũng có thể họ là những người phụ nữ vĩ đại của Thiên Chúa, đang tồn tại và có thực trong thời đại của chúng ta. Những người phụ nữ này đã sống các nhân đức trong việc chăm sóc gia đình, chồng con; trung thực và tận tâm trong công việc của mình. Bản văn này trình bày cho chúng ta như một bản tóm tắt về phẩm chất của người phụ nữ của Thiên Chúa và cho thấy họ quan trọng biết là dường nào.
- NGƯỜI VỢ ĐẢM ĐANG
Tìm đâu ra một người vợ đảm đang ?
Nàng quý giá vượt xa châu ngọc.
Chồng nàng hết dạ tin tưởng nàng,
chàng sẽ chẳng thiếu chi lợi lộc.
Suốt đời, nàng đem lại hạnh phúc
chứ không gây tai hoạ cho chồng.
Nàng tìm kiếm len và vải gai,
rồi vui vẻ ra tay làm việc.
Giống như những thương thuyền,
nàng đem lương thực về từ tận phương xa.
Nàng thức dậy khi trời còn tối,
cung cấp phần ăn cho cả nhà, và sai bảo con ăn đứa ở.
Nàng để mắt đến một thửa ruộng và tậu lấy ;
nàng dùng huê lợi đôi tay mình làm ra
mà canh tác một vườn nho.
Nàng thắt lưng cho chặt,
luyện cánh tay cho mạnh mẽ dẻo dai.
Nàng thấy công việc sinh nhiều lợi nhuận,
đèn trong nhà thắp sáng thâu đêm.
Nàng tra tay vào guồng kéo sợi,
và cầm chắc suốt chỉ trong tay.
Nàng rộng tay giúp người nghèo khổ
và đưa tay cứu kẻ khốn cùng.
Nàng không sợ người nhà bị lạnh vì tuyết sương,
bởi cả nhà đều được mặc hai áo.
Nàng tự tay làm lấy chăn mền,
nàng mặc toàn vải gai, vải tía.
Chồng nàng được tiếng thơm nơi cổng thành
khi ngồi chung với hàng kỳ mục trong dân.
Nàng dệt vải đem bán,
cung cấp dây lưng cho nhà buôn.
Trang phục của nàng là quyền uy danh giá,
nàng mỉm cười khi nghĩ đến tương lai.
Nàng khôn ngoan trong lời ăn tiếng nói
và dịu hiền khi dạy dỗ bảo ban.
Nàng để mắt trông nom mọi việc trong nhà,
bánh nàng ăn là do mồ hôi nước mắt nàng làm ra,
con nàng đứng lên ca tụng nàng có phúc,
chồng nàng cũng tấm tắc ngợi khen :
“Có nhiều cô đảm đang,
nhưng em còn trổi trang gấp bội.”
Duyên dáng là giả trá, sắc đẹp là phù vân.
Người phụ nữ kính sợ ĐỨC CHÚA
mới đáng cho người đời ca tụng.
Hãy để cho nàng hưởng những thành quả tay nàng làm ra.
Ước chi nơi cổng thành nàng luôn được tán dương ca tụng
do những việc nàng làm.
(Cn 31,10-31)
- Võ Tá Hoàngchuyển ngữ

